GIỚI THIỆU: SỰ KHOÁI CẢM - HUYỀN DIỆU VÀ THIÊNG LIÊNG

Giới Thiệu:

SỰ KHOÁI CẢM - HUYỀN DIỆU VÀ THIÊNG LIÊNG

Của những danh hoa trong bộ tranh thêu hai mặt tại phòng khách

 

“Có những bộ tranh hai mặt ta có thể đi xuyên qua hoặc ngắm, có những bộ tranh trong đó ta có thể dạo chơi và lại còn có những bức khác ta muốn lưu lại hoặc sống tại đó. Tất cả những bức bình phong thêu hai mặt đó đều đạt dần độ xuất sắc. Tuy nhiên, những bức khiến ta muốn sống trong đó còn huyền ảo hơn những bức khác”.

(Đó là lời của người tri kỷ khi tên anh gắn liền với một loài hoa trong bộ tranh thêu bình phong hai mặt …)

 ……………………

  Những bộ tranh hai mặt này ra đời từ sự mơ ước của những nghệ nhân XQ về một cuộc sống hòa đồng hoàn toàn giữa con người với thiên nhiên, bởi vì thiên nhiên cũng dự phần vào sự bí mật của sáng tạo. Nghệ thuật thêu của XQ Sử Quán Đà Lạt với những hoạt động nghi thức - nghi lễ thiêng liêng là cơ sở của sự thực hành nghệ thuật cũng như tư tưởng mỹ học.

Những bức tranh hai mặt tạo ra những khoảng không trong căn nhà trở nên huyền ảo (Hư Không) không phải là một cái gì mơ hồ hoặc không hiện hữu, mà là một khía cạnh chủ yếu rất năng động của đời sống con người cũng như đời sống thiên nhiên vũ trụ. Với đặc điểm là sự cân bằng hoàn hảo giữa sinh khí và lưỡng tính Âm - Dương, ở trung tâm những tương tác chi phối mọi sự vật, nó được coi như một không gian của gia đình trong đó có thể đạt tới viên mãn thực sự. Vì vậy, ý niệm hư không của người xưa đem lại chìa khóa để làm chủ những mưu cầu cao cả nhất.

Huyền Ảo và sự Huyền Diệu của những bộ tranh hai mặt này tạo ra những quãng lặng trong không gian mà ta có cảm giác qua đó âm thanh có thể vượt lên bản thân chúng và đạt tới một thứ cộng hưởng, nhằm tạo một quan hệ qua lại để ngỏ giữa chủ thể (gia chủ) và thế giới khách quan. Nhờ đó, một sự hòa đồng trực tiếp với sự vật được thiết lập, và trái tim của vị chủ nhà lên tiếng nói với những người khách đến thăm thông qua chúng vậy. Như vậy chủ thể (gia chủ) cùng một lúc, trở nên vừa vắng mặt vừa hiện diện một cách sâu sắc. Ngôn ngữ của bộ tranh thêu tay hai mặt ấy, mà sự huyền ảo của hư không nó tạo ra là động lực, để rộng chỗ cho sinh khí lưu chuyển và do đó, gợi lên điều không thể nói ra.

Ta cảm thấy sự huyền ảo hư không trong căn nhà không phải là một hiện diện bất động, trái lại là sợi dây rung động nối liên thế giới hữu hình với một thế giới vô hình. Và những sự vật trong nhà đều thôi không còn được coi như là những yếu tố bộ phận bất biến và đối lập nữa, chúng hiện thân cho toàn bộ nguyên lý năng động của thực tại trong nội thất.

Như vậy là tác phẩm tranh thêu hai mặt phát lộ sự tác động qua lại thường trực, một mặt giữa người và thiên nhiên bên trong bức tranh, và mặt khác giữa người xem tranh và bản thân bức tranh. Vậy bức tranh thành ra không chỉ để thưởng ngoạn bằng cách nhìn mà còn để "nghe". Và bộ tranh hai mặt thêu tay này được tạo, khi ngắm tranh trở thành một hành động tham gia, một hình thức suy tưởng trong đó chân lý nhẹ nhàng của cuộc sống thế chỗ thực tại, nhằm đưa tới sự mãn khai của con người, không chỉ đơn thuần là một đối tượng thẩm mỹ, một bức tranh thêu hai mặt vươn tới tái tạo một không gian mở trong đó có thể sống thật sự.

- LOÀI HOA CỦA THỜI GIAN

Đối với các nghệ nhân thêu tranh hai mặt, mũi kim thể hiện quá trình con người tham gia vào hành động của tạo hóa. Nó là gạch nối giữa con người và vũ trụ. Nó là một tuyến tìm cách nắm bắt hơi thở của thiên nhiên.

 Nghệ thuật của những mũi kim được trợ giúp bởi sự tồn tại của nhịp điệu tiết tấu của bàn tay sau một thời gian dài nghiên cứu và chú mục say mê. Trước khi thêu nghệ nhân từng làm chủ nhiều kiểu nét thêu thể hiện nhiều kiểu loài hoa hoặc đồ vật, mà mỗi nét là kết tủa của việc quan sát thiên nhiên thật kỹ càng.

Như một nghệ sĩ Phương Đông viết:

"Trước khi thêu một loài hoa, hoa phải mọc sâu và nở trong ta đã. Bấy giờ, cầm kim trong tay, tập trung nhãn lực, ta sẽ thấy hình ảnh hiện lên trước mắt. Hãy nắm bắt ngay hình ảnh bằng những mũi kim vì nó có thể biến đi đột ngột như con thỏ giỡn trăng khi thấy người  lại gần". Thế là, nghệ nhân tái tạo được nhịp đập của một thế giới vô hình ngay giữa thế giới khả thị, khi ấy mỗi sinh vật mới hòa nhập cùng vạn vật.

Bức tranh hoàn chỉnh, tự thân nó trở thành một vũ trụ. Mỗi lần ngắm một kiệt tác hết giờ này sang giờ khác là một nghi thức có nghĩa là biến thời gian nghiệm sinh thành không gian sống động, tái tạo trong tâm người xem tranh một loại âm nhạc thời gian

-----------------------------------

Thiên nhiên và các loại hoa trên đất nước Việt Nam luôn luôn kích thích trí tưởng tượng của các nghệ nhân - nghệ sĩ XQ Đà Lạt.

Qua đó nổi lên hình ảnh cái thiêng liêng và cái trác tuyệt hòa quyện một cách mật thiết vào cuộc sống hằng ngày, tổng hợp cái phù du với cái vĩnh cửu. Sự hài hòa ấy có lẽ dược thể hiện rõ nhất trong nghệ thuật thêu tranh hai mặt. Với sự chính xác đến từng chi tiết, biểu hiện những sắc thái tế nhị nhất trên mỗi đường kim mũi chỉ, nét mặt và trong động tác, nghệ thuật này cung cấp cho ta một chân dung bao quát và sinh động của một ngành nghề truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, một đất nước và một thời kỳ trong đó mọi yếu tố của sự sống trên trái đất — canh tác, đời sống gia đình, các trò giải trí – đều thiêng liêng…

XQ ART HOUSE -75 Yersin Đà Lạt ra đời với một ý đồ và chính thống về phong cách Việt - những nét chính ấy của nghệ thuật trang trí trong kiến trúc đã làm nền cho phong trào “Ngôi nhà cho một người yêu Nghệ thuật”
Xuất hiện trong thời kỳ đô thị hóa nhanh chóng này, những người mới phất muốn phô trương ồn ào, sự giàu sang của mình qua những tòa đại sảnh với những sản phẩm hiện đại của phương tây - nó trở nên vô hồn. Cho nên, “Ngôi nhà cho một người yêu Nghệ thuật” khởi lên như một phản ứng dù rằng bồng bột để dung hoà lại sự xa lạ… đơn điệu hóa môi trường đến độ tẻ ngắt: Từ nhà cửa, phòng khách, phòng ăn,đồ đạc, đến bát đĩa, nói tóm lại lại toàn bộ cái khung cảnh của đời sống hằng ngày vốn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến cách sống của con người Việt.
Art Nouveau biểu hiện nỗi hoài nhớ đối với thiên nhiên và quá khứ, đối với những gì không đô thị và không hiện đại, đối với những xoắn lượn phi lý của những lõi cây khô của những dây bầu, dây bí và cuống hoa, cái xù xì của vỏ quả thông, nói chung là với cái bất đối xứng thời công nghiệp. Nó cũng hòa điệu với xu hướng giữa truyền thống và hiện đại và thường gần với những phong trào phục hưng văn hoá.
Nhưng mỹ học của nghề thêu còn mang tính tiền phong ở chỗ biết nắm lấy những chất liệu đương thời và tỏ ra có khả năng cải tiến tài tình. Chẳng hạn như đá, biểu tượng của sự vững chắc và của cải trong những kiến trúc khoa trương của những phú hộ, đã được phong cách mới này sử dụng phối hợp lại với nghệ thuật thêu vì những mục đích sáng tạo của chính nó; chất liệu cứng đờ ấy bỗng sống động lên với cả một thế giới đầy cây cỏ, thú vật huyền thoại và người, được thể hiện trong trắng đến nỗi tưởng chừng như đó là vào thời trước tội tổ tông truyền vậy.
Về mặt cảm hứng và ảnh hưởng, “Ngôi nhà cho một người yêu Nghệ thuật” cũng nhìn ra ngoài. Cách xử lý - Thiên nhiên của nghệ thuật thêu là một nguồn luôn luôn vương vấn tâm trí các nghệ nhân nghệ sĩ XQ
Một ngày nào đó những hạt giống của một Mỹ học nghề thêu truyền thống dân tộc Việt sẽ được gió mang đi gieo rộng khắp để trở thành trào lưu kiến trúc và design đầu tiên phong cách Việt có tính quốc tế của chúng ta.

LÒNG HIẾU KHÁCH CỦA CON NGƯỜI ĐÀ LẠT


Ngày xưa, thành phố Đà Lạt rất ít phương tiện đi lại nếu có thì thô sơ. Từ ở chân đèo lên tới thành phố phải mất đến ngày đường.

Hiếu khách là một đức tính của người Đà Lạt xưa được ra đời trong bối cảnh đó và được định nghĩa một cách tuyệt diệu và hồn nhiên là “Thèm muốn có khách” chẳng phải là cao đẹp sao? Về một nỗi thèm muốn ta tự thoả mãn bằng cách phục vụ người khác. Nhưng sự thèm muốn ấy cũng dễ giải thích bằng việc những người đó sống tương đối tách biệt (với những buổi tối mùa đông lạnh lẽo, ảm đạm, buồn chán và nỗi tò mò muốn biết tin về thế giới rộng lớn bên ngoài). Những cuộc viếng thăm nhau không hạn chế ở mức người ta bỏ ra cả ngày để đi đến bạn láng giềng. Người ta ở lại chơi hai đến ba ngày, hơn thế nữa.

Phô trương: chính những ngôi nhà xưa ở Đà Lạt ấy. Trang viên hay ấp trại thường là nhỏ, con người Đà Lạt đã ưu ái vun trồng đức tính hiếu khách. Sự hiếu khách lúc đó đôi khi rườm rà thậm chí đi đến chỗ tháo cả bánh xe mà khách đi tới hoặc đem giấu vào những nhà phụ để ngăn không cho khách về. Vào những ngày đặc biệt: rửa tội, cưới xin, ma chay mà cả cuộc đến thăm – mức sinh hoạt thường là đạm bạc của những nhà này tăng vọt lên quá đáng.

Điều quan trọng là phô trương dù nợ nần nhưng mình phải tỏ ra có cái gì thói quen đãi khách vượt quá khả năng mình vẫn nằm trong phong tục người Việt. Nói cho đúng hiếu khách không chỉ là tiệc tùng và không chỉ do tò mò muốn biết tin tức ngoài thành phố. Nó xuất phát từ trái tim, tình thân ái thật sự, có thể là hơi ngây thơ nhưng tựu trung là chân thành.

Mời tặng lần III:
Tất nhiên, việc đãi khách của người Việt thường kèm theo cả một nghi thức không phải chỉ bày tất cả những gì có trong nhà lên bàn ăn là đủ. Với một số khác lao vào chén ngấu nghiến là thất lễ. Gia chủ phải gặng mời nhiều lần để khách lấy thức ăn, đôi lúc gắp thức ăn bỏ vào chén của khách. Còn khách phải từ chối ít nhất ba lần trước khi ăn. Nhất thiết phải khách sáo để chứng tỏ sự nhiệt tình về phía chủ và sự lịch thiệp về phía khách.

Sự ngự trị của nghi thức này, cho đến nay vẫn còn mạnh ngay cả trong gia đình. Hồi mẹ tôi thường đến ăn tối nhà tôi. Bà luôn sẵn sàng để bụng lép kẹp đi nằm nếu tôi không năn nỉ mời Bà. Cuối cùng, cái đó thành một trò đùa “Đến nhà con mẹ đừng có khách sáo”, “ Nhưng mẹ có khách sáo đâu”, “nào một, hai, ba, con gặng mời ba lần rồi, xin mẹ hãy dùng thêm món này đi”, “không, không, không đâu”. Mẹ kêu như vậy trước khi múc cái món mà rõ ràng bà đang muốn ăn. Bà không cưỡng được sức mạnh của tập tục.

Truyền thống của lòng hiếu khách đang dần mất do công cuộc đô thị hoá. Tình hàng xóm láng giềng vắng đi và ra khỏi đất đai thành phố. Những người du khách lại gặp nhiều khó khăn hơn.

Việc hiện đại hoá đang tàn phá những kiểu mẫu của cộng đồng các thành phố tăng. Thành phố được nới rộng do dân số tăng, cũng do nông thôn đổ xô ra không ngừng. Chủ nghĩa cá nhân đang thống ngự tinh thần cộng đồng.

Hình thái gia đình rộng lớn đang dần dần tan rã, nhường chỗ cho gia đình hạt nhân (chỉ gồm có vợ chồng và con cái). Sự lỏng lẽo đi của những mối ràng buộc thân tộc có khuynh hướng dẫn đến những thái độ vị kỷ và cộng thêm những khó khăn kinh tế. Lòng quảng đại và hào phóng trở nên ngày càng hiếm hoi.

Sự hẹp hòi làm tổn hại những giá trị khoan dung, cởi mở và tự tôn từ xưa được biểu thị với người từ xa đến, hy vọng được hoan nghênh như chính ở làng mình. Phải chăng sự mai một của truyền thống hiếu khách là triệu chứng của một cuộc khủng hoảng trong xã hội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đây là một nơi hình thành những ý tưởng cho các xưởng: mỹ thuật và mỹ nghệ XQ VIỆT NAM, nhằm nâng cao giá trị của các vật dụng hàng ngày... Các Mô - típ tại căn phòng này .... chuyển hình thảo mộc sang hình động vật, thậm chí sang trừu tượng biến hóa không ngừng. Nước biến thành cây, cây thành loài chim hay rắn, rắn lại thành những yếu tố con người ... cả những chữ viết cũng đan quyện vào nhau như dây leo biến thành những ngọn lửa và bốc lên thành những cuộn khói. Chất U mua, châm biếm là nét nổi bật... một con sóc cách điệu trở thành yếu tố trang trí đầy tính hài hước với những biến hóa những ý niệm.
- GEOGRE ATKINS (người đại diện XQ Việt Nam tại Mỹ) là gương mặt nổi bật trong phong trào nghệ thuật mới, tại Mỹ. Năm 2005 con người đại lãng du này, quen thuộc với mọi trào lưu nghệ thuật tiên phong ...lần đầu tiên đến Việt Nam và thăm căn phòng MỘT NGƯỜI YÊU NGHỆ THUẬT... Ông đã viết: “Những bức tranh thêu là sự đan quyện lấp lánh của những mũi thêu chảy như suối trên những hình trang trí tựa như tế bào của một cơ thể sống.... cùng với cách trang trí huyễn hoặc, tại đây, nó phập phồng một đời sống hữu cơ. Cả hai đều cố đua tài với thiên nhiên...”

 

 

Không gian làm việc “Phát Tích”, những ý tưởng tư duy, nơi đạt đến đỉnh cao (TAM BẤT HỦ):
- Lập ngôn (viết sách).
- Lập công (có công với quê hương xứ sở).
- Lập đạo (tạo dựng niềm tin, tín ngưỡng cho con người).

Đời nhân sĩ con chim trên đỉnh núi

Ngợi ca ngày nắng mới giữa mù sương

Chim rướm máu bởi hồn thơ u khoát

Rớt xuống trần như lửa cháy tà dương


- MĐTTA -

 

...Có thể coi 1996 là năm ra đời của nghệ thuật thêu ở tại Đà Lạt. Một công trình đã ra đời - CĂN NHÀ PHỤ NỮ TRONG NỘI THẤT - nó phổ biến những ý niệm của nghề thêu trong nội thất. XQ đã xây dựng "TƯ DINH" được xem là một tác phẩm nghệ thuật thêu, toàn bộ theo một phong cách kỹ thuật và tạo hình hoàn toàn mới - TRI KỶ HỮU XQ thường gọi đây là: ĐÀ LẠT - DINH THỰ MÙA XUÂN.
Lòng tin ở tiến bộ của con người với tương lai, được thể hiện qua những cuộc triển lãm với những tòa nhà - đại sảnh bằng xi măng, sắt thép và dẫn đến một số nghệ sĩ phải sợ sự xấu xí của các đồ vật thông dụng được sản xuất hàng loạt, họ đã huy động cùng nhau phản kháng ...
Nghệ nhân - nghệ sĩ XQ bằng nghệ thuật thêu truyền thống của dân tộc đã phát động một cuộc “THẬP TỰ CHINH" chống lại vi - rút của sự xấu xí đe dọa môi trường hằng ngày, thay vì náu mình trong tháp ngà những nghệ nhân - nghệ sỹ phải làm việc cho đa số và tham gia sáng tạo những vật dụng cuộc sống thường ngày, phải xóa bỏ sự phân biệt giữa nghệ sĩ và nghệ nhân cũng như cái tôn ti từ cổ truyền giữa những NGHỆ THUẬT TRƯỞNG (hội họa - điêu khắc - kiến trúc) và những NGHỆ THUẬT THỨ (thêu thùa - gốm - thảm - mộc) một phong trào quan trọng làm điểm xuất phát mà người ta gọi là design. Sự tìm tòi hình thức ứng dụng vào các đồ vật thông dụng, tức là tạo dáng công nghiệp.
Nhiều người đã gọi đùa - căn nhà Phụ Nữ Trong Nội Thất - là CĂN NHÀ TRIẾT HỌC VƯỜN TRẺ. Đối với nghệ nhân nghệ sỹ XQ họ muốn gieo cho trẻ em Ý thức về cái đẹp - Ý thức về bản sắc dân tộc - nó đã góp phần không nhỏ vào việc làm tỏa sáng những ý tưởng phổ biến vì “sự hữu ích và cái đẹp”
Căn nhà này đã ra sức phổ biến lý thuyết của mình về trang trí sống động và cần thiết tạo nên bởi tính năng động của đường nét, chủ yếu thể hiện sự chuyển động do đời sống bên trong gây ra.
...Kiến trúc không thể tách rời trang trí. Đường nét, các cấu trúc đỡ, được những sản phẩm thêu làm cho dịu đi, trang trí nó dường như phát sinh từ những cột đỡ rồi lan sang đến chân các bức tường, đến sàn nhà - nhấn rõ tính liên tục của các không gian bên trong. Nghệ nhân - nghệ sĩ XQ khai thác nghệ thuật thêu cho sự tương phản giữa kết cấu và màu sắc, tính chất lạnh nhẵn cẩm thạch, cạnh sắc của kim loại, sự êm dịu gỗ sáng màu ...
CĂN NHÀ PHỤ NỮ TRONG NỘI THẤT được khánh thành năm 2001 bằng những cuộc hội hè náo nức, nó đã đánh dấu tột đỉnh của - MỘT - THỜI - KỲ - ÂN - SỦNG - NGHỀ - THÊU...

 

 

 

Link: https://phunuxqvietnam.com/subcate/chan-dung-13
-----------------

 

 

https://phunuxqvietnam.com/newscon/chan-dung-huyen-thoai-da-vang-142

Còn có nhiều ý nghĩa hơn nữa là việc con người bắt đầu đòi hỏi nội thất trong gia đình của mình phải có những dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa. Họ khao khát xã hội thay đổi cách đối xử với dịch vụ văn hóa…
Căn nhà XQ Art House ra đời cung cấp những dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống mà trong gia đình là những hình thức thỏa mãn các yêu cầu về trí tuệ hoặc tình cảm, nói ngắn gọn là các "dịch vụ văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất". Chúng diễn ra dưới hình thức chuyển giao trực tiếp giữa người với người, loại trừ các phương tiện chuyển giao bằng máy móc công nghệ .
Trong lĩnh vực nghệ thuật truyền thống chẳng hạn, việc phổ biến rộng rãi các tác phẩm nghệ thuật thêu tay đã khiến cho ngày càng có nhiều người tìm mua là một cách hưởng thụ văn hóa - hưởng thụ qua trung gian đã nhường bước cho hưởng thụ trực tiếp, rất có thể là một bước quá độ hết sức quan trọng trong lịch sử văn minh…

 

Sức Mạnh Nguyên Thủy (5 vai trò) của người phụ nữ nghề thêu:
1. Là một nền kinh tế ẩn giấu
2. Là hậu phương vững chắc
3. Là chất kết dính, nối liền các thế hệ trong gia đình, xã hội
4. Nuôi dưỡng, giáo dục trẻ nhỏ nhận biết về thế giới quan
5. Duy trì nòi giống, đảm bảo sự nối dài của một truyền thống, của một dân tộc của một ngành nghề.

Sự Thuần Khiết (9 công đức) của người phụ nữ nghề thêu:
1. Sinh (sinh đẻ)
2. Trưởng (nuôi dưỡng, khôn lớn)
3. Phúc (bảo vệ)
4. Phủ (vuốt ve, trìu mến)
5. Cố (trông nom)
6. Cúc (nâng đỡ)
7. Súc (cho bú mớm)
8. Phục (tùy vào tính nết mà uốn nắn)
9. Dục (dạy dỗ)

…Sau một ngày trang trí phụ nữ trong nội thất, vào một buổi tối, khi tôi cảm thấy thấp thỏm, vì người tôi yêu đã rời bỏ tôi - điều này đã từng xảy ra với bạn phải không…? Tôi ra ngoài đi dạo dưới mưa. Nước mắt của tôi, hòa với mưa, làm mờ mắt và tôi bắt đầu nhìn thấy những hình ảnh sẽ trở thành những căn phòng mà tôi trang trí những bức tranh mà bạn thấy trong hình này, bức tranh đó tôi đã tìm thấy con đường của mình ”.
Những điều trùng hợp kỳ lạ với Người lạ mà chúng ta gặp ở Thành phố Đà Lạt này, như một nhà thơ Đà Lạt anh đã viết cho tôi “Hãy nói cho anh biết, người đàn ông bí ẩn, người mà em yêu thương nhất, cha , mẹ em, chị gái hay anh trai em ? [...] Vậy thì em yêu cái gì, người xa lạ ngoài đời? .
Này anh! em còn yêu những đám mây ... những đám mây trôi qua ... trên kia ... trên kia ... những đám mây tuyệt vời! ". Đó là điều mà tôi luôn đưa vào trong căn phòng khi được phân công trang trí… dù rằng đôi khi mọi người nói ánh sáng nhiều quá sẽ làm tranh thêu của mình không đẹp…
Tôi chợt nhớ một câu thơ của Thiền sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh.


Đồi đông dựng một mái nhà
Cho mây hôm sớm ta bà ghé chơi
Lên đồi tây ngắm nguyệt tà
Đợi người dặm lữ chén trà sương xanh
Căn phòng khách của những đám mây trôi qua

(Tăng Thị Quyên)


Được thiết kế, sử dụng tranh thêu hai mặt trên chỉ tơ và lụa tơ tằm các loại gỗ lũa

Truyền thống xây dựng đô thị ngày xưa tại Việt Nam đã để lại cho chúng ta hình ảnh thành phố nổi bật hẳn lên trên cái nền thôn dã hoặc cảnh sắc thiên nhiên. Sự phát triển đô thị ngày nay đã làm mờ đi sự tương phản nói trên bằng cách mở rộng các khu ngoại ô ăn sâu vào khu vực nông thôn
Thành thị người Việt ngày xưa xét trên bình diện hình thái học, không bao giờ tách biệt hoàn toàn với khung cảnh thôn dã xung quanh như ở phương Tây. Mật độ dân số giữa hai khu vực cũng vậy, xưa nay không tương phản nhau nhiều. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng ở đây lại là ý nghĩa của thành thị đối với người Việt trong mối quan hệ giữa thiên nhiên và văn hóa. Với những phong cách văn minh (phong cách thành thị) đã được xếp chồng lên một quan điểm về thiên nhiên mang đậm tính duy linh trong đó hệ văn hóa và hệ thiên nhiên được cảm nhận như trong một quy trình nối tiếp liên tục. Khuynh hướng sâu sắc này đã tác động tới nền văn minh đô thị trên cả hai mặt: về mặt tượng trưng là phương thức sinh hoạt thành thị, thể hiện ở sự biểu lộ những cảm xúc tinh tế đối với thiên nhiên qua thơ ca, qua kiến trúc; và về mặt sinh thái học là trong thành phần vật chất của đô thị, đặc biệt là vai trò cơ bản của hoa lá cỏ cây.

 

Trong các xã hội trước, đa số người dân không có một cuộc sống được thừa nhận, họ "không là ai cả". Ngược lại, trong các xã hội dân chủ công nghiệp, tất cả mọi người đều được tôn trọng bình đẳng như nhau, song chính do mọi người đều được đối xử như nhau nên rút cuộc họ trở thành "bất kỳ ai".
Ngày hôm nay, nhiều người muốn khẳng định bản sắc của họ, và những dịch vụ văn hóa có khả năng đáp ứng sự khẳng định đó đang bắt đầu ra đời. Cho đến nay, đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu này trong khung cảnh gia đình….
Con người ngày càng mong muốn làm cho bản sắc của mình được công nhận ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Những nơi mà họ có nhiều cơ hội nhất để đạt được mục đích, chính là trong lĩnh vực nội thất của gia đình mà họ có thể mua các dịch vụ văn hóa như một thứ hàng tiêu thụ,
Để kết luận, ta có thể suy ra rằng những biến đổi xã hội khác nhau xuất hiện những nguyện vọng mới liên quan đến cái tôi và chủ nghĩa cá nhân. Và tuy bức tranh chung vẫn chưa hiện ra rõ ràng, song rất có thể chủ nghĩa cá nhân ngày mai sẽ khác hẳn về bản chất với chủ nghĩa cá nhân trong kỷ nguyên công nghiệp hóa. Điều sẽ đến với chúng ta là một thứ chủ nghĩa cá nhân đã đạt tới độ trưởng thành, cùng với những mối quan tâm đa dạng và thẩm mỹ, chứ không phải là một chủ nghĩa cá nhân mang nặng tính cạnh tranh và những ý nghĩ cứng nhắc.

 

A ——KHÔNG GIAN BÊN TRONG CĂN NHÀ VIỆT

-Là khải hoàn môn cho người đi xa trở về.
-Nơi hun đúc tinh thần – tâm hồn Việt.
-Giải thoát nỗi lo âu và sự khủng hoảng tinh thần trước cuộc sống hiện đại.
-Nơi thể hiện tinh thần người Việt: “Tình như thạch – Thâm sơn còn nguyệt thố”.

Gồm những căn phòng sau:

I - Phòng khách gồm có 3 không gian
..........
1 / căn phòng “Thu Chờ”
2 / căn phòng “Phương tiếp phương”
3/căn phòng “Tri ân đồ báu” hay còn gọi là “Quan phòng mục diện” của chủ nhân.
.........
II- Phòng làm việc hay còn gọi: “Yên Hà phòng “
...........
III - Căn phòng nơi giáo dục trong gia đình hay còn gọi là phòng “Gia Phong Thụ Pháp”.
.............
IX - Phòng thờ của gia đình hay còn gọi “Pháp Vũ Đường”.
..............
V - Phòng ngủ – phòng “Lạc - Phúc”
.............
VI- Phòng ăn – “Thụ Thanh Dương”.
............
VII - Phòng trọ, phòng ngủ của khách - phòng “TRI KỶ ĐƯỜNG”.
——————————————————-
MỘT SỐ THUẬT NGỮ SẢN PHẨM THÊU TRONG TRANG TRÍ NỘI THẤT
1. Ý điểm duyên: Đèn thêu có chân, tranh thêu hai mặt nhỏ
2. Mây nắng níu áo nhân hiền: Đèn thêu treo
3. Bên đời một chút tiên: Rèm thêu, drap giường thêu, gối thêu
4. Hồn trí giả: Tranh thêu quê hương lớn (Cổ Độ)
5. U nhã tình phương thảo: Những bộ tranh bốn mùa và ngôn ngữ loài hoa
6. Tiêu dao ca: Khuê bào, dép, nón, áo khăn quàng cổ thêu
7. Phương hà ngoại: card, khăn tay, bóp, xách thêu …
8. Tố như ư: Những ký hiệu, biểu tượng … tạo nên sự tưởng tượng về bóng dáng chủ nhân
9. Thanh đạm hương: Các loại trà, loại rượu, mứt
10. Trăm sông nghìn núi một cảnh thiền: Tranh phong cảnh
11. Sắc thu: Tranh thiếu nữ
12. Tàng thụ: Tranh chân dung
13. Cuộc lữ tà huân: Tranh triết lý
14. Cổ độ: Tranh quê hương
——————————————————
THUẬT NGỮ ĐỒ GỖ TRONG TRANG TRÍ NỘI THẤT
1. Trầm hương linh hiển: Trầm hương: Bục Linh hiển: Kệ nhị sơn (để trang trí sách, tượng cổ, lư trầm)
2. Bẽ bàng với nguyệt: Ghế nằm xích đu, ghế sofa, nệm
3. Thụ pháp: Ghế chạm to
4. Du viễn phương: Tủ đựng sách, tủ đựng trà, tủ đựng các sản phẩm loan tin
5. Án trăng: Kệ thờ
6. Án thư trầm nguyện: Bàn làm việc
7. Án sưởi bút: Kệ thấp viết thư pháp
8. Sơn khê – hồ hải: Cặp tủ để bên bàn thờ
9. Ý điểm duyên: Đôn dùng để chậu hoa hoặc đèn thêu
10. Bộ gia phong: Ghế sofa gỗ, sập gụ, ghế lớn
11. Nghĩa cố viên: Bộ bàn uống trà
12. Thụ thanh dương; Bộ bàn ăn ( kèm theo những vật dụng trang trí trên bàn ăn)

—————————————————————

NGOẠI THẤT (khu vườn)
———-Còn gọi là : PHƯƠNG ĐỊA THẢO

(KHU VƯỜN DẠO CHƠI CỦA CHỦ NHÂN)

Có một con đường “TIÊU DAO CA” dẫn ra Khu vườn “THANH TÂM VIÊN” Nơi “Hãy sống bên đời – một chút tiên”.
Được trồng một số các loài hoa
- Một chái thư pháp về ngôn ngữ các loài hoa.
- Một đồi cỏ và cây lớn gọi là “Cổ Độ” để chủ nhân diễn đạt “Hồn trí giả”
- Cánh cửa ra vườn được treo bốn đèn thêu hoa và mây trắng – đỏ – vàng ....tạo hiệu ứng : “Mây nắng níu áo nhân hiền”
- Một chái nhà với bộ bàn nhỏ gọi là “NGHĨA CỐ VIÊN “ và đồng thời khi mở cửa để đón “Bốn mùa u nhã tình phương thảo”, trang trí hai đôn để trưng bày hai chậu lan được gọi là “Ý Điểm Duyên”.
- Và một bộ tranh thêu “Tứ bình” hoặc “Vĩnh tịnh”.
————————————
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ PHÒNG NGỦ
(Hay còn gọi là phòng Lạc Phúc)

Quan niệm cái đẹp của nghệ thuật cổ truyền dựa trên sự phân biệt chủ yếu giữa Lạc và phúc mà nghệ sỹ nghệ nhân XQ cho rằng đó chính là bản chất của cái đẹp. Lạc là cá nhân và ích kỷ, ngẫu nhiên và tương đối. Còn Phúc thì mở cửa đi vào tuyệt đối và vô tận. Và nếu lạc thú thoáng qua thì Phúc là viên mãn, cân bằng, bình yên.

- Bộ tranh “sắc thu” được sử dụng để trang trí trong căn phòng “Lạc - Phúc”
—————————————
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ CĂN PHÒNG GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH
(HAY CÒN GỌI LÀ “GIA PHONG THỤ PHÁP”)
Trong mỗi gia đình, mỗi con người sinh ra và lớn lên,
“Phiêu lãng phương hà ngoại ...” sẽ thành “dáng đá, hình cây...”
Dù có ở chân trời, gốc bể nào cũng có chung “Tàng Thụ” (GIA PHONG )

- Quê nhà thơm mái rạ
Hương cau báo thu về
Con trâu vườn gặm cỏ
Chim sẻ đậu trên sừng

Là một không gian bao gồm:
4. Căn phòng “Tàng Thụ”.
Trưng bày các tác phẩm tranh thêu

“Trăm núi, nghìn sông – một cảnh thiền…”

Đằng sau bộ sập gụ cha mẹ ngồi, đối diện là một dãy ghế sopha gỗ dành cho con cái ngồi.
Một bức ảnh lớn cả gia đình (đằng sau dãy ghế sopha, nếu được thêu càng tốt)

5. Góc “Phương Hà Ngoại”
Ba dãy tủ: Trưng bày đồ lưu niệm của cha mẹ, con cái sưu tầm trong những chuyến đi xa. Những vật phẩm nhân dịp sinh nhật, lễ lạc …
Chân dung thêu của ông - bà , cha và mẹ
6. Góc “Tủ Góp Duyên”
Một tủ trưng bày vật phẩm mang dấu ấn của thời gian (đồ cổ)
7. Đền “Chỉ Tín Tao Phùng Hứa Nhất Thiên”: dạy cho con cái lòng tự trọng “danh dự là tất cả”
———————————————————
PHÒNG LÀM VIỆC CỦA NAM CHỦ NHÂN
(Hay Còn Gọi: Vạn Quyển Thư)

Không gian làm việc “Phát Tích”, những ý tưởng tư duy, nơi đạt đến đỉnh cao:
- Lập ngôn (viết sách).
- Lập công (có công với quê hương xứ sở).
- Lập đạo (tạo dựng niềm tin, tín ngưỡng cho con người).
Gồm những không gian xếp đặt sau:
- Trầm hương linh hiển.
- Án trăng: trăng trên án đọc vần thơ mới viết.
- Án thư trầm nguyện (bàn làm việc).
- Án sưởi bút: “sưởi bút để nhen lửa lạnh non thiêng”.
a) Nguyên liệu: Một bàn làm việc – một ghế làm việc - hai tủ (hồ hải – sơn khê) – một án trăng – một bộ thập bát bang – bộ tranh “cuộc lữ tà huân” – án sưởi bút (tranh hai mặt nhỏ và nơi cặm bút ) – trầm hương linh hiển (án thờ các vật linh, phụ thuộc vào tín ngưỡng ) – tranh hai mặt lớn.
b) Xếp đặt: Bốn không gian
* Không gian “Trầm Hương Linh Hiển” (Tiền vạn quyển thư )
- Bục đỡ tác phẩm tranh hai mặt vật linh hiển.
- Phía trước là giá đỡ nhị sơn.
- Nếu tranh đại bàng hai mặt (tám phương bốn hướng):
“Đời nhân sĩ con chim trên đỉnh núi
Ngợi ca ngày nắng mới giữa mù sương
Chim rướm máu bởi hồn thơ u khoát
Rớt xuống trần như lửa cháy tà dương”

- Nếu tranh hai mặt là phong cảnh quê hương Việt Nam:
“Ai đã từng sơn khê, phong trần hồ hải
Đầu ngước cao, thép kiếm ánh dương hồng
Tôi cầu nguyện trí người tung áo vải
Cho đạo đời thơm ngát tấm tình chung”

- Nếu tranh hai mặt là chân dung:
“Miên man ta đứng giữa sa mù
Nghe sương vỡ trên niềm đau của cỏ
Có ai nhặt màu nắng xưa và khóc
Còn riêng ta đẽo đá tạc trăng vàng”

* Xếp đặt “Án Trăng” hậu “Án Thư Trầm Nguyện”
Gồm hai tủ:
- Hữu vu “Hồ hải”
- Tả vu “Sơn khê”: nơi đựng bài viết, tài liệu của chủ nhân.
Giữa hai tủ “Hồ hải” và “Sơn khê”, đặt một án trang trí bộ thập bát bang, phía sau vách tường treo bộ tranh “Cuộc Lữ Tà Huân” (những tác phẩm triết lý). Có nghĩa “Trăng trên án đọc vần thơ mới viết”

* Xếp đặt “Án Thư Trầm Nguyện” (bàn và ghế làm việc)
Trên bàn là “Án sưởi bút” đặt bức tranh “Cổ Độ” hai mặt nhỏ.
Vách tường tả vu

“Đãy sách cũ con mọt già tư lự
Ngán ngẩm cười những chuyện chẳng gì đâu
Sợi tóc bạc bùi ngùi thương con chữ
Mai mốt kia rụng xuống những chân cầu”
——————————————
- NGHINH KHÁCH PHÒNG
...............
NƠI THỂ HIỆN BÓNG CHỦ NHÂN
........... (Hay Còn Gọi Tố Như Ư ?)

Nơi thể hiện bóng chủ nhân qua những ký hiệu – biểu tượng (Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín – Dũng - Tâm ).
Nguyên liệu: bức bình phong thêu hai mặt – hài thêu – đôn gỗ và hai chậu hoa lan (Ý Điểm Duyên ) – một bộ rèm thêu “Nguyệt Trúc Vô Thanh” – cặp liễn đối thêu (Nhân – Trí – Lễ … ) – cặp đèn thêu màu đỏ.
Xếp đặt: tác phẩm “Núi Cười Sông Lận Đận”
- Liễn và rèm treo cửa
- Bình phong chắn trước cửa
- Hài thêu đặt trước bình phong
- Đôn và hoa lan để hai bên bức bình phong
- Hai đèn thêu trên hai bức liễn
(Chủ nhân ra đón khách)
———————————————
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ CĂN PHÒNG HỌP “ĐỒNG NGHIỆP “
.........
hay còn gọi là: YÊN HÀ PHÒNG

.....Là nơi thể hiện tính cách, tâm hồn của chủ nhân. Dù có làm việc gì đều lấy nền tảng tâm hồn Việt. Đồng thời, qua cách xếp đặt, kết hợp âm thanh – ánh sáng – màu sắc – chuyển động, để nuôi dưỡng tinh thần vững vàng:
“Tình như thạch
Thâm sơn còn nguyệt thố”
———————————————
KHÔNG GIAN NGHỈ NGƠI
............Hay Còn Gọi Là
VỊ TĨNH CƯ ..........

Là nơi chủ nhân
- Ngắm trăng.
- Ngắm bình minh và nghe chim hót.
- Đọc sách.
- Uống trà.
- Nghe tiếng chuông đồng vọng.
Nguyên liệu
Một tủ trà – ghế xếp – kệ nhị sơn – cửa sổ hướng đông – rèm thêu – đèn thêu – tủ treo áo Sương Khuê Bào - khăn choàng thêu - hài thêu – tranh hai mặt thưởng nguyệt – đĩa thơ.
Xếp đặt gồm 3 tác phẩm:
Bẽ bàng với nguyệt: ghế xếp đối diện khung cửa với trăng.
Tủ đựng trà để pha uống trà ngắm trăng gọi la “Thanh Đạm Hương”.
Kệ để đọc sách ngắm trăng gọi là “Du Viễn Phương”

CĂN PHÒNG THIỀN CỦA GIA CHỦ
..........Hay còn gọi là :
QUAN PHÒNG MỤC ĐIỆN

Nơi dành cho chủ nhân và khách nhân sĩ - đàm đạo về triết lý sống.

NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ CĂN PHÒNG “QUAN PHÒNG MỤC DIỆN”
CỦA CHỦ NHÂN
1. Tri ân đồ báu: nơi trưng bày những vật “Cổ tộc” liên quan đến quê hương
- HỒN CỔ TỘC

2.Không gian cuộc về.
• Với tác phẩm thêu “Cổ độ” đó là những giá trị cấu thành nên “bản thể của chủ nhân”, một gia đình, đình làng, đồng quê, chùa chiền, lũy tre làng, “cây đa bến cũ”, hoặc tôn giáo.
• Bàn đặt sổ gia phả để nhắc nhở với chủ nhân về nguồn cội của mình...
3. Không gian diện mục.
Là những triết lý sống của chủ nhân được thêu trên những bức tranh.
Căn phòng “Quan phòng mục diện” là một cuộc về để tìm lại tình làng nghĩa xóm, tình anh em; là một cuộc về khám phá ra mình bằng chính mình và cũng là những ký ức lãng quên theo thời gian được sống lại, nở rực rỡ trong căn phòng “Quan phòng mục diện”.
Bộ tranh “cuộc lữ tà huân” được sử dụng để trang trí căn phòng “quan phòng mục diện”
——————————————
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ PHÒNG KHÁCH

Là một không gian được chia làm hai phòng (bạn thân và khách trao đổi công việc)
1. Căn phòng: THU CHỜ (bạn thân)
2. Căn phòng: PHƯƠNG TIẾP PHƯƠNG
(Trao đổi, làm ăn, buôn bán)
......
1 . Căn phòng: THU CHỜ
Nơi đón đợi và gặp gỡ bạn hữu... để uống trà, ngắm hoa, bình thơ, nói chuyện văn chương...của chủ nhân nam.
I. Nguyên liệu trang trí:
8. Các bộ tranh “U nhã tình phương thảo”
9. Cặp đôn “Ý điểm duyên”.
10. Mây nắng níu áo nhân hiền (đèn thêu treo).
11. “Thanh đạm hương”.
12. Bàn “nguyệt hiên thi”.
13. Bộ bàn “Nghĩa cố viên”.
14. Bộ tủ “Tiêu dao ca”.
II. Sắp đặt:
4. Lối qua vườn “Thanh tâm”.
5. Hậu bộ bàn “Nghĩa cố viên”. Vách tường treo bộ tranh “U nhã tình phương thảo”. Bên cạnh là tủ đựng áo thêu, khăn thêu dùng khi đàm đạo “Nhật viễn dặm trường ta nay tri ngộ”.
6. Tiền đường của phòng khách “Thu chờ” có một bộ đôn đặt lư trầm
Tiễn thu
Từ giã nhé! mấy năm không hẹn được
Kẻ đông châu, người tây thổ mù khơi
Còn luân hồi
Thì ta còn gặp gỡ
Còn ra đi, còn trở lại bên người
........
2 . Căn phòng: PHƯƠNG TIẾP PHƯƠNG
- Nơi trao đổi mua bán, tạo giá trị vật chất cho gia đình thường do nữ chủ nhân đảm trách.

I. Nguyên liệu :
1. Áo dài thêu.
2. Rèm thêu tứ bình.
3. Bộ tranh “Không gian mượn tạm” + tranh “Sắc thu”.
4. Đèn lồng thêu.
5. Đèn thêu có chân.
6. Một tủ đựng thời trang tiếp khách.
7. Một tủ trưng bày vật liệu sử dụng túi xách thêu – bóp thêu – khăn thêu – nón lá thêu – giày thêu. (sử dụng khi đi ra ngoài)
8. Bộ bàn ghế “Phương tiếp phương”.
9. Bộ đôn trưng đèn thêu “ý điểm duyên”.
10. Một bức tranh hai mặt thêu “Sắc thu”
II. Xếp đặt:
Một căn phòng nữ mang tính chất vỗ về – xoa dịu – cởi mở – thân thiện, thể hiện cao sang – quý phái của nữ chủ nhân.
III. Trình diễn:
Không gian thuận tiện cho vị nữ chủ nhân phụ thuộc vào công việc - tính tình – khách giao tiếp.

 

 

Trong những năm vừa qua hình như đã diễn ra một sự thay đổi tinh vi về các giá trị xã hội, đồng thời với sự thay đổi trong thái độ của người tiêu thụ. Người tiêu thụ bắt đầu, -Thứ nhất: Chọn lựa hàng hóa phù hợp với sở thích cá nhân của mình
- Thứ hai: Đòi hỏi những dịch vụ cá nhân hóa nhiều hơn chứ không chỉ là những hàng hóa vật chất.
Những thay đổi trong ngành xuất bản đã nói lên các đặc điểm của chiều hướng này. Sách báo nghệ thuật và chuyên môn cũng tăng lên rõ rệt trong các lĩnh vực như triết học, khoa học xã hội và tự nhiên, v.v... Cùng với sự phát triển mạnh mẽ các loại sách bỏ túi, chiều hướng này xem chừng bác bỏ ý kiến phê phán là “người Việt đọc ít đi và tình trạng ngu dốt tăng lên…”
Điều ta được chứng kiến trong lĩnh vực này, nhất là về các cuộc triển lãm nghệ thuật, với nhiều chủng loại. Hiện tượng này không chỉ nói lên sự lỏng lẻo trong các mối quan hệ xã hội mà là một dấu hiệu cho thấy người Việt bắt đầu có những sở thích cá nhân hết sức rõ rệt.

 

 

Đó không phải là một không gian tiện nghi theo các tiêu chuẩn phương Tây. Bao gồm cả thiết kế, xây dựng và quan điểm thẩm mỹ, hoàn chỉnh và phức hợp. Ngôi nhà gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên bằng vật liệu xây dựng nó là gỗ và bằng những sự chuyển tiếp tinh tế và liên tục giữa ngôi nhà với ngoại cảnh là vườn.
Ngôi nhà là sự biểu hiện về mặt không gian của một tổ chức xã hội - gia đình vốn chi phối một cách rất chặt chẽ các quan hệ và ngôi thứ giữa các cá nhân (chỗ dành cho người chủ gia đình, cho phụ nữ ...).
Nhưng tất cả những điều đó nay đã lùi vào quá khứ. Thực vậy, sau một thời gian biến đổi dần dần qua nhiều thế kỷ, ngôi nhà cổ truyền nay chỉ còn là một kỷ niệm mơ hồ khi ta đi dạo qua những nơi quần cư lớn các đô thị như là những khu nhà ở ngoại ô.
Những thay đổi sâu sắc và nhanh chóng về phương pháp xây dựng và hệ quả là sự xuất hiện các kiểu nhà riêng và nhà tập thể mới đã làm đảo lộn lối sống cổ truyền thống.
Sự thay đổi này có nhiều nguyên nhân, không chỉ do ảnh hưởng của phương Tây.
Ngày nay, khách bước vào nhà một người Việt chắc sẽ chỉ để mắt đến một số yếu tố đặc trưng hình như đang mất đi: và chỉ nhận ra trong một góc nhà cái hốc tường cổ truyền giờ đây bày chiếc vô tuyến truyền hình thay cho nơi cất giữ những ký ức, chỗ cắm hoa… Những yếu tố "ngoại lai" này một chiếc máy sưởi ấm mùa đông và điều hòa nhiệt độ mùa hè, lại là những nguồn gây ra những điều bất tiện trước đây chưa từng có và, như các cuộc điều tra mới đây cho thấy, gây nên trạng thái căng thẳng thần kinh đặc biệt ở những người gốc nông thôn đã quen với một lối sống khác.

 

Không phải là nghệ nhân duy nhất bị mê hoặc bởi sự phản chiếu, nhưng cô ấy chắc chắn là một trong số rất ít người đã sử dụng nó như một nguyên tắc thẩm mỹ. Những phản xạ này vẫn sắc nét một cách đáng ngạc nhiên, ngay cả khi gió và sương của Đà Lạt thổi làm mờ hoặc nước tạo thành một khung bóng. Trong mọi trường hợp, sự phản chiếu là hình ảnh duy nhất có thể cảm nhận được trong hình ảnh của cô ấy.
“Đôi khi mọi người đến gặp cô và hỏi có cảm thấy ổn không,” cô nói: “Họ lo lắng khi nhìn thấy tôi đang co ro trong mưa dưới một chiếc ô, cố gắng giữ khô ráo. Họ không thấy rằng người phụ nữ như tôi cố gắng đặt những sợi chỉ thêu của mình trên giá, hướng chiếc điện thoại cách mặt đất vài cm. Họ không thể ngờ rằng tôi đã mất hàng tháng, thậm chí nhiều hơn nữa để mường tượng ra bức ảnh mình sắp chụp một chiều mưa Đà Lạt.
Điều này gợi ý về thời gian quan trọng như thế nào trong cách tiếp cận của cô với tư cách là một nữ nghệ nhân, nghệ sĩ trong nội thất. Nó giống như một cuộc đấu tranh với hình ảnh. Trong tám năm, kể từ khi bắt đầu dự án "NỘI THẤT" của mình, chỉ thực hiện được 60 bức tranh mà cô hài lòng.
Trần Thị Cúc tạo ra một vũ trụ được dệt bằng những ảo ảnh và giấc mơ. Cô ấy chống lại bạo lực bằng chất trữ tình; náo động với im lặng; đám đông với sự đơn độc. Đà Lạt của cô gần như vắng bóng người. “Không, không phải vậy,” cô ta phản đối, "Nhìn kìa, có một người đàn ông…" Và cô kể về sự cô độc của mình qua nghệ thuật trang trí nội thất…

 

ĐÀ LẠT XQ SỬ QUÁN- LINH HỒN CỦA NGHỀ THÊU
- Cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng mười lăm cây số có một công trình được đặt tên Đà Lạt - XQ Sử Quán nơi đó không những với các bảo tàng và nhiều loại hình nghệ thuật mà nó còn có những khu vườn tái tạo lại thiên nhiên theo một mô hình thu nhỏ để ca ngợi sự hài hòa giữa Trời đất và Con người. Khi khách đến tham quan là cuộc hành trình khai tâm qua những lối mòn quanh co của những cảnh quan nhân tạo này.
Vào năm 1996, ông Võ Văn Quân là người quyết định xây dựng một công trình đầu tiên giới thiệu di sản văn hóa nghề thêu của người phụ nữ Việt Nam được đặt tên: ĐÀ LẠT- XQ SỬ QUÁN (một cái quán trên Đà Lạt nơi kể về cuộc đời và nỗi đam mê của người phụ nữ Việt Nam làm nghề thêu truyền thống) không những giới thiệu trong nước mà còn giới thiệu với những người phương tây về nền văn hóa này. Đối với ông, cái thiên đường trên Trái Đất này trước hết là một “thành phố tơ lụa phồn thịnh”- thêu dệt, sau đó những người khác, bị quyến rũ bởi hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong những bộ y lễ truyền thống với tài năng tinh tế và khéo léo trong nghề thêu sau đó những giới văn nghệ sĩ nhà thơ hội họa diễn viên điện ảnh trong và ngoài nước đến và đã góp phần làm cho XQ Sử quán thêm lừng danh, nơi đó còn giới thiệu nó như thiên đường của những người sành ăn trong một khu vực ẩm thực nhan đề: Cuộc đời và nỗi đam mê của một người Việt Nam sành ăn - thanh danh của công trình này đã đạt tới một tầm vóc mới.
Là con đẻ của thiên nhiên, con người, dù có tàn bạo đến mấy, cũng không thể nào không cần đến núi, nước, cỏ, cây, Mặt Trời, không khí. Nếu tách con người ra khỏi những yếu tố ấy, họ sẽ cảm thấy ngột ngạt, không thoải mái và chỉ mong thoát ra khỏi tình cảnh đó. Ngay khi có điều kiện, họ đi nghỉ. Thế nhưng, thay vì đi du lịch là một hoạt động mệt nhọc, tốn kém, thậm chí nguy hiểm, tại sao lại không làm ra một mô hình thu nhỏ của thiên nhiên, "một thiên nhiên nhân tạo" để sử dụng hàng ngày?
Ở phương tây chẳng hạn, các công viên thường rất rộng lớn. Những cánh rừng mênh mông có nhiều sông, suối chảy qua trải rộng ngút ngàn mà không hề có một chướng ngại nào làm xáo trộn cảnh tượng thiên nhiên này. Những công viên ấy trên thực tế là những mảng thiên nhiên lớn mà người ta đã rào lại và tu sửa đôi chút bằng cách thêm vào chỗ này chỗ khác những tòa nhà, bên bờ sông hay cạnh bìa rừng.
Trái lại, các khu vườn cảnh phương Đông thể hiện một ý niệm về sự hài hòa giữa Trời và Con người, một nét đặc trưng của triết học Phương Đông Vườn cảnh Tại Đà Lạt XQ Sử Quán là sản phẩm của một sự "gia công" đích thực của con người. Trên một thung lũng, ông ta chế tạo ra những mô hình thu nhỏ của mọi yếu tố cơ bản của thiên nhiên. Vì không thể dời núi, người ta xây những hòn non bộ. Vì không thể thay đổi dòng chảy của sông ngòi, người ta khoét đất và cho nước chảy qua tạo ra được một cái ao, những nghệ nhân nghệ sĩ nơi đây thừa nhận, mà không hề hổ thẹn một cách giả tạo, rằng họ đã "giả mạo" núi và sông. Tuy nhiên, sự "giả mạo" này là một sáng tạo nghệ thuật thực sự, và do đó, về căn bản, nó đúng như thật.
Nó được xây dựng bằng linh hồn của chủ nhân chứ không phải bằng đôi tay, một chuyên gia đương đại về vườn cảnh Đà Lạt XQ Sử Quán: "Một khu rừng mà giống như một khu vườn thì thật là kỳ lạ, một khu vườn mà giống như một khu rừng thì thật là kỳ diệu".
Vườn cảnh XQ luôn được tô điểm bằng đủ loại cầu thu nhỏ. Dẫu sao, một hòn núi tự nó không tạo nên một phong cảnh. Nước là yếu tố quan trọng thứ hai của vườn cảnh, cần phải biết làm thế nào bắt chước những khúc uốn của một con sông, để đạt tới cái gọi là "những dòng nước quanh co". Nơi này đã tỏ ra rất xuất sắc trong nghệ thuật này.
Nói đến sông là nói đến cầu. Khu vườn XQ Sử Quán luôn được tô điểm đủ loại cầu thu nhỏ, bằng gỗ hay bằng đá. Khu Vườn “ TRÚC LÂM THU VÃNG chẳng hạn, có một chiếc cầu nhỏ rất đẹp hình vòng cung, chỉ 2 hay 3 bước chân là vượt qua được.
Núi, sông, cầu đều đã có, còn cây cối thì sao? Một phong cảnh không cây cối, không hoa lá thì thật trơ trọi. Cây cổ thụ là tài sản quý giá nhất của những khu vườn "Lưu Viên" (vườn Hãy nán lại) chễm chệ một cây đa đã hàng 100 năm tuổi. Chính dưới bóng của tán cây, chủ nhân của mảnh đất đã chọn nơi xây khu thư viện dành cho phụ nữ.
Không nên sốt ruột khi ta đi thăm XQ Sử Quán. Khác với những công trình khác, là nơi chỉ thoáng nhìn ta đã choáng ngợp ngay vì vẻ lộng lẫy của tòa lâu đài và công viên, khu vườn XQ ẩn nấp sau những đường hẻm, như những tiểu thư trong khuê phòng. Khi đặt chân vào một khu vườn, rất có thể bạn sẽ phần nào cảm thấy thất vọng cái nhìn đầu tiên mà bạn thấy là một đường hành lang dài, ngoằn ngoèo. Đó là "lối đi quanh co dẫn tới một cảnh đẹp thanh thản bình yên". Thoạt tiên nó chẳng có gì đáng chú ý. Nhưng chẳng mấy chốc, sau một bức tường, một mảnh vườn sẽ "nháy mắt" với bạn qua những trụ cam - xe được cấy những loại phong lan rừng (gỗ lũa). Và xa xa hiện lên những hàng cây và nhà cảnh... Vài bước nữa, ở chỗ ngoặt của con đường, một khu vườn tráng lệ trải ra trước mắt bạn. "Qua mỗi bước lại thay đổi phong cảnh", đó là quy tắc thứ hai cần phải tôn trọng. Bạn càng đi thì cảnh tượng càng thay đổi. Để tránh cảm tưởng đơn điệu và lặp lại, người ta dựng những bức vách bằng gỗ lũa để phân chia khu vườn thành nhiều đơn vị mà không ngăn chặn một cái nhìn toàn cục. Trong một khu vườn, cặp mắt của bạn không lúc nào được ngơi nghỉ. Ở mỗi chỗ ngoặt, một tảng đá, một khóm hoa hay một trụ gỗ lũa có thể làm bạn sững sờ. Mỗi mảnh đất đều được trình bày như một bức họa rực rỡ. Một góc chết ở đây được coi như một nét vẽ không đạt.
Phương pháp chia cắt không gian bằng những cổng, cửa sổ, hành lang, vườn non bộ và suối nước tạo ra cho du khách cái cảm tưởng được ngắm nhìn một mô hình thu nhỏ của thiên nhiên. Nó đem lại cái gọi là "một thoáng nhìn cái hùng vĩ thông qua cái thu nhỏ".
Ngày nay, các kiến trúc sư phải lập đồ án trước khi tiến hành xây dựng một công viên. Những người xây vườn ở XQ Sử Quán chẳng hề có đồ án. Họ lấy ý niệm từ thơ ca. Và cảm hứng của họ phần lớn còn bắt nguồn từ nền hội họa phương Đông, và ngược lại, chính nền hội họa này đã thường ca ngợi vẻ đẹp trong những tác phẩm của họ. Do vậy, nhiều họa sĩ, thi sĩ và nhà thư Pháp đã góp sức tạo dựng khu vườn…
Khu vườn XQ này không bao giờ được hoàn tất thực sự. Theo dòng thời gian, chúng được mở rộng, nâng cấp và hoàn thiện. Mỗi khi một góc vườn, một căn nhà cảnh, một con suối được hoàn tất, thường có tục lệ mời các bạn văn nghệ sĩ đến thưởng thức rượu ngon và mặc sức bình thơ. Các vị khách thư pháp nắn nót viết chữ lên đà cửa và viết những câu đối trên các cột chống. Họ cũng đưa ra những lời khuyên nên đặt một chiếc cầu hay một nhà cảnh mới ở chỗ nào. Sau đó, trang trí khu vườn theo những ý kiến đã được tiếp nhận, rồi lại mời bạn bè đến nhắm rượu và làm thơ.
Nếu được tạo dựng theo cách khác, chắc hẳn khu vườn XQ Sử Quán đã không có được sự tinh tế khiến cho nó nổi danh đến thế.

 

Sự biểu đạt những tình cảm đối với thiên nhiên nó lại được tái sinh ở những cuộc sống cô đơn và hiu quạnh trên núi… Nhiều giá trị thẩm mỹ mới đã được xác lập, bề ngoài hoàn toàn không liên quan gì đến thành thị.
Cái mô hình phản-đô thị tột bực ấy đã đạt tới cách thể hiện cao nhất của chúng trong khu vườn trà lâu nghĩa là có một khu vườn nhỏ dẫn đến trà lâu. Với kích thước nhỏ bé và chất liệu xây dựng được chọn chủ yếu là gỗ là một ẩn dụ tại thành phố của căn nhà trên núi, biểu trưng cho sự bất an của cuộc sống trần thế. Và, cũng vậy, với những hòn đá tảng xếp thành lối đi, nó gợi lên hình ảnh con đường núi khúc khuỷu cheo leo dẫn tới cõi Phật thanh cao.
Bản thân những hình thức biểu đạt này đã ảnh hưởng sâu sắc tới những quan niệm thẩm mỹ về nơi ở của người Việt, đặc biệt là đối với nơi ở của các tu sĩ.
Sống giữa thiên nhiên, đó chính là ý tưởng khởi gợi nên kiểu nhà ở lý tưởng tại Những thành phố của ngày hôm nay.

 

 

 

Với từ ngữ này gợi lên trước hết mối quan hệ giữa người với người trong một khung cảnh nhân tạo là thành thị. Từ courtois trong tiếng Pháp (lịch sự, tao nhã) cũng vậy, vốn có nghĩa gốc xa xưa là chỉ "lời lẽ của những tình nhân". Còn miyabi trong tiếng Nhật thì lại có một hàm nghĩa khác hẳn. Nó không chỉ cái mối quan hệ, chủ yếu là "lịch sự, khôn khéo", giữa người với người, mà lại chỉ mối quan hệ nhạy cảm và mang tính chất thẩm mỹ học giữa con người và thiên nhiên, được thể hiện ra một cách đặc biệt rõ ràng trong nghệ thuật biểu đạt những tình cảm đối với thiên nhiên trong thơ ca, trong cách ăn mặc và vườn cây - vườn hoa... Biết yêu quý một chú ve sầu, một vầng trăng, một loài cỏ dại ... đã trở thành tiêu chuẩn để đánh giá phong nhã con người.

 

 

Nghệ nhân phong cảnh XQ, với mong muốn để lại phía sau những nếp sống mòn mỏi của đời thường, để tái tạo nơi khác cái ĐÔ THÀNH (trong nội thất) lý tưởng mà tất cả chúng ta hằng ao ước.
Mỗi tác phẩm triển lãm ở đây các bạn sẽ phát hiện ra những quy luật của thiên nhiên bằng trực giác để vươn tới chân lý huyền bí (nỗi hiu quạnh và nơi ẩn náu - sự chuộc tội và khai tâm…)
Nó tác động mãnh liệt đến trí tưởng tượng, đến nỗi đôi khi biến các tác phẩm này, trở thành các tác phẩm đầy huyền thoại.
Mời các bạn khai phá một catalogue rộng lớn các tác phẩm này tại XQ Sử Quán mà ở đây chỉ lướt qua một phần rất nhỏ.

 

.
.
.