
Những nghệ sỹ XQ họ sáng tạo những gì trong không gian này?
1. Tình yêu là chủ đề hàng đầu trong các tác phẩm dưới rừng thông của họ, trong đó người phụ nữ nghề thêu được miêu tả trong sự hòa hợp với thiên nhiên, dưới ánh trăng và trong làn hương ngào ngạt của những loài hoa dại Đà Lạt – các tác phẩm này đạt tới một nhạc điệu – một sự êm dịu hài hòa chưa từng có.
2. Nhưng xét về phương diện nào đó, nghệ sỹ sống về đêm mắc bệnh “tâm thần”, đôi lúc nó xen kẽ vào sự minh mẫn tuy là ngắn ngủi. Nên từ đó mới xuất hiện những tác phẩm nói về một thế giới lạnh lẽo, u tối và chết chóc bao trùm lên óc sáng tạo của nghệ sỹ sống về đêm, tình yêu trở thành biểu hiện của một nỗi cô đơn không phương giải thoát – một không gian đau khổ và những cách bài trí xếp đặt thể hiện sự tan vỡ nội tâm, như trong sự chia ly dưới tầng hầm của người “nghệ sỹ sống về đêm” hoặc cũng có khi thì lại đượm một vẻ mê hoặc và đau xót chẳng hạn như: bài thánh ca khóc cho một đứa bé vừa qua đời.
3. Cũng có những tác phẩm của họ lại nói về sự trưởng thành của người phụ nữ yêu nước, gợi lại những trang sử vẻ vang của người phụ nữ Việt Nam như căn phòng: Nữ thần sự thật và công lý trong căn nhà Triển Lãm Những Sợi Chỉ Ước Mơ và tương phản với nó lại là những khía cạnh cay đắng trong hiện tại suy đồi như trong tác phẩm Những Bậc Cầu Thang bước xuống tầng hầm kể lại những hình ảnh quái đản sinh ra vào thời kỳ đau thương.
Tuy vậy, Nghệ sỹ sống về đêm XQ cũng là một người lãng mạn chân chính đã sáng tạo ra thế giới thần thoại, trong đó diễn ra cái bi kịch của thân phận con người, như trường ca “Dế Khóc Trăng”. Trong đó nói đến sự cô đơn của một kẻ sáng tạo trong một xã hội thù địch với những giá trị tinh thần.
Có thể ví dụ như là chuyện kể về một vì Sao Hôm trước căn nhà Nghệ Sĩ. Vì say đắm một nàng công chúa làm nghề thêu dưới trần thế mà Sao Hôm sẵn sàng từ bỏ cuộc đời bất tử của một vì tinh tú để trở thành một người trần. Chàng đã dấu mình vào một hành tinh trôi nổi trong vũ trụ. Cuối cùng, khi giáp mặt được với Thượng Đế, nghe lời nhắc nhở của Thượng Đế rằng: Tình yêu của người trần đâu có thủy chung. Chàng hiểu ra “sự hy sinh mà mình định thực hiện là vô ích”, nên quyết định không trở lại với thế giới loài người nữa. Chính theo nghĩa đó, mà ở sân “Sao Hôm” trước căn nhà Nghệ Sỹ có dòng chữ khắc trên phiến gỗ như thế này: “Tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng nói nào êm ái như tiếng tình yêu, đó là kỷ niệm duy nhất còn lưu lại dưới bầu trời. Từ khi tình yêu dạy cho ngươi biết hùng biện, những lời ngươi nói được lắng nghe trong các cuộc luận bàn”.
4. Nghệ sỹ sống về đêm XQ còn là những con người cô đơn.
Nhất là trong thời buổi mà sự cách biệt ngày càng lớn giữa những ước lệ tầm thường của nghệ thuật đương thời đối lập với phong cách nghệ thuật của “Nghệ Sỹ Sống Về Đêm” dưới rừng thông (XQ Sử Quán). Không thể thay đổi được cách nhìn hạn chế đó. Từ giữa cuộc đời, khi đã lựa chọn tự do biểu hiện theo cách riêng họ ngày càng phải chịu sự cô đơn vì người đương thời ngỡ ngàng và không hiểu, thậm chí một số tác phẩm của họ gây ra sự chống đối mạnh mẽ.
Ví dụ: Đã từng có nhiều bài báo viết về “Nghệ thuật gì ở ĐLSQ”?
Hay lời của một nhà quản lý Văn Hóa: “Kỳ này phải làm rõ chuyện nghệ thuật ở ĐLSQ không để tình trạng du khách tiếp tục bị mắc lừa”
Hoặc một nhà quản lý văn hóa khác nói: “Cần phải thành lập một đoàn thẩm định nghệ thuật - trong đó có các chuyên gia về nghệ thuật xếp đặt nhằm chấn chỉnh để nhặt ra những hạt sạn, bảo vệ môi trường văn hóa trong lành ở thành phố Đà Lạt”.
Giữa những đòi hỏi của nghệ thuật và sự chờ đợi của công chúng về một phong cách nghệ thuật “Huê Tình”, để ru hời nhau bằng những công thức có sẵn, bằng một thông điệp như áp phích quảng cáo. Người “Nghệ sỹ sống về đêm” không tìm được một chỗ đứng trong thời của mình. Đôi lúc anh ta cố gắng chấp nhận tính lịch sử nghệ thuật đồng thời lại phá hủy nó từ bên trong và mối xung đột ấy kết thúc bằng một khước từ cả về mặt lý thuyết lẫn thực hành.
Những nghệ sỹ lạc thời ấy đôi lúc chỉ biết thổ lộ mối ưu tâm chính yếu của mình với con vượn bằng những cuộc trò chuyện theo kiểu THỰC THI DI CHÚC – khá kỳ cục.
“Nghệ sỹ sống về đêm” XQ là công dân của thế giới và là cư dân Đà Lạt - dân của tỉnh lẻ – Họ là thần dân vương quốc trung gian giữa cái “không còn nữa” và cái “chưa có”. Trên bình diện xã hội học có thể nghĩ đó là những cuộc khủng hoảng sinh tồn và bản sắc. Vì thế, những tác phẩm của anh ta bao giờ cũng mang tính thời sự. Trong đó, con người từ ảo tưởng chuyển sang thất vọng, một câu chuyện về tình yêu và bạo lực, về chiến tranh và sự say sưa kinh tế cho tới đoạn cuối lại khát vọng đầy sự khoan dung và cứu chuộc. Điều làm con người đồng thời không ưa thích tinh thần này là vì trong đó chứa những yếu tố “kinh tởm - hãi hùng - gớm guốc”.
Họ là nhóm người cùng thời – lạc thế hôm qua và hôm nay? Có lẽ cái bí mật của việc tác phẩm của họ bao giờ cũng thời sự là ở chỗ đó. Không phải ở bản chất mà người ta gán cho họ, đúng hơn là ở nghị lực họ huy động để mở cánh cửa vào tương lai. Để hiểu điều này, mời quý khách tham dự nghi thức cắm “Kim Gãy” vào mỗi chiều thứ 7 dưới cổng mặt trời của người Đà Lạt với một phong cách tôn nghiêm nhất của nghề thêu.
Nên có thể kết luận rằng:
Bản ngã “Nghệ sỹ sống về đêm XQ” mang bản chất siêu hình, đúng hơn là “ma quỷ”. Để trêu chọc và đánh lừa con người, “ma quỷ” thường sử dụng những sinh vật cô đơn, được chúng phú cho sức quyến rũ của sáng tạo … nên chúng đã biến những kẻ kia thành “Nghệ sỹ sống về đêm” làm sao có thể đo – đong hay đếm họ được .