Căn phòng: Thẩm mỹ học hai chữ: NƯỚC NHÀ

Căn phòng:                                                         
Thẩm mỹ học hai chữ: NƯỚC NHÀ
 

HAI CHỮ "NƯỚC NHÀ"

THÁC NGÔN NGUYỄN PHI KHANH nói với NGUYỄN TRÃI dặn dò cho những người con trai thế hệ. Khi ông bị Quân Minh bắt giải sang Tàu.

Tác giả: Á-NAM TRẦN TUẤN KHẢI 1894

     Dùng nghệ thuật thi ca. Là tiếng Đồng Vọng của thế hệ. Biểu lộ tấm lòng tha thiết với Quê Hương luôn lưu tâm đến Vận Nước. Với mong ước gieo vào lòng người một ý chí bất khuất - một hùng khí ngùn ngụt, một nghĩa vụ thiết yếu của con người đúng với danh nghĩa “Làm Người” của nó.


Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm,
Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu.
Bốn bề hổ thét chim kêu,
Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình.

Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước,
Chút thân tàn lần bước dặm khơi;
Trông con tầm tã châu rơi,
Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên:

Giống Hồng - lạc, hoàng thiên đã định,
Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay,
Trời Nam riêng một cõi nầy,
Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì !

Than vận nước gặp khi biến đổi,
Để quân Minh thừa hội xâm lăng,
Bốn phương khói lửa bừng bừng,
Xiết bao thảm họa sương rừng máu sông!

Nơi đô thị thành tung vách vỡ
Chốn dân gian bỏ vợ lìa con,
Làm cho xiêu tán hao mòn,
Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu !

Thảm vong quốc kể sao xiết kể !
Trông cơ đồ nhường xé tâm can,
Ngậm ngùi đất khóc trời than,
Thương tâm nòi giống lầm than nỗi nầy !

Khói – Nùng - lĩnh như xây khối uất,
Sóng Long-giang nhường vật cơn sầu;
Con ơi ! càng nói càng đau...
Lấy ai tế độ đàn sau đó mà ?

Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.

Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao,
Bắc Nam bờ cõi phân mao
Ngọn cờ độc lập máu đào còn giây.

Kìa Trưng-nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.

Kìa Hưng-Đạo gặp khi quốc biến,
Vì giống nòi huyết chiến bao phen !
Sông Bạch-Đằng phá quân Nguyên,
Gươm treo chính khí, nước rền dư uy,

Coi lịch sử gương kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan,
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay xẻ nghé tan đàn vì ai ?

Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc cân Gia,Quốc đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc-Hồng,

Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi !
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,

Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai ?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quí mà nguôi tấc lòng,

Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi ! nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.

Chớ lần lữa theo loài nô lệ.
Bán tổ tiên kiếm kế sinh nhai,
Đem thân đầy đọa tôi đòi,
Nhục nhằn bêu riếu muôn đời hay chi ?

Sống như thế sống đê sống mạt,
Sống làm chi thêm chật non sông !
Thà rằng chết quách cho xong,
Cái thân cẩu trệ ai mong có mình !

Huống con cũng học hành khôn biết,
Làm giống người phải biết nông sâu,
Tuồng chi gục mặt cúi đầu,
Cam tâm làm kiếp ngựa trâu cho đành !

Nỗi tâm sự đinh ninh nhường ấy,
Cha khuyên con có bấy nhiêu lời,
Con ơi ! con phải là người,
Thì con theo lấy những lời cha khuyên.

Cha nay đã muôn nghìn bi thảm,
Nói bao nhiêu tâm khảm càng đau,
Chân mây mặt cỏ rầu rầu
Càng trông cố quốc mạch sầu càng thương!

Lời cha dặn khắc xương để dạ,
Mấy gian lao con chớ sai nguyền;
Tuốt gươm thề với xương thiên,
Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu.

Gan tráng sĩ vững sau như trước,
Chí nam nhi lấy nước làm nhà,
Tấm thân xẻ với san hà,
Tượng đồng bia đá họa là cam công.

Nữa mai mốt giết xong thù nghịch,
Mũi long tuyền lau sạch máu tanh.
Làm cho đất động trời kinh,
Bây giờ quốc hiển gia vinh có ngày.

Nghĩa vụ đó, còn hay chăng tá.
Tính toan sao vẹn cả đôi đường.
Cha dù đất khách gửi xương,
Trông về cố quốc khỏi thương hồn già,
Con ơi, Hai Chữ Nước Nhà ...
 
 
 
 
 
.
.
.