ĐÀ LẠT XQ SỬ QUÁN- LINH HỒN CỦA NGHỀ THÊU

ĐÀ LẠT XQ SỬ QUÁN- LINH HỒN CỦA NGHỀ THÊU
 
     - Cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng mười lăm cây số có một công trình được đặt tên Đà Lạt - XQ Sử Quán nơi đó không những với các bảo tàng và nhiều loại hình nghệ thuật mà nó còn có những khu vườn tái tạo lại thiên nhiên theo một mô hình thu nhỏ để ca ngợi sự hài hòa giữa Trời đất và Con người. Khi khách đến tham quan là cuộc hành trình khai tâm qua những lối mòn quanh co của những cảnh quan nhân tạo này.
 
     Vào năm 1996, ông Võ Văn Quân là người quyết định xây dựng một công trình đầu tiên giới thiệu di sản văn hóa nghề thêu của người phụ nữ Việt Nam được đặt tên: ĐÀ LẠT- XQ SỬ QUÁN (một cái quán trên Đà Lạt nơi kể về cuộc đời và nỗi đam mê của người phụ nữ Việt Nam làm nghề thêu truyền thống) không những giới thiệu trong nước mà còn giới thiệu với những người phương tây về nền văn hóa này. Đối với ông, cái thiên đường trên Trái Đất này trước hết là một “thành phố tơ lụa phồn thịnh”- thêu dệt, sau đó những người khác, bị quyến rũ bởi hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong những bộ y lễ truyền thống với tài năng tinh tế và khéo léo trong nghề thêu sau đó những giới văn nghệ sĩ nhà thơ hội họa diễn viên điện ảnh trong và ngoài nước đến và đã góp phần làm cho XQ Sử quán thêm lừng danh, nơi đó còn giới thiệu nó như thiên đường của những người sành ăn trong một khu vực ẩm thực nhan đề: Cuộc đời và nỗi đam mê của một người Việt Nam sành ăn - thanh danh của công trình này đã đạt tới một tầm vóc mới.
 
     Là con đẻ của thiên nhiên, con người, dù có tàn bạo đến mấy, cũng không thể nào không cần đến núi, nước, cỏ, cây, Mặt Trời, không khí. Nếu tách con người ra khỏi những yếu tố ấy, họ sẽ cảm thấy ngột ngạt, không thoải mái và chỉ mong thoát ra khỏi tình cảnh đó. Ngay khi có điều kiện, họ đi nghỉ. Thế nhưng, thay vì đi du lịch là một hoạt động mệt nhọc, tốn kém, thậm chí nguy hiểm, tại sao lại không làm ra một mô hình thu nhỏ của thiên nhiên, "một thiên nhiên nhân tạo" để sử dụng hàng ngày?
 
     Ở phương tây chẳng hạn, các công viên thường rất rộng lớn. Những cánh rừng mênh mông có nhiều sông, suối chảy qua trải rộng ngút ngàn mà không hề có một chướng ngại nào làm xáo trộn cảnh tượng thiên nhiên này. Những công viên ấy trên thực tế là những mảng thiên nhiên lớn mà người ta đã rào lại và tu sửa đôi chút bằng cách thêm vào chỗ này chỗ khác những tòa nhà, bên bờ sông hay cạnh bìa rừng.
 
     Trái lại, các khu vườn cảnh phương Đông thể hiện một ý niệm về sự hài hòa giữa Trời và Con người, một nét đặc trưng của triết học Phương Đông Vườn cảnh Tại Đà Lạt XQ Sử Quán là sản phẩm của một sự "gia công" đích thực của con người. Trên một thung lũng, ông ta chế tạo ra những mô hình thu nhỏ của mọi yếu tố cơ bản của thiên nhiên. Vì không thể dời núi, người ta xây những hòn non bộ. Vì không thể thay đổi dòng chảy của sông ngòi, người ta khoét đất và cho nước chảy qua tạo ra được một cái ao, những nghệ nhân nghệ sĩ nơi đây thừa nhận, mà không hề hổ thẹn một cách giả tạo, rằng họ đã "giả mạo" núi và sông. Tuy nhiên, sự "giả mạo" này là một sáng tạo nghệ thuật thực sự, và do đó, về căn bản, nó đúng như thật.
Nó được xây dựng bằng linh hồn của chủ nhân chứ không phải bằng đôi tay, một chuyên gia đương đại về vườn cảnh Đà Lạt XQ Sử Quán: "Một khu rừng mà giống như một khu vườn thì thật là kỳ lạ, một khu vườn mà giống như một khu rừng thì thật là kỳ diệu".
 
     Vườn cảnh XQ luôn được tô điểm bằng đủ loại cầu thu nhỏ. Dẫu sao, một hòn núi tự nó không tạo nên một phong cảnh. Nước là yếu tố quan trọng thứ hai của vườn cảnh, cần phải biết làm thế nào bắt chước những khúc uốn của một con sông, để đạt tới cái gọi là "những dòng nước quanh co". Nơi này đã tỏ ra rất xuất sắc trong nghệ thuật này.
Nói đến sông là nói đến cầu. Khu vườn XQ Sử Quán luôn được tô điểm đủ loại cầu thu nhỏ, bằng gỗ hay bằng đá. Khu Vườn “ TRÚC LÂM THU VÃNG chẳng hạn, có một chiếc cầu nhỏ rất đẹp hình vòng cung, chỉ 2 hay 3 bước chân là vượt qua được.
 
     Núi, sông, cầu đều đã có, còn cây cối thì sao? Một phong cảnh không cây cối, không hoa lá thì thật trơ trọi. Cây cổ thụ là tài sản quý giá nhất của những khu vườn "Lưu Viên" (vườn Hãy nán lại) chễm chệ một cây đa đã hàng 100 năm tuổi. Chính dưới bóng của tán cây, chủ nhân của mảnh đất đã chọn nơi xây khu thư viện dành cho phụ nữ.
 
     Không nên sốt ruột khi ta đi thăm XQ Sử Quán. Khác với những công trình khác, là nơi chỉ thoáng nhìn ta đã choáng ngợp ngay vì vẻ lộng lẫy của tòa lâu đài và công viên, khu vườn XQ ẩn nấp sau những đường hẻm, như những tiểu thư trong khuê phòng. Khi đặt chân vào một khu vườn, rất có thể bạn sẽ phần nào cảm thấy thất vọng cái nhìn đầu tiên mà bạn thấy là một đường hành lang dài, ngoằn ngoèo. Đó là "lối đi quanh co dẫn tới một cảnh đẹp thanh thản bình yên". Thoạt tiên nó chẳng có gì đáng chú ý. Nhưng chẳng mấy chốc, sau một bức tường, một mảnh vườn sẽ "nháy mắt" với bạn qua những trụ cam - xe được cấy những loại phong lan rừng (gỗ lũa). Và xa xa hiện lên những hàng cây và nhà cảnh... Vài bước nữa, ở chỗ ngoặt của con đường, một khu vườn tráng lệ trải ra trước mắt bạn. "Qua mỗi bước lại thay đổi phong cảnh", đó là quy tắc thứ hai cần phải tôn trọng. Bạn càng đi thì cảnh tượng càng thay đổi. Để tránh cảm tưởng đơn điệu và lặp lại, người ta dựng những bức vách bằng gỗ lũa để phân chia khu vườn thành nhiều đơn vị mà không ngăn chặn một cái nhìn toàn cục. Trong một khu vườn, cặp mắt của bạn không lúc nào được ngơi nghỉ. Ở mỗi chỗ ngoặt, một tảng đá, một khóm hoa hay một trụ gỗ lũa có thể làm bạn sững sờ. Mỗi mảnh đất đều được trình bày như một bức họa rực rỡ. Một góc chết ở đây được coi như một nét vẽ không đạt.
 
     Phương pháp chia cắt không gian bằng những cổng, cửa sổ, hành lang, vườn non bộ và suối nước tạo ra cho du khách cái cảm tưởng được ngắm nhìn một mô hình thu nhỏ của thiên nhiên. Nó đem lại cái gọi là "một thoáng nhìn cái hùng vĩ thông qua cái thu nhỏ".
 
     Ngày nay, các kiến trúc sư phải lập đồ án trước khi tiến hành xây dựng một công viên. Những người xây vườn ở XQ Sử Quán chẳng hề có đồ án. Họ lấy ý niệm từ thơ ca. Và cảm hứng của họ phần lớn còn bắt nguồn từ nền hội họa phương Đông, và ngược lại, chính nền hội họa này đã thường ca ngợi vẻ đẹp trong những tác phẩm của họ. Do vậy, nhiều họa sĩ, thi sĩ và nhà thư Pháp đã góp sức tạo dựng khu vườn…
 
     Khu vườn XQ này không bao giờ được hoàn tất thực sự. Theo dòng thời gian, chúng được mở rộng, nâng cấp và hoàn thiện. Mỗi khi một góc vườn, một căn nhà cảnh, một con suối được hoàn tất, thường có tục lệ mời các bạn văn nghệ sĩ đến thưởng thức rượu ngon và mặc sức bình thơ. Các vị khách thư pháp nắn nót viết chữ lên đà cửa và viết những câu đối trên các cột chống. Họ cũng đưa ra những lời khuyên nên đặt một chiếc cầu hay một nhà cảnh mới ở chỗ nào. Sau đó, trang trí khu vườn theo những ý kiến đã được tiếp nhận, rồi lại mời bạn bè đến nhắm rượu và làm thơ.
 
     Nếu được tạo dựng theo cách khác, chắc hẳn khu vườn XQ Sử Quán đã không có được sự tinh tế khiến cho nó nổi danh đến thế.

 

 

Website: www.phunuxqvietnam.com

Mời bạn truy cập vào đường link trên để xem chi tiết.
--------------
TRUNG TÂM ĐÀ LẠT - XQ SỬ QUÁN
---------------------------
Bạn muốn trò chuyện với nghệ thuật truyền thống với những nghệ nhân - nghệ sĩ XQ xuất sắc nhất?
Bạn muốn tra cứu danh mục thư viện tranh thêu XQ?
Bạn muốn chiêm ngưỡng những kiệt tác nghệ thuật thêu của bảo tàng XQ Sử Quán?
Hay muốn tra cứu những cơ sở dữ liệu Thương mại – Hợp tác?

Liên hệ trực tiếp qua số điện thoại:
02633 831 343
---------------------------
KIẾN TRÚC ĐÀ LẠT - XQ SỬ QUÁN
Là một công xưởng chế tạo nên ước mơ của người phụ nữ Việt Nam, thông qua ngành nghề thêu truyền thống dân tộc. Cũng là không gian tìm lại cội rễ văn hóa và kinh tế vững chắc trên mảnh đất quê hương mình… Nếu không, nghề thêu truyền thống dân tộc sẽ có những nguy cơ không lý do tồn tại…

Không gian sản xuất giấc mơ này gồm 3 hệ thống chính:
I. Hệ thống cảnh quan nghề thêu
II. Hệ thống phong tục nghề thêu
III. Hệ thống minh tinh của nghề thêu

Chính hệ thống này hình thành và phát triển các bộ môn nghệ thuật thêu trong không gian XQ – Sử Quán:
1. Bộ môn thêu tranh phong cảnh
2. Bộ môn thêu tranh chân dung
3. Bộ môn thêu tranh 2 mặt
4. Bộ môn điêu khắc chỉ
5. Bộ môn thời trang thêu

Các nội dung nghệ thuật của các bộ môn này hướng vào 5 mô hình chủ yếu của Huyền thoại:
1. Sự trở về quê hương Việt Nam (Bảo tàng Ước Nguyện Ngàn Năm)
2. Tình yêu không bao giờ đạt được sự viên mãn (bảo tàng hoa Tri Kỷ Hữu)
3. Tự vấn con người và cuộc đời (bảo tàng nghệ thuật thêu đương đại)
4. Bảo tàng Phụ nữ trong nội thất
5. Bảo tàng Hòa Bình

VỚI NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH “KHAI THÔNG” VĂN HÓA NGHỀ THÊU

1. Giới thiệu Tác giả, Tác phẩm - xếp đặt và trình diễn - các lễ hội XQ - nghệ thuật hòa nhập và can thiệp. “Nơi kể về cuộc đời và nỗi đam mê của người phụ nữ trong nghề thêu truyền thống dân tộc Việt Nam” thông qua những biến số của nghề như:
- LỊCH SỬ NGHỀ THÊU
- NGÔN NGỮ NGHỀ THÊU
- TÂM LÝ GIỚI TÍNH – NHÂN CHỦNG NGHỀ THÊU
- BÍ TRUYỀN (Phong tục – niềm tin…) CỦA NGHỀ THÊU

2. Thể hiện tình cảm người đương thời qua những chương trình hoạt động XQ và lợi ích cộng đồng.

3. Thể hiện xúc động và độc đáo trong công cuộc tìm kiếm một chủ nghĩa nhân văn mới, trong một thế giới giằng xé và bất trắc – khủng hoảng.

4. Giới thiệu những sáng tạo mới đánh dấu sự ra đời của một cảm xúc mới chứa đựng nhiều điều sâu sắc về văn học.

NHỮNG PHƯƠNG THỨC KINH DOANH
*** Tại XQ Sử Quán, nền tảng phát hành những mạng lưới thương mại và không thương mại bằng các ký kết hợp đồng – mở chi nhánh – bằng mọi hình thức thích hợp vào quá trình củng cố phát triển nghề thêu, với sự kết hợp các tổ chức quốc gia – khu vực và quốc tế…

______________________________
Khu vườn
LỊCH SỬ VÀ BẢN SẮC NGHỀ THÊU (Đà Lạt - XQ Sử Quán)
Đem lại:
- Gương mặt của nghề thêu
- Cơ thể của nghề thêu
- Tiếng nói của nghề thêu

GƯƠNG MẶT NGHỀ THÊU
Nghề thêu là con người phụ nữ, cuộc sống vật chất và tinh thần của họ được quy định bởi khung cảnh sống và thành phần địa lý (vùng miền) của mình. Sự chào mừng đến với họ (8/3) bằng sự ra đời căn nhà: PHỤ NỮ TRONG NỘI THẤT. Đó là bức tranh miêu tả thật cảm kích, trong đó nêu lên được 9 công đức (cù lao 9 chữ) và 5 vai trò của phụ nữ. Như là một cơ quan sinh lý học cần thiết cho sự vận hành hài hòa của cơ thể xã hội.
• 5 vai trò
• 9 công đức

CƠ THỂ NGHỀ THÊU
Lịch sử nghề thêu bằng những câu chuyện, lời kể mang tính sử thi về sự ra đời và phát triển thay thế cho những cách ghi chép khô khan theo niên đại. Không coi nghề thêu của phụ nữ dân tộc Việt Nam là một thực thể trừu tượng và duy lý, mà là cơ thể bằng máu thịt sống động và đau khổ mà ta chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim và trí tưởng tượng của mình nhiều hơn trí tuệ.

TIẾNG NÓI NGHỀ THÊU
Là phục hồi trung thành sự phẫn nộ của người phụ nữ điểm xuyết suốt trong lịch sử cho đến hôm nay về số phận và định mệnh... Cố gắng nắm bắt và diễn đạt những tác động qua lại của các sự kiện kinh tế - chính trị - xã hội – tôn giáo – dịch bệnh và thiên tai, để hình thành nên LỊCH SỬ TÂM TÍNH của phụ nữ nghề thêu, trực giác và giàu chất thơ, vì vậy trong hoàn cảnh nào của lịch sử, họ luôn tự hỏi: “sản phẩm nghệ thuật thêu truyền thống của dân tộc Việt Nam tôi có làm sang cho bạn, gia đình bạn và dân tộc khác hay không?...người ta có thể làm giàu 5 năm hay 10 năm nhưng để làm sang, phải qua nhiều thế hệ...”
------------------------

     Tại Đà Lạt XQ Sử Quán có nhiều bảo tàng của các ngành nghề được coi là Di sản văn hóa của người phụ nữ là một chủ đề được nêu lên rất đúng lúc đối với cuộc sống chúng ta ngày nay, một thế giới đang bị rung chuyển bởi một cuộc khủng hoảng khốc liệt và dữ dội… đang đòi hỏi phải xem xét lại cả một hệ thống giá trị và làm biến đổi về chất mối quan hệ giữa con người với con người- con người với thiên nhiên-con người với truyền thống . Tác động của sự tiến triển kỹ nghệ và công nghệ đang minh chứng cho điều này, sự thoả hiệp thiêng liêng giữa con người với thiên nhiên đã bị phá vỡ. Hành tinh đã bị đầu độc. Và bản thân sự sống dường như đang bị đe doạ dưới những hình thức khác nhau.


     Cuộc khủng hoảng này buộc chúng ta phải suy nghĩ lại không chỉ về những phương cách phát triển, mà về chính cái khái niệm về sự phát triển, từ quá lâu đã được xem xét dưới góc độ của sản xuất và tiêu dùng. Các nhà tư tưởng, nghệ nhân nghệ sĩ và nhà văn hóa ngày càng tin chắc rằng cái quan niệm về sự phát triển này đang hy sinh văn hoá cho sự tăng trưởng kinh tế, hy sinh chất lượng cho số lượng và do vậy sẽ chỉ có thể gây ra những hậu quả thảm khốc. Chính vì vậy mà hôm qua cũng như hôm nay, luôn nói phải đặt "văn hoá lên trước" mọi cái khác. Những cuộc gặp gỡ lớn giữa lịch sử và con người luôn mang tính văn hoá. Vấn đề ở đây không phải là tạo ra những khu biệt lập về văn hoá, nghề nghiệp, sắc tộc và địa lý, mà trái lại, phải đánh giá cao tính đặc thù và sự phong phú trong bản sắc của chúng ta nhằm củng cố thành quả của quá khứ và làm giầu thêm cái di sản mà chúng ta sẽ truyền lại cho các thế hệ tương lai. Một di sản trong đó mọi nền văn minh của các ngành nghề vùng miền sẽ góp vào những giá trị riêng không gì thay thế được.


     Có thể gọi đó là chủ nghĩa nhân văn "cho và nhận" một quan niệm mới về những quan hệ trao đổi. Kết quả sẽ là một sự cộng sinh của những nền văn hoá, không phải để chúng giống hệt nhau hoặc hoà tan vào nhau, mà để làm cho chúng thêm phong phú thông qua tiếp xúc với nhau. "Nền văn hoá của cái thuộc về mọi người" một sự gặp gỡ của các nền văn minh các ngành nghề.
—————

     Con người khác với loài vật là do có tinh thần sáng tạo, nhờ đó nó vượt lên trên những giới hạn của cái hữu hình. Ngọn lửa, khi đã được chế ngự, đã biến thành tiếng rì rào của những khu rừng. Đó là hơi thở thì thầm của cuộc sống, cái tiếng xôn xao của mầu sắc, sự xào xạc của hình dáng, thành khoảng bao la được tái tạo, ảo vọng, ánh sáng... Chiếc gậy chống đầu tiên của con người, tảng đá đầu tiên nó chọn để ngồi nghỉ, cái hang đầu tiên nó ẩn trú đều mang mầu sắc của ánh sáng. Bởi vì từ khởi thuỷ, con người sinh ra trong cái đẹp: nó cũng sinh ra vì cái đẹp.
Loài người là cát bụi từ những vì sao rơi xuống sau một vụ nổ trong vũ trụ (big bang) các bụi đó nó đi khắp thế giới, nó rải gạch đá ra khắp nơi… Cùng với thời gian, nó xây dựng nên những tượng đài kỷ niệm mang dấu ấn của thiên tài và tính vĩnh cửu của loài người.


     Để sắp đặt hành động, con người cần có một hình ảnh về quá khứ và một cách nhìn về tương lai của mình. Dẫu cho các ngành khoa học vẫn còn chưa giải đáp được câu hỏi về cội nguồn nguyên thuỷ cũng như di sản cho thế hệ sau, nhưng chúng ta ngày hôm nay sẽ phải trèo lên những ngọn núi cao để truyền niềm tin vào cuộc sống. Trong niềm tin này có ẩn chứa tinh thần kháng cự và hy vọng. Niềm tin ấy như một nhu cầu cốt tử, trên ngưỡng cửa của mọi biệt thự, dinh thự, lâu đài. Từ những mái nhà tranh của thời thơ ấu mỗi con người đến các đền đài, trên mỗi phiến đá, ở phía sau của mọi cánh cửa, của mọi năm tháng con người chúng ta sẽ khắc ghi mối hy vọng đó. Hy vọng về di sản văn hoá chúng ta.

 

     Di sản thế giới đang phải đứng trước nhiều loại vấn đề. Có những vấn đề liên quan đến phát triển và sự thay đổi của lối sống, sức ép của nhân khẩu đối với tài nguyên thiên nhiên, công cuộc công nghiệp hóa, việc hiện đại hóa các trung tâm đô thị hay nạn ô nhiễm. Những vấn đề khác là do thái độ bất cẩn hay thiếu phương tiện gây ra. Ngược lại có một số di chỉ bị đe dọa vì khách du lịch đến quá đông, và sau cùng, các loại thiên tai như bão lụt, động đất, cũng có thể gây ra
những hư hại nghiêm trọng. Hiện nay, những vấn đề ấy ngày càng nhiều và ngày càng nghiêm trọng và không phải nói quá khi nói rằng toàn thể di sản đang bị đe dọa ở những mức độ khác nhau.

     Vai trò của Công ước
     :::::::::::::::::::::
     Công ước chỉ áp dụng đối với những tài sản đã được ghi vào Danh sách di sản thế giới, nhưng rõ ràng là toàn thể di sản văn hóa và tự nhiên đang bị đe dọa. Nhưng mục tiêu của cộng đồng quốc tế là trước hết thu hút sự chú ý đối với những tài sản tiêu biểu nhất là tổ chức một sự hợp tác quốc tế hữu hiệu để bảo đảm việc gìn giữ và chuyển giao chúng cho các thế hệ tương lai.
Việc được ghi vào Danh sách di sản thế giới khiến cho một tài sản có một tiếng tăm mới không ai có thể chối cãi. Song nó cũng đồng thời đặt ra những nghĩa vụ đối với nước hữu quan, phải bảo đảm việc bảo vệ tài sản này và chịu trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế. Ủy ban di sản thế giới, với sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông, có thể nhắc nhở một nước về những nghĩa vụ đó nếu họ không tôn trọng. Nhờ có những sức ép như vậy, người ta đã nhiều lần thu được những kết quả tích cực, như bãi bỏ những dự án xây dựng những đập nước, những nhà máy gây ô nhiễm hay những cơ sở du lịch quá lấn át.


     Nhưng Ủy ban di sản thế giới còn can thiệp trực tiếp vào những di chỉ được bảo vệ khi có yêu cầu của nước hữu quan. Thông qua Quỹ di sản thế giới (mỗi năm khoảng 2,5 triệu đôla), có thể tổ chức sự hợp tác quốc tế bằng cách gửi đến các chuyên viên và thiết bị, tiến hành những hoạt động đào tạo và thông tin cũng như tìm kiếm những nguồn tài trợ cho những dự án lớn trùng tu các đền đài hay quản lý các công viên quốc gia. Những hoạt động như vậy cũng có thể được tiến hành trong khuôn khổ các cuộc vận động quốc tế như cuộc vận động mà Unesco hiện đang tiến hành cho thành phố cổ Sana'a ở Yêmen.

 

      Người ta tìm cách xác định những tài sản văn hóa và tự nhiên của mỗi nước mà việc bảo vệ liên quan đến toàn thể cộng đồng quốc tế. Văn bản Công ước mô tả đó là những tài sản có một "giá trị toàn cầu đặc biệt", về mặt nghệ thuật, lịch sử, khoa học hay về vẻ đẹp tự nhiên.


     Các quốc gia tham gia Công ước lập ra một danh mục các tài sản mà họ coi là có đủ tiêu chuẩn và đề nghị chúng được ghi vào trong Danh sách di sản thế giới, Ủy ban di sản thế giới, một cơ quan liên chính phủ gồm đại diện của 21 nước tham gia Công ước được luân phiên bầu vào, nghiên cứu những đề nghị này căn cứ vào những báo cáo chi tiết của hai tổ chức phi chính phủ là Hội đồng quốc tế các đền đài và di chỉ (ICOMOS) và Liên Hiệp quốc tế bảo tồn thiên nhiên (IUCN). Số hồ sơ được nghiên cứu hàng năm rất nhiều nhưng chỉ một số nhỏ tài sản là được ghi vào Danh sách di sản thế giới.


     Danh sách này hiện nay gồm có 322 tài sản nằm ở 69 nước. Đây là một nỗ lực lập ra một danh mục thế giới, cố gắng mang tính hoàn chỉnh, tiêu biểu và nhất quán đến mức tối đa.

     CÔNG ƯỚC về việc bảo vệ di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới, gọi tắt là "Công ước về di sản thế giới" là một văn bản pháp lý qua đó các quốc gia cam kết bảo vệ trên lãnh thổ của mình những đền đài và di tích được thừa nhận là có một giá trị đặc biệt tới mức gìn giữ nó là điều liên quan đến toàn thể loài người. Các quốc gia tham gia Công ước cũng đã cam kết tôn trọng di sản có giá trị toàn cầu nằm trên lãnh thổ của những quốc gia khác và có sự đóng góp tài chính cho việc gìn giữ di sản đó tại những nước không đủ khả năng làm việc này.
Công ước này đã được 112 quốc gia tham gia. 1960, một năm quyết định.


     Trong thập kỷ 1960, việc xây dựng đập nước Aswan có nguy cơ nhận chìm vào trong lòng nước sông Nil các đền đài ở Nubia. Cộng đồng quốc tế nhận thức được rằng mất đi những đền đài này sẽ là một tổn thất không gì bù đắp được không những đối với Ai Cập và Xuđăng mà còn đối với toàn thể loài người. Mọi người cũng đều hiểu rõ rằng việc cứu vãn những đền đài này đòi hỏi những nguồn tài lực to lớn, vượt quá khả năng của hai nước hữu quan. Ý kiến về một di sản chung -- và trách nhiệm chung để gìn giữ nó - được hình thành. Ngày 8-3-1960, ông René Maheu, Tổng giám đốc Unesco, ra lời kêu gọi và sau đó đã thu thập được khoảng 30 triệu đôla để cứu vãn các ngôi đền ở Nubia.


     Cũng vào khoảng thời gian ấy, đã vang lên ngày càng nhiều tiếng nói bảo vệ môi trường và những di tích tự nhiên. Phong trào này, không ngừng lớn mạnh kể từ ngày đó, đã giúp cho người ta nhận thức được yêu cầu tôn trọng những của cải của thiên nhiên vốn là những thứ không thể tách rời khỏi lịch sử cũng như tương lai của loài người.


     Công ước về di sản thế giới được sinh ra từ cuộc gặp gỡ giữa hai trào lưu ấy. Khẳng định rằng các tác phẩm của con người và các tác phẩm của thiên nhiên hợp thành một di sản duy nhất, Công ước là một văn kiện có một tính độc đáo sâu sắc khi nó được Đại hội đồng Unesco thông qua năm 1972.

I- là một thành tựu duy nhất, không đâu có (vườn Shalamar ở Pakixtan, lâu đài Chambord ở Pháp);

II- đã có một ảnh hưởng to lớn ở một thời kỳ nhất định (trung tâm lịch sử Florence ở Ý);

III- đem lại một bằng chứng về một nền văn minh đã mất (hoàng cung Abomey Machupicchu & Pêru); Bênanh,

IV- minh họa cho một thời kỳ lịch sử có ý nghĩa (di chỉ Abu Mena ở Ai Cập; trung tâm lịch sử Salvador de Bahia ở Braxin)

V- là một ví dụ nổi bật về một lối sống cổ truyền (thung lũng M'Zab ở Angiêri, làng Holloko ở Hunggari)

VI- trực tiếp gắn liền với những ý tưởng hay tín ngưỡng có ý nghĩa toàn cầu (thành phố thánh Kandy & Xri Lanca, Independence Hall ở Mỹ)
……………………………
Những tài sản nằm trong di sản tự nhiên cần có những tiêu chuẩn dưới đây:

I- minh họa cho một thời kỳ lớn trong quá trình tiến hóa của Trái đất (quần đảo Galapagos ở Ecuado)

II- tiêu biểu cho những quá trình địa chất đang diễn ra (núi lửa Haoai ở Mỹ, Los Glaciares ở Achentina)

III- tạo thành những thành tạo tự nhiên đặc sắc hay có một vẻ đẹp phi thường (công viên quốc gia Kilimandjaro & CHTN Tandania, khu bảo tồn thiên nhiên Scandola trên đảo Corse ở Pháp)

VI- chứa đựng những nơi ở tự nhiên của những giống loài lâm nguy (công viên Garamba ở Daia, công viên Wood Buffalo ở Canada).

Những tài sản được ghi trong Danh sách nhiều khi đáp ứng nhiều mục trong những tiêu chuẩn trên đây. Trong những trường hợp ấy, chúng vừa có giá trị văn hóa lẫn tự nhiên

     … Trong thực tế, mặc dầu có nhiều trở ngại và tuy rằng đầu óc thống trị chưa hoàn toàn nhường chỗ cho ý muốn hợp tác, chúng ta vẫn chậm chạp nhưng chắc chắn tiến tới một học thuyết về di sản văn hóa. Học thuyết này bao hàm sự kết thúc cách nhìn lịch sử một cách lãng mạn. Đền đài có thể sống lại, nhưng người ta không bao giờ có thể làm hồi sinh quá khứ. Điều đó còn có nghĩa trước hết là bác bỏ quan niệm lịch sử chính trị. Không có vấn đề khen ngợi nền văn minh này và chê bai nền văn minh khác, lập ra một sự tôn ti giữa các nền văn hóa. Mục đích là làm cho mọi người biết đến những hình thức khác nhau của sự sáng tạo của con người đã để lại dấu ấn qua các thế kỷ. Đề cao những tác phẩm sáng tạo của quá khứ không được coi là một mưu đồ nhằm làm sống lại những giá trị lỗi thời. Mà trái lại, đó là một cố gắng đi tìm cội nguồn và xác định bản sắc dân tộc và đem lại cho những công trình một phẩm giá và một ý nghĩa toàn cầu.
Nhưng thông qua Công ước về di sản thế giới, Unesco còn theo đuổi một mục tiêu khác có tầm quan trọng to lớn. Khi khẳng định mình bằng cách lao động vì sự liên tục của một nền văn hóa, con người không được đồng thời làm hại đến thế giới tự nhiên. Con người phải đồng thời gìn giữ môi trường tự nhiên của mình và cũng coi đó là một di sản không gì thay thế được.
Coi di sản là cả về mặt văn hóa lẫn tự nhiên, Công ước nhắc nhở loài người đến yêu cầu cơ bản là phải duy trì sự cân bằng giữa con người và môi trường, và sự tác động qua lại giữa văn hóa và tự nhiên.


     Ngày nay, thật là sung sướng khi có thể nói rằng những kỳ quan của thế giới không chỉ còn là "bảy" nữa. Nhờ có Công ước về di sản thế giới, thế giới đang bắt đầu nhận thức được rằng các công trình văn hóa hợp thành một đài tưởng niệm mênh mông duy nhất của các thế kỷ và việc gìn giữ các di chỉ tự nhiên đã trở thành một yêu cầu bức thiết của chung toàn thể loài người.

 

“Thác vong tình” XQ Sử Quán

 

.
.
.