DỰ ÁN: CON ĐƯỜNG YERSIN

DỰ ÁN: CON ĐƯỜNG YERSIN

(Từ sử thi cao nguyên đến huyền thoại toàn cầu)

Dự án này góp phần đẩy mạnh việc nghiên cứu và các hoạt động khác liên quan đến hiện tượng lịch sử Đà Lạt – làm sống động lại hậu đại dịch Corona.

Hội thảo đầu tiên cho sự phát động dự án này “Đà Lạt như thế nào thế kỷ 21?”

NHỮNG NÉT LỚN CỦA DỰ ÁN NÀY

Mục tiêu đầu tiên xem xét lại một số sự kiện lịch sử trên Đà Lạt, với nhiều lý do đã bị che mờ.

Điều đó dẫn đến việc nghiên cứu người Pháp chọn Đà Lạt làm nơi nghỉ dưỡng (thủ phủ) với nguyên nhân của nó, các thể thức thực hiện và diễn biến của nó. Nói cách khác là vạch lại hành trình của việc hình thành nên Đà Lạt.

Nhưng công việc sẽ không dừng lại ở đây – trở lại với thời gian, mới chỉ là một cách để hiểu các sự kiện. Điều quan trọng là phân tách chúng và làm nổi lên hậu quả và cơ hội của chúng. Điều then chốt là việc xem xét kỹ hơn hiện tượng nghịch lý. Hành động khởi xướng của việc thành lập thủ phủ Đà Lạt (Pháp) tuy là thực dân, có điều khá kỳ lạ, nó giúp vào việc đặt nền tảng cho một nền văn minh mới. Thông qua những sự tàn bạo và trói buộc thực dân, một sự thâm nhập lẫn nhau sâu rộng giữa các văn hóa: Châu âu (Pháp) – các vùng miền trên Việt Nam – người dân bản xứ, để hình thành nên các giá trị văn hóa, các cảm xúc và các truyền thống.

Hệ quả văn hóa này của Đà Lạt về mặt triết học đến cách biểu đạt nghệ thuật, đến cả đời sống tâm linh của họ nữa. Tuy nhiên, văn hóa thể hiện mạnh nhất tại Đà Lạt, nơi đã diễn ra Hỗn Phối – trước hết là Hỗn Chủng giữa người Pháp với người bản địa...

Tiếp đến là Hỗn Phối văn hóa, bởi vì các truyền thống cổ xưa với dân bản xứ là nhân tố cơ bản để tồn tại được duy trì sống động, ảnh hưởng cả những nền văn hóa địa phương, lẫn những nền tảng văn hóa đến từ Châu Âu mà trong lĩnh vực âm nhạc – thi ca hay trong những lĩnh vực khác – những cuộc gặp gỡ này, đẻ ra sự pha trộn kỳ lạ, ở đó có cả mối quan hệ biện chứng: - CHO VÀ NHẬN -. Ngày nay còn diễn ra và sẽ còn diễn ra trong tương lai. Bản sắc Đà Lạt là một quá trình kết cục của sự pha trộn, vay mượn và thôn tính.

DỰ ÁN: CON ĐƯỜNG yersin Là dự án vừa liên văn hóa, vừa đa ngành, nó sẽ làm nảy sinh các hoạt động khác như các cuộc tranh luận khoa học. Những công cuộc nghiên cứu lịch sử - văn học – âm nhạc – những sự kiện văn hóa và những cuộc triển lãm..vv...? Với một XQ làm sao có thể thực hiện được?

- Dự án con đường Yersin thực tế đã bắt đầu cả trước kia cho đến bây giờ là 25 năm, chúng tôi vẫn suy nghĩ, nhằm mục đích gợi ý cho thế hệ sau... Và chúng tôi cũng đã phát hiện một số phần trong dự án đó đã tiến hành rồi. Chẳng hạn như cuộc triển lãm “Đà Lạt – Những ngôi làng của ký ức”. Mà các nhà tri thức Đà Lạt trước kia, họ đã giới thiệu thành công sau mấy năm cố gắng.

Tại Đà Lạt – XQ Sử Quán, cứ 2 năm một lần (Festival Hoa) với chương trình “HỘI THIẾU NỮ RƯỚC PHẤN VỀ CHO HOA”, trước đó bao giờ cũng có cuộc chuẩn bị triển lãm: như các năm vừa rồi với những cuộc triển lãm thường xuyên.

- NGHỆ THUẬT ĐÀ LẠT ĐƯỢC SẢN SINH RA TRONG THỜI THUỘC ĐỊA.

Hoặc cuộc triển lãm: Hình ảnh người bản địa trong quảng cáo.

Và những cuộc Hội thảo hai năm một lần: Đà Lạt như thế nào thế kỷ 21?

Những cố gắng của nghệ nhân – nghệ sĩ XQ thể hiện tình yêu của mình với mảnh đất “nơi chúng tôi được sinh ra và lớn lên!”...

 

Tác phẩm tranh thêu tay: DÌU NHAU

Kích cỡ: 125 x 210 cm                        

Chất liệu: chỉ tơ tằm, BCT, vải cotton

Nghệ nhân: Ma Dam                          

 

KHU VĂN HÓA BẢO TỒN

“NGHỆ NHÂN CƯ DÂN BẢN ĐỊA”

“Văn hóa bảo tồn” hình thành nên mảnh đất sở trường cho sự phát triển của các nghệ nhân bản địa. Không gian trong đó tài năng đặc biệt của họ được nảy nở tự do nhất. Với điều kiện văn hóa không phải là ký ức về quá khứ , trở lại với một bản ngã huyền thoại, mà phải trở thành một ký ức về tương lai, rộng mở với người khác, phong phú không ngừng và bất tận bằng cách phát huy những nhân tố nội tại tiếp thu nhân tố ngoại lai pha trộn tạo một sự hài hòa.

*Trước tác động của quá trình ”san bằng” và “đồng loạt hóa” các dân tộc thiểu số đang tiết ra những “kháng thể xác định khác biệt” làm cho ý thức bản thể bộc phát dẫn đến chỗ lên tiếng đòi quyền tự trị rộng rãi hơn.

Vì thế không gian – văn hóa bảo tồn bản địa - là nhân tố ổn định, sự an toàn là bản sắc mà họ phải được sống đầy đủ, là được thừa nhận và biểu đạt một cách đầy đủ - tạo nên sự hài hòa, bản sắc dung hòa với phẩm giá con người.

Bác sĩ Yersin viết thư gửi cho mẹ và hình ảnh những gia đình người Pháp xưa sinh sống tại Đà Lạt

 

Bác sĩ Yersin và hình ảnh những gia đình người Pháp xưa sinh sống tại Đà Lạt

 

Nơi lưu giữ hình ảnh tư liệu Đà Lạt xưa

NHỮNG CÂU NÓI NỔI TIẾNG CỦA NGƯỜI ĐÀ LẠT XƯA

  1. “Chúng ta không nuối tiếc “Đà Lạt xưa” vì nó phải có bộ mặt của ngày hôm nay. Đó là một tất yếu không thể tránh khỏi. Nhưng chúng ta luyến tiếc một “không gian văn hóa Đà Lạt”…”
  2. “Nếu bạn biết lắng nghe “nhựa sống dâng lên những loài hoa dại Đà Lạt” bạn sẽ học được ngôn ngữ của nó, thì hoa sẽ đem lại cho bạn sự hiểu biết về mọi con người và sự vật ở thành phố này”.
  3. “Tôi thích trồng hoa dại Đà Lạt, bởi vì nó không những bảo vệ sự đa dạng sinh học riêng của nó mà còn là một công cụ đi tìm kiếm bản sắc… của thành phố tôi…”
  4. Người thợ thêu thật là tuyệt vời, làm bất cứ chuyện gì với họ cũng đều khó, ngoài việc vẽ họ. Đó là những viên ngọc trên thiên đường.
  5. Xây dựng những vườn hoa thật đẹp trên thành phố Đà Lạt? Rất tốt… nhưng đừng để những cánh hoa che mất khuôn mặt nhân sinh của con người”
  6. “Chớ để một cây thông nào ngã xuống đất mà không phục vụ nhân dân”
  7. Việc đào tạo các nhà quản lý trẻ trên Đà Lạt chủ yếu học làm những sự việc cụ thể hơn là tranh cãi, nghe giảng hay “chơi trò chơi kinh doanh”… hoặc tai họa hơn nữa khi…
  8. Động lực để phát triển là đi tìm kiếm cái thống nhất chứ không phải lòng tham.
  9. Cơ sở phân biệt thành phố Đà Lạt với các thành phố khác không phải là sự giàu sang hay nghèo khổ… mà là tham vọng của sự đóng góp mà họ mang lại cho “văn hóa đương đại”cũng như cho khoa học và công nghệ.(Tập sách “Đề Nghị Khiêm Tốn”)
  10. Thượng đế tạo ra thế giới này nhưng người Đà Lạt tạo ra Đà Lạt

(Lời người gác chuông nhà thờ)

  1. Lý trí kết hợp các dữ kiện mà các giác quan thu thập bằng cách cộng tác với các năng lực gần gũi là trí nhớ và trí tưởng tượng (Lời người phán xử tối cao)
  2. …Khi có một nhà thông thái qua đời ở đất nước ta và người ta muốn bán sách của ông ta, thì người ta mang đến thành phố Đà Lạt, và nếu một người nào đó muốn tống khứ nhạc cụ của mình thì hãy mang đi khỏi thành phố này…

Vì Đà Lạt là thành phố có nhiều sách nhất so với bất kỳ thành phố nào khác.

  1. Một viên sỏi được ném xuống biển, tạo ra quầng sóng đầu tiên của tri thức. Một quầng sóng mà chúng ta hy vọng sẽ lan rộng và phát triển để tăng cường những hình ảnh tích cực của người phụ nữ và tìm những con đường mới đi đến hình ảnh tích cực đó.

Đặc biệt tình hình bây giờ…

  1. Ánh sáng của thành phố Đà Lạt sau cơn mưa làm đảo lộn tâm hồn sáng tạo của tôi
  2. Tôi vừa đi khắp một vòng thành phố Đà Lạt. Ôi! Đẹp quá … cần phải có mỗi ngày 48h và mấy chục cánh tay mới có thể vẽ được tất cả, Tôi đang bị mê muội khi thấy các sự vật, sợ không bao giờ nắm bắt được nó.
  3. Nỗi buồn tha hương đối với Đà Lạt khi phải rời xa nó. Những hình ảnh, hương thơm và mùi vị cùng với kỷ niệm về một thành phố thanh bình nơi không có điều gì thái quá xảy ra. Một thành phố mà tôi đã mang chiếc bùa của một thời. Đối với tôi đây là “Thành phố đứng trên mọi thành phố khác”.
  4. Đà Lạt thành phố lá phổi cho sự công nghiệp hoá đất nước đôi khi một cách bất đắc dĩ phải mang ơn thành phố này (tuy rằng không phải lúc nào điều này cũng được công nhận)….Đà Lạt vẫn sống bằng các huyền thoại truyền thuyết của mình cho dù thành phố này đã thay đổi diện mạo và không nhớ được các đứa con của mình … chả biết dùng tiếng tăm của mình để làm gì.

Người ta đã gán cho nó biết bao nhiêu chuyện đúng chuyện sai, người ta đã chụp cho nó những bức ảnh trông đến khủng khiếp, người ta miêu tả nó bằng một thể văn xuôi khập khiểng, bằng những vần thơ mù mịt như sương mù. Người ta vẽ nó bằng mọi thứ màu, kiểu vẽ (gọi là trường phái) và đề cập nó trong phòng trưng bày, phòng triển lãm tranh quá nhiều đến mức nó trở thành một con ma khoác một chiếc áo lụa tồi tàn, một tấm bưu thiếp nhàu nát mà người ta không dám gởi cho một người bạn đang chờ đợi trong cảnh giá rét xa xăm….

  1. Thành phố Đà Lạt có đầy đủ mối quan hệ thân thuộc để tạo dựng một nền văn hóa duy nhất và cũng có đầy đủ những dị biệt để nền văn hóa đó trở nên mạnh mẽ.
  2. Khi quyết định đến lập nghiệp những ngày đầu tiên, tôi đã buồn phiền về tính chất tỉnh lẻ của Đà Lạt và tôi đã mơ đến những thành phố có lịch sử lừng lẫy như Hà Nội – Sài Gòn – Huế.v.v.. Thế nhưng ngày nay, sau những ngày tháng sinh sống tại những nơi chứa đầy lịch sử, tôi mới nhận ra rằng sự mới mẻ mới là thế mạnh chủ yếu của Đà Lạt. Thành phố này có những nét đẹp của khoảng trống, khi gỡ bỏ dần được sức nặng về văn hóa xã – một sức nặng có thể là một lợi thế, nhưng cũng là một bất lợi – của biết bao thành phố khác.

Đà Lạt là một nơi mà mọi cái có thể xảy ra và là nơi mà những người mới đến đều có thể dễ dàng bén rễ.

  1. Đà Lạt không phải là một “lò luyện kim” theo mô hình của các thành phố “phương tây” là nơi mà hội nhập, từ lâu đã đồng nghĩa với đồng hóa. Đà Lạt là một thành phố ở đó các nền văn hóa được bứng trồng trên mảnh đất mới, có thể tiếp tục nảy nở và phát triển tốt đẹp, mà vẫn bảo tồn được ngôn ngữ và truyền thống riêng. Do đó có hiện tượng thụ phấn lai tạo đưa tới những chất kỳ lạ và đôi khi là sự sáng tạo phong phú
  2. Tôi là một nghệ sỹ không ở đây nhưng yêu say đắm thành phố này, một số bạn bè tôi đã đến ở vĩnh viễn nơi đây, một số mỗi năm đến ở vài lần. Cả họ lẫn người dân của thành phố đều không hiểu, không lý giải nổi sự quyến rũ của Đà Lạt này, một thành phố luôn luôn bị chê bai hoặc là bị coi “tầm thường”. Đã có nhiều người tóm tắt tình cảm như sau: “Tôi không giải thích nôỉ tại sao tôi yêu thành phố Đà Lạt, nhưng tôi biết tại sao tôi không yêu nó!”.

22.Kỷ niệm về một thành phố Đà Lạt vẫn luôn tồn tại trong tâm tư của tôi con người của một “thời đại” khác…

Về hưu và ẩn dật sống trong những bức tường ẩm thấp, cũ kỹ với những cơn ho kéo dài trong hiu quạnh với niềm hy vọng không bao giờ tắt. Một ngày nào đó Đà Lạt sẽ trở lại thành phố tình yêu và cuộc sống.

Chính ý nghĩa đó tôi đang tập trung viết các tập truyện viễn tưởng với những chuyện lạ đầy bí ẩn, sẽ góp phần tạo nên thành phố Đà Lạt trở nên lãng mạn.

 

Chân dung những nhà văn hóa, nhân sĩ - tri thức trong cuộc hội thảo.

ĐÀ LẠT SẼ RA SAO THẾ KỶ 21?

Suy nghĩ của nghệ nhân nghệ sỹ XQ trong những chương trình triển lãm và giới thiệu về Đà Lạt của mình trong những năm tới

Chừng mấy chục nhân sỹ – gồm có các nhà khoa học, văn hóa – sáng tạo nghệ thuật – xã hội học – sử học đến từ các vùng miền trong cả nước để thảo luận về vấn đề này (Đà Lạt sẽ ra sao thế kỷ 21?) từ ngày 22 tháng 10 năm 2011 tại XQ Đà Lạt Sử Quán, sau đó sẽ được mở rộng và kéo dài cho đến Festival Hoa 2012.

Họ không phải là những người theo thuyết tai họa và cũng không phải là những người lạc quan một cách mù quáng. Những cuộc “Đối Thoại” bao gồm nhiều lĩnh vực của họ về tương lai Đà Lạt và nghề thêu trên Đà Lạt nhằm nêu bật lại sự không chắc chắn và những điều chắc chắn. Đó là sự chuẩn bị cho thế kỷ 21, phải tính đến tính không ổn định và tính phức tạp phải được chỉ đạo bởi những nguyên tắc đạo đức – công lý cùng chia sẻ và lắng nghe…

Cuộc hội thảo này giúp cho nghệ nhân nghệ sỹ XQ có một cái nhìn khác về thành phố Đà Lạt trong sáng tác … giới thiệu về thành phố mình - từ đó hình thành nên một tiểu ban “Bi Ký và Mỹ Văn” về Đà Lạt của nghệ nhân nghệ sỹ XQ. Tiểu ban này liên hệ với tất cả những nhà văn - nhà thơ – nhạc sỹ – nghệ thuật v.v trong cả nước và cả nước ngoài nhằm tổ chức các cuộc triển lãm thường nhật về thành phố Đà Lạt với nghề nghiệp, là khám phá – suy nghĩ và truyền đạt, vận dụng những kiến thức và tư tưởng là cốt lõi của tiểu ban này. Từ đó, rút ra được những đặc ân lớn lao - và đáng sợ, đó là cái nhìn về thành phố của mình – những hứa hẹn và sai sót của nó ngày càng thêm nhạy bén và độc đáo.

Nhạy bén ở các thông tin mà nghệ nhân – nghệ sỹ XQ thu nhận được do các chuyên gia giỏi nhất của mọi môn học – một “Tiền Bối” về nghiên cứu – phát triển Đà Lạt cung cấp qua cuộc hội thảo này.

Độc đáo là do có sự hội tụ và sự đối chiếu của mọi luồng thông tin sẽ tạo ra được động lực vượt qua những vách ngăn cách giữa các lĩnh vực kiến thức khác nhau. Chính cái nhìn này sẽ đạt đến tầm vóc phổ quát: tính toàn diện và tính toàn cầu của thành phố Đà Lạt. Thế nhưng, để nhằm mục đích gì? Phải chăng nghệ nhân nghệ sỹ XQ đang tạo ra một đồ án – có phải đồ án chung? Trong thế giới toàn cầu hóa này, với đặc điểm và văn hóa của Đà Lạt dần dần sẽ thấy nổi lên những trung tâm sinh hoạt công cộng toàn cầu của Đà Lạt thế kỷ 21. Ở đó, một đồ án như vậy sẽ hình thành – chấp nhận và thực hiện. Ví dụ: sắp tới đây, qua cuộc gặp gỡ của hội nhà báo Việt Nam và hội nhà báo Thái Lan, sẽ tổ chức triển lãm hình ảnh các gia đình của các nước Đông Nam Á – hoặc, qua cuộc gặp gỡ giao lưu với các quan chức cao cấp Trung Quốc tại XQ Đà Lạt Sử Quán, chúng tôi thống nhất sẽ tổ chức cuộc triển lãm giao lưu giữa nghệ nhân Việt Nam và nghệ nhân Trung Quốc tại Đà Lạt. Hay là: cuộc gặp gỡ với anh em văn nghệ sỹ thành phố Nha Trang vừa rồi, chúng tôi đều có ý tưởng là sẽ tổ chức chương trình “Ký Ức Về Thành Phố Đà Lạt” qua cuộc hành hương “Con Đường Yersin”.

Chúng tôi quyết định chọn ngày 22 -10 - 2011 đánh mốc 20 năm XQ trở thành công dân Đà Lạt, từ khi thực hiện nghi thức nhập định “Đà Lạt nơi nghệ nhân – nghệ sỹ XQ đã lớn lên”, cho đến nay đã hình thành nên một lực lượng đông đảo nghệ nhân - nghệ sỹ là người công dân Đà Lạt. Nên bản thân tôi luôn đồng nhất không những với nghề thêu, mà với Đà Lạt của mình một cách mãnh liệt, bất cứ những gì cá nhân tôi trải qua: cay đắng, vinh quang, hay hạnh phúc được ngay tức khắc trả lại cho nghề thêu và Đà Lạt của mình như đến với địa chỉ đương nhiên. Vì thế, cuộc đời của tôi như bị chi phối bởi ý chí quyết trả lại đức tin cho nghệ nhân – nghệ sỹ XQ tính thuần khiết và sức mạnh nguyên thủy về Đà Lạt của mình. Từ đó thông qua sáng tạo, họ nói về Đà Lạt, giới thiệu với công chúng trong nước và nước ngoài. Để cố gắng làm việc này, chúng tôi lần lượt đương đầu với mọi thách thức. Và lấy từ những thách thức đó sức mạnh cần thiết cho một sự nghiệp, mà chúng tôi gọi là “Công cuộc phục hưng các khoa học nghề thêu và Đà Lạt”.

Để làm được việc này, làm sao tìm kiếm lại những nguồn tri thức đã được tích lũy trong thời đại ngày hôm nay - bằng cách mời tất cả những truyền thống tri thức về Đà Lạt đã được xác lập trong thời kỳ trước và nhất là những con người có một tình yêu đặc biệt với Đà Lạt (Tri Kỷ Hữu) để đối thoại và tìm kiếm những phần khôn ngoan và có giá trị nhất định. Rút ra những bài học tư tưởng ở những chuyên gia về mọi lĩnh vực. Vì những bậc tiền bối đó là một nhân chứng rất đặc biệt của một thời kỳ mà đặc trưng cho một tình hình tư tưởng hết sức xáo động, và rất nhiều câu hỏi đặt ra về những mục đích tối thượng của những hiện thực xã hội.

Làm sao tìm kiếm lại một đức tin về thành phố của mình? phải chăng mời được những bộ óc thông minh xuất chúng, luôn tận tụy với sự nghiệp giáo dục những người cùng thế hệ và thuộc những thế hệ mai sau? Họ luôn cảm thấy mình được trao một sứ mạng cuối cùng trong cuộc đời, đem lại cho người đương thời ánh sáng, nơi họ tri thức luôn được triển khai nhằm phục vụ cho đức tin và niềm tin vững chắc luôn luôn được phê phán làm tăng thêm sức mạnh.

Đứng trước những thách thức của sự phát triển tri thức khoa học và kỹ thuật chưa từng thấy, trước những hậu quả của sự phát triển này, về mặt tâm lý và xã hội đối với đức tin về bản sắc – truyền thống và văn hóa, nghệ nhân - nghệ sỹ XQ đã phản ứng lại bằng một quá trình tư duy … được những tri thức tiên tiến nhất rọi sáng qua cuộc hội thảo này, họ sẽ đem đến một sự cách tân trí tuệ, đem lại cho nền văn hóa Đà Lạt những sự kích thích sáng tạo nhất.

Trước sự phát triển của lịch sử kinh tế đã mệt mỏi, các môn khoa học xã hội nhân văn hôm nay đã lâm vào một tình trạng khủng hoảng làm sao giữ được một thế cân bằng mong manh giữa truyền thống và hiện đại… Để Đà Lạt ở một tình trạng yên ổn nhất nó phải được thay bằng một “Lịch Sử Tâm Tính” của người Đà Lạt và “Lịch Sử – Vấn Đề”, Đà Lạt sẵn lòng tiếp nhận các phương pháp phong phú của các môn khoa học xã hội và nhân văn mới: nhân chủng học, xã hội học, kinh tế học và ngôn ngữ học. Đà Lạt đang bước về tương lai nhưng vẫn ngoảnh nhìn lại quá khứ, họ chăm lo cho mối quan tâm đến những gốc rễ lịch sử và di sản. Phải có những chuyên gia sẽ không bao giờ ngừng viết lại và giải thích lại – đôi khi giữa khung cảnh “Ầm Ĩ Và Phẫn Nộ” lịch sử thành phố Đà Lạt và người Đà Lạt.

Như thế là chúng ta đã khôi phục lại cách suy nghĩ về lâu dài, phóng tầm mắt ra phía trước càng xa càng tốt và dự báo những chuyển biến. Chỉ có cách đó mới chống lại được tính không chắc chắn của tương lai, tạo ra một không gian cho hành động hiện tại và cái chúng ta cần HÀNH ĐỘNG, và để cho hành động có hiệu quả, chúng ta phải dự báo, đó là đấu tranh chống lại sự lãnh đạm, và thờ ơ, thức tỉnh lương tri của con người cho họ thấy hiểm họa ngày mai … như vậy thì phải thấu hiểu và tưởng tượng – thấu hiểu là nó đưa chúng ta trở lại với những kiến thức trước kia của Đà Lạt, những quy tắc và thiếu những quy tắc mà chúng ta phải hiểu rõ nguyên nhân trở thành một tổng thể (quá khứ – hiện tại – tương lai), thực hiện nắm lấy tất cả là lĩnh hội, thấu hiểu (qua cuộc hội thảo mà các bậc tiền bối cung cấp, giảng dạy) nhưng sự cố gắng này sẽ vẫn là trừu tượng nếu nó không được làm sáng tỏ và sâu sắc thêm bằng trí tưởng tượng. Suy nghĩ sáng tạo của nghệ nhân – nghệ sỹ XQ Đà lạt thế kỷ 21 cũng là tự cho phép mình được ước mơ về Đà lạt – được xây dựng những kịch bản có thể là mâu thuẫn nhau – là tự cho phép thấu hiểu thực tế và tưởng tượng cái có thể được và thử làm cái không thể được. Ví du: Sắp tới đây với tham vọng sẽ phản ảnh một cách sinh động hơn những mấu chốt Đà Lạt, tôi cố gắng làm cho tất cả mọi người gần gũi với Đà Lạt, thúc đẩy mọi người thay đổi cách nhìn về Đà Lạt. Tôi đã làm việc với các chuyên gia và cơ quan ban ngành các tỉnh thành trong và ngoài nước. Đó là sẽ mở - căn nhà: Đà Lạt dưới mắt người Hà Nội, căn nhà Đà Lạt dưới mắt người Sài Gòn - hoặc Huế - Nha Trang v.v và cả nước ngoài.

Chúng tôi tự biến mình thành những kiến trúc sư của quá khứ - Đà Lạt được sinh ra trong “Nghệ Thuật – Tình Yêu – Thi Ca – Đoàn Kết và Văn Hóa” nhằm giới thiệu Gương Mặt Đà Lạt - Cơ Thể Đà Lạt và Tiếng Nói Người Đà Lạt.

  1. - Gương Mặt Đà Lạt – ban “Bi Ký và Mỹ Văn” XQ Sử Quán chúng tôi đầu tiên thừa nhận thành phố Đà Lạt là một con người mà cuộc sống vật chất và tinh thần được quy định bởi những khung cảnh và thành phần địa lý của mình. Không phải ngẫu nhiên mà tại XQ Đà Lạt Sử Quán chúng tôi ca ngợi thành phố của mình bằng sự miêu tả cảm kích qua sự cam kết thiêng liêng giữa con người với thiên nhiên (Nơi ngắm bình minh và nghe tiếng chim hót - ngồi nghe hơi thở tiếng mưa - đêm hội “Nhặt cỏ vườn trăng”- nơi ngắm các vì sao và hàng loạt những câu chuyện niềm tin tín ngưỡng người Đà Lạt với thiên nhiên … v.v)
  • Sự cam kết thiêng liêng giữa con người với con người (chiếc rương người thiếu nữ Đà Lạt - vườn phong lan rừng Tri Kỷ Hữu - Bảo tàng chân dung, Agora, v.v…)
  • Sự cam kết thiêng liêng giữa con người với truyền thống (căn nhà “Hơi thở tổ tiên Đà Lạt” - bảo tàng nghề thêu - bảo tàng “Ước nguyện 1000 năm” - căn nhà “Đà Lạt Di Chúc” v.v)

Sự miêu tả như là cơ quan sinh lý học cần thiết cho một sự vận hành hài hòa của cơ thể xã hội.

  1. – Cơ thể Đà Lạt

Chúng tôi đã thay thế bảng ghi chép khô khan theo niên đại về những chiến công và những việc xấu xa của những ông hoàng và những người quyền thế bằng lời kể mang tính sử thi về sự ra đời và phát triển Đà Lạt. Không coi Đà Lạt như một thực thể trừu tượng và duy lý, mà như một cơ thể bằng máu thịt sống động và đau khổ, mà phải cảm nhận bằng trái tim và trí tưởng tượng của mình nhiều hơn bằng trí tuệ (thể hiện sự đam mê tri thức sách vở người Đà Lạt qua những thư viện trong khu vườn “Nơi gặp gỡ của những giấc mơ” - sự tinh tế của nghệ thuật đi vào mọi ngóc ngách của đời sống với những nghi thức và nghi lễ v.v… - Khát vọng một đời sống cao sang, quý phái, lãng mạn như căn phòng “Danh dự là tất cả”, căn phòng Hoàng Triều v.v...)

  1. - Tiếng Nói Đà Lạt

Nhiều khi chúng tôi bị thôi thúc bởi ao ước nắm bắt và diễn đạt những tác động qua lại của các sự kiện thiên nhiên – kinh tế – chính trị – xã hội và cả tôn giáo, để hình thành nên một “Lịch Sử tâm Tính Người Đà Lạt” một cách trực giác và đầy chất thơ (như trong nhà hát nhỏ của nghệ nhân - chúng tôi thường giới thiệu những vở kịch về quy luật tình yêu và thiên hướng làm điều thiện của người Đà Lạt và những thể loại “Kịch phong tục” Đà Lạt v.v…)

Sắp tới đây chúng tôi hy vọng sẽ hình thành nên bảo tàng “Lịch Sử tâm tính người Đà Lạt” bằng cách thành lập “Câu lạc bộ nghệ thuật” mà các hội viên là các diễn viên – nhà văn – nhạc sỹ và họa sỹ v.v… say mê nghiên cứu và sáng tác về Đà Lạt

Rất nhiều người đã hỏi chúng tôi “XQ là một công ty kinh doanh tư nhân, hay làm nhiều chuyện bao đồng, hay nói đến tâm tư tình cảm của mình về Đà Lạt chỉ khiến người ta giễu cợt - khinh bỉ - thậm chí bị thiên hạ đón bằng một thái độ ác cảm hay lãnh đạm thờ ơ?”

Những người đó sẽ trả lời như thế nào trước câu nói của con cái họ “Đáng lẽ họ làm được nhiều nhưng không dám làm - bao nhiêu?!” những người cha người mẹ luôn tự vấn “tương lai của con tôi phụ thuộc những gì tôi để con tôi lại cho tương lai?”

Tại căn phòng “Nghi thức nhập định – Đà Lạt nơi con đã lớn lên”của câu lạc bộ con người thợ thêu để nhắc nhở chúng tôi về thiên chức của mình – thiên chức của chúng ta là mối dây liên hệ giữa con người hôm nay và sự kiện (Bạo lực con người với con người - bạo lực con người với thiên nhiên…) giữa trào lưu thời đại (lý tưởng thị trường biến con người trở thành kẻ cạnh tranh và tiêu thụ - phương tiện nghe nhìn con người càng ngày càng thụ động, thủ tiêu ý thức công dân không phải bằng cưỡng bức mà bằng sức nặng của nhu cầu mới mà nó tiêm cấy vào anh chị ta…) và của đời sống tư tưởng. Thiên chức đó chúng ta không làm nổi, và chính sự bất lực đó mà con người chúng ta ngày càng tự buông lỏng không kiềm chế được những gì chế ngự tâm hồn mình để nói lên những điều… hoặc như của những ông già lẩm cẩm hoặc khoa trương quá đỗi về mình. Chúng ta chẳng còn nói được: “Điều liên quan đến tôi - gia đình tôi - thành phố tôi - đất nước tôi có gì quan trọng?”.

Những người đó làm sao lại tránh không tự vấn mình về những quan điểm, lập trường của chúng ta về cái logic mà chúng ta đã đi theo về những mục đích đã đặt cho ta trong suốt hành trình của người công dân đất Việt.

Sự cam kết thiêng liêng – Tri Kỷ Hữu – với nghệ nhân nghệ sỹ XQ – Đà Lạt “Hãy giữ tuổi thanh xuân cho nghề thêu và bảo tồn con cháu chúng ta trong một tương lai tốt đẹp nhất trên mảnh đất này” từ đó – đã xa rồi… mỗi ngày lại tự hỏi “mình có muốn làm người Đà Lạt Việt Nam hay không?”. Vì thế, với dự án – tại XQ Đà Lạt Sử Quán thành lập một ban và quyết định đặt tên – Bi ký và mỹ văn Đà Lạt – đã bao năm chúng tôi nghĩ về chuyện ấy – bàn về chuyện ấy – mà đến nay chưa dựng được, bởi vì cuộc đời là thế, đủ cả hôn phối tốt đẹp, tình yêu ảo tưởng và thời cơ bỏ lỡ – hoặc là thời cơ mà chúng tôi tưởng là bỏ lỡ nhưng thực ra chỉ là chưa chín mùi mà thôi. Bây giờ thời cơ là đây?..

Bi ký – mỹ văn Đà Lạt phải đáp ứng một nhu cầu nay đã thành cấp bách – với những chủ đề đa văn hóa, những phóng sự bao quát về những cuộc phỏng vấn các nhà sáng tạo – khoa học – sử học – xã hội học – kinh tế học.v.v… - với những thư viện hợp thành thư viện duy nhất và những bảo tàng hợp thành bảo tàng duy nhất, nó phải đáp ứng một khao khát lớn lao kết hợp mơ ước lẫn kiến thức làm một cuộc viễn du kỳ thú qua thành phố văn hóa với những con đường tri thức, đó chính là loại chương trình ngày mai mà Đà Lạt cần đưa ra cho công chúng ngày hôm nay.

Thực ra có thể nói là chúng tôi buộc phải làm dự án đó, có một cái gì đó dẫn dắt chúng tôi mà chúng tôi hầu như không biết, một thứ chất lỏng chập chờn mà người ta gọi là dư luận, mà không ai xác định được trong khi nó lại xác định tất cả chúng tôi. Chúng tôi không biết tại sao, nhưng chúng tôi biết rằng chính hình thức sáng tạo và biểu hiện văn hóa Đà Lạt là cần thiết kêu gọi một tính sáng tạo không vướng vào khinh miệt mà trái lại dựa trên sự tôn trọng tất cả kẻ khác.

Cái nguyên liệu được xử lý của dự án này là ký ức – tài năng và cái đẹp về di sản văn hóa Đà Lạt. Đó là các sản phẩm do trí tưởng tượng của xã hội sinh ra trong suốt quá trình lịch sử của nó như kiến trúc Đà Lạt chẳng hạn, bằng sự sáng tạo của mình chúng tôi sẽ giới thiệu những yếu tố nhân văn, yếu tố yên tĩnh của nó để khi người du khách đến tham quan, họ bỗng thấy mình đứng giữa một cảnh tĩnh mịch, họ như được trở về với cội nguồn thời gian, trở về với một không gian huyền thoại…(đây cũng là một điều khó khăn cho những nhà quản lý vì Đà Lạt có một di sản bao gồm những dinh thự - biệt thự… nó sẽ giao phó việc bảo vệ và giữ gìn di sản ấy cho ai? Các nhà kinh doanh địa phương không có đủ khả năng, còn một tập đoàn trong nước hay một công ty đa quốc gia nước ngoài thì sẽ xác nhập ngay tức khắc vào một tổ hợp khách sạn… với nhu cầu thị trường chức năng của cái hiện tại hỗn độn nhất lén lút xâm chiếm không gian huyền thoại này, gặm nhấm nó, bóp nghẹt nó dần dần chẳng bao lâu sẽ không còn phân biệt nổi ngôi biệt thự cổ với những tòa nhà mới nhất.Vậy ai sẽ tiến hành nghiên cứu, khai quật, liệt kê tất cả những báu vật của di sản đó với yêu cầu của ngành du lịch muốn giới thiệu di sản của Đà Lạt cho sự chiêm ngưỡng của người du khách trong và ngoài nước…?)

Về những tác phẩm sáng tạo mới, chúng tôi mời đến những nhà cách tân nhất của xã hội, những nhà tương lai học, những nhà thơ. Sau cùng, chúng tôi cùng nhau suy nghĩ đưa những dự án văn hóa – nghệ thuật trong tương lai – những dự án phải đáp ứng những nhu cầu lâu dài của xã hội hiện nay mới nhen nhúm…

Để bắt tay vào tương lai trong khi còn đứng vững hai chân trên mặt đất. Muốn thực hiện dù chỉ một phần nhỏ những ước mơ của mình về Đà Lạt, chúng tôi phải luôn thỏa hiệp giữa tham vọng và lý trí, giữa những nguy cơ cần gánh chịu và những sai lầm không được phép phạm phải…

Chúng tôi cảm thấy một chiều hướng trên Đà lạt không thể đảo ngược trong tất cả các lĩnh vực: công nghiệp, tài chính, giáo dục,v.v…đòi hỏi ngày càng nhiều tài năng đa dạng, những đóng góp về văn hóa, những quan điểm về đạo lý hoặc thẩm mỹ chỉ có thể đến từ văn học nghệ thuật – Đà Lạt thành phố của nghệ thuật – tình yêu – tình đoàn kết và văn hóa.

Đó là một thành phố thần kỳ sẽ làm cho những người du khách chờ đợi suốt một nghìn lẻ một đêm bằng cách kể cho họ nghe những chuyện nơi khác. Phép thần kỳ nhắc nhở lại cho chúng ta nhớ rằng ngôn ngữ sinh ra không những để diễn đạt mà điều bí mật xin được chia sẻ và để dạy cho con cái con người biết ước mơ của người khác, đó là điều quan trọng và đó là điều chúng tôi sẽ cố gắng chung sức làm. Vì con người ngày hôm nay họ đang muốn trở về với trí tuệ, với sự đồng tâm nhất trí – họ muốn trở về với ”Đà lạt một thời mơ mộng”. Đùng một cái họ hiểu ra rằng: thế giới, khi về già, lại thấy chất thơ của mình. Trái tim thế giới đang già đi, nó như một trái chín, nó dịu ngọt hơn và thơ hơn…

Có biết thành công hay không mà chúng tôi không thử làm? Với một niềm tin mọi người không chỉ bằng lòng đứng nhìn chúng tôi mà ủng hộ nghệ nhân nghệ sỹ XQ chúng tôi. Đặc biệt những cơ quan ban ngành – những bậc tiền bối – những chuyên gia – các vị nhân sĩ - …đem lại cho chúng tôi một sự hỗ trợ hết sức quý báu.

DANH SÁCH NHỮNG NHÂN SĨ THAM GIA CUỘC HỘI THẢO:

  1. Giáo sư ĐẶNG VŨ KHIÊU – Anh Hùng Lao Động – Nhà Văn Hóa Việt Nam
  2. Sư MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH – Trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng – Huế
  3. Sư Tuệ Tâm - trụ trì Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa, Huế
  4. Nhà Sử Học DƯƠNG TRUNG QUỐC - Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam
  5. Thượng tọa THÍCH VIÊN THANH – Phó ban trị sự giáo hội Phật Giáo tỉnh Lâm Đồng, Trụ trì Thiền Viện Vạn Hạnh
  6. Ông TRƯƠNG TRỔ – Nguyên GĐ Sở Khoa Học Công Nghệ Môi Trường tỉnh Lâm Đồng
  7. Ông LƯƠNG XUÂN ĐỨC – Nguyên Vụ Trưởng Vụ Văn Hóa Văn Nghệ Báo Nhân Dân
  8. Ông NGUYỄN KHẮC THUẦN – Nhà Sử Học Việt Nam
  9. Ông NGUYỄN ĐẮC XUÂN –Nhà Nghiên cứu văn hóa Thừa Thiên Huế.
  10. Ông PHAN THUẬN AN – Nhà nghiên cứu văn hóa Thừa Thiên Huế
  11. Ông BỬU Ý – Nhà văn, dịch giả
  12. Ông TRẦN ĐÌNH SƠN – Nhà nghiên cứu cổ vật
  13. Ông NGUYỄN HIẾU TÍN – Thạc sỹ văn hóa học TP.HCM
  14. Bà VŨ KIỀU TRINH – Trưởng phòng - Ban thời sự đài truyền hình Việt Nam
  15. Ông TRỊNH QUỐC THÁI – BTV TFS- đài truyền hình TPHCM
  16. Họa sỹ Đinh Cường
  17. Thạc sỹ Trần Nguyên Huân

 CHÂN DUNG NGHỆ SỸ THÀNH PHỐ TÔI

"Dấu chân nghệ sỹ còn đây

Tình xanh nhân thế tháng ngày hạo nhiên"

  1. Nhà thơ - nhà văn: Nguyễn Thanh Đạm
  2. Nhà thơ: Phạm Quốc Ca
  3. Nhà văn - nhà thơ: Hoàng Ngọc Châu
  4. Nhà thơ: Văn Thảo Nguyên
  5. NHà văn: Nguyễn Trọng Hoàng
  6. Nhà thơ: Nguyễn Thị Thanh Toàn
  7. Nhà báo - BTV Minh Lân
  8. Nhà thơ: Đặng Thị Thanh Liễu
  9. Anh Lê Văn Thịnh
  10. Nhạc sỹ: Nguyễn Đình Nghĩ
  11. Nhà văn: Lê Công
  12. Nhà văn: Nguyễn Thị Quỳnh Uyển
  13. Nhà văn: Thái Bi
  14. Họa sỹ: Phan Văn Gái
  15. Nhà thơ: Cát Miên
  16. Họa sỹ - nhà thơ: Vi Quốc Hiệp

 

CHÂN DUNG NGHỆ SỸ THÀNH PHỐ TÔI

"Sáng tạo là khổ hạnh

Trong đêm tối miên trường

Có đốm lửa vô biên

Cháy trên đầu ngọn bút"

  1. Nhà thơ: Trung An
  2. Nhà thơ: Đại Phú Tiềm
  3. Nhà văn: Nguyễn Chí Long
  4. Nhà văn - nhà thơ: Trần Ngọc Trác
  5. Nhạc sỹ: Đặng Minh Huệ
  6. Nhà thơ: Trường Sinh
  7. Nhà báo - nhà văn: Lâm Viên
  8. Nhà thơ - nhạc sỹ: Kra Jẵn Plin
  9. Nhà báo: Hà Hữu Nết
  10. Điêu khắc gia: Đinh Thanh
  11. Nhà báo: Đoàn Kiên
  12. TĐD - TTXVN Phạm Ly Kha
  13. QP. TTXVN Đặng Văn Tuấn
  14. Nhà báo - nhà thơ: Võ Đình Trang
  15. Nhạc sỹ: Kra Jẵn Đick
  16. Nhà thơ: Tạ Thị Vũ Dậu

 

NƠI: "TRÚ NGỤ LINH HỒN TỔ TIÊN"

Chúng tôi tìm cách tái phát hiện những cội rễ đã mất. Thể hiện những trường tồn, những tín hiệu – hình dáng phổ quát.

Cũng là nơi Nghệ Nhân – Nghệ Sỹ XQ thiểu số chúng tôi cầu xin tổ tiên tha tội, bằng cách đụng chạm vào gốc cây thiêng liêng, nơi trú ngụ linh hồn tổ tiên, nhờ vị chủ lễ đặt tay lên đầu nghệ nhân – nghệ sỹ trong lúc chạm tay vào gốc cây thiêng giúp cho chúng tôi trò chuyện được với linh hồn tổ tiên.

Bên dưới là một hốc cây, nơi chúng tôi rưới rượu lên một hòn đá cúng tổ tiên.

 

1.Tác phẩm: UỐNG RƯỢU CẦN

Kích cỡ: 135 x 180 cm              

           Chất liệu: chỉ tơ tằm, DMC, vải cotton

Nghệ nhân: Cơ Liêng Abija      

2.Tác phẩm: Bộ tranh MƯU SINH

Kích thước: 45 x 60 cm           

                Chất liệu: chỉ BCT, chỉ tơ tằm, vải cotton

Nghệ nhân : K Chel                  

 

HÀNH VI SÁNG TẠO CỦA TỔ TIÊN

Sinh hoạt tôn giáo của các thổ dân miền cao nguyên xoay quanh những hành vi nguyên thủy của tổ tiên, họ là những người đã sáng tạo ra những nghi lễ đầu tiên, những đồ vật, hình vẽ thờ cúng đầu tiên (cây nêu) qua nghi thức và sự chăm lo nơi thờ cúng.

Các thổ dân ngày nay tự khẳng định là người kế tục tổ tiên của họ. Để duy trì sự trù phú của thế giới, họ tìm cách giải phóng một phần sáng tạo tiền nhân trong các nghi lễ trong đó nghệ thuật có một vị trí quan trọng.

Vị chủ lễ có nhiệm vụ vào những giai đoạn khác nhau của buổi lễ, vẽ lên thân thể người múa, những mẫu hình mãnh liệt bằng đất son, màu vàng, đỏ bằng đất sét, than củi. Các hình vẽ đó còn được trang trí thêm bằng các lông chim sặc sỡ, những sợi xơ (tơ) dán vào da hoặc cài vào người, làm cho khi nhảy múa, người nhảy sẽ biến thành người xưa.

Có khi người ta vẽ những mẫu hình xuống đất dành cho nghi lễ, có khi phủ khắp một diện tích tương đối lớn chứa đựng những thành tố 3 chiều: núi cao, vực sâu hay những chiếc cọc được đóng cách đều nhau, trên đó có treo những vật thờ cúng, phong cảnh nguyên thủy và những đặc trưng của nó thể hiện một cách giản lược, còn người múa thì đi lại khắp mọi chỗ, vừa đi vừa bắt chước những điệu bộ sáng tạo của tổ tiên.

Những mẫu hình chức năng là nối liền thời kỳ huyền thoại của việc tạo ra thế giới với thời hiện tại, đã dần dần bị xóa nhòa theo tiến trình của nghi lễ, ý đồ không phải tạo ra tác phẩm lâu bền mà là để gợi nhớ một cách mãnh liệt cái thế giới tổ tiên, tìm lại nó và truyền nó cho các thế hệ trẻ.

Đôi khi những mẫu hình thông dụng nhất như dấu chân của những con thú – đường cong hay thẳng – nhằm thể hiện chủ yếu nơi trú ẩn và công cụ của tiền nhân.

Khả năng sinh đẻ được thể hiện: đối với đàn bà bằng những vòng tròn đồng tâm, đối với đàn ông bằng những đường thẳng song song. Sự gặp gỡ của những lực đồ họa ấy trong cùng một nghi lễ sẽ giải phóng năng lượng phát sinh cần thiết cho sự tồn tại vĩnh cửu của chu kỳ cuộc sống.

 

Tác phẩm tranh thêu: LỬA CHIỀU

              Kích cỡ: 110 x 150 cm                                 

               Chất liệu: chỉ tơ tằm, DMC, BCT, vải cotton

Nghệ nhân: Cơ Liêng My Loan     

 

Tục ngữ bản địa:

“Cái miệng nó ăn

Cái đuôi nó bài tiết”

Nó thể hiện bằng hình ảnh và kỹ thuật

Niềm tin của người bản địa là: “Tích tụ có nghĩa là chết”

 

           Tác phẩm tranh thêu: CHÂN DUNG THẦY CÚNG

          Kích cỡ: 110 x 150 cm                                             

Chất liệu: chỉ tơ tằm, DMC, BCT, vải cotton

Nghệ nhân: Cơ Liêng Ra Ly                          

 

“Chúng ta đều là những tinh thần lưu vong trong thế giới vật chất và chỉ có thể đạt tới sự thống nhất bằng cách vượt qua các mâu thuẫn”.

(Lời “CỦA CÁC THẦY CÚNG”)

***

Không một ai được quyền “sở hữu” đất đai vì đất đai “thuộc về” tất cả mọi người. Với điều kiện là mỗi người cũng một phần thuộc về miền đất ấy.

(Lời “THỔ THẦN ĐÀ LẠT”)

 

NGƯỜI CON CỦA MẶT TRỜI

Sử thi của những cư dân bản địa, nói lên sức sống bền bỉ của những truyện kể thần thoại trong các cộng đồng ở cao nguyên. Nó kể lại câu chuyện về thần InKaKi, con trai mặt trời là nạn nhân của thực dân, bị kẻ xâm lược tra tấn và chặt đầu. Thủ cấp rời khỏi thân, được sống bí mật trong những khu rừng bí mật, tại đó được sinh ra một thân mới và mặc áo xơ của các loại cây cau rừng. Sau khi thân mình mọc ra hoàn toàn, người con mặt trời trở lại tiến hành việc phán xét cuối cùng và lập lại các buôn làng.

Niềm tin đó vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Mỗi năm tại nhiều cộng đồng cư dân bản địa, những buổi tế lễ thổ thần là dịp diễn lại cái chết của người bản địa. Trong các cuộc trình diễn, các diễn viên là người dân bản địa, trong trang phục của thời đó làm sống lại một loạt sự kiện thần thoại và lịch sử,mà sử thi dân gian xếp liền cạnh nhau hoặc chồng lên nhau trong một bối cảnh phi thời gian do vậy được xếp hỗn độn vào với nhau. Trong tất cả cuộc trình diễn đều có cảnh kẻ cầm đầu thực dân xuất hiện và chặt đầu người bản địa, thực ra bị thắt cổ. Ký ức tập thể đã thay thế việc chặt đầu bằng việc thắt cổ, làm sống lại những hình ảnh muốn nói rằng trong một tương lai không xác định(khi thân thể của vị thần thủ lĩnh được phục hồi hoàn toàn). Nền văn minh cổ xưa của cư dân bản địa sẽ tìm lại được tất cả sự huy hoàng của nó, lập lại luật lệ của nó vàphân phát đất đai cho con cháu của những người sở hữu thật sự.

Câu chuyện sử thi ấy tồn tại, biến đổi và tái tạo dưới ảnh hưởng qua lại của các nền văn hóa bản địa, bản xứ, Châu Âu v. v … Sự biến đổi ấy chắc chắn làm đậm nét thêm sự tương đồng của các chủ đề giữa các khu vực khác nhau.

(Chiếc Áo Của Người Con Mặt Trời)

 

QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ngày 18-12-1992 – ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC

Thông qua bản tuyên bố về quyền của những người thuộc các thiểu số dân tộc, sắc tộc, văn hoá, ngôn ngữ. Nhắc nhở mọi quốc gia đều có trách nhiệm bảo vệ sự tồn tại và bản sắc của các thiểu số sống trên lãnh thổ của mình.

  1. Quyền của các thành viên thiểu số: được hưởng nền văn hoá riêng, được tham gia đầy đủ vào đời sống văn hoá, tôn giáo, xã hội, kinh tế và công cộng, cũng như vào quyết định có liên quan đến thiểu số của họ
  2. Quyền được lập nên và quản lý những đoàn hội riêng của họ
  3. Quyền được thiết lập và duy trì, không có một sự phân biệt đối xử nào, những cuộc tiếp xúc tự do và hoà bình với các thành viên khác trong nhóm họ và với những người thuộc thiểu số khác.

Những cuộc tiếp xúc vượt ra ngoài biên giới với công dân của các quốc gia khác gắn bó với họ vì nguồn gốc dân tộc hoặc sắc tộc hay vì có cùng tôn giáo hay ngôn ngữ.

Tầm quan trọng của tuyên bố này. Đó là văn kiện đầu tiên đầy đủ và có tính bắt buộc toàn cầu quy định quyền của các thành viên các thiểu số. Vì vậy, nó sẽ ảnh hưởng tới tập quán của các nhà nước và công việc lập pháp của các quốc gia.

JANUS SYMONIDES – nhà luật học Ba Lan danh tiếng quốc tế, chủ tịch tiểu ban nhân quyền và hoà bình. Nói về quyền con người. Sự kiểm soát quốc tế Luật Biển, bảo vệ môi trường, an ninh quốc tế và lý thuyết quan hệ quốc tế.

  1. Trong xã hội, ít về số lượng không đủ để tạo thành một thiểu số. Chính bối cảnh xã hội và lịch sử hình thành ý thức thiểu số một nhóm người
  2. Có thể gọi là thiểu số một nhóm người do một số nét đặc thù về ngoại hình hay văn hoá, bị đối xử khác biệt và không bằng những thành viên khác của xã hội mà họ sinh sống và do đó tự coi mình là đối tượng của một sự phân biệt tập thể.

Louis Wirth (nhà xã hội học Pháp)

  1. Nhu cầu bản sắc là một con dao hai lưỡi. Nó là một nhân tố mở cửa tích cực song nó cũng có thể dẫn đến một thái độ nguy hiểm là co mình lại

 

NGHI LỄ PHƠI CÁC HẠT GIỐNG CÂY RỪNG QUÝ HIẾM TẠI CAO NGUYÊN

Giấc ngủ rất nhẹ

Trên những khoảng không mênh mông

Thân thể kiệt sức vì không gian

Nhớ lại chặng đường dài

Những đường mòn trên núi Langbiang

Trong rừng thẳm âm u tổ tiên

Như kiến bò ở sống lưng ta

(Bài thơ cổ người bản địa)

 

Những tác phẩm điêu khắc và bút lửa của nghệ nhân - nghệ sỹ người bản địa tại Đà Lạt - XQ Sử Quán

Phải đi đến quyết định, phá vỡ ràng buộc mà cuộc sống hiện đại và sự mềm yếu của trái tim đã trói ta lại.

Được vũ trang bằng chiếc gùi và cái gậy tổ tiên, và lên đường tìm đất mới cho bộ lạc.

(Lời “Thụ Pháp” Già Làng bản địa)

.
.
.