
THƯ VIỆN NGHỆ NHÂN XQ SỬ QUÁN THÔNG BÁO
- Vì đại dịch Corona nên năm nay chúng ta không có ngân sách để mua sách mới, nên chị em có thể đem sách ở nhà lên trao đổi với nhau.
- Dạo này ở nhà bận lắm không? Mà sao thư viện nghệ nhân chẳng có độc giả? Những chồng sách bắt đầu bụi bặm?
Đãy sách cũ con mọt già tư lự
ngán ngẩm cười
những chuyện chẳng gì đâu
sợi tóc bạc còn thương trời gió giữ
mai mốt kia rụng xuống những chân cầu...
******
GỐC ĐA THƯ VIỆN NGHỆ NHÂN - XQ SỬ QUÁN
DIỄN ĐÀN THẢO LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA PHỤ NỮ
Giúp cho phụ nữ chúng ta khám phá và khai thác tiềm năng của mình vì lợi ích của mình – gia đình mình và cộng đồng – để khắc phục những lo sợ và mặc cảm.
DIỄN ĐÀN DƯỚI GỐC ĐA SỬ QUÁN VỀ PHỤ NỮ CHÚNG TA
- Vệ sinh và những biện pháp cơ bản giữ gìn sức khỏe trong đại dịch Corona
- Tiêm chủng
- Giáo dục
- Kế hoạch hóa gia đình
- Thu nhập thêm
- Những chương trình hành động của phụ nữ trong đại dịch Corona...

NGHI LỄ RƯỚC SÁCH TẠI ĐÀ LẠT - XQ SỬ QUÁN

THƯ VIỆN NGHỆ NHÂN TẠI ĐÀ LẠT - XQ SỬ QUÁN

NGHI LỄ TẶNG SÁCH TẠI THƯ VIỆN NGHỆ NHÂN


NGHI LỄ RƯỚC SÁCH
Cái ác tồn tại trong cuộc sống này không phải do Thượng đế - thần thánh gây ra mà là hậu quả do người này gây ra cho người kia, hoặc là lầm lỗi con người tự gây ra. Bao giờ cũng vậy, đó là hậu quả của sự dốt nát. Khoa học tri thức với con người, cũng như con mắt với sự nhìn. Chỉ có khoa học tri thức mới xua đuổi được ác cảm và hận thù. Người không có tri thức cũng giống như người mù, va đầu vào tường, vấp phải những người đi qua đi lại, bạo lực là điều ác mà con người gây ra cho nhau…Còn tri thức là điều kiện cần thiết cho sự cứu chuộc lịch sử của loài người…
“Khuyết danh”

Nghi lễ rước sách của người thợ thêu tại thư viện Nghệ Nhân XQ Sử Quán

Các bản luật
Bộ luật mà Moses, nhà lập pháp vĩ đại, trao cho dân tộc Do Thái trong cuộc di dân.
- Tại giáo đường Do Thái Ben Bera ở FOSTAT (Cairo cổ)

Đọc sách là một thú vui trong đời mà ta có thể cho trẻ em làm quen ngay từ khi còn nằm trong nôi.
Tác phẩm tranh thêu: THÚ VUI
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Huỳnh Thị Thu Tâm





Chúng ta chớ nên quên điều này: mỗi máy bay chiến đấu trị giá tương đương một triệu học sinh tiểu học.
Mahbub UI Haq nhà kinh tế học Pakixtan (1934 – 1998)
Tác phẩm tranh thêu:
GIÁO DỤC CHO NHỮNG ĐỨA BÉ TƯƠNG LAI
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 60 x 80 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Trần Thị Mai

"Giáo dục không phải là một phương tiện để thoát khỏi tình cảnh nghèo khổ của một nước. Đó là phương tiện chiến đấu."
Julius Nyerere – cựu giáo viên, Cựu Tổng Thống Tandania (1922- 1999)
Tác phẩm tranh thêu:
CUỘC CHIẾN CỦA THẾ KỶ 21
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Trần Thị Mai

"Chỉ khi nào mục đích của giáo dục được xác định rõ ràng thì chúng ta mới có thể quyết định loại giáo dục nào là thích hợp đối với sự phát triển của mình"
Tác phẩm tranh thêu:
NGƯỜI CHÈO THUYỀN TRÊN BIỂN THÔNG TIN
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Phan Thị Kim Thoa

Nếu chúng ta không biết dạy cho trẻ em biết cách đọc thì chúng ta không thể dạy chúng biết cách nhìn.
Tác phẩm tranh thêu:
CON ĐƯỜNG TRI THỨC
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Nguyễn Thị Hồng

Gia đình – thư viện, hiệu sách và các phương tiện thông tin đại chúng phải chung phần trách nhiệm trong việc tạo ra những người ham đọc sách suốt đời
(Khuyết danh)
Tác phẩm tranh thêu:
NHÀ BÁC HỌC TƯƠNG LAI
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Phan Thị Thủy

Nghệ thuật tuyệt đỉnh của giáo dục là khơi dậy niềm hạnh phúc được học tập và sáng tạo.
Albert Einstein
Nhà vật lý và toán học Mỹ
gốc Đức (1879 – 1955)
Tác phẩm tranh thêu:
BA NHÀ THƠ
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Trần Thị Thu Tâm

Nếu đặt việc truyền bá các thông điệp lên việc đào tạo trí óc con người có nghĩa là đặt cái cày đi trước con bò
Tác phẩm tranh thêu:
KHAI HÓA
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Nguyễn Thị Thủy

Sẽ nguy hiểm nếu cho rằng một nền văn hóa bằng hình ảnh có thể làm ta không cần đến những điều bắt buộc của tư duy suy lý logic và trừu tượng.
Tác phẩm tranh thêu:
TƯ DUY LOGIC
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Mai Thị Thảo

...Trước mắt chúng ta là một mảnh đất bị tước đoạt rất nhiều công lý, và vì thế không có hòa bình và an ninh. Tình trạng bất an là một đặc điểm kéo dài và vẫn là đặc điểm không thay đổi... Cho tới khi chủ nghĩa Apacthai, nguồn gốc của mọi tình hình này cuối cùng bị xóa bỏ... Không có hòa bình vì không có công lý, không thể có hòa bình vì không có công lý cho tất cả mọi người dân trên đất nước tươi đẹp này.
Chúng ta hãy phấn đấu để trở thành những người kiến tạo hòa bình, nếu chúng ta muốn hòa bình thì chúng ta hãy phấn đấu cho công lý, chúng ta hãy rèn gươm dao, vũ khí của chúng ta thành lưỡi cày...
(Giáo mục Desmond Mpilo Tutu; Giải Nobel hòa bình 1984. Một đoạn trong bài phát biểu khi nhận giải ngày 11- 12 – 1984)
Tác phẩm tranh thêu:
HÒA BÌNH VÀ CÔNG LÝ
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Lưu Thị Hài

Bản năng tự nhiên của con người muốn có tình hữu ái khắp năm châu bốn biển. Còn những tư tưởng phân biệt chủng tộc trong đầu óc một số người, nó là QUÁI THAI của bản năng này.
Tình cảm dân tộc là điều rất tự nhiên ở con người, còn dân tộc chủ nghĩa Sô Vanh là một QUÁI THAI của tình cảm này.
Khía cạnh tinh thần là một đặc điểm bản chất con người và là động lực của tín ngưỡng, những sự cuồng tín là một QUÁI THAI của động lực này.
Công việc con người đi tìm kiếm những hệ tư tưởng có thể giải thích đầy đủ vũ trụ là điều tất yếu. Còn sự đối đầu tư tưởng là một QUÁI THAI của nguyện vọng tự nhiên kia.
(ARMAD SIDGI AD - DAJANI - giáo sư sử học tại trung tâm khoa học về lịch sử các nước A Rập ở Cai Rô)
Tác phẩm tranh thêu:
TÌNH HỮU ÁI
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Nguyễn Thị Hồng









NƠI “HỌC ĐỌC ” VÀ “BIẾT ĐỌC”
Có một loại mù chữ có thể gọi là ô trọc, giả hiệu, sản phẩm giả tạo của giáo dục hiện đại, những kẻ biết đọc mà vẫn thất học trên bình diện con người.
Có thể phân chia ra : - Mù chữ toàn phần.
- Mù chữ từng phần.
Trong trường hợp thứ nhất đó là những kẻ đã học đọc trên ghế nhà trường nhưng không chịu trau dồi khả năng ấy ngoại trừ để đọc thư, chọn phim để xem, hoặc tra số danh bạ điện thoại lấy bằng cấp để xin việc làm, một số có máu phiêu lưu có thể biết đọc lướt qua trang thể thao trên một tờ báo nào đó.
Trong trường hợp thứ hai. Giống như bầy ong vo ve trên một đám hoa. Đó là những kẻ mà ta thấy lăng xăng bên những quán báo để hút lấy những thành phần cần thiết cho việc gây mật cho đời sống trí tụê của họ, đó là những người không bao giờ mở một cuốn sách, nhưng bị mê hoặc bởi bao đầu đề tạp chí và những chủ đề được đề cập đến trong đó. Những người bất hạnh này đáng được thông cảm giúp đỡ bởi vì họ cố gắng để đọc, mà còn cố gắng thái quá. Tội nghiệp họ đọc biết bao nhiêu mà kể, họ ngồi bên hàng đống tờ báo mà họ miệt mài đọc từng giờ kể cả chuyện thị phi thiên hạ, họ giống như một đứa trẻ chơi trò lắp ghép hình mà không bao giờ ghép trọn được toàn bộ miếng nào vào đúng chỗ nào.
Họ rất thương hại, họ càng đọc càng dấn sâu vào đại dương mênh mông những ấn phẩm, mà mực nước cứ mỗi tuần lại càng cao lên mấy mét. Khi ta đọc sách ta thấy được chỗ mở đầu và chỗ kết thúc, ta có thể dừng lại nghỉ ngơi. Nhưng một người đọc tạp chí, nhất là khi anh ta mua dài hạn thì có cảm giác luôn luôn bị con rắn đuổi theo, những con rắn ghê gớm này cứ mỗi tuần, nửa tháng hoặc hàng tháng lại hồi sinh một lần. Cứ dừng lại lấy hơi là y như bị ngập chìm dưới những số mới ra, làm cũ thêm cả đống, trong đó có nhiều số anh ta chưa đọc và phải cố gắng hết sức để theo kịp nhịp độ sản xuất của các nhà biên tập, các nhà in, hàng ngày các cộng tác viên săn đuổi anh ta, hành hạ không ngừng như bầy chó săn bám riết mồi.
Nên vì thế không được bao giờ quên nghĩa: “HỌC ĐỌC” VÀ “BIẾT ĐỌC”
.........................................................................................
HÃY “ HỌC ĐỌC” VÀ “ BIẾT ĐỌC”
Đó là từ ngữ phức tạp và giàu nghĩa.
Sẽ không có gì nguy hiểm hơn là khi đọc hiểu chúng trên bề mặt chữ, theo nghĩa hời hợt nhất. Đành rằng việc nắm kỹ thuật đơn giản ấy giúp con người thoát ra khỏi nạn mù chữ tự nhiên và mở ra những tiến bộ rộng lớn.
Nhưng nếu không sử dụng khả năng ấy làm nảy nở tâm hồn, để làm giàu tinh thần đến mức tối đa, anh ta sẽ ở vào tình trạng có vẻ nghịch lý rất thật: Tình trạng người mù chữ biết đọc. Anh ta đã được cứu khỏi nạn mù chữ, do kém sử dụng, hoặc bỏ hoang khả năng đọc, một cơ chế giật lùi khởi động, kéo anh ta về điểm xuất phát, nếu không phải là tình trạng tệ hơn “ MÙ CHỮ TINH THẦN ”.
Thực tế khác biệt thống kê và những ước lệ xã hội duy trì cái giả tưởng người đó được coi như biết chữ và thuộc loại có đặc quyền biết đọc và biết viết. Nhiều khi thiên hạ không hề áy náy mà lấy làm thỏa mãn với cái sự thực nửa vời ấy, hân hoan đón nhận nó như một sự thật tuyệt đối, đồng thời cũng mang máng cảm thấy ở đây có một trò lừa bịp mà tất cả mọi người đều vừa là nạn nhân vừa là đồng lõa. Đã đến lúc cần đặt tên cho loại người càng ngày càng đông. Loại mù chữ này hung tợn và nguy hiểm hơn người hoàn toàn không biết chữ. Nó giống như một vị thần khát máu, phải hiến tế mọi thứ, mà không đền bù lại gì cho những người phụng thờ nhiệt thành nhất. Trong Công ty chúng ta đã từng căm phẫn trước những kẻ tà đạo này.
.........................................................................................
Ba giải pháp nhằm ngăn sự suy thoái môi trường
..........................................................................................
TORRES BODET người Mehico
.........................................................................................
FEDERICO MAYOR - Nguyên Tổng Giám Đốc UNESCO
.........................................................................................
NELSON MANDELA – 1994 được bầu làm tổng thống Nam Phi
Phần mở đầu bảng hiến chương của UNESCO
- Martin Luther King
Tư tưởng cuối cùng của Voltaire trước khi mất 1778
Vậy hãy làm cho mọi người tất cả những gì ta muốn mọi người làm cho ta.
Tân ước
Phúc Âm Theo Thánh Matthew VII .12
Sự lãng quên và không hiểu biết các quyền con người là nguyên nhân của những hành động man rợ làm phẫn nộ lương tri loài người.
(lời nói đầu của bản tuyên ngôn quốc tế về quyền con người)
.........................................................................................
NHỮNG NGƯỜI SÁNG LẬP HOẶC CẢI CÁCH TÔN GIÁO CHÍNH
(theo thứ tự thời gian)
ABRAHAM (Đạo Độc Thần) Khoảng 1850 trc CN
MOSES (Đạo Do Thái) Khoảng 1250 trc CN
ZOROASTER (Đạo Giôrôat) 650-583 trc CN
LÃO TỬ (Đạo Lão) 605-520 trc CN
PHẬT THÍCH CA (Đạo Phật) 563-483 trc CN
KHỔNG TỬ (Đạo Khổng) 551-479 trc CN
MAHAVIRA (Đạo Jaina) 540-648 trc CN
JESUS CHRIST (Đạo Kitô) 4 trc CN-30 CN
MAHOMET (Đạo Hồi) 570-632
NICHIREN (Đạo Phật Nhật Bản) 1222-1282
NANAK (Đạo Sikh) 1469-1539
LUTHER (Giáo Phái Luther) 1483-1546
HENRY VIII (Giáo phái Anh) 1491-1547
CALVIN (Giáo phái Calvin) 1509-1564
Nguồn: les religions de I’humanite của Michel Malherbe Paris, 1992
Năm 2350 Trước Công Nguyên
BỘ LUẬT URUKARGINA
Chưa hề được tìm ra, nhưng những tư liệu khác có nói đến nó như một bộ sưu tập những “chỉ dụ” hay những sắc luật do các Vua miền Mesopotamia (Lưỡng Hà) ban bố.
****
BỘ LUẬT URNAMMU
Bộ luật thành văn đầu tiên được biết đến dựa trên một hệ thống trong đó nhân chứng khi khai báo phải tuyên thệ trước những quan toà chuyên nghiệp. Quan toà có thể ra lệnh cho kẻ phạm tội phải đền bù cho nạn nhân.
BỘ LUẬT HAMMOURABI
Dưới triều đại của vị Vua Babylone này, một bộ luật đã được soạn thảo và khắc vào tấm bia làm bằng một tảng đá diorit lớn. Thành ngữ “Tội nào hình phạt ấy” đã trở thành tượng trưng cho nguyên tắc cơ bản của bộ luật này.
Năm 1300 Trước Công Nguyên
10 ĐIỀU RĂN
Nhà tiên tri Moise đã trực tiếp nhận của Chúa Trời một bản kê 10 điều luật, tức 10 điều răn, sau này được đưa vào Kinh Thánh.
NHỮNG ĐẠO LUẬT CỦA MANU
Bản tập hợp những đạo luật được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những đạo luật này là cơ sở của chế độ đẳng cấp tại Ấn Độ, một chế độ sắp xếp con người theo địa vị xã hội. Trừng phạt chỉ là biện pháp cùng lắm mới dùng đến. Người thuộc đẳng cấp cao thường bị nghiêm trị nặng hơn những người ở đẳng cấp dưới.
NHỮNG ĐẠO LUẬT CỦA DRACON
Luật gia Hy Lạp Dracon được giao nhiệm vụ soạn thảo một bộ luật cho thành Athènes. Bộ luật này nghiêm ngặt đến nỗi tính từ ”Draconie” ngày nay có nghĩa là “cực kì khắc nghiệt”.Năm 450 trước Công nguyên
“12 CHIẾC BẢNG”
Những đạo luật này được soạn thảo để cai trị người La Mã, là cơ sở cho đại bộ phận pháp lý hiện đại. Những luật này quy định xử án công khai các tội phạm và thiết lập một chế độ cho phép bên bị hại đòi kẻ xâm hại phải bồi thường. Nguyên tắc căn bản: Luật phải viết thành văn. Việc xử án không được đơn thuần tùy thuộc vào sự giải thích của quan tòa.
BỘ LUẬT TRUNG HOA CỦA LI KUI
Bộ luật đầu tiên của Hoàng Đế Trung Hoa đề cập đến trộm cắp, cướp bóc, nhà tù, bắt bớ và những quy tắc chung làm mẫu cho bộ luật đời Đường.
BỘ LUẬT JUSTINIEN
Hoàng đế Byzantin (Đông Hy Lạp) Justinien đã đi vào lịch sử với việc xây dựng bộ luật La Mã Corpus Juris Civilis. Nhiều châm ngôn pháp lý hiện hành cũng bắt nguồn từ bộ luật ấy.
HIẾN PHÁP 17 ĐIỀU CỦA NHẬT BẢN
Do một ông hoàng nhiếp chính soạn thảo, hiến pháp này đã tạo thành khuôn mẫu ý niệm về đạo đức và pháp lý tại Nhật Bản. Một điều khoản nói rằng: ”Hòa bình và hài hòa phải được tôn trọng vì nó quan trọng đối với mối quan hệ giữa các nhóm người”. Điều này chỉ rõ cái động lực sâu xa của “luật Phương Đông”, nó tìm cách ngăn chặn những cuộc xung đột, còn “luật Phương Tây” thì tìm cách giải quyết chúng.
BỘ LUẬT ĐỜI NHÀ ĐƯỜNG
Liệt kê những tội ác và những hình phạt trong 501 điều duyệt xét lại những bộ luật Trung Hoa thời trước và thống nhất trình tự tố tụng.
TRƯỜNG LUẬT ĐẦU TIÊN
Do Imérius, luật gia người Italia, mở tại Bologne. Năm 1150, trường này đã có trên 10.000 sinh viên. Nó đã góp phần làm sống lại bộ luật Corpus Juris và phổ biến Luật Ma Mã ra toàn Châu Âu.
MAGNA CARTA
Khi ký vào bản “Đại Hiến Chương” này, Vua John của nước Anh đã nhường một số quyền tư pháp cho các Nam Tước và nhân dân. Lần đầu tiên một vị Vua chấp nhận mình có thể buộc phải tôn trọng đạo luật, và các vị Nam Tước có thể phản bác ý kiến nhà Vua. Người ta có thể thấy ở đây “Phác họa của thông luật nước Anh”.
BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA NƯỚC MỸ
Lần đầu tiên một quốc gia bác bỏ các lý thuyết Trung Cổ cho rằng một số người, về mặt pháp lý, có quyền chỉ huy những người khác.
BỘ LUẬT NAPOLEON
Bộ luật toàn diện được ban bố tại Pháp, công nhận nhiều thành quả của cuộc Cách Mạng Pháp, cũng như quyền tự do cá nhân, quyền bình đẳng trước Pháp Luật, tính không tôn giáo của nhà nước. Bộ luật này đã gợi ý cho việc xây dựng các bộ luật của Québec (1865), của Đức (1900) và của Thuỵ Sỹ (1907).
CÔNG ƯỚC GENÈVE
Đã được soạn thảo ra để bảo đảm một sự tôn trọng tối thiểu quyền con người trong thời chiến, cũng như việc bảo vệ các nhân viên quân y và cách đối xử nhân đạo với thương binh.
Năm 1945 -1946
PHIÊN TOÀ XÉT XỬ TỘI ÁC CHIẾN TRANH TẠI NUREMBERG
Một phiên toà đã xét xử những thủ lĩnh quốc xã về tội ác chống lại hoà bình, chống nhân loại, tội ác chiến tranh, chỉ rõ rằng ngay trong thời chiến, những tiêu chuẩn đạo lý cơ bản vẫn có hiệu lực.
Năm 1948
LIÊN HỢP QUỐC THÔNG QUA BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ VỀ NHÂN QUYỀN
Quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá.
VIENNE MỘT KHỞI ĐIỂM MỚI
Tính toàn cầu của nhân quyền: Tuyên bố xác nhận tất cả các quyền con người đều mang tính toàn cầu, không thể phân chia và phụ thuộc lẫn nhau. Tuyên bố thậm chí còn nhấn mạnh rằng tính toàn cầu của những quyền dân chủ và những tự do này không thể tranh cãi. Qua quá trình chuẩn bị, tiếp đến là tranh luận tại thế giới, người ta thấy rõ rằng nguyên tắc này cần được khẳng định lại.
Việc tôn trọng các quyền con người như một chủ đề thảo luận quốc tế: Văn kiện cuối cùng nhấn mạnh rằng việc đẩy mạnh và bảo vệ tất cả các quyền con người là một mối quan tâm chính đáng của cộng đồng quốc tế. Vì vậy nêu lên những câu hỏi liên quan đến việc tôn trọng có hiệu quả những quyền dân chủ này không còn có thể bị coi như một sự can thiệp không chính đáng vào công việc của một nước.
Quan hệ giữa dân chủ, phát triển và nhân quyền: Thế giới đã nêu bật lên rõ ràng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa việc tôn trọng các quyền con người, việc phát triển kinh tế và xã hội và sự tham gia của cá nhân vào đời sống cộng đồng.
Quyền của những nhóm người thiểu số: Các nước tham gia thừa nhận tầm quan trọng của việc đẩy mạnh và bảo vệ các quyền của các nhóm người thiểu số đối với ổn định chính trị và xã hội của những nước trong đó có các nhóm người thiểu số đó đang sinh sống, và gánh lấy nhiệm vụ bảo đảm sao cho những người thuộc các thiểu số này có thể thực hiện đầy đủ và hiệu quả mọi quyền con người mà không bị phân biệt đối xử.
Vị trí của phụ nữ và các nhóm dễ bị thương tổn: Văn kiện cuối cùng dành một tầm quan trọng đặc biệt cho các quyền dân chủ của phụ nữ và của những nhóm người dễ bị thương tổn. Trong đó có trẻ em, người dân bản xứ, những người lao động nhập cư và những người tàn tật. Văn kiện tuyên bố rằng sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị, dân sự kinh tế, xã hội và văn hóa ở qui mô quốc gia, khu vực và quốc tế cũng như việc loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên giới tính là những mục tiêu ưu tiên của cộng đồng quốc tế. Văn kiện còn khẳng định lại cam kết của cộng đồng quốc tế với phúc lợi kinh tế, xã hội và văn hóa của người dân bản xứ và làm cho họ được hưởng những thành quả của một sự phát triển bền vững.
Chương trình hành động: Không như hội nghị thế giới về nhân quyền lần thứ nhất họp tại Teheran năm 1968, tuyên bố của hội nghị Vienne được kết hợp với một chương trình hành động chứa đựng những phương hướng chỉ đạo việc thực hiện nó trong những năm tới.
Hệ thống Liên Hiệp Quốc được kêu gọi hãy tiến hành những biện pháp cụ thể cho việc áp dụng thực tiễn những khuyến nghị ghi trong văn kiện cuối cùng. Nhằm mục đích đó hội nghị thế giới đã yêu cầu tăng cường trung tâm về quyền con người tại Geneve, gia tăng các phương tiện tài chính và nhân sự của trung tâm này và tăng thêm hiệu quả của các cơ chế hiện có nhằm đẩy mạnh và bảo vệ các quyền con người. Đề nghị lập ra chức vụ cao ủy về quyền con người cuối cùng đã được đại hội đồng thông qua.
Tuy nhiên việc thực hiện các quyền con người là một sự nghiệp còn lâu mới hoàn thành. Các cuộc thảo luận tại hội nghị đã xác nhận rằng thế giới ngày nay cự kỳ rối ren. Xâm lược vũ trang, những vi phạm hiển nhiên và hệ thống đối với các quyền con người, khước từ những quyền dân chủ tự do cơ bản là những điều tiếp túc xẩy ra tại nhiều nơi trên thế giới. Như những người được giải thưởng Nobel họp mặt tại Vienne đã nhấn mạnh tại hội nghị: “Một trong những bài học cơ bản của thời đại ngày nay là việc tôn trọng các quyền con người là thiết yếu đối với hòa bình. Không thể có hòa bình thực sự nếu không có công lý, và bất kể một nền hòa bình nào đều phải được xây dựng trên một sự gắn bó trên toàn cầu đối với gia đình con người. Các lợi ích quốc gia phải lệ thuộc các nghĩa vụ quốc tế…
“Cách duy nhất để giải quyết vĩnh viễn các cuộc xung đột vẫn còn diễn ra trên khắp thế giới là phải xem xét những nguyên nhân chính của những vụ vi phạm các quyền con người. Chiến tranh sắc tộc, chủ nghĩa quân phiệt gia tăng, mâu thuẫn chủng tộc, tôn giáo, văn hóa và tư tưởng, và việc khước từ công bằng xã hội sẽ chấm dứt nếu như mọi cá nhân đều được nuôi dạy và đào tạo theo một tinh thần khoan dung dựa trên thái độ tôn trọng các quyền con người phù hợp với các công cụ khác nhau liên quan đến quyền con người đã được hệ thống Liên Hiệp Quốc thông qua.
NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHÍNH CỦA
CÔNG ƯỚC VỀ QUYỀN TRẺ EM
Lời mở đầu
Lời mở đầu nhắc lại những nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp Quốc và những quy định cụ thể của một số hiệp ước và tuyên bố liên quan. Nó khẳng định lại thực tế là trẻ em cần đến một sự che chở và quan tâm đặc biệt do tính dễ bị tổn thương của trẻ, và đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm cơ bản của gia đình trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ.
Lời mở đầu cũng khẳng định lại việc cần có một sự bảo vệ về mặt pháp lý và các mặt khác đối với trẻ trước và sau khi ra đời, đến tầm quan trọng của việc tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng của trẻ và vai trò thiết yếu của hợp tác quốc tế trong việc bảo đảm các quyền trẻ em.
Điều 1
ĐỊNH NGHĨA TRẺ EM
Trẻ em được định nghĩa là một người dưới 18 tuổi, trừ phi luật pháp quốc gia thừa nhận tuổi trưởng thành sớm hơn.
Điều 2
KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ
Mọi quyền đều áp dụng cho mọi trẻ em, không trừ một ngoại lệ nào. Nhà nước có nghĩa vụ bảo ved trẻ em chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử và có những biện pháp tích cực để đẩy mạnh các quyền trẻ em.
Điều 3
LỢI ÍCH TỐT NHẤT CỦA TRẺ EM
Mọi hành động liên quan đến một trẻ em cần tính đến đầy đủ lợi ích tốt đẹp nhất của đứa trẻ này. Nhà nước sẽ đem lại cho trẻ sự bảo vệ và chăm sóc cần thiết trong trường hợp bố mẹ hoặc những người hữu trách khác không có khả năng làm việc ấy đối với trẻ.
Điều 4
THỰC HIỆN CÁC QUYỀN
Nhà nước phải làm hết sức mình để thực hiện các quyền ghi trong Công ước.
Điều 5
ĐỊNH HƯỚNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC NĂNG LỰC CỦA TRẺ
Nhà nước phải tôn trọng các quyền và trách nhiệm của bố mẹ, cũng như của các thành viên trong gia đình mở rộng, nhằm hướng dẫn đứa trẻ một cách phù hợp với sự phát triển các năng lực của nó.
Điều 6
TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN
Mọi trẻ em có quyền bẩm sinh được sống, và Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm sự tồn tại và phát triển của trẻ.
Điều 7
TÊN VÀ QUỐC TỊCH
Trẻ em có quyền đựơc đặt tên khi ra đời. Trẻ cũng có quyền mang một quốc tịch, và trong chừng mực có thể, được biết bố mẹ mình và được những người ấy nuôi dạy.
Điều 8
BẢO VỆ DÂN TÍNH
Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ và nếu cần thiết, phục hồi những nét cơ bản trong danh tính của trẻ (kể cả tên, quốc tịch và quan hệ gia đình)
Điều 9
CÁCH LY VỚI BỐ MẸ
Trẻ có quyền sống với bố mẹ trừ phi được đánh giá là không thích hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ. Trẻ cũng có quyền duy trì tiếp xúc với cả hai bậc cha mẹ nếu phải sống xa một người hay cả hai người.
Điều 10
ĐOÀN TỤ VỚI GIA ĐÌNH
Trẻ và bố mẹ có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào cũng như trở về xứ sở quê hương của mình nhằm đoàn tụ với gia đình hoặc duy trì quan hệ với các thành viên khác trong gia đình.
Điều 11
BẮT CÓC VÀ GIỮ LẠI BẤT HỢP PHÁP
Nhà nước có nghĩa vụ chống lại việc bắt cóc và giữ lại trẻ em ở nước ngoài do một người cha mẹ hay một bên thứ 3 tiến hành.
Điều 12
Ý KIẾN CỦA TRẺ
Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ý kiến của mình và ý kiến của trẻ được tính đến trong mọi vấn đề hoặc thủ tục liên quan đến trẻ.
Điều 13
TỰ DO NGÔN LUẬN
Trẻ em có quyền bày tỏ các quan điểm của mình, thu nhận thông tin và làm cho người khác biết đến các ý kiến và thông tin, bất kể các đường bên giới.
Điều 14
TỰ DO TƯ TƯỞNG, Ý THỨC VÀ TÔN GIÁO
Nhà nước tôn trọng quyền của trẻ em được tự do tư tưởng, ý thức và tôn giáo, đồng thời tôn trọng vai trò hướng dẫn của bố mẹ.
Điều 15
TỰ DO LẬP HỘI
Trẻ em có quyền hội họp với những trẻ khác, gia nhập hoặc lập hội.
Điều 16
BẢO VỆ ĐỜI TƯ
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại mọi sự can thiệp vào đời tư của mình, vào gia đình, nơi ở và thư tín của mình, chống lại những điều nói xấu và vu cáo.
Điều 17
ĐƯỢC TIẾP XÚC VỚI THÔNG TIN THÍCH HỢP
Nhà nước bảo đảm trẻ em được tiếp xúc với những thông tin và tài liệu xuất xứ từ các nguồn khác nhau và khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng truyền bá những thông tin có ích lợi xã hội và văn hóa đối với trẻ em. Nhà nước có những biện pháp bảo vệ trẻ em chống lại những tài liệu có hại cho trẻ.
Điều 18
TRÁCH NHIỆM CỦA BỐ MẸ
Bố mẹ cũng có trách nhiệm hàng đầu trong việc nuôi dạy con cái và Nhà nước phải giúp họ thực hiện trách nhiệm ấy. Nhà nước sẽ đem lại sự giúp đỡ thích đáng cho bố mẹ trong việc nuôi dạy con.
Điều 19
BẢO VỆ CHỐNG LẠI SỰ NGƯỢC ĐÃI
Nhà nước phải bảo vệ trẻ em chống lại mọi hình thức ngược đãi từ phía bố mẹ hay những người khác chịu trách nhiệm trông nom trẻ và lập ra những chương trình xã hội thích hợp để ngăn ngừa những hành động ngược đãi, và chữa chạy cho nạn nhân.
Điều 20
BẢO VỆ TRẺ EM KHÔNG GIA ĐÌNH
Nhà nước có nghĩa vụ đem lại sự bảo vệ đặc biệt cho trẻ em bị tước đoạt mất môi trường gia đình và bảo đảm sao cho trẻ em được hưởng một sự chăm sóc thay thế cho sự chăm sóc của gia đình, hoặc được gửi vào một học hiệu thích hợp. Mọi cố gắng liên quan đến nghĩa vụ này cần quan tâm thích đáng đến nguồn gốc văn hoá của trẻ.
Điều 21
NHẬN CON NUÔI
Tại những nước được phép nhận con nuôi, việc này chỉ được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ và khi hội tụ đủ mọi sự cho phép của nhà đương cục thẩm quyền cũng như mọi bảo đảm cần thiết.
Điều 22
TRẺ EM TỊ NẠN
Một sự bảo vệ đặc biệt được dành cho trẻ em tị nạn hoặc cho đứa trẻ tìm kiếm quy chế tị nạn. Nhà nước có nghĩa vụ cộng tác với các tổ chức thẩm quyền có nhiệm vụ bảo đảm sự bảo vệ ấy.
Điều 23
TRẺ EM TÀN TẬT
Trẻ em tàn tật có quyền được hưởng sự chăm sóc đặc biệt cũng như một nền giáo dục và đào tạo thích hợp để trẻ có thể có một cuộc sống trọn vẹn, đúng mực và đàng hoàng, và đạt được một mức độ độc lập và hòa nhập xã hội càng cao càng tốt.
Điều 24
Y TẾ VÀ DỊCH VỤ Y TẾ
Trẻ em có quyền được hưởng một tình trạng sức khỏe cao nhất có thể có và được chăm sóc về y tế. Nhà nước đặc biệt chú trọng đến việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và phòng bệnh, đến giáo dục về y tế và hạ thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Nhà nước khuyến khích sự hợp tác quốc tế về mặt này và cố gắng bảo đảm sao không một trẻ nào bị tước đoạt quyền được hưởng những dịch vụ y tế hiệu quả.
Điều 25
THƯỜNG KỲ XEM XÉT NƠI GỬI GẮM TRẺ
Trẻ em được Nhà nước gửi gắm cho một nơi nào đó vì lý do chăm sóc, bảo vệ hay chữa chạy, có quyền được hưởng việc thường kỳ xem xét lại việc gửi gắm này.
Điều 26
AN TOÀN XÃ HỘI
Trẻ em có quyền được hưởng an toàn xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội.
Điều 27
MỨC SỐNG
Mọi trẻ em có quyền có một mức sống thích hợp cho sự phát triển thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức và xã hội của mình. Cha mẹ có trách nhiệm hàng đầu bảo đảm cho trẻ được hưởng mức sống ấy. Nhà nước có nhiệm vụ làm cho trách nhiệm này được bảo đảm. Trách nhiệm của Nhà nước có thể bao gồm viện trợ vật chất cho bố mẹ và con cái họ.
Điều 28
GIÁO DỤC
Trẻ em có quyền được hưởng một nền học vấn và Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm việc giáo dục tiểu học bắt buộc và không mất tiền, khuyến khích tổ chức những hình thức khác nhau của giáo dục trung học có đến được với mọi trẻ em và làm cho giáo dục cao đẳng đến được với mọi trẻ em trên cơ sở học lực. Kỷ luật nhà trường phải tôn trọng các quyền và nhân phẩm của trẻ. Nhà nước sẽ nhờ đến sự hợp tác quốc tế để bảo đảm việc tôn trọng quyền này.
Điều 29
MỤC TIÊU GIÁO DỤC
Giáo dục phải nhằm phát triển nhân cách của trẻ em, phát triển tài năng, năng khiếu tinh thần và thể chất của trẻ đến mức cao nhất. Giáo dục phải chuẩn bị cho trẻ một cuộc sống tích cực ở tuổi người lớn trong một xã hội tự do và khuyến khích ở trẻ một lòng kính trọng đối với bố mẹ, bản sắc, ngôn ngữ và các giá trị của mình cũng như nguồn gốc văn hóa và các giá trị của người khác.
Điều 30
TRẺ EM CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ HAY BẢN ĐỊA
Trẻ em thuộc những cộng đồng thiểu số hoặc những dân tộc bản địa có quyền được hưởng đời sống văn hóa riêng của mình, thực hành tôn giáo riêng của mình và sử dụng ngôn ngữ riêng của mình.
Điều 31
VUI CHƠI, GIẢI TRÍ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA
Trẻ em có quyền được vui chơi, giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật.
Điều 32
LAO ĐỘNG TRẺ EM
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại mọi thứ lao động đe dọa đến sức khoẻ, giáo dục và sự phát triển của trẻ. Nhà nước ấn định tuổi tối thiểu cho việc thuê trẻ và quy định những điều kiện thuê trẻ lao động.
Điều 33
SỬ DỤNG VÀ BUÔN BÁN MA TÚY
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại việc tiêu thụ các chất gây ngủ và ma túy, chống lại việc dùng trẻ vào việc sản xuất và phân phát những thứ ma túy ấy.
Điều 34
BÓC LỘT TÌNH DỤC
Nhà nước phải bảo vệ trẻ em chống lại sự hung bạo và bóc lột tình dục, kể cả mãi dâm và việc đưa trẻ dính líu vào những hoạt động khiêu dâm.
Điều 35
BUÔN BÁN, BẮT CÓC
Nhà nước có nghĩa vụ làm hết sức mình để ngăn ngừa việc buôn bán và bắt cóc trẻ em.
Điều 36
NHỮNG HÌNH THỨC BÓC LỘT KHÁC
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại mọi hình thức bóc lột khác không nói đến trong các điều 32, 33, 34 và 35.
Điều 37
TRA TẤN VÀ BỊ TƯỚC ĐOẠT TỰ DO
Không một trẻ nào bị tra tấn, gánh chịu những sự trừng phạt và đối xử tàn bạo, bắt bớ và giam giữ không hợp pháp. Án tử hình và tù chung thân không cơ hội phóng thích đều bị ngăn cấm áp dụng cho những tội do những người dưới 18 tuổi phạm phải. Mọi trẻ em bị tước đoạt tự do đều bị cách ly khỏi người lớn trừ phi người ta cho rằng không nên làm như vậy vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Trẻ em bị giam giữ có quyền được hưởng một sự giúp đỡ về pháp lý hoặc mọi sự giúp đỡ thích hợp nào khác cũng như duy trì sự tiếp xúc với gia đình.
Điều 38
XUNG ĐỘT VŨ TRANG
Các nước tham gia Công ước áp dụng mọi biện pháp có thể trong thực tế sao cho trẻ em dưới 15 tuổi không tham gia trực tiếp vào các cuộc xung đột vũ trang. Không một trẻ nào dưới 15 tuổi bị tuyển vào các lực lượng vũ trang. Các nước cũng bảo đảm việc bảo vệ và chăm sóc những trẻ em bị ảnh hưởng bởi một cuộc xung đột vũ trang như ghi trong công pháp quốc tế thích ứng.
Điều 39
CHĂM SÓC PHỤC HỒI SỨC
Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm rằng những trẻ em nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang, của sự tra tấn, lơ là, bóc lột hay ngược đãi, được điều trị thích đáng để có thể phục hồi sức khoẻ và hội nhập trở lại xã hội.
Điều 40
VIỆC XÉT XỬ ĐỐI VỚI TRẺ EM
Trẻ em vi phạm luật pháp có quyền được hưởng một cách đối xử sao nâng cao ý thức của trẻ về nhân phẩm và giá trị cá nhân, có tính đến tuổi của trẻ và nhằm hội nhập trẻ trở lại xã hội. Trẻ có quyền được hưởng những đảm bảo cơ bản cũng như một sự trợ giúp về pháp lý hoặc bất kỳ một sự trợ giúp thích đáng nào khác cho việc bảo vệ mình. Nên tránh những thủ tục pháp lý và việc gửi gắm trẻ vào những cơ quan nhất định những khi có thể được.
Điều 41
TÔN TRỌNG NHỮNG TIÊU CHUẨN CAO HƠN
Khi những quy định liên quan đến quyền trẻ em trong công pháp quốc gia và quốc tế hiện hành ở một nước cao hơn những quy định tương tự trong Công ước này thì tiêu chuẩn được áp dụng bao giờ cũng là tiêu chuẩn cao hơn.
THỰC HIỆN VÀ BẮT ĐẦU CÓ HIỆU LỰC
Những Quy Định Trong Các Điều Từ 42 Đến 54
Dự Tính Đăc Biệt Những Điểm Sau Đây:
QUANG CẢNH PHÁP LUẬT TRÊN THẾ GIỚI
Nhiều hệ thống pháp lý khác nhau đã được xây dựng qua các thế kỷ một số là do chủ nghĩa thực dân và nhũng cuộc chinh phục đưa tới. Nay có dấu hiệu cho thấy những hệ thống ấy đang bắt đầu hội tụ.
Những hệ thống pháp luật chính:
DÂN LUẬT
Phỏng theo luật La Mã, nguồn gốc đầu tiên của pháp luật là sự lập pháp. Bộ dân luật (luật dân sự) là cơ sở của mọi luật lệ khác sẽ bổ sung cho nó hoặc đưa ra những ngoại lệ. Những luật này có đặc điểm chủ yếu là tính trừu tượng cao, cho phép các thẩm phán giải thích và phân tích được mọi tình hình cụ thể, hoặc bằng cách áp dụng luật, hoặc bổ khuyết những thiếu sót bằng ngoại suy. Pháp là nước đầu tiên có bộ dân luật: trên 60% cư dân thế giới chịu ảnh hưởng của truyền thống này.
THÔNG LUẬT
Bắt nguồn từ luật bất thành văn của nước Anh được phát triển từ thế kỷ 12 - Đó là “Luật do quan toà làm ra”, nguồn gốc đầu tiên của luật là quyết nghị của toà án. Được soạn thảo bằng phương pháp quy nạp, các khái niệm pháp lý xuất hiện và phát triển theo dòng thời gian: chúng được xây dựng bằng cách kết hợp nhiều vụ án và từ đó xác định phạm vi ứng dụng những khái niệm đó. Thông luật rất thịnh hành tại Vương Quốc Anh, Mỹ và trong phần lớn các nước thuộc liên hiệp Anh. Nó tác động đến hơn 30% cư dân thế giới
LUẬT HỒI GIÁO
Chịu sự chi phối giám sát và điều tiết của đạo Hồi. 20% cư dân thế giới tuân theo luật này. Nguồn gốc của luật này chính là Kinh Coran được bổ sung bằng tập Sunnan ghi lại lời Nhà tiên tri diễn giả Kinh Coran. Phương pháp luận có tính pháp lý này mang tên Shariah (Con đường phải theo). Luật tôn giáo này nhằm quy chế hoá mọi mặt của đời sống xã hội cũng như cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội ấy. Một trong những đăc đểm của Shariah là quyền lợi tập thể phải đặt trên quyền lợi cá nhân. Mọi quyền cá nhân và quyền tự do đều bị hạn chế bởi những đòi hỏi khẩn thiết và thiêng liêng về mặt đạo lý của tôn giáo. Gần đây những quy định về đạo lý có khuynh hướng được giải thích theo nghĩa rộng hơn để thích ứng với thực tế của thế kỷ 21.
NHỮNG HỆ THỐNG HỖN HỢP
Bao gồm hai hoặc nhiều phương pháp pháp lý được vận dụng cùng một lúc hoặc tác động lẫn nhau trong một xã hội đa văn hoá và đa tôn giáo. Đôi khi những phương pháp này bổ sung cho nhau. Những hệ thống pháp luật ở nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông chịu ảnh hưởng rõ rệt của truyền thống dân luật, nhưng trong một số lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực liên quan đến nhân thân, gia đình và quyền sở hữu tài sản thì những nước này lại tuân theo truyền thống Hồi giáo.
LUẬT TẬP QUÁN
Là tổng thể những phong tục tập quán, trải qua thời gian đã giành được hiệu lực của luật pháp. Luật tập quán có nhiều dạng và có thể phát triển trên cơ sở của tôn giáo, sắc tộc và bản sắc văn hóa. Nó đóng vai trò quan trọng trong một số khá lớn nước có luật hỗn hợp, và với thời gian nhiều nước có khuynh hướng công bố “luật tập quán” dưới hình thức một bộ luật. Việc xét xử có thể được tiến hành theo nhiều cách, tuỳ theo truyền thống địa phương.
CÁC HỆ THỐNG LUẬT TẠI LIÊN XÔ CŨ VÀ ĐÔNG ÂU
Đại bộ phận những hệ thống này thuộc về truyền thống dân luật trước cách mạng năm 1917 hoặc trước những biến đổi chính trị sau chiến tranh. Sau những sự kiện này một phần những bộ luật đã bị huỷ bỏ cho phù hợp với hệ tư tưởng cộng sản. Và những bộ dân luật, như vậy, chưa bao giờ bị bãi bỏ hoàn toàn trong khoảng từ năm 1917 đến năm 1919, từ thời điểm này, Nga và các nước Đông Âu đã tiến hành nhiều cuộc cải cách quan trọng để thích ứng với toàn cầu hoá nhưng vẫn giữ nguyên nguồn gốc dân luật.
TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ
Các hệ thống pháp luật, trong một số lĩnh vực đã trở thành chướng ngại cho sự phát triển mạnh mẽ của những tổ chức quốc tế nhằm đều hoà các luật lệ và giảm bớt tác hại của những hàng rào pháp lý xuyên hệ thống. Thương mại quốc tế là một động lực trong sự phát triển một Jus Commune sẽ vượt lên trên và cùng tồn tại với những hệ thống pháp luật truyền thống.
(Bài viết này được sự cộng tác của khoa Luật
Trường đại học Ottawa - Canada và của
Ông David J .Shaw - Luật gia tại Utach - Mỹ)
TUYÊN BỐ BANGKOK HỘI NGHỊ KHU VỰC CHÂU Á
Các Bộ trưởng và quốc gia Châu Á họp tại Bangkok từ 29 tháng 3 đến 2 tháng 4 năm 1993, theo nghị quyết 46/116 của đại hội đồng ngày 17 tháng 12 năm 1991, trong bối cảnh các cuộc chuẩn bị cho hội nghị thế giới về nhân quyền.
Thông qua tuyên bố này, gọi là “Tuyên bố Bangkok” ghi lại những nguyện vọng và cam kết của khu vực Châu Á.
ĐIỀU 1:
Tái khẳng định cam kết của mình đối với các nguyên tắc nêu trong hiến chương Liên Hợp Quốc và tuyên bố phổ quát về nhân quyền cũng như đối với việc thực hiện tất cả các quyền con người trên toàn thế giới
ĐIỀU 2:
Nhấn mạnh sự cần thiết phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc hưởng thụ thật sự các quyền con người ở mức độ quốc gia và quốc tế
ĐIỀU 3:
Nhấn mạnh sự cần thiết cấp bách phải dân chủ hóa hệ thống liên hợp quốc, loại bỏ sự lựa chọn và cải tiến các thủ tục và cơ chế nhằm tăng cường sự hợp tác quốc tế, trên cơ sở các nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, và nhằm bảo đảm một tiếp cận tích cực, cân bằng và không mâu thuẫn với nhau về cách đề cập và việc thực hiện mọi khía cạnh của các quyền con người. Bác bỏ mọi ý đồ gắn nhân quyền với việc cung cấp viện trợ cho phát triển
ĐIỀU 4:
Nhấn mạnh các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ cũng như không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không sử dụng nhân quyền làm công cụ gây sức ép chính trị
ĐIỀU 5:
Nhắc lại rằng tất cả các nước, lớn hay nhỏ, đều có quyền định ra hệ thống chính trị của mình và tự do phấn đấu cho phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của mình
ĐIỀU 6:
Nhấn mạnh tính phổ biến, khách quan, và không có sự lựa chọn của tất cả các quyền phải tránh cách áp dụng hai tiêu chuẩn khác nhau trong việc thực hiện nhân quyền và không một vi phạm nào đối với nhân quyền là có thể biện bạch.
ĐIỀU 7:
Thừa nhận rằng trong khi các quyền con người về bản chất là có tính phổ biến, các quyền đó cần được xem xét trong bối cảnh là việc định ra những tiêu chuẩn quốc tế là một quá trình năng động và luôn có sự thay đổi tùy theo tình hình, với ý thức rằng đặc điểm quốc gia và khu vực cũng như bối cảnh lịch sử, văn hóa và tôn giáo có tầm quan trọng của chúng.
ĐIỀU 8:
Đồng thời cũng thừa nhận rằng việc thúc đẩy thực hiện và bảo vệ nhân quyền trước hết là trách niệm của nhà nước thông qua những tổ chức hạ tầng và những thiết chế thích hợp, nhưng cũng thừa nhận rằng cần có những bổ cứu đề bạt chủ yếu thông qua các thiết chế và thủ tục đó.
ĐIỀU 9:
Tái khẳng định sự tùy thuộc lẫn nhau và sự gắn bó không thể tách rời nhau của các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, công dân và chính trị, và sự cần thiết phải quan tâm đồng đều đến tất cả các loại quyền của con người.
ĐIỀU 10:
Tái khẳng định rằng quyền phát triển, như được nêu ra trong bản tuyên bố về quyền phát triển, là một quyền có tính phổ biến, và không thể tước đoạt và là một bộ phận không thể tách rời của các quyền con người, và quyền đó phải được thực hiện thông qua sự hợp tác quốc tế, sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người, việc thiết lập một bộ máy kiểm soát và việc tạo ra những điều kiện quốc tế cần thiết cho việc thực hiện quyền đó.
ĐIỀU 11:
Thừa nhận rằng những trở ngại chính cho việc thực hiện quyền phát triển là ở mức độ vĩ mô của nền kinh tế quốc tế như được phản ánh qua cái hố ngăn cách ngày càng mở rộng giữa phương bắc và phương nam, giữa người giàu và người nghèo.
ĐIỀU 12:
Khẳng định rằng nạn nghèo đói là một trong những trở ngại chính cho việc hưởng thụ đầy đủ các quyền con người.
ĐIỀU 13:
Tái khẳng định sự cam kết mạnh mẽ của mình đối với việc xúc tiến, thực hiện và bảo vệ các quyền của phụ nữ bằng cách bảo đảm cho phụ nữ được tham gia trên cơ sở bình đẳng vào sự quan tâm của xã hội về chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa và bằng cách loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử và bạo lực dựa trên giới tính đối với phụ nữ.
ĐIỀU 14:
Thừa nhận quyền của trẻ em được hưởng một sự bảo vệ riêng và được tạo những khả năng và điều kiện dễ dàng cần thiết cho sự phát triển vật chất, tinh thần, trí tuệ và xã hội trong những điều kiện lành mạnh và bình thường, và trong tự do và nhân phẩm
ĐIỀU 15:
Nhấn mạnh sự cần thiết phải củng cố trung tâm về nhân quyền của liên hợp quốc bằng cách cung cấp cho trung tâm này những nguồn tài chính cần thiết để nó có thể làm những dịch vụ tư vấn hỗ trợ kỹ thuật nhằm xúc tiến thực hiện nhân quyền cho những quốc gia nào có yêu cầu, một cách kịp thời và hữu hiệu, cũng như làm cho trung tâm này có thể tài trợ một cách thích đáng các hoạt động khách quan thuộc lĩnh vực nhân quyền được các cơ quan có thẩm quyền cho phép.
ĐIỀU 16:
Kêu gọi tăng cường sự đại diện của các nước đang phát triển trong trung tâm nhân quyền.
NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH
CỦA CÂU LẠC BỘ CON NGƯỜI THỢ THÊU VẼ TRANH
TUYÊN BỐ VÀ CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG VIENNE THÔNG QUA TẠI HỘI NGHỊ THẾ GIỚI VỀ NHÂN QUYỀN NGÀY 25 THÁNG 6 NĂM 1993
Hội nghị thế giới về quyền con người
Thừa nhận và khẳng định rằng nhân quyền xuất phát từ nhân phẩm và giá trị bẩm sinh của con người, rằng con người là chủ thể của nhân quyền và các quyền tự do cơ bản và do đó phải là người chính được hưởng thụ và tham gia tích cực vào việc thực hiện những quyền đó.
Nhấn mạnh nghĩa vụ của tất cả các quốc gia, phải phát triển và khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt nòi giống, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo, theo đúng hiến chương liên hiệp quốc.
Xem xét những biến đổi quan trọng đang diễn ra trên sân khấu quốc tế và nguyện vọng của tất cả các dân tộc muốn thiết lập một trật tự thế giới dựa trên cơ sở những nguyên tắc và được nêu trong hiến chương Liên Hiệp Quốc, trong đó nhấn mạnh sự xúc tiến và khuyến khích việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người cũng như tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong các quyền và quyền tự quyết của các dân tộc, và trong việc hưởng thụ hòa bình, dân chủ, công bằng, bình đẳng, nhà nước pháp quyền đa nguyên, phát triển, cải thiện điều kiện sinh hoạt và tình đoàn kết. Lo ngại sâu sắc trước những hình thức phân biệt đối xử và bạo lực mà phụ nữ vẫn đang phải chịu đựng trên toàn thế giới.
Long trọng thông qua bản tuyên bố và chương trình hành động sau đây.
ĐIỀU 1
Hội nghị thế giới về nhân quyền khẳng định việc tất cả các quốc gia đã cam kết trịnh trọng làm tròn nghĩa vụ xúc tiến trên toàn thế giới, sự tôn trọng, thực hiện và bảo vệ toàn bộ các quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, phù hợp với hiến chương Liên Hiệp Quốc, với các văn kiện khác liên quan đến nhân quyền và pháp luật quốc tế. Tính phổ biến của các quyền và quyền tự do đó là không thể bác bỏ được.
ĐIỀU 2
Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Căn cứ vào quyền này, họ được tự do quyết định quy chế chính trị của mình và tự do theo đuổi công việc phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa.
ĐIỀU 3
Xét đến tình hình đặc biệt của các dân tộc phải chịu sự đô hộ thực dân và các hình thức đô hộ hoặc chiếm đóng nước ngoài khác. Hội nghị thế giới về nhân quyền công nhận quyền các dân tộc có thể dùng mọi biện pháp chính đáng, phù hợp với hiến chương liên hợp quốc để thực hiện quyền tự quyết bất khả xâm phạm của mình. Hội nghị thế giới về nhân quyền coi việc phủ định quyền và nhấn mạnh rằng quyền đó phải được thực hiện một cách thực sự.
ĐIỀU 4
Tất cả các quyền con người đều có tính phổ biến, không tách rời nhau, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan chặt chẽ với nhau. Cộng đồng quốc tế cần phải xem xét nhân quyền một cách toàn cục, bình đẳng và công bằng, với một mức độ quan trọng như nhau trong khi quan tâm tới những đặc điểm dân tộc và khu vực, những khác nhau về lịch sử, văn hóa, tôn giáo. Các quốc gia, bất kể hệ thống chính trị, kinh tế và văn hóa như thế nào, cũng có nghĩa vụ xúc tiến việc thực hiện và bảo vệ các quyền con người và tất cả các quyền tự do cơ bản.
ĐIỀU 5
Các cố gắng của hệ thống Liên Hợp Quốc nhằm bảo đảm việc tôn trọng và thực hiện trên toàn cầu nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, góp phần vào việc tạo sự ổn định và điều kiện an sinh cần thiết cho việc thiết lập những mối quan hệ hòa bình và hữu nghị cho các quốc gia và tăng cường điều kiện cho hòa bình và phát triển xã hội kinh tế, phù hợp với hiến chương Liên Hợp Quốc.
ĐIỀU 6
Dân chủ, phát triển và tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản phụ thuộc lẫn nhau và tăng cường lẫn nhau. Dân chủ dựa trên cơ sở ý chí, được bày tỏ tự do, của các dân tộc muốn định ra hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của chính mình, và trên cơ sở các dân tộc đó được tham gia đầy đủ vào mọi mặt của cuộc sống xã hội. Trong bối cảnh như vậy, việc xúc tiến và bảo vệ các quyền con người và các quyền tự do cơ bản, ở mức độ quốc gia và quốc tế, cần mang tính phổ biến và được thực hiện mà không có sự áp đặt bất cứ điều kiện nào. Cộng đồng quốc tế cần cố gắng tăng cường và phát triển dân chủ, tăng cường và thúc đẩy sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản trên toàn thế giới.
ĐIỀU 7
Hội nghị về nhân quyền tái khẳng định rằng những nước kém phát triển là những nước tha thiết muốn đẩy mạnh dân chủ hóa và cải cách kinh tế, trong đó có nhiều nước Châu Phi, cần được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để vượt qua bước khó khăn trên con đường tiến đến dân chủ và phát triển kinh tế.
ĐIỀU 8:
Hội nghị thế giới về nhân quyền tái khẳng định rằng quyền phát triển, như đã được xác định trong bản tuyên bố về quyền phát triển, là một quyền phổ biến và bất khả xâm phạm, là một bộ phận gắn liền với các quyền cơ bản của con người.
ĐIỀU 9
Như đã nói trong bản tuyên bố về quyền phát triển, con người là chủ thể trung tâm của phát triển. Nếu phát triển tạo thuận lợi cho việc hưởng thụ mọi quyền của con người, thì thiếu phát triển không thể là một lý do để biện hộ cho việc hạn chế quyền con người đã được quốc tế công nhận. Các quốc gia hợp tác với nhau để bảo đảm công cuộc phát triển và loại bỏ những trở ngại đối với công cuộc này. Cộng đồng quốc tế cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế một cách hữu hiệu để loại bỏ những trở ngại đó và thực hiện quyền phát triển.
ĐIỀU 10
Để việc thực hiện quyền phát triển đạt được những tiến bộ lâu dài, ở mức độ quốc gia, cần có những chính sách phát triển hữu hiệu, và ở mức độ quốc tế, cần có những quan hệ kinh tế công bằng và một môi trường kinh tế thuận lợi.
ĐIỀU 11
Quyền phát triển phải được thực hiện làm sao để thỏa mãn một cách công bằng những nhu cầu của những thế hệ hiện tại và tương lai về phát triển và môi trường. Hội nghị thế giới về nhân quyền thừa nhận rằng việc trái phép trút các chất và phế thải độc hại có thể tạo nên mối đe dọa nghiêm trọng đối với quyền sống và quyền có sức khỏe của mỗi người.
ĐIỀU 12
Hội nghị thế giới về nhân quyền kêu gọi cộng đồng quốc tế ra sức cố gắng giảm nhẹ gánh nặng nợ nước ngoài của các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ các cố gắng của chính phủ các nước đó để thực hiện đầy đủ các quyền kinh tế, xã hội, và văn hóa của nhân dân họ.
ĐIỀU 13
Sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản không có bất cứ sự phân biệt nào, là một luật lệ sơ đẳng của luật phát quốc tế về nhân quyền này. Một nhiệm vụ ưu tiên của cộng đồng quốc tế là nhanh chóng, toàn bộ, loại bỏ mọi hình thức của chủ nghĩa chủng tộc và kỳ thị chủng tộc, cũng như kết quả của những tệ nạn đó là bài ngoại và không khoan dung. Các chính phủ cần có những biện pháp hữu hiệu để ngăn cấm và đấu tranh chống các tệ nạn này.
ĐIỀU 14
Những hành động, phương pháp và cách thể hiện chủ nghĩa khủng bố dưới bất kỳ hình thức nào, và tại một số nước, sự liên hệ của nó với nạn buôn lậu ma túy, là nhằm thủ tiêu các quyền con người, các quyền tự do cơ bản và dân chủ, đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh của các quốc gia, và gây mất ổn định cho những chính phủ được lập nên một cách hợp pháp. Cộng đồng quốc tế cần có được những biện pháp cần thiết để tăng cường hợp tác trong việc ngăn cấm và đấu tranh chống nạn khủng bố.
ĐIỀU 15
Các quyền cơ bản của phụ nữ và em gái nhỏ là một bộ phận cấu thành và không thể tước bỏ, bộ phận cấu thành và không thể tách rời các quyền phổ biến của con người. Sự tham gia bình đẳng, và đầy đủ của phụ nữ và đời sống chính trị, công dân, kinh tế, xã hội và văn hóa, ở mức độ quốc gia, khu vực và quốc tế và việc loại bỏ hoàn toàn mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên giới tính, đều là những mục tiêu ưu tiên của cộng đồng quốc tế.
ĐIỀU 16
Những hành động bạo lực dựa vào giới tính và mọi hình thức hành hạ bóc lột thuộc về giới tính, kể cả những hành động bạo lực do những thành kiến văn hóa và nạn buôn bán quốc tế tạo ra đều không phù hợp với nhân phẩm và giá trị con người và cần phải loại bỏ. Điều đó có thể thực hiện được bằng con đường pháp lý và dựa trên một hành động quốc gia và sự hợp tác quốc tế về các lĩnh vực như phát triển kinh tế và xã hội, giáo dục, bảo vệ quyền làm mẹ, chăm sóc sức khỏe và trợ giúp xã hội.
ĐIỀU 17
Các quyền cơ bản phụ nữ phải là một bộ phận gắn liền của các hoạt động Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực nhân quyền, mà các hoạt động đó phải bao gồm cả việc cải tiến các văn bản về nhân quyền liên quan đến phụ nữ.
ĐIỀU 18
Hội nghị thế giới về nhân quyền khẩn thiết yêu cầu các chính phủ, các thiết chế, các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ tăng cường cố gắng để bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện các quyền cơ bản của phụ nữ và các em gái nhỏ.
ĐIỀU 19
Hội nghị thế giới về quyền con người tái khẳng định rằng các quốc gia có nghĩa vụ quan tâm đến việc bảo đảm cho những người thuộc các thiểu số có thể thực hiện một cách đầy đủ và thực sự tất cả các quyền tự do cơ bản của con người, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào mà hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật, phù hợp với bản tuyên bố về các quyền của những người thuộc các thiểu số dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ.
ĐIỀU 20
Những người thuộc các thiểu số có quyền hưởng thụ nền văn hóa riêng của họ, truyền bá và tin theo tôn giáo của họ và sử dụng tiếng nói của họ, trong chỗ riêng tư cũng như công khai, tự do mà không có sự can thiệp và bất kỳ hình thức đối xử nào.
ĐIỀU 21
Hội nghị thế giới về nhân quyền công nhận phẩm cách nội tại của các dân bản địa và cống hiến đặc biệt của họ vào sự phát triển và tính đa dạng của các xã hội, và tái khẳng định mạnh mẽ cam kết của cộng đồng quốc tế về việc bảo đảm cho họ được cuộc sống yên vui về các mặt kinh tế, xã hội và văn hóa và được hưởng những thành quả của một công cuộc phát triển lâu dài. Các quốc gia cần quan tâm đến việc các số dân đó được tham gia đầy đủ và tự do vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là trong những lĩnh vực mà họ quan tâm.
ĐIỀU 22
Cần tăng cường các bộ máy và chương trình quốc gia và quốc tế về bảo vệ và bảo hộ trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái, trẻ bị bỏ rơi, trẻ lang thang, trẻ em bị bóc lột về kinh tế và giới tính đặc biệt là vì mục đích mại dâm, hay buôn bán các bộ phận của cơ thể của trẻ em, bảo vệ và bảo hộ trẻ em mắc bệnh tật, đặc biệt là bệnh AIDS, trẻ em phải trốn tránh hay bị buộc rời chỗ ở, trẻ em bị giam cầm, trẻ em bị dính líu vào những vụ xung đột vũ trang, cũng như những trẻ em gặp nạn đói, nạn hạn hán và các trường hợp khẩn cấp khác. Cần tạo ra một sự hợp tác và đoàn kết quốc tế mạnh mẽ hơn để hỗ trợ cho việc thực hiện công ước (về các quyền của trẻ em) và các quyền này cần có vị trí ưu tiên trong các hoạt động.
ĐIỀU 23
Cần đặc biệt quan tâm để những người tàn phế không bị phân biệt đối xử và có thể thực hiện một cách công bằng tất cả các quyền và quyền tự do cơ bản của con người, bao gồm cả việc tham gia tích cực vào mọi mặt của đời sống xã hội.
ĐIỀU 24
Hội nghị thế giới về nhân quyền tái khẳng định rằng mọi người, không có bất kỳ sự phân biệt nào, đều có quyền lánh nạn ở những nước khác để thoát khỏi bị hành hạ, cũng như có quyền được trở về đất nước của mình.
ĐIỀU 25
Hội nghị thế giới về nhân quyền tái khẳng định vai trò quan trọng và xây dựng của các thiết chế quốc gia nhằm đề cao và bảo vệ nhân quyền, đặc biệt là vai trò cố vấn cho nhà chức trách có thẩm quyền, cũng như vai trò trong hoạt động nhằm khắc phục những vi phạm nhân quyền, trong việc phổ biến thông tin và giáo dục về nhân quyền.
ĐIỀU 26
Các thiết chế khu vực đóng một vai trò cơ bản trong việc xúc tiến và bảo vệ nhân quyền. Các thiết chế này cần tăng cường các tiêu chuẩn phổ biến về nhân quyền như được nêu lên trong các văn kiện quốc tế, và bảo vệ các tiêu chuẩn đó. Hội nghị thế giới về nhân quyền ủng hộ những cố gắng đã có nhằm tăng cường nâng cao hiệu lực của các thiết chế đó đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác với Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực này. Hội nghị tái khẳng định rằng, tại nơi nào chưa có, cần tạo ra những thiết chế khu vực và tiểu khu vực nhằm thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ nhân quyền.
ĐIỀU 27
Hội nghị thế giới về nhân quyền thừa nhận vai trò quan trọng của các tổ chức phi chính phủ trong việc đẩy mạnh thực hiện mọi quyền của con người và trong hoạt động nhân đạo ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế. Hội nghị hài lòng về sự đóng góp của các tổ chức này và cố gắng tuyên truyền phổ biến các vấn đề liên quan đến nhân quyền vào việc thực hiện các chương trình giáo dục, đào tạo và nghiên cứu về nhân quyền và các quyền tự do cơ bản. Trong khi thừa nhận rằng việc đề ra những tiêu chuẩn chủ yếu là trách nhiệm của các nhà nước, hội nghị cũng vui mừng về sự đóng góp của các tổ chức này vào vấn đề đó, về phương diện này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm kiếm sự đối thoại và hợp tác giữa các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ.
.........................................................................................
NIỀM HY VỌNG MAI SAU CHO CÂU LẠC BỘ
CON NGƯỜI THỢ THÊU VẼ TRANH
Chương trình: “KHAI PHÁ TRÁI ĐẤT”
.........................................................................................
CÂU LẠC BỘ CON NGƯỜI THỢ THÊU
Thưa anh chị em nghệ nhân – nghệ sỹ XQ
Làm sao để con cháu mình sau này đạt đến lý tưởng của Đức Tin của ĐẠO TRUNG – ĐẠO HIẾU. Phải tạo ra một không gian (câu lạc bộ) để con cháu mình có khả năng hấp thụ cả các khoa học con người lẫn các khoa học khác để bổ sung cho Đức Tin và góp phần làm cho đức tin (Đạo Trung – Đạo Hiếu) trở thành sâu sắc.
Tất cả chúng ta không phân biệt nam-nữ, vị trí cao hay thấp mà hãy cùng nhau hợp lực để giúp con cháu của mình hôm nay và sau này leo lên đến những đỉnh cao của hoàn thiện, của tri thức và lòng yêu tổ quốc.
Thế giới mà chúng ta đang sống, có quá nhiều thế giới quan khác nhau (cách nhìn nhận). Chúng ta không đoạn tuyệt với thế giới quan nào cả mà hãy đưa vào đó một yếu tố khác thuộc về con người nhiều hơn, đó là lý trí- tri thức và Đức Tin văn hóa dân tộc mình.
Đây là một khía cạnh lớn của chủ nghĩa nhân văn nghề thêu, mong muốn chấm dứt nỗi sợ hãi với cái siêu nhiên, cái vô định- chấm dứt nỗi hãi hùng phi lý của con người, tức là chống lại mọi sự tha hóa – dù là sự tha hóa của một ý chí độc đoán áp đặt tiêu chuẩn đạo lý cho con người .
Tóm lại làm cho Đức Tin về văn hóa dân tộc mình hợp với con người, tạo ra một thế giới nhân đạo hơn. Đạt được mục đích này, nếu con người nhận thức đầy đủ tiềm năng của mình, nếu làm cho cuộc sống của mình cao đẹp hơn bằng cách rũ bỏ mọi sự dốt nát để có cách sống tốt đẹp hơn.
Cái ác tồn tại không phải do số phận và định mệnh, không phải từ “Siêu Nhiên”. Mà là hậu quả của những điều người này gây ra cho người khác, hoặc lỗi lầm của con người tự gây ra. Đó là hậu quả của sự dốt nát. Lý trí- tri thức và đức tin đối với con người, nó giống như con mắt đối với sự nhìn, chỉ có nó mới xua đuổi ác cảm và hận thù. Khi không có tri thức giống như người mù, va đầu vào tường, vấp những người đi qua. Bạo ngược là điều ác mà con người gây ra lẫn nhau. Các tri thức là điều kiện cần thiết cho sự cứu chuộc lịch sử của con người.
Lòng ái quốc không thể dành riêng cho một nhóm người đã được lựa chọn, mà nó mở rộng cho tất cả mọi người, thể hiện sự trung thành niềm tin với tổ tiên. Như vậy con cháu của chúng ta sẽ hội nhập vào ngọn triều sáng tạo của toàn thể loài người. Như Bác Hồ đã kêu gọi Đạo Đức học tương lai của chúng ta.
“ Hỡi Đông Dương đáng thương hại! ngươi sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của người không sớm hồi sinh”
(thư gửi thanh niên An Nam, 1925)
“Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công lao học tập của các cháu”.
Hồ Chí Minh
.........................................................................................
Chúng ta phải tự hỏi: hành tinh của chúng ta có thể tiếp tục gánh bao nhiêu con vật và con người mà chất lượng cuộc sống tồi kém đi, vẻ đẹp của trái đất đang bị tàn phai.
Dân số hiện nay trên 5,7 tỷ người, cứ 6 tháng một lại có số dân trên số dân Việt Nam cộng vào con số cũ. Và cứ 10 năm một, cái tổ kiến loài người có thêm một số dân tương đương với số dân Trung Quốc, gia tăng dân số với nhịp điệu như vậy – giải quyết quá phức tạp, càng khó khăn vì dính đến phong tục tập quán, tôn giáo.v.v…
Chúng ta quy trách nhiệm cho nhiều vấn đề… nhưng ngược lại có thể gán trách nhiệm ấy cho cái gọi là ”NỖI LO TƯƠNG LAI”.
Không có bảo hiểm tuổi già – tiền lương hưu, nếu có thì không đủ cho chi dùng nhu cầu tối thiểu.
Trước viễn cảnh về già, người ta hoảng hốt ngay khi còn trẻ, nhất là trong tình hình hiện thời người ta già đi nhanh vì điệu kiện y tế và đời sống tồi kém. Họ cần có một đứa con trai để trông cậy lúc tuổi già. Do may rủi trong việc sinh trai hay gái, tỷ lệ tử vong, đến khả năng có những đứa con không quan tâm đến cha mẹ. Họ phải đẻ 6 con để có thể có 3 trai. 3 đứa trai để 2 đứa còn sống, và 2 đứa sống để có một đứa yêu thương cha mẹ.
Còn có nhân tố mù chữ của phụ nữ, do nghèo nàn sinh ra - con trai ưu tiên hơn con gái trong việc đến trường, trong văn hóa luôn tuân theo ý muốn của nam giới, mà nam giới chẳng cần quan tâm đến hậu quả hoặc họ muốn có nhiều con để trông nom họ lúc tuổi già.
Khống chế tỉ lệ sinh đẻ trước hết là một vấn đề cá nhân, nhưng nó cần được sự hỗ trợ toàn xã hội, cần đầu tư vào giáo dục và phúc lợi cho những đứa trẻ đã ra đời trước khi khuyến khích các bậc cha mẹ cho ra đời những đứa trẻ khác.
.........................................................................................
PHÒNG TRIỂN LÃM
CA DAO TỤC NGỮ VÀ TINH THẦN QUỐC GIA
Trong một nền kinh tế toàn cầu hóa… Nó đã làm sứt mẻ bản sắc Việt.. Bằng cách loan truyền tính ưu việt văn minh của phương Tây và các nước khác..
Để đổi lại chúng ta hãy trở về cái cội nguồn của triết học Việt (qua ca dao tục ngữ) chứng minh rằng tư tưởng của nhân dân Việt Nam mình không thua kém bất kỳ dân tộc nào trong lĩnh vực logich và duy lý. Trong triển lãm này chúng ta đề cao tư tưởng của các bậc hiền nhân xưa (thông qua ca dao tục ngữ) mong đem lại niềm tự hào dân tộc chúng ta.
Chính qua ca dao tục ngữ (triết học Việt) là một cái gì sống động, kêu gọi hãy gạt bỏ những phong tục cổ lỗ và rũ bỏ đầu óc mê muội, mê tín.
Truyền thống phong phú và lâu đời của dân tộc chúng ta đã bị chặn giữ lại… và nay đòi hỏi phải được đổi mới và phát triển hơn nữa. Hay nói một cách khác, không được để chân lý bị bóp nghẹt dưới đống tro tàn của quá khứ. Và truyền thống của dân tộc chúng ta phải ra sức tiếp thu tư tưởng triết học và khoa học của phương Tây.. văn hóa Việt của chúng ta trở thành một bộ phận của nền văn minh thế giới. Xây dựng trên một niềm tin CHỦ NGHĨA DÂN TỘC.
Việt Nam là một viên gạch như các viên gạch khác xây dựng nên tòa nhà của chủ nghĩa quốc tế.
Tất cả chúng ta, những đứa con nghề thêu của mẹ. Hãy ra sức chiến đấu vì nhân phẩm và chất lượng cuộc sống…thông qua các hoạt động nghệ thuật của mình truyền bá về sự ra đời của một nền văn minh mới, xây dựng trên dự đoàn kết của nhân loại, sự hòa hợp tinh thần dựa vào một ý thức không phải xây dựng trên các giáo điều mà trên sự phát triển của cá nhân và lòng yêu thương đồng loại. Không bao giờ chấp nhận ý kiến cho rằng một người thợ thêu lại không thể làm một người Việt yêu nước.
Trong ca dao tục ngữ .. có một định nghĩa về lòng yêu nước: dù không vị trí quyền hạn nhưng luôn gắn bó công việc hàng ngày với lợi ích cộng đồng
Thêu lên thêu xuống quê nhà
Em thêu em chớ quên tình quê hương
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Ru hời ru hỡi là ru
Cha con còn ở chiến khu chưa về
Con ơi! Nhớ trọn lời thề
Tự do, độc lập, không nề hy sinh
Ai ơi giữ phép nước nhà
Ai ơi thương lấy dân nhà một tông
Có hậu dưỡng mới phú phong
Kẻ cày người cấy sống trong thái bình.
Dân tộc ta từ đâu đến? Hiện thời là ai? Ta sẽ đi về đâu? Trật tự hiện thời có ý nghĩa gì? Ta biết gì về nguồn gốc của nó?
.........................................................................................
XÓA NẠN MÙ CHỮ ?
Con người này có tiềm năng đọc. Họ trở thành độc giả thôi, ta tự hỏi với nhau mục tiêu xóa nạn mù chữ đã đạt được chưa? Vì lúc này anh hay chị ta đọc gì ? và đọc như thế nào ? Để chữ biến thành tinh thần và văn bản trở thành thực tế sống động thay vì chỉ là từ ngữ chết (bãi tha ma chữ nghĩa). Cho nên thư viện nghệ nhân chúng ta phải có những chương trình công nhận và tố giác sự tồn tại với một trung gian: Gọi là những người “MÙ CHỮ MỚI”
MÙ CHỮ MỚI
Họ trở thành độc giả tốt nhưng không chịu bước vào bầu trời rạng rỡ của sự đọc – mà cứ chơi vơi trong vòng u u minh minh ở giữa
Không phải chúng ta thiếu thư viện – thiếu sách
Ngày hôm nay có hai loại mù chữ
Là người đã học trên ghế nhà trường, song không chịu trau dồi khả năng của mình mà suốt ngày để đọc thư, tin nhắn, chọn phim để xem hoặc tra số danh bạ điện thoại v.v... Số khác có máu phưu lưu hơn thì đọc lướt tựa đề trên một tờ báo nào đó.
Giống như bầy ong vo ve trên một đám hoa - mà ta thấy lăng xăng quanh những quán báo. Đó là những người không bao giờ mở một cuốn sách, mà bị mê hoặc bởi bao đầu đề của tạp chí – báo – và những chủ đề được đề cập, họ không ngừng cố gắng để đọc, ôm về nhà cả chồng báo, miệt mài đọc hàng giờ giống như một đứa bé ghép hình mà không bao giờ ghép trọn được toàn bộ. Càng đọc càng dấn sâu vào dại dương mênh mông ấn phẩm (khi đọc sách ta thấy được chữ mở đầu và chữ kết thúc, ta dừng lại nghỉ ngơi). Nhưng một người đọc tạp chí nhất là khi mua dài hạn thì giống như nữ thần tóc rắn đuổi theo – bị ngập chìm dưới những số mới ra.
Là những người đi trên các ngả đường đời mới học được lõm bõm mà tưởng đâu chiến thắng được sự dốt nát bẩm sinh. Người này sẽ tìm cách sống no nê trong khu rào ấm êm của trì độn với những tiện nghi vật chất của thế giới hiện đại mang cái án “dốt nát chung thân”, nhồi nhét đầy bao tử không phải trái quả từ “cây đời” cao quý mà hoàn toàn những thức ăn tổng hợp, phép màu tối hậu của tiến bộ
Đề nghị các cháu Câu Lạc Bộ Con Người Thợ Thêu
Hãy diễn đạt tác phẩm vẽ với chủ đề:
Con quái vật của sự dốt nát bẩm sinh ( trộm cắp- bạo ngược- hưởng thụ)
Những tác phẩm này sẽ mua lại tham gia cuộc triển lãm về lịch sử và sự tiến hóa của chữ viết, từ chữ tượng hình đến chữ viết của máy tính điện tử