
Câu chuyện về con chó của người Đà Lạt
Đà Lạt, thành phố cao nguyên với con đường độc đạo có một lịch sử được đánh dấu bằng những đợt sóng người nhập cư từ khắp mọi miền. Vẻ đẹp thiên nhiên làm cho họ gần nhau, những hy vọng và ký ức của họ đan xem vào nhau, hòa quyện vào nhau dệt nên những mối liên hệ cùng nhau thuộc về một cộng đồng mà hình thái có thể biến đổi đôi lúc xung đột mà để bảo vệ cộng đồng, nuôi dưỡng sự đoàn tụ phải dựa trên lòng hiếu khách chứ không thể dựa trên pháp luật.
Trong mỗi góc nhà, trên mỗi khu vườn, người Đà Lạt ươm trồng hạt giống của lòng hiếu khách, nó đã trở thành một tâm tính riêng của người Đà Lạt: Thèm khách. Họ có thể bỏ ra cả ngày để đi thăm nhau, tháo cả bánh xe mà khách đi tới để giữ chân khách. Căn nhà của người Đà Lạt luôn có 2 căn nhà: một căn nhà chính để sinh hoạt và một căn nhà phụ để những vật dụng làm vườn. Căn nhà này còn được gọi là: "Căn nhà sứ giả của thần linh” vì đó là nơi người Đà Lạt luôn để chăn mền và một đĩa trái cây cho người khách lỡ đường có thể sử dụng qua đêm. Trước nhà, đặc biệt là vào ban đêm, bao giờ cũng có một đống lửa đang cháy hay một ngọn đèn dầu để những người khách lạc đường trong đêm theo ánh sáng dẫn đường đến những căn nhà đang mở cửa chờ khách.
Trong các con vật nuôi trong nhà của người Đà Lạt, thì chó là con vật thân cận, trung thành và hiểu được tâm lý “thèm khách” của chủ nhân. Đôi lúc những chú chó nghịch ngợm đem dấu những chiếc dép của khách, ngoẩy đuôi khi thấy người khách mải đi tìm mà quên cả thời gian về. Và vào những đêm lạnh, sương mù, chính tiếng sủa, hay tiếng tru của những con chó già là âm thanh dẫn đường cho người khách lạc lối. Bởi thế khi con chó chết, người Đà Lạt luôn đem chôn vì chó là biểu tượng của lòng hiếu khách của con người Đà Lạt.
Bài thơ của người lữ khách Đà Lạt năm nào:
Đêm đêm lửa ấm góc vườn
Đợi người viễn khách lạc đường ghé qua
Thần linh để lại hạt hoa
Đất lành ươm giống tình ta - tình người
...................................................................
LÒNG HIẾU KHÁCH
CỦA CON NGƯỜI ĐÀ LẠT
Ngày xưa, thành phố Đà Lạt rất ít phương tiện đi lại nếu có thì thô sơ. Từ ở chân đèo lên tới thành phố phải mất đến ngày đường.
Hiếu khách là một đức tính của người Đà Lạt xưa được ra đời trong bối cảnh đó và được định nghĩa một cách tuyệt diệu và hồn nhiên là “Thèm muốn có khách” chẳng phải là cao đẹp sao? Về một nỗi thèm muốn ta tự thoả mãn bằng cách phục vụ người khác. Nhưng sự thèm muốn ấy cũng dễ giải thích bằng việc những người đó sống tương đối tách biệt (với những buổi tối mùa đông lạnh lẽo, ảm đạm, buồn chán và nỗi tò mò muốn biết tin về thế giới rộng lớn bên ngoài). Những cuộc viếng thăm nhau không hạn chế ở mức người ta bỏ ra cả ngày để đi đến bạn láng giềng. Người ta ở lại chơi hai đến ba ngày, hơn thế nữa.
Phô trương: chính những ngôi nhà xưa ở Đà Lạt ấy. Trang viên hay ấp trại thường là nhỏ, con người Đà Lạt đã ưu ái vun trồng đức tính hiếu khách. Sự hiếu khách lúc đó đôi khi rườm rà thậm chí đi đến chỗ tháo cả bánh xe mà khách đi tới hoặc đem giấu vào những nhà phụ để ngăn không cho khách về. Vào những ngày đặc biệt: rửa tội, cưới xin, ma chay mà cả cuộc đến thăm – mức sinh hoạt thường là đạm bạc của những nhà này tăng vọt lên quá đáng.
Điều quan trọng là phô trương dù nợ nần nhưng mình phải tỏ ra có cái gì thói quen đãi khách vượt quá khả năng mình vẫn nằm trong phong tục người Việt.
Nói cho đúng hiếu khách không chỉ là tiệc tùng và không chỉ do tò mò muốn biết tin tức ngoài thành phố. Nó xuất phát từ trái tim, tình thân ái thật sự, có thể là hơi ngây thơ nhưng tựu trung là chân thành.
Mời tặng lần III:
Tất nhiên, việc đãi khách của người Việt thường kèm theo cả một nghi thức không phải chỉ bày tất cả những gì có trong nhà lên bàn ăn là đủ. Với một số khác lao vào chén ngấu nghiến là thất lễ. Gia chủ phải gặng mời nhiều lần để khách lấy thức ăn, đôi lúc gắp thức ăn bỏ vào chén của khách. Còn khách phải từ chối ít nhất ba lần trước khi ăn. Nhất thiết phải khách sáo để chứng tỏ sự nhiệt tình về phía chủ và sự lịch thiệp về phía khách.
Sự ngự trị của nghi thức này, cho đến nay vẫn còn mạnh ngay cả trong gia đình. Hồi mẹ tôi thường đến ăn tối nhà tôi. Bà luôn sẵn sàng để bụng lép kẹp đi nằm nếu tôi không năn nỉ mời Bà. Cuối cùng, cái đó thành một trò đùa “Đến nhà con mẹ đừng có khách sáo”, “Nhưng mẹ có khách sáo đâu”, “nào một, hai, ba, con gặng mời ba lần rồi, xin mẹ hãy dùng thêm món này đi”, “không, không, không đâu”. Mẹ kêu như vậy trước khi múc cái món mà rõ ràng bà đang muốn ăn. Bà không cưỡng được sức mạnh của tập tục.
Truyền thống của lòng hiếu khách đang dần mất do công cuộc đô thị hoá. Tình hàng xóm láng giềng vắng đi và ra khỏi đất đai thành phố. Những người du khách lại gặp nhiều khó khăn hơn.
Việc hiện đại hoá đang tàn phá những kiểu mẫu của cộng đồng các thành phố tăng. Thành phố được nới rộng do dân số tăng, cũng do nông thôn đổ xô ra không ngừng. Chủ nghĩa cá nhân đang thống ngự tinh thần cộng đồng.
Hình thái gia đình rộng lớn đang dần dần tan rã, nhường chỗ cho gia đình hạt nhân (chỉ gồm có vợ chồng và con cái). Sự lỏng lẻo đi của những mối ràng buộc thân tộc có khuynh hướng dẫn đến những thái độ vị kỷ và cộng thêm những khó khăn kinh tế. Lòng quảng đại và hào phóng trở nên ngày càng hiếm hoi.
Sự hẹp hòi làm tổn hại những giá trị khoan dung, cởi mở và tự tôn từ xưa được biểu thị với người từ xa đến, hy vọng được hoan nghênh như chính ở làng mình. Phải chăng sự mai một của truyền thống hiếu khách là triệu chứng của một cuộc khủng hoảng trong xã hội.
.............................................
LỬA PHẢI BỐC CAO, BỐC MẠNH
Lòng hiếu khách người Đà Lạt trước hết biểu hiện ở một đống lửa trại mà chủ nhân cứ giữ cho cháy suốt đêm để báo cho lữ khách đang tìm chỗ trú biết nơi này sẵn sàng tiếp đón họ - Ngọn lửa ấy phải bốc cao, bốc mạnh để có thể thấy từ xa. Chủ một trang trại hoặc ấp viên hào phóng và hiếu khách ắt không thể bằng lòng với chỉ một đống lửa mà sẽ thắp một đống lửa trên đỉnh đồi rọi sáng trên cao nguyên như một ngọn hải đăng giữa mênh mông cao nguyên để từ xa người lữ khách có thể nhìn thấy nên tìm đến.
Người ta chỉ trích những kẻ vì hà tiện mà để cho lửa tắt, hoặc cố tình dập tắt hoặc che đi để khỏi tiếp khách hoặc có khi mất cảnh giác, ngủ quên để cho lửa tắt. Trong trường hợp này, con chó canh gác phải thay phiên nhau sủa liên hồi (tru lên tiếng vọng vang xa) cho lữ khách biết hướng mà tìm đến. Nên các nhà thơ thường khen đức tính con chó. Khi một con chó qua đời, người chủ nọ thường chôn trước cửa căn nhà “Sứ giả thần linh” và trồng một loài hoa khá đặc biệt, màu sắc rực rỡ (ưa bắt sáng) để báo hiệu chủ nhà luôn mở cửa chờ khách mà sau này người ta đặt tên là hoa “mõm chó” để ca ngợi đức tính của nó.
Khi muốn tỏ lòng trân trọng đối với một vị khách, người ta giết súc vật để khoản đãi – lấy tầm vóc con vật hy sinh để phản ánh tầm quan trọng của khách.
Người ta thường khoe độ lớn của những cái nồi dày để nấu thức ăn. Nếu có thêm một vị thượng khách tới, thì phải giết một con nữa. Máu phải tuôn chảy để bôi vẽ lên ngựa hay phương tiện của khách dùng để di chuyển, dấu hiệu đặc trưng của thị tộc đã tiếp ông ta.
Tuy nhiên, yến tiệc đâu phải thước đo lòng hiếu khách. Điều đó đặc biệt đánh giá cao trong trường hợp chủ nhân túng thiếu dâng hiến những gì mình có, nhịn mà cho, thậm chí truất cả phần gia đình mình, đó là quy tắc vàng của phép đãi khách người Đà Lạt. Có những người lớn tuổi Đà Lạt ngày xưa vẫn còn kể lại: có một bà góa già và nghèo cho khách ở đậu và để đãi họ, bà đã giết con heo độc nhất của mình nuôi. “Tại sao bà lại phí phạm thế?”. Và được bà trả lời như sau: “Ai vào nhà một người Đà Lạt còn sống mà không được thết đãi thì cũng kể như đến thăm một người chết.”
.............................
NHỮNG MIẾNG VẢI THÊU HOA MÀU TRẮNG HỒNG
Người được tiếp đãi trở thành một nhân vật bất khả xâm phạm – gần như thiêng liêng. Chủ nhân cũng như tất cả thành viên trong gia đình, thậm chí cả làng có bổn phận phải che chở. Chẳng những không được nộp người đó cho kẻ thù của anh ta, không được bỏ mặc anh ta, không ai được phép trả thù anh ta về một tội ác nào đó phạm phải trước khi được tiếp đón dưới mái nhà của mình. Hơn thế nữa, chủ nhân vẫn tiếp tục chịu trách nhiệm về khách của mình ngay cả khi anh ta rời hẳn khu nhà và làng của mình. Chừng nào khoai tây và muối được nhận dưới mái nhà mình còn trong bụng của khách, anh ta vẫn còn có quyền hưởng sự che chở của người cưu mang anh ta, trừ phi trong thời gian đó anh ta được tiếp đãi ở nơi khác. Đó là điều mà người Đà Lạt gọi là quyền “khoai và muối”. Nó là một loại giấy thông hành cho phép người lữ khách đi lại tự do, không chút sợ hãi trên đất đai ngôi làng – trang viên – ấp trại đãi khách (điều này cũng giải thích trong chiến tranh, biết bao nhiêu người lính đã được bảo vệ, che chở khỏi kẻ thù)
Tóm lại, lòng hiếu khách tạo ra ba quyền cơ bản mà mọi vi phạm phải đền bù :
Sự đền bù bao giờ cũng rất lớn, không cân đối với tội lỗi, không đáng kể ví dụ như lời lẽ xúc phạm bóng gió khó chịu, cử chỉ thô lỗ …
Người khách phải chuộc tội hoàn toàn: anh ta phải lấy một mảnh vải thuê những người thợ thêu thêu (nếu không có thì vẽ) một loài hoa mà vị chủ nhân yêu thích.
Sau đó, đến ba nhà khác nhau tuyên bố rằng: danh dự của chủ ngôi nhà kèm lời nguyên văn “Mặt ông ta vẫn hồng trắng” và xin chữ ký từng nhà một – sau đó đem mảnh vải đó đến gởi lại cho chủ nhân.
Giờ đây những thông lệ của việc đãi khách theo qui phạm danh dự của cao nguyên dường như đang biến mất, chẳng bao lâu nữa chỉ còn là kỷ niệm.
Đà Lạt hiện đại hóa đã chinh phục. Lòng hiếu khách Đà Lạt luôn quảng đại và lịch thiệp phải chịu đựng hậu quả của tiến trình đó. Những khách sạn và phương tiện hiện đại đã thay thế những trang trại – ấp viên – ngôi làng, biểu tượng của một thời đã qua mà người ta còn hoài nhớ. Tuy nhiên, một chút gì vẫn còn lại cùng với nghi thức thanh lịch và tinh tế, những nét không thể tách rời của việc đãi khách. Người Đà Lạt vẫn luôn luôn giữ mối quan tâm về sự “Hồng trắng khuôn mặt mình”, sợ nó sẽ mất nếu không dành cho khách sự đón tiếp nồng nhiệt nhất.
.......................................
NHỮNG CHIẾC ĐĨA ĂN BỊ ĐỤC LỖ
Biết bao nhiêu nhà thơ hết lời ca ngợi những phẩm chất hiếu khách của người Đà Lạt. Hầu như không nói gì về người khách. Thực ra quy phạm danh dự miền cao nguyên cũng xác định cụ thể ứng xử của khách.
Trước hết, người khách là một ông HOÀNG bởi vì anh ta có quyền hưởng mọi sự trọng vọng. Để đáp lại, anh ta phải cư xử như người chịu ơn và người khách được tiếp là tù nhân của người tiếp anh ta. Vì anh ta nhất nhất phải tuân thủ những lời căn dặn của chủ nhân. Đặc biệt, anh ta phải ở chỗ được chỉ định cho mình, tỏ ra hòa nhã, không cất cao giọng, nhận những thứ được biếu với thái độ biết ơn dù chỉ là một miếng bánh mứt. Từ chối một món ăn được nấu cho riêng mình có thể bị nghi ngờ là có tình cảm đối địch với chủ nhân. Người khách có bổn phận phải tôn trọng ngôi nhà đã đón tiếp mình và tránh mọi hành động xấu.
Một khi rời đi, khách phải ứng xử như một nhà thơ, đến đâu cũng ca ngợi ngôi nhà hiếu khách mà anh ta ở và luôn luôn xác nhận sự đối đãi trân trọng mà mình đã được hưởng.
Kẻ nào có hành động tội lỗi vi phạm những quy tắc quan hệ chủ khách (ăn cắp, mưu toan quyến rũ, dối lừa) sẽ bị ô nhục mãi mãi. Để nhấn mạnh sự nghiêm trọng hành vi đó, chủ nhân lấy cái đĩa dọn thức ăn cho y – chọc thủng một lỗ gửi đến chỗ dòng tộc của người khách nọ hoặc treo trong phòng khách của mình và kể cho mọi người nghe về người khách nọ. Bằng những cử chỉ tượng trưng này, chỉ rõ rằng những luật lệ thiêng liêng của lòng hiếu khách bị vi phạm. Từ nay kẻ phạm tội sẽ bị khinh bỉ – không ai tin lời anh ta – bầu bạn ruồng bỏ – mọi cánh cửa đều khép lại với anh ta.
Lòng hiếu khách của người Đà Lạt tạo nên những quan hệ đặc biệt giữa chủ và khách. Nó kéo theo những quyền lợi và nghĩa vụ, và chính những liên quan pháp lý này mang lại cho nó một dấu ấn đặc biệt.