Được thành lập nhằm mục đích khuyến khích đông đảo mọi phụ nữ quan tâm đến sách và nhất là phát triển sự ham thích đọc sách ở con người thợ thêu Thường là bị thu hút về phía truyền hình – điện ảnh – video – các mạng xã hội. Bởi lẽ sách và màn ảnh không thể thay thế nhau. Màn ảnh đem lại những ấn tượng và cảm tưởng có sẵn, còn đọc sách đòi hỏi một nỗ lực mãnh liệt của tư duy và trí tưởng tượng. Đó là nỗ lực mang tính – THÀNH TẠO -rất lớn.
Vai trò của Hội giúp cho mọi thợ thêu và con người thợ thêu hiểu biết kho tàng văn hóa nghề thêu – văn hóa đất nước và cả văn học nước ngoài, qua đó trở thành công cụ trao đổi và đối thoại trong nghề nghiệp và môi trường sống của mình.
Hội này đã tiến hành nhiều cuộc triển lãm, tranh luận văn học như các ngày “hội sách”...các buổi biểu diễn sân khấu âm nhạc tại nhà “hát nhỏ nghệ nhân “ XQ – Sử Quán, tổ chức gặp gỡ các nhà văn – nhà thơ - Bằng những biện pháp đó, họ đã phát triển sự ham thích đọc sách và mối quan tâm đến văn học đương thời.
Thư viện XQ – Sử Quán là khía cạnh chủ yếu trong hoạt động của Hội “Kim bút” từ ngày thành lập, được các chuyên gia sành sỏi về sách (tri kỷ hữu) giúp đỡ thư viện xây dựng các tủ sách và phổ biến vốn sách đó đến phụ nữ tại các khu tập thể.
Điều rất quý hiếm là những tri kỷ hữu XQ, biểu thị cụ thể đã quyên góp sách tặng thư viện XQ – Sử Quán trong thời điểm bị tàn phá bởi đại dịch COVID -19.
Ngoài ra Hội “Kim bút” còn quan tâm đến cả việc bảo quản và phục hồi sách – đã hình thành bộ phận đóng sách trong năm vừa qua đã phục hồi được 200 cuốn sách... Hội “kim bút” đã sử dụng các nguồn sư phạm là các bảo tàng của XQ, gia đình thợ thêu để giới thiệu ngày càng nhiều thanh thiếu niên hãy đến với văn học – nghệ thuật – lịch sử và khoa học. Ví dụ: câu lạc bộ con người thợ thêu nay đã trở thành BẢO TÀNG HÒA BÌNH.
Hội “kim bút” tạo thành cuốn thư mục, phê bình văn học, tiểu sử của những thợ thêu và con người thợ thêu YÊU SÁCH và những phụ nữ XQ sưu tầm sách nổi tiếng và sắp tới đây sẽ hình thành – BẢO TÀNG SÁCH –
Với mục đích cuối cùng là nhằm mở rộng tri thức – truyền bá các lý tưởng nhân đạo, đoàn kết thắt chặt tình hữu nghị với những phụ nữ các dân tộc khác.
với Khẩu hiệu: “Tương lai con tôi phụ thuộc vào những gì tôi để con tôi tại cho tương lai”.
HỘI "KIM BÚT" THỢ THÊU.
Nơi ca ngợi: vẻ đẹp Vầng Trăng Quê Hương.
Nghi lễ: tặng sách của - tri kỷ hữu - cho câu lạc bộ con người thợ thêu
Lễ hội: Rước sách
Chân dung những nhà văn hóa, nhân sĩ - tri thức trong cuộc hội thảo.
ĐÀ LẠT SẼ RA SAO THẾ KỶ 21?
Suy nghĩ của nghệ nhân nghệ sỹ XQ trong những chương trình triển lãm và giới thiệu về Đà Lạt của mình trong những năm tới.
Chừng mấy chục nhân sỹ – gồm có các nhà khoa học, văn hóa – sáng tạo nghệ thuật – xã hội học – sử học đến từ các vùng miền trong cả nước để thảo luận về vấn đề này (Đà Lạt sẽ ra sao thế kỷ 21?) từ ngày 22 tháng 10 năm 2011 tại XQ Đà Lạt Sử Quán, sau đó sẽ được mở rộng và kéo dài cho các Festival Hoa
Họ không phải là những người theo thuyết tai họa và cũng không phải là những người lạc quan một cách mù quáng. Những cuộc “Đối Thoại” bao gồm nhiều lĩnh vực của họ về tương lai Đà Lạt và nghề thêu trên Đà Lạt nhằm nêu bật lại sự không chắc chắn và những điều chắc chắn. Đó là sự chuẩn bị cho thế kỷ 21, phải tính đến tính không ổn định và tính phức tạp phải được chỉ đạo bởi những nguyên tắc đạo đức – công lý cùng chia sẻ và lắng nghe…
Cuộc hội thảo này giúp cho nghệ nhân nghệ sỹ XQ có một cái nhìn khác về thành phố Đà Lạt trong sáng tác … giới thiệu về thành phố mình - từ đó hình thành nên một tiểu ban “Bi Ký và Mỹ Văn” về Đà Lạt của nghệ nhân nghệ sỹ XQ. Tiểu ban này liên hệ với tất cả những nhà văn - nhà thơ – nhạc sỹ – nghệ thuật v.v trong cả nước và cả nước ngoài nhằm tổ chức các cuộc triển lãm thường nhật về thành phố Đà Lạt với nghề nghiệp, là khám phá – suy nghĩ và truyền đạt, vận dụng những kiến thức và tư tưởng là cốt lõi của tiểu ban này. Từ đó, rút ra được những đặc ân lớn lao - và đáng sợ, đó là cái nhìn về thành phố của mình – những hứa hẹn và sai sót của nó ngày càng thêm nhạy bén và độc đáo.
Nhạy bén ở các thông tin mà nghệ nhân – nghệ sỹ XQ thu nhận được do các chuyên gia giỏi nhất của mọi môn học – một “Tiền Bối” về nghiên cứu – phát triển Đà Lạt cung cấp qua cuộc hội thảo này.
Độc đáo là do có sự hội tụ và sự đối chiếu của mọi luồng thông tin sẽ tạo ra được động lực vượt qua những vách ngăn cách giữa các lĩnh vực kiến thức khác nhau. Chính cái nhìn này sẽ đạt đến tầm vóc phổ quát: tính toàn diện và tính toàn cầu của thành phố Đà Lạt. Thế nhưng, để nhằm mục đích gì? Phải chăng nghệ nhân nghệ sỹ XQ đang tạo ra một đồ án – có phải đồ án chung? Trong thế giới toàn cầu hóa này, với đặc điểm và văn hóa của Đà Lạt dần dần sẽ thấy nổi lên những trung tâm sinh hoạt công cộng toàn cầu của Đà Lạt thế kỷ 21. Ở đó, một đồ án như vậy sẽ hình thành – chấp nhận và thực hiện. Ví dụ: sắp tới đây, qua cuộc gặp gỡ của hội nhà báo Việt Nam và hội nhà báo Thái Lan, sẽ tổ chức triển lãm hình ảnh các gia đình của các nước Đông Nam Á – hoặc, qua cuộc gặp gỡ giao lưu với các quan chức cao cấp Trung Quốc tại XQ Đà Lạt Sử Quán, chúng tôi thống nhất sẽ tổ chức cuộc triển lãm giao lưu giữa nghệ nhân Việt Nam và nghệ nhân Trung Quốc tại Đà Lạt. Hay là: cuộc gặp gỡ với anh em văn nghệ sỹ thành phố Nha Trang vừa rồi, chúng tôi đều có ý tưởng là sẽ tổ chức chương trình “Ký Ức Về Thành Phố Đà Lạt” qua cuộc hành hương “Con Đường Yersin”.
Chúng tôi quyết định chọn ngày 22 -10 - 2011 đánh mốc 20 năm XQ trở thành công dân Đà Lạt, từ khi thực hiện nghi thức nhập định “Đà Lạt nơi nghệ nhân – nghệ sỹ XQ đã lớn lên”, cho đến nay đã hình thành nên một lực lượng đông đảo nghệ nhân - nghệ sỹ là người công dân Đà Lạt. Nên bản thân tôi luôn đồng nhất không những với nghề thêu, mà với Đà Lạt của mình một cách mãnh liệt, bất cứ những gì cá nhân tôi trải qua: cay đắng, vinh quang, hay hạnh phúc được ngay tức khắc trả lại cho nghề thêu và Đà Lạt của mình như đến với địa chỉ đương nhiên. Vì thế, cuộc đời của tôi như bị chi phối bởi ý chí quyết trả lại đức tin cho nghệ nhân – nghệ sỹ XQ tính thuần khiết và sức mạnh nguyên thủy về Đà Lạt của mình. Từ đó thông qua sáng tạo, họ nói về Đà Lạt, giới thiệu với công chúng trong nước và nước ngoài. Để cố gắng làm việc này, chúng tôi lần lượt đương đầu với mọi thách thức. Và lấy từ những thách thức đó sức mạnh cần thiết cho một sự nghiệp, mà chúng tôi gọi là “Công cuộc phục hưng các khoa học nghề thêu và Đà Lạt”.
Để làm được việc này, làm sao tìm kiếm lại những nguồn tri thức đã được tích lũy trong thời đại ngày hôm nay - bằng cách mời tất cả những truyền thống tri thức về Đà Lạt đã được xác lập trong thời kỳ trước và nhất là những con người có một tình yêu đặc biệt với Đà Lạt (Tri Kỷ Hữu) để đối thoại và tìm kiếm những phần khôn ngoan và có giá trị nhất định. Rút ra những bài học tư tưởng ở những chuyên gia về mọi lĩnh vực. Vì những bậc tiền bối đó là một nhân chứng rất đặc biệt của một thời kỳ mà đặc trưng cho một tình hình tư tưởng hết sức xáo động, và rất nhiều câu hỏi đặt ra về những mục đích tối thượng của những hiện thực xã hội.
Làm sao tìm kiếm lại một đức tin về thành phố của mình? phải chăng mời được những bộ óc thông minh xuất chúng, luôn tận tụy với sự nghiệp giáo dục những người cùng thế hệ và thuộc những thế hệ mai sau? Họ luôn cảm thấy mình được trao một sứ mạng cuối cùng trong cuộc đời, đem lại cho người đương thời ánh sáng, nơi họ tri thức luôn được triển khai nhằm phục vụ cho đức tin và niềm tin vững chắc luôn luôn được phê phán làm tăng thêm sức mạnh.
Đứng trước những thách thức của sự phát triển tri thức khoa học và kỹ thuật chưa từng thấy, trước những hậu quả của sự phát triển này, về mặt tâm lý và xã hội đối với đức tin về bản sắc – truyền thống và văn hóa, nghệ nhân - nghệ sỹ XQ đã phản ứng lại bằng một quá trình tư duy … được những tri thức tiên tiến nhất rọi sáng qua cuộc hội thảo này, họ sẽ đem đến một sự cách tân trí tuệ, đem lại cho nền văn hóa Đà Lạt những sự kích thích sáng tạo nhất.
Trước sự phát triển của lịch sử kinh tế đã mệt mỏi, các môn khoa học xã hội nhân văn hôm nay đã lâm vào một tình trạng khủng hoảng làm sao giữ được một thế cân bằng mong manh giữa truyền thống và hiện đại… Để Đà Lạt ở một tình trạng yên ổn nhất nó phải được thay bằng một “Lịch Sử Tâm Tính” của người Đà Lạt và “Lịch Sử – Vấn Đề”, Đà Lạt sẵn lòng tiếp nhận các phương pháp phong phú của các môn khoa học xã hội và nhân văn mới: nhân chủng học, xã hội học, kinh tế học và ngôn ngữ học. Đà Lạt đang bước về tương lai nhưng vẫn ngoảnh nhìn lại quá khứ, họ chăm lo cho mối quan tâm đến những gốc rễ lịch sử và di sản. Phải có những chuyên gia sẽ không bao giờ ngừng viết lại và giải thích lại – đôi khi giữa khung cảnh “Ầm Ĩ Và Phẫn Nộ” lịch sử thành phố Đà Lạt và người Đà Lạt.
Như thế là chúng ta đã khôi phục lại cách suy nghĩ về lâu dài, phóng tầm mắt ra phía trước càng xa càng tốt và dự báo những chuyển biến. Chỉ có cách đó mới chống lại được tính không chắc chắn của tương lai, tạo ra một không gian cho hành động hiện tại và cái chúng ta cần HÀNH ĐỘNG, và để cho hành động có hiệu quả, chúng ta phải dự báo, đó là đấu tranh chống lại sự lãnh đạm, và thờ ơ, thức tỉnh lương tri của con người cho họ thấy hiểm họa ngày mai … như vậy thì phải thấu hiểu và tưởng tượng – thấu hiểu là nó đưa chúng ta trở lại với những kiến thức trước kia của Đà Lạt, những quy tắc và thiếu những quy tắc mà chúng ta phải hiểu rõ nguyên nhân trở thành một tổng thể (quá khứ – hiện tại – tương lai), thực hiện nắm lấy tất cả là lĩnh hội, thấu hiểu (qua cuộc hội thảo mà các bậc tiền bối cung cấp, giảng dạy) nhưng sự cố gắng này sẽ vẫn là trừu tượng nếu nó không được làm sáng tỏ và sâu sắc thêm bằng trí tưởng tượng. Suy nghĩ sáng tạo của nghệ nhân – nghệ sỹ XQ Đà lạt thế kỷ 21 cũng là tự cho phép mình được ước mơ về Đà lạt – được xây dựng những kịch bản có thể là mâu thuẫn nhau – là tự cho phép thấu hiểu thực tế và tưởng tượng cái có thể được và thử làm cái không thể được. Ví du: Sắp tới đây với tham vọng sẽ phản ảnh một cách sinh động hơn những mấu chốt Đà Lạt, tôi cố gắng làm cho tất cả mọi người gần gũi với Đà Lạt, thúc đẩy mọi người thay đổi cách nhìn về Đà Lạt. Tôi đã làm việc với các chuyên gia và cơ quan ban ngành các tỉnh thành trong và ngoài nước. Đó là sẽ mở - căn nhà: Đà Lạt dưới mắt người Hà Nội, căn nhà Đà Lạt dưới mắt người Sài Gòn - hoặc Huế - Nha Trang v.v và cả nước ngoài.
Chúng tôi tự biến mình thành những kiến trúc sư của quá khứ - Đà Lạt được sinh ra trong “Nghệ Thuật – Tình Yêu – Thi Ca – Đoàn Kết và Văn Hóa” nhằm giới thiệu Gương Mặt Đà Lạt - Cơ Thể Đà Lạt và Tiếng Nói Người Đà Lạt.
1. - Gương Mặt Đà Lạt – ban “Bi Ký và Mỹ Văn” XQ Sử Quán chúng tôi đầu tiên thừa nhận thành phố Đà Lạt là một con người mà cuộc sống vật chất và tinh thần được quy định bởi những khung cảnh và thành phần địa lý của mình. Không phải ngẫu nhiên mà tại XQ Đà Lạt Sử Quán chúng tôi ca ngợi thành phố của mình bằng sự miêu tả cảm kích qua sự cam kết thiêng liêng giữa con người với thiên nhiên (Nơi ngắm bình minh và nghe tiếng chim hót - ngồi nghe hơi thở tiếng mưa - đêm hội “Nhặt cỏ vườn trăng”- nơi ngắm các vì sao và hàng loạt những câu chuyện niềm tin tín ngưỡng người Đà Lạt với thiên nhiên … v.v)
• Sự cam kết thiêng liêng giữa con người với con người (chiếc rương người thiếu nữ Đà Lạt - vườn phong lan rừng Tri Kỷ Hữu - Bảo tàng chân dung, Agora, v.v…)
• Sự cam kết thiêng liêng giữa con người với truyền thống (căn nhà “Hơi thở tổ tiên Đà Lạt” - bảo tàng nghề thêu - bảo tàng “Ước nguyện 1000 năm” - căn nhà “Đà Lạt Di Chúc” v.v)
Sự miêu tả như là cơ quan sinh lý học cần thiết cho một sự vận hành hài hòa của cơ thể xã hội.
2. – Cơ thể Đà Lạt
Chúng tôi đã thay thế bảng ghi chép khô khan theo niên đại về những chiến công và những việc xấu xa của những ông hoàng và những người quyền thế bằng lời kể mang tính sử thi về sự ra đời và phát triển Đà Lạt. Không coi Đà Lạt như một thực thể trừu tượng và duy lý, mà như một cơ thể bằng máu thịt sống động và đau khổ, mà phải cảm nhận bằng trái tim và trí tưởng tượng của mình nhiều hơn bằng trí tuệ (thể hiện sự đam mê tri thức sách vở người Đà Lạt qua những thư viện trong khu vườn “Nơi gặp gỡ của những giấc mơ” - sự tinh tế của nghệ thuật đi vào mọi ngóc ngách của đời sống với những nghi thức và nghi lễ v.v… - Khát vọng một đời sống cao sang, quý phái, lãng mạn như căn phòng “Danh dự là tất cả”, căn phòng Hoàng Triều v.v...)
3. - Tiếng Nói Đà Lạt
Nhiều khi chúng tôi bị thôi thúc bởi ao ước nắm bắt và diễn đạt những tác động qua lại của các sự kiện thiên nhiên – kinh tế – chính trị – xã hội và cả tôn giáo, để hình thành nên một “Lịch Sử tâm Tính Người Đà Lạt” một cách trực giác và đầy chất thơ (như trong nhà hát nhỏ của nghệ nhân - chúng tôi thường giới thiệu những vở kịch về quy luật tình yêu và thiên hướng làm điều thiện của người Đà Lạt và những thể loại “Kịch phong tục” Đà Lạt v.v…)
Sắp tới đây chúng tôi hy vọng sẽ hình thành nên bảo tàng “Lịch Sử tâm tính người Đà Lạt” bằng cách thành lập “Câu lạc bộ nghệ thuật” mà các hội viên là các diễn viên – nhà văn – nhạc sỹ và họa sỹ v.v… say mê nghiên cứu và sáng tác về Đà Lạt
Rất nhiều người đã hỏi chúng tôi “XQ là một công ty kinh doanh tư nhân, hay làm nhiều chuyện bao đồng, hay nói đến tâm tư tình cảm của mình về Đà Lạt chỉ khiến người ta giễu cợt - khinh bỉ - thậm chí bị thiên hạ đón bằng một thái độ ác cảm hay lãnh đạm thờ ơ?”
Những người đó sẽ trả lời như thế nào trước câu nói của con cái họ “Đáng lẽ họ làm được nhiều nhưng không dám làm - bao nhiêu?!” những người cha người mẹ luôn tự vấn “tương lai của con tôi phụ thuộc những gì tôi để con tôi lại cho tương lai?”
Tại căn phòng “Nghi thức nhập định – Đà Lạt nơi con đã lớn lên”của câu lạc bộ con người thợ thêu để nhắc nhở chúng tôi về thiên chức của mình – thiên chức của chúng ta là mối dây liên hệ giữa con người hôm nay và sự kiện (Bạo lực con người với con người - bạo lực con người với thiên nhiên…) giữa trào lưu thời đại (lý tưởng thị trường biến con người trở thành kẻ cạnh tranh và tiêu thụ - phương tiện nghe nhìn con người càng ngày càng thụ động, thủ tiêu ý thức công dân không phải bằng cưỡng bức mà bằng sức nặng của nhu cầu mới mà nó tiêm cấy vào anh chị ta…) và của đời sống tư tưởng. Thiên chức đó chúng ta không làm nổi, và chính sự bất lực đó mà con người chúng ta ngày càng tự buông lỏng không kiềm chế được những gì chế ngự tâm hồn mình để nói lên những điều… hoặc như của những ông già lẩm cẩm hoặc khoa trương quá đỗi về mình. Chúng ta chẳng còn nói được: “Điều liên quan đến tôi - gia đình tôi - thành phố tôi - đất nước tôi có gì quan trọng?”.
Những người đó làm sao lại tránh không tự vấn mình về những quan điểm, lập trường của chúng ta về cái logic mà chúng ta đã đi theo về những mục đích đã đặt cho ta trong suốt hành trình của người công dân đất Việt.
Sự cam kết thiêng liêng – Tri Kỷ Hữu – với nghệ nhân nghệ sỹ XQ – Đà Lạt “Hãy giữ tuổi thanh xuân cho nghề thêu và bảo tồn con cháu chúng ta trong một tương lai tốt đẹp nhất trên mảnh đất này” từ đó – đã xa rồi… mỗi ngày lại tự hỏi “mình có muốn làm người Đà Lạt Việt Nam hay không?”. Vì thế, với dự án – tại XQ Đà Lạt Sử Quán thành lập một ban và quyết định đặt tên – Bi ký và mỹ văn Đà Lạt – đã bao năm chúng tôi nghĩ về chuyện ấy – bàn về chuyện ấy – mà đến nay chưa dựng được, bởi vì cuộc đời là thế, đủ cả hôn phối tốt đẹp, tình yêu ảo tưởng và thời cơ bỏ lỡ – hoặc là thời cơ mà chúng tôi tưởng là bỏ lỡ nhưng thực ra chỉ là chưa chín mùi mà thôi. Bây giờ thời cơ là đây?..
Bi ký – mỹ văn Đà Lạt phải đáp ứng một nhu cầu nay đã thành cấp bách – với những chủ đề đa văn hóa, những phóng sự bao quát về những cuộc phỏng vấn các nhà sáng tạo – khoa học – sử học – xã hội học – kinh tế học.v.v… - với những thư viện hợp thành thư viện duy nhất và những bảo tàng hợp thành bảo tàng duy nhất, nó phải đáp ứng một khao khát lớn lao kết hợp mơ ước lẫn kiến thức làm một cuộc viễn du kỳ thú qua thành phố văn hóa với những con đường tri thức, đó chính là loại chương trình ngày mai mà Đà Lạt cần đưa ra cho công chúng ngày hôm nay.
Thực ra có thể nói là chúng tôi buộc phải làm dự án đó, có một cái gì đó dẫn dắt chúng tôi mà chúng tôi hầu như không biết, một thứ chất lỏng chập chờn mà người ta gọi là dư luận, mà không ai xác định được trong khi nó lại xác định tất cả chúng tôi. Chúng tôi không biết tại sao, nhưng chúng tôi biết rằng chính hình thức sáng tạo và biểu hiện văn hóa Đà Lạt là cần thiết kêu gọi một tính sáng tạo không vướng vào khinh miệt mà trái lại dựa trên sự tôn trọng tất cả kẻ khác.
Cái nguyên liệu được xử lý của dự án này là ký ức – tài năng và cái đẹp về di sản văn hóa Đà Lạt. Đó là các sản phẩm do trí tưởng tượng của xã hội sinh ra trong suốt quá trình lịch sử của nó như kiến trúc Đà Lạt chẳng hạn, bằng sự sáng tạo của mình chúng tôi sẽ giới thiệu những yếu tố nhân văn, yếu tố yên tĩnh của nó để khi người du khách đến tham quan, họ bỗng thấy mình đứng giữa một cảnh tĩnh mịch, họ như được trở về với cội nguồn thời gian, trở về với một không gian huyền thoại…(đây cũng là một điều khó khăn cho những nhà quản lý vì Đà Lạt có một di sản bao gồm những dinh thự - biệt thự… nó sẽ giao phó việc bảo vệ và giữ gìn di sản ấy cho ai? Các nhà kinh doanh địa phương không có đủ khả năng, còn một tập đoàn trong nước hay một công ty đa quốc gia nước ngoài thì sẽ xác nhập ngay tức khắc vào một tổ hợp khách sạn… với nhu cầu thị trường chức năng của cái hiện tại hỗn độn nhất lén lút xâm chiếm không gian huyền thoại này, gặm nhấm nó, bóp nghẹt nó dần dần chẳng bao lâu sẽ không còn phân biệt nổi ngôi biệt thự cổ với những tòa nhà mới nhất.Vậy ai sẽ tiến hành nghiên cứu, khai quật, liệt kê tất cả những báu vật của di sản đó với yêu cầu của ngành du lịch muốn giới thiệu di sản của Đà Lạt cho sự chiêm ngưỡng của người du khách trong và ngoài nước…?)
Về những tác phẩm sáng tạo mới, chúng tôi mời đến những nhà cách tân nhất của xã hội, những nhà tương lai học, những nhà thơ. Sau cùng, chúng tôi cùng nhau suy nghĩ đưa những dự án văn hóa – nghệ thuật trong tương lai – những dự án phải đáp ứng những nhu cầu lâu dài của xã hội hiện nay mới nhen nhúm…
Để bắt tay vào tương lai trong khi còn đứng vững hai chân trên mặt đất. Muốn thực hiện dù chỉ một phần nhỏ những ước mơ của mình về Đà Lạt, chúng tôi phải luôn thỏa hiệp giữa tham vọng và lý trí, giữa những nguy cơ cần gánh chịu và những sai lầm không được phép phạm phải…
Chúng tôi cảm thấy một chiều hướng trên Đà lạt không thể đảo ngược trong tất cả các lĩnh vực: công nghiệp, tài chính, giáo dục,v.v…đòi hỏi ngày càng nhiều tài năng đa dạng, những đóng góp về văn hóa, những quan điểm về đạo lý hoặc thẩm mỹ chỉ có thể đến từ văn học nghệ thuật – Đà Lạt thành phố của nghệ thuật – tình yêu – tình đoàn kết và văn hóa.
Đó là một thành phố thần kỳ sẽ làm cho những người du khách chờ đợi suốt một nghìn lẻ một đêm bằng cách kể cho họ nghe những chuyện nơi khác. Phép thần kỳ nhắc nhở lại cho chúng ta nhớ rằng ngôn ngữ sinh ra không những để diễn đạt mà điều bí mật xin được chia sẻ và để dạy cho con cái con người biết ước mơ của người khác, đó là điều quan trọng và đó là điều chúng tôi sẽ cố gắng chung sức làm. Vì con người ngày hôm nay họ đang muốn trở về với trí tuệ, với sự đồng tâm nhất trí – họ muốn trở về với ”Đà lạt một thời mơ mộng”. Đùng một cái họ hiểu ra rằng: thế giới, khi về già, lại thấy chất thơ của mình. Trái tim thế giới đang già đi, nó như một trái chín, nó dịu ngọt hơn và thơ hơn…
Có biết thành công hay không mà chúng tôi không thử làm? Với một niềm tin mọi người không chỉ bằng lòng đứng nhìn chúng tôi mà ủng hộ nghệ nhân nghệ sỹ XQ chúng tôi. Đặc biệt những cơ quan ban ngành – những bậc tiền bối – những chuyên gia – các vị nhân sĩ - …đem lại cho chúng tôi một sự hỗ trợ hết sức quý báu.
DANH SÁCH NHỮNG NHÂN SĨ THAM GIA CUỘC HỘI THẢO:
1. Giáo sư ĐẶNG VŨ KHIÊU – Anh Hùng Lao Động – Nhà Văn Hóa Việt Nam
2. Sư MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH – Trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng – Huế
3. Sư Tuệ Tâm - trụ trì Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa, Huế
4. Nhà Sử Học DƯƠNG TRUNG QUỐC - Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam
5. Thượng tọa THÍCH VIÊN THANH – Phó ban trị sự giáo hội Phật Giáo tỉnh Lâm Đồng, Trụ trì Thiền Viện Vạn Hạnh
6. Ông TRƯƠNG TRỔ – Nguyên GĐ Sở Khoa Học Công Nghệ Môi Trường tỉnh Lâm Đồng
7. Ông LƯƠNG XUÂN ĐỨC – Nguyên Vụ Trưởng Vụ Văn Hóa Văn Nghệ Báo Nhân Dân
8. Ông NGUYỄN KHẮC THUẦN – Nhà Sử Học Việt Nam
9. Ông NGUYỄN ĐẮC XUÂN –Nhà Nghiên cứu văn hóa Thừa Thiên Huế.
10. Ông PHAN THUẬN AN – Nhà nghiên cứu văn hóa Thừa Thiên Huế
11. Ông BỬU Ý – Nhà văn, dịch giả
12. Ông TRẦN ĐÌNH SƠN – Nhà nghiên cứu cổ vật
13. Ông NGUYỄN HIẾU TÍN – Thạc sỹ văn hóa học TP.HCM
14. Bà VŨ KIỀU TRINH – Trưởng phòng - Ban thời sự đài truyền hình Việt Nam
15. Ông TRỊNH QUỐC THÁI – BTV TFS- đài truyền hình TPHCM
16. Họa sỹ Đinh Cường
17. Thạc sỹ Trần Nguyên Huân

CHÂN DUNG NGHỆ SỸ THÀNH PHỐ TÔI
"Sáng tạo là khổ hạnh
Trong đêm tối miên trường
Có đốm lửa vô biên
Cháy trên đầu ngọn bút"
1. Nhà thơ: Trung An
2. Nhà thơ: Đại Phú Tiềm
3. Nhà văn: Nguyễn Chí Long
4. Nhà văn - nhà thơ: Trần Ngọc Trác
5. Nhạc sỹ: Đặng Minh Huệ
6. Nhà thơ: Trường Sinh
7. Nhà báo - nhà văn: Lâm Viên
8. Nhà thơ - nhạc sỹ: Kra Jẵn Plin
9. Nhà báo: Hà Hữu Nết
10. Điêu khắc gia: Đinh Thanh
11. Nhà báo: Đoàn Kiên
12. TĐD - TTXVN Phạm Ly Kha
13. QP. TTXVN Đặng Văn Tuấn
14. Nhà báo - nhà thơ: Võ Đình Trang
15. Nhạc sỹ: Kra Jẵn Đick
16. Nhà thơ: Tạ Thị Vũ Dậu

CHÂN DUNG NGHỆ SỸ THÀNH PHỐ TÔI
"Dấu chân nghệ sỹ còn đây
Tình xanh nhân thế tháng ngày hạo nhiên"
1. Nhà thơ - nhà văn: Nguyễn Thanh Đạm
2. Nhà thơ: Phạm Quốc Ca
3. Nhà văn - nhà thơ: Hoàng Ngọc Châu
4. Nhà thơ: Văn Thảo Nguyên
5. NHà văn: Nguyễn Trọng Hoàng
6. Nhà thơ: Nguyễn Thị Thanh Toàn
7. Nhà báo - BTV Minh Lân
8. Nhà thơ: Đặng Thị Thanh Liễu
9. Anh Lê Văn Thịnh
10. Nhạc sỹ: Nguyễn Đình Nghĩ
11. Nhà văn: Lê Công
12. Nhà văn: Nguyễn Thị Quỳnh Uyển
13. Nhà văn: Thái Bi
14. Họa sỹ: Phan Văn Gái
15. Nhà thơ: Cát Miên
16. Họa sỹ - nhà thơ: Vi Quốc Hiệp
Ngày hội sách, câu lạc bộ con người thợ thêu
Phiên tòa khiếu kiện miễn phí và tinh thần pháp luật của con người thợ thêu.
- Tác phẩm: Đám Đông Nổi Giận
NHỮNG ĐIỂM MỐC TRONG LỊCH SỬ LUẬT PHÁP
Năm 2350 Trước Công Nguyên
BỘ LUẬT URUKARGINA
Chưa hề được tìm ra, nhưng những tư liệu khác có nói đến nó như một bộ sưu tập những “chỉ dụ” hay những sắc luật do các Vua miền Mesopotamia (Lưỡng Hà) ban bố.
Năm 2050 Trước Công Nguyên
BỘ LUẬT URNAMMU
Bộ luật thành văn đầu tiên được biết đến dựa trên một hệ thống trong đó nhân chứng khi khai báo phải tuyên thệ trước những quan toà chuyên nghiệp. Quan toà có thể ra lệnh cho kẻ phạm tội phải đền bù cho nạn nhân.
Năm 1700 trước Công nguyên
BỘ LUẬT HAMMOURABI
Dưới triều đại của vị Vua Babylone này, một bộ luật đã được soạn thảo và khắc vào tấm bia làm bằng một tảng đá diorit lớn. Thành ngữ “Tội nào hình phạt ấy” đã trở thành tượng trưng cho nguyên tắc cơ bản của bộ luật này.
Năm 1300 Trước Công Nguyên
10 ĐIỀU RĂN
Nhà tiên tri Moise đã trực tiếp nhận của Chúa Trời một bản kê 10 điều luật, tức 10 điều răn, sau này được đưa vào Kinh Thánh.
Từ năm 1280 đến năm 880 Trước Công Nguyên
NHỮNG ĐẠO LUẬT CỦA MANU
Bản tập hợp những đạo luật được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những đạo luật này là cơ sở của chế độ đẳng cấp tại Ấn Độ, một chế độ sắp xếp con người theo địa vị xã hội. Trừng phạt chỉ là biện pháp cùng lắm mới dùng đến. Người thuộc đẳng cấp cao thường bị nghiêm trị nặng hơn những người ở đẳng cấp dưới.
Năm 621 trước Công nguyên
NHỮNG ĐẠO LUẬT CỦA DRACON
Luật gia Hy Lạp Dracon được giao nhiệm vụ soạn thảo một bộ luật cho thành Athènes. Bộ luật này nghiêm ngặt đến nỗi tính từ ”Draconie” ngày nay có nghĩa là “cực kì khắc nghiệt”.
Năm 450 trước Công nguyên
“12 CHIẾC BẢNG”
Những đạo luật này được soạn thảo để cai trị người La Mã, là cơ sở cho đại bộ phận pháp lý hiện đại. Những luật này quy định xử án công khai các tội phạm và thiết lập một chế độ cho phép bên bị hại đòi kẻ xâm hại phải bồi thường. Nguyên tắc căn bản: Luật phải viết thành văn. Việc xử án không được đơn thuần tùy thuộc vào sự giải thích của quan tòa.
Năm 350 trước Công nguyên
BỘ LUẬT TRUNG HOA CỦA LI KUI
Bộ luật đầu tiên của Hoàng Đế Trung Hoa đề cập đến trộm cắp, cướp bóc, nhà tù, bắt bớ và những quy tắc chung làm mẫu cho bộ luật đời Đường.
Năm 529
BỘ LUẬT JUSTINIEN
Hoàng đế Byzantin (Đông Hy Lạp) Justinien đã đi vào lịch sử với việc xây dựng bộ luật La Mã Corpus Juris Civilis. Nhiều châm ngôn pháp lý hiện hành cũng bắt nguồn từ bộ luật ấy.
Năm 604
HIẾN PHÁP 17 ĐIỀU CỦA NHẬT BẢN
Do một ông hoàng nhiếp chính soạn thảo, hiến pháp này đã tạo thành khuôn mẫu ý niệm về đạo đức và pháp lý tại Nhật Bản. Một điều khoản nói rằng: ”Hòa bình và hài hòa phải được tôn trọng vì nó quan trọng đối với mối quan hệ giữa các nhóm người”. Điều này chỉ rõ cái động lực sâu xa của “luật Phương Đông”, nó tìm cách ngăn chặn những cuộc xung đột, còn “luật Phương Tây” thì tìm cách giải quyết chúng.
Năm 653
BỘ LUẬT ĐỜI NHÀ ĐƯỜNG
Liệt kê những tội ác và những hình phạt trong 501 điều duyệt xét lại những bộ luật Trung Hoa thời trước và thống nhất trình tự tố tụng.
Năm 1100
TRƯỜNG LUẬT ĐẦU TIÊN
Do Imérius, luật gia người Italia, mở tại Bologne. Năm 1150, trường này đã có trên 10.000 sinh viên. Nó đã góp phần làm sống lại bộ luật Corpus Juris và phổ biến Luật Ma Mã ra toàn Châu Âu.
Năm 1215
MAGNA CARTA
Khi ký vào bản “Đại Hiến Chương” này, Vua John của nước Anh đã nhường một số quyền tư pháp cho các Nam Tước và nhân dân. Lần đầu tiên một vị Vua chấp nhận mình có thể buộc phải tôn trọng đạo luật, và các vị Nam Tước có thể phản bác ý kiến nhà Vua. Người ta có thể thấy ở đây “Phác họa của thông luật nước Anh”.
Năm 1776
BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA NƯỚC MỸ
Lần đầu tiên một quốc gia bác bỏ các lý thuyết Trung Cổ cho rằng một số người, về mặt pháp lý, có quyền chỉ huy những người khác.
Năm 1804
BỘ LUẬT NAPOLEON
Bộ luật toàn diện được ban bố tại Pháp, công nhận nhiều thành quả của cuộc Cách Mạng Pháp, cũng như quyền tự do cá nhân, quyền bình đẳng trước Pháp Luật, tính không tôn giáo của nhà nước. Bộ luật này đã gợi ý cho việc xây dựng các bộ luật của Québec (1865), của Đức (1900) và của Thuỵ Sỹ (1907).
Năm 1864
CÔNG ƯỚC GENÈVE
Đã được soạn thảo ra để bảo đảm một sự tôn trọng tối thiểu quyền con người trong thời chiến, cũng như việc bảo vệ các nhân viên quân y và cách đối xử nhân đạo với thương binh.
Năm 1945 -1946
PHIÊN TOÀ XÉT XỬ TỘI ÁC CHIẾN TRANH TẠI NUREMBERG
Một phiên toà đã xét xử những thủ lĩnh quốc xã về tội ác chống lại hoà bình, chống nhân loại, tội ác chiến tranh, chỉ rõ rằng ngay trong thời chiến, những tiêu chuẩn đạo lý cơ bản vẫn có hiệu lực.
Năm 1948
LIÊN HỢP QUỐC THÔNG QUA BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ
VỀ NHÂN QUYỀN
Quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.
Nguồn: The World Wide Legal Information Association
__________________
CÔNG ƯỚC VỀ QUYỀN TRẺ EM
Công ước về quyền trẻ em đôi khi được coi là hiến pháp cơ bản của trẻ em. Công ước gồm 54 điều mô tả chi tiết các quyền cá nhân của bất kỳ ai dưới 18 tuổi được phát triển tốt nhất các năng lực của mình, không bị đói khát, thiếu thốn, không bị sao nhãng, không bị bóc lột và gánh chịu những bất công khác.
Kết quả của 10 năm nghiên cứu và thương lượng, bản Công ước đã được Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20–11-1989 và bắt đầu có hiệu lực ngày 2-9-1990 sau khi được 20 nước phê chuẩn. Cho đến nay đã có 139 nước phê chuẩn, ký hoặc tham gia Công ước¬¬¬*. Một khi được một nhà nước phê chuẩn, Công ước sẽ có hiệu lực bắt buộc tại nước đó. Một uỷ ban gồm 10 chuyên gia chịu trách nhiệm theo dõi việc áp dụng tại các nước tham gia Công ước.
Công ước đi xa hơn những văn bản đã có trước đó bằng cách tìm kiếm một sự cân bằng giữa các quyền của trẻ em và các nhiệm vụ của cha mẹ hay những người chịu trách nhiệm về sự tồn tại, phát triển và bảo vệ trẻ, và bằng cách cho trẻ có quyền tham gia những quyết định liên quan đến cả hiện tại và tương lai.
Trong số những vấn đề bức bách được đề cập, trong đó một số xuất hiện lần đầu trong một Công ước quốc tế, có những nghĩa vụ đối với trẻ em sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhất là những vấn đề của trẻ em tị nạn (điều 22), việc bảo vệ chống lại bóc lột tình dục và những hình thức bóc lột khác (điều 34 và 36), vấn đề ma tuý (điều 33) những trẻ em có mắc mớ với luật pháp (điều 40), việc nhận con nuôi ở nước ngoài (điều 35), trẻ em trong xung đột vũ trang (điều 38 và 39) những vấn đề của trẻ em tàn tật (điều 23) và trẻ em các dân tộc bản xứ và thiểu số (điều 30).
Giáo dục là chủ đề của hai điều khoản quan trọng (27 và 28), được tăng cường bởi Hội nghị thế giới về giáo dục cho mọi người, họp tại Jomtien (Thái Lan) từ ngày 5 đến 9-3-1990. Giáo dục tiểu học phải trở thành bắt buộc và không mất tiền đối với mọi người, và phải hướng vào việc phát triển nhân cách, tài năng và năng khiếu tự nhiên của trẻ, đồng thời tôn trọng bản sắc, ngôn ngữ và các giá trị văn hóa của trẻ. Nhu cầu đem lại những cơ hội học tập như nhau cho trẻ em gái và trẻ em trai đã được nhấn mạnh.
Sức mạnh của Công ước mới này là sự linh hoạt của nó. Nó có khả năng thích nghi với những cách đề cập của mọi nước trong việc theo đuổi mục tiêu chung. Nó đã không lẩn tránh những vấn đề gai góc, nhưng đã tìm ra cách thích ứng với những giá trị văn hóa, tôn giáo khác nhau cũng như những giá trị khác đáp ứng theo cách riêng những nhu cầu phổ biến của trẻ em.
Dưới đây là toát yếu những điều khoản chính của Công ước.
* Tính đến ngày 25-7-1991
NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHÍNH CỦA CÔNG ƯỚC
Lời mở đầu
Lời mở đầu nhắc lại những nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp Quốc và những quy định cụ thể của một số hiệp ước và tuyên bố liên quan. Nó khẳng định lại thực tế là trẻ em cần đến một sự che chở và quan tâm đặc biệt do tính dễ bị tổn thương của trẻ, và đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm cơ bản của gia đình trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ.
Lời mở đầu cũng khẳng định lại việc cần có một sự bảo vệ về mặt pháp lý và các mặt khác đối với trẻ trước và sau khi ra đời, đến tầm quan trọng của việc tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng của trẻ và vai trò thiết yếu của hợp tác quốc tế trong việc bảo đảm các quyền trẻ em.
Định nghĩa trẻ em (Điều 1)
Trẻ em được định nghĩa là một người dưới 18 tuổi, trừ phi luật pháp quốc gia thừa nhận tuổi trưởng thành sớm hơn.
Không phân biệt đối xử (Điều 2)
Mọi quyền đều áp dụng cho mọi trẻ em, không trừ một ngoại lệ nào. Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ trẻ em chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử và có những biện pháp tích cực để đẩy mạnh các quyền trẻ em.
Lợi ích tốt nhất của trẻ em (Điều 3)
Mọi hành động liên quan đến một trẻ em cần tính đến đầy đủ lợi ích tốt đẹp nhất của đứa trẻ này. Nhà nước sẽ đem lại cho trẻ sự bảo vệ và chăm sóc cần thiết trong trường hợp bố mẹ hoặc những người hữu trách khác không có khả năng làm việc ấy đối với trẻ.
Thực hiện các quyền (Điều 4)
Nhà nước phải làm hết sức mình để thực hiện các quyền ghi trong Công ước.
Định hướng và phát triển các năng lực của trẻ (Điều 5)
Nhà nước phải tôn trọng các quyền và trách nhiệm của bố mẹ, cũng như của các thành viên trong gia đình mở rộng, nhằm hướng dẫn đứa trẻ một cách phù hợp với sự phát triển các năng lực của nó.
Tồn tại và phát triển (Điều 6)
Mọi trẻ em có quyền bẩm sinh được sống, và Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm sự tồn tại và phát triển của trẻ.
Tên và quốc tịch (Điều 7)
Trẻ em có quyền đựơc đặt tên khi ra đời. Trẻ cũng có quyền mang một quốc tịch, và trong chừng mực có thể, đựơc biết bố mẹ mình và được những người ấy nuôi dạy.
Bảo vệ dân tính (Điều 8)
Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ và nếu cần thiết, phục hồi những nét cơ bản trong danh tính của trẻ (kể cả tên, quốc tịch và quan hệ gia đình).
Cách ly với bố mẹ (Điều 9)
Trẻ có quyền sống với bố mẹ trừ phi được đánh giá là không thích hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ. Trẻ cũng có quyền duy trì tiếp xúc với cả hai bậc cha mẹ nếu phải sống xa một người hay cả hai người.
Đoàn tụ với gia đình (Điều 10)
Trẻ và bố mẹ có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào cũng như trở về xứ sở quê hương của mình nhằm đoàn tụ với gia đình hoặc duy trì quan hệ với các thành viên khác trong gia đình.
Bắt cóc và giữ lại bất hợp pháp (Điều 11)
Nhà nước có nghĩa vụ chống lại việc bắt cóc và giữ lại trẻ em ở nước ngoài do một người cha mẹ hay một bên thứ 3 tiến hành.
Ý kiến của trẻ (Điều 12)
Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ý kiến của mình và ý kiến của trẻ được tính đến trong mọi vấn đề hoặc thủ tục liên quan đến trẻ.
Tự do ngôn luận (Điều 13)
Trẻ em có quyền bày tỏ các quan điểm của mình, thu nhận thông tin và làm cho người khác biết đến các ý kiến và thông tin, bất kể các đường bên giới.
Tự do tư tưởng, ý thức và tôn giáo (Điều 14)
Nhà nước tôn trọng quyền của trẻ em được tự do tư tưởng, ý thức và tôn giáo, đồng thời tôn trọng vai trò hướng dẫn của bố mẹ.
Tự do lập hội (Điều 15)
Trẻ em có quyền hội họp với những trẻ khác, gia nhập hoặc lập hội.
Bảo vệ đời tư (Điều 16)
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại mọi sự can thiệp vào đời tư của mình, vào gia đình, nơi ở và thư tín của mình, chống lại những điều nói xấu và vu cáo.
Được tiếp xúc với thông tin thích hợp (Điều 17)
Nhà nước bảo đảm trẻ em được tiếp xúc với những thông tin và tài liệu xuất xứ từ các nguồn khác nhau, và khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng truyền bá những thông tin có ích lợi xã hội và văn hóa đối với trẻ em. Nhà nước có những biện pháp bảo vệ trẻ em chống lại những tài liệu có hại cho trẻ.
Trách nhiệm của bố mẹ (Điều 18)
Bố mẹ cũng có trách nhiệm hàng đầu trong việc nuôi dạy con cái và Nhà nước phải giúp họ thực hiện trách nhiệm ấy. Nhà nước sẽ đem lại sự giúp đỡ thích đáng cho bố mẹ trong việc nuôi dạy con.
Bảo vệ chống lại sự ngược đãi (Điều 19)
Nhà nước phải bảo vệ trẻ em chống lại mọi hình thức ngược đãi từ phía bố mẹ hay những người khác chịu trách nhiệm trông nom trẻ và lập ra những chương trình xã hội thích hợp để ngăn ngừa những hành động ngược đãi, và chữa chạy cho nạn nhân.
Bảo vệ trẻ em không gia đình (điều 20)
Nhà nước có nghĩa vụ đem lại sự bảo vệ đặc biệt cho trẻ em bị tước đoạt mất môi trường gia đình và bảo đảm sao cho trẻ em được hưởng một sự chăm sóc thay thế cho sự chăm sóc của gia đình, hoặc được gửi vào một học hiệu thích hợp. Mọi cố gắng liên quan đến nghĩa vụ này cần quan tâm thích đáng đến nguồn gốc văn hoá của trẻ.
Nhận con nuôi (điều 21)
Tại những nước được phép nhận con nuôi, việc này chỉ được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ và khi hội tụ đủ mọi sự cho phép của nhà đương cục thẩm quyền cũng như mọi bảo đảm cần thiết.
Trẻ em tị nạn (điều 22)
Một sự bảo vệ đặc biệt được dành cho trẻ em tị nạn hoặc cho đứa trẻ tìm kiếm quy chế tị nạn. Nhà nước có nghĩa vụ cộng tác với các tổ chức thẩm quyền có nhiệm vụ bảo đảm sự bảo vệ ấy.
Trẻ em tàn tật (điều 23)
Trẻ em tàn tật có quyền được hưởng sự chăm sóc đặc biệt cũng như một nền giáo dục và đào tạo thích hợp để trẻ có thể có một cuộc sống trọn vẹn, đúng mực và đàng hoàng, và đạt được một mức độ độc lập và hòa nhập xã hội càng cao càng tốt.
Y tế và dịch vụ y tế (điều 24)
Trẻ em có quyền được hưởng một tình trạng sức khỏe cao nhất có thể có và được chăm sóc về y tế. Nhà nước đặc biệt chú trọng đến việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và phòng bệnh, đến giáo dục về y tế và hạ thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Nhà nước khuyến khích sự hợp tác quốc tế về mặt này và cố gắng bảo đảm sao không một trẻ nào bị tước đoạt quyền được hưởng những dịch vụ y tế hiệu quả.
Thường kỳ xem xét nơi gửi gắm trẻ (điều 25)
Trẻ em được Nhà nước gửi gắm cho một nơi nào đó vì lý do chăm sóc, bảo vệ hay chữa chạy, có quyền được hưởng việc thường kỳ xem xét lại việc gửi gắm này.
An toàn xã hội (điều 26)
Trẻ em có quyền được hưởng an toàn xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội.
Mức sống (điều 27)
Mọi trẻ em có quyền có một mức sống thích hợp cho sự phát triển thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức và xã hội của mình. Cha mẹ có trách nhiệm hàng đầu bảo đảm cho trẻ được hưởng mức sống ấy. Nhà nước có nhiệm vụ làm cho trách nhiệm này được bảo đảm. Trách nhiệm của Nhà nước có thể bao gồm viện trợ vật chất cho bố mẹ và con cái họ.
Giáo dục (điều 28)
Trẻ em có quyền được hưởng một nền học vấn và Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm việc giáo dục tiểu học bắt buộc và không mất tiền, khuyến khích tổ chức những hình thức khác nhau của giáo dục trung học có đến được với mọi trẻ em và làm cho giáo dục cao đẳng đến được với mọi trẻ em trên cơ sở học lực. Kỷ luật nhà trường phải tôn trọng các quyền và nhân phẩm của trẻ. Nhà nước sẽ nhờ đến sự hợp tác quốc tế để bảo đảm việc tôn trọng quyền này.
Mục tiêu giáo dục (điều 29)
Giáo dục phải nhằm phát triển nhân cách của trẻ em, phát triển tài năng, năng khiếu tinh thần và thể chất của trẻ đến mức cao nhất. Giáo dục phải chuẩn bị cho trẻ một cuộc sống tích cực ở tuổi người lớn trong một xã hội tự do và khuyến khích ở trẻ một lòng kính trọng đối với bố mẹ, bản sắc, ngôn ngữ và các giá trị của mình cũng như nguồn gốc văn hóa và các giá trị của người khác.
Trẻ em các dân tộc thiểu số hay bản địa (điều 30)
Trẻ em thuộc những cộng đồng thiểu số hoặc những dân tộc bản địa có quyền được hưởng đời sống văn hóa riêng của mình, thực hành tôn giáo riêng của mình và sử dụng ngôn ngữ riêng của mình.
Vui chơi, giải trí và các hoạt động văn hóa (Điều 31)
Trẻ em có quyền được vui chơi, giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật.
Lao động trẻ em (Điều 32)
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại mọi thứ lao động đe dọa đến sức khoẻ, giáo dục và sự phát triển của trẻ. Nhà nước ấn định tuổi tối thiểu cho việc thuê trẻ và quy định những điều kiện thuê trẻ lao động.
Sử dụng và buôn bán ma túy (Điều 33)
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại việc tiêu thụ các chất gây ngủ và ma túy, chống lại việc dùng trẻ vào việc sản xuất và phân phát những thứ ma túy ấy.
Bóc lột tình dục (Điều 34)
Nhà nước phải bảo vệ trẻ em chống lại sự hung bạo và bóc lột tình dục, kể cả mãi dâm và việc đưa trẻ dính líu vào những hoạt động khiêu dâm.
Buôn bán, bắt cóc (Điều 35)
Nhà nước có nghĩa vụ làm hết sức mình để ngăn ngừa việc buôn bán và bắt cóc trẻ em.
Những hình thức bóc lột khác (Điều 36)
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại mọi hình thức bóc lột khác không nói đến trong các điều 32, 33, 34 và 35.
Tra tấn và bị tước đoạt tự do (Điều 37)
Không một trẻ nào bị tra tấn, gánh chịu những sự trừng phạt và đối xử tàn bạo, bắt bớ và giam giữ không hợp pháp. Án tử hình và tù chung thân không cơ hội phóng thích đều bị ngăn cấm áp dụng cho những tội do những người dưới 18 tuổi phạm phải. Mọi trẻ em bị tước đoạt tự do đều bị cách ly khỏi người lớn trừ phi người ta cho rằng không nên làm như vậy vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Trẻ em bị giam giữ có quyền được hưởng một sự giúp đỡ về pháp lý hoặc mọi sự giúp đỡ thích hợp nào khác cũng như duy trì sự tiếp xúc với gia đình.
Xung đột vũ trang (Điều 38)
Các nước tham gia Công ước áp dụng mọi biện pháp có thể trong thực tế sao cho trẻ em dưới 15 tuổi không tham gia trực tiếp vào các cuộc xung đột vũ trang. Không một trẻ nào dưới 15 tuổi bị tuyển vào các lực lượng vũ trang. Các nước cũng bảo đảm việc bảo vệ và chăm sóc những trẻ em bị ảnh hưởng bởi một cuộc xung đột vũ trang như ghi trong công pháp quốc tế thích ứng.
Chăm sóc phục hồi sức khoẻ (Điều 39)
Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm rằng những trẻ em nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang, của sự tra tấn, lơ là, bóc lột hay ngược đãi, được điều trị thích đáng để có thể phục hồi sức khoẻ và hội nhập trở lại xã hội.
Việc xét xử đối với trẻ em (điều 40)
Trẻ em vi phạm luật pháp có quyền được hưởng một cách đối xử sao nâng cao ý thức của trẻ về nhân phẩm và giá trị cá nhân, có tính đến tuổi của trẻ và nhằm hội nhập trẻ trở lại xã hội. Trẻ có quyền được hưởng những đảm bảo cơ bản cũng như một sự trợ giúp về pháp lý hoặc bất kỳ một sự trợ giúp thích đáng nào khác cho việc bảo vệ mình. Nên tránh những thủ tục pháp lý và việc gửi gắm trẻ vào những cơ quan nhất định những khi có thể được.
Tôn trọng những tiêu chuẩn cao hơn (Điều 41)
Khi những quy định liên quan đến quyền trẻ em trong công pháp quốc gia và quốc tế hiện hành ở một nước cao hơn những quy định tương tự trong Công ước này thì tiêu chuẩn được áp dụng bao giờ cũng là tiêu chuẩn cao hơn.
Thực hiện và bắt đầu có hiệu lực (Điều 42 đến 54)
Những quy định trong các điều từ 42 đến 54 dự tính đăc biệt những điểm sau đây:
1. Nghĩa vụ của Nhà nước phổ biến rộng rãi các quyền ghi trong Công ước này cho cả người lớn lẫn trẻ em.
2. Thành lập một Ủy ban về các quyền trẻ em gồm 10 chuyên gia có nhiệm vụ xem xét các báo cáo mà các nước tham gia Công ước sẽ gởi đến 2 năm sau ngày phê chuẩn và sau đó cứ 5 năm một lần. Công ước bắt đầu có hiệu lực khi đã có 20 nước phê chuẩn Công ước, và khi đó Ủy ban được thành lập.
3. Các nước tham gia Công ước sẽ phổ biến rộng rãi báo cáo của mình tại nước mình.
4. Ủy ban có thể đề nghị tiến hành những công trình nghiên cứu đặc biệt liên quan đến các quyền trẻ em, và có thể thông báo những gợi ý và đánh giá của mình cho mỗi nước hữu quan và cho Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
5. Nhằm “đẩy mạnh việc thực hiện hữu hiệu Công ước và khuyến khích sự hợp tác quốc tế”, các cơ quan chuyên môn của LHQ (như ILO, WHO và UNESCO) và UNICEF có thể tham dự các cuộc họp của Ủy ban. Cùng với bất kỳ tổ chức nào được coi là “có thẩm quyền” kể cả các tổ chức phi chính phủ với quy chế tư vấn bên cạnh LHQ và các tổ chức của LHQ như UNHCR (Văn phòng Cao ủy LHQ về người tị nạn), các cơ quan này có thể gởi đến những thông tin thích hợp cho Ủy ban và được mời bày tỏ ý kiến về cách thực hiện tốt nhất Công ước này.

KHU VƯỜN: VẬT LÝ - THIÊN VĂN
Đó là cuộc du hành của những đứa bé đầy chất thơ vào vũ trụ. CÁC VÌ SAO -> ĐẾN HÀNH TINH -> SỰ RA ĐỜI VŨ TRỤ ->SỰ SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT -> HUYỀN BÍ CỦA SỰ SÁNG THẾ (Tôn Giáo ý nghĩa tột cùng sự tồn tại con người)
Mai đây hành tinh (trái đất) có còn sức khỏe để con người sinh sống nữa không?
Hai triệu dải Ngân Hà hiện có (dải Ngân Hà của chúng ta có 100 tỷ ngôi sao, chưa nói đến dải Ngân Hà khác) liệu có nền văn minh (giống khác ngoài trái đất) đang tồn tại không?
Liệu có xảy ra chiến tranh giữa các vì sao không? -> bắt đầu cho trí tưởng tượng bay nhảy một chỗ tự do và thi ca dành cho những đứa bé con thợ thêu.

Phòng Triển Lãm
CA DAO TỤC NGỮ VÀ TINH THẦN QUỐC GIA - câu lạc bộ con người thợ thêu
Trong một nền kinh tế toàn cầu hóa… Nó đã làm sứt mẻ bản sắc Việt.. Bằng cách loan truyền tính ưu việt văn minh của phương Tây và các nước khác..
Để đổi lại chúng ta hãy trở về các cội nguồn của triết học Việt (qua ca dao tục ngữ). Chứng minh rằng tư tưởng của nhân dân Việt Nam mình không thua kém bất kỳ dân tộc nào trong lĩnh vực logich và duy lý. Trong triển lãm này chúng ta đề cao tư tưởng của các bậc hiền nhân xưa (thông qua ca dao tục ngữ) mong đem lại niềm tự hào dân tộc chúng ta.
Chính qua ca dao tục ngữ (triết học Việt) là một cái gì sống động, kêu gọi hãy gạt bỏ những phong tục cổ lỗ và rũ bỏ đầu óc mê muội, mê tín.
Truyền thống phong phú và lâu đời của dân tộc chúng ta đã bị chặn giữ lại… và nay đòi hỏi phải được đổi mới và phát triển hơn nữa. Hay nói một cách khác, không được để chân lý bị bóp nghẹt dưới đống tro tàn của quá khứ. Và truyền thống của dân tộc chúng ta phải ra sức tiếp thu tư tưởng triết học và khoa học của phương Tây.. văn hóa Việt của chúng ta trở thành một bộ phận của nền văn minh thế giới. Xây dựng trên một niềm tin CHỦ NGHĨA DÂN TỘC. Việt Nam là một viên gạch như các viên gạch khác xây dựng nên tòa nhà của chủ nghĩa quốc tế.
Tất cả chúng ta, những đứa con nghề thêu của mẹ. Hãy ra sức chiến đấu vì nhân phẩm và chất lượng cuộc sống…thông qua các hoạt động nghệ thuật của mình truyền bá về sự ra đời của một nền văn minh mới, xây dựng trên sự đoàn kết của nhân loại, sự hòa hợp tinh thần dựa vào một ý thức không phải xây dựng trên các giáo điều mà trên sự phát triển của cá nhân và lòng yêu thương đồng loại. Không bao giờ chấp nhận ý kiến cho rằng một người thợ thêu lại không thể làm một người Việt Nam yêu nước.
Trong ca dao tục ngữ... có một định nghĩa về lòng yêu nước: dù không vị trí quyền hạn nhưng luôn gắn bó công việc hàng ngày với lợi ích cộng đồng
Thêu trên, thêu dưới quê nhà
Em thêu, em chớ quên tình quê hương
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Ru hời, ru hỡi là ru
Cha con còn ở chiến khu chưa về
Con ơi! Nhớ trọn lời thề
Tự do, độc lập, không nề hy sinh
Ai ơi giữ phép nước nhà
Ai ơi thương lấy dân nhà một tông
Có hậu dưỡng mới phú phong
Kẻ cày người cấy sống trong thái bình.
• Toàn bộ nguyên lý của triết học ca dao tục ngữ là nỗ lực của trí tuệ của nhân dân làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản:
Dân tộc ta từ đâu đến? Hiện thời là ai? Ta sẽ đi về đâu? Trật tự hiện thời có ý nghĩa gì? Ta biết gì về nguồn gốc của nó?.
• Tri thức trong ca dao tục ngữ đều xuất phát từ các giác quan của nhân dân, đó là người phán xử tối cao của lý trí, là sự kết hợp các dữ kiện mà giác quan thu được bằng cách kết hợp các năng lực gần gũi trí nhớ và trí tưởng tượng.
Giới thiệu tác phẩm: thời COVID-19 con người thợ thêu
1 - Việt Nam chủ quan Covid đột nhập
2 - Bắt covi Cách li
3 - Thành lập các chốt kiểm soát Quân nhân.
4 - Bác sĩ làm việc cật lực
Giới thiệu tác phẩm: thời COVID -19 con người thợ thêu.
1- Cả nước giao đồ ăn ủng hộ bác sĩ
2 - Chia sẻ giúp người nghèo
3 - Đón công dân về nước
4 - Canh đường biên phòng
Triển lãm:
NHỮNG CHIẾC XE: VĂN HỌC - THỢ THÊU
- 2 tác phẩm tranh thêu: - Cuốn sách của người đã chết
- Cuốn sách dưới cổng mặt trời
Biểu thị một niềm tin, ở những tiềm lực chưa “khai thác” ở lớp người phụ nữ nói chung và ngành nghề thêu nói riêng bị “quên lãng” trong đời sống văn hóa trên mảnh đất quê hương mình.
Nền văn học này nói theo lối uyển ngữ Walter Benjamin: văn học nhân dân là “khả năng cho mọi người kể về đời mình”. Các nhà “văn sỹ - thợ thêu” – “thơ sỹ - thợ thêu”, đó là bài văn thơ phụ nữ nghề thêu viết vào những giờ rảnh rỗi. Tư cách nhà “văn thơ” của họ có giá trị ở chỗ họ là người lao động… không phải để giải phóng khỏi thân phận lao động của mình… Mà khẳng định nguyện vọng của người lao động: là quyền được làm thơ, làm văn học – quyền được đạt tới sự siêu nghiệm, không phải để nâng chị ta lên trên cái “nhớp nháp – bẩn thỉu” của lao động… Mà nhu cầu “quyền được biết sự xuất thần của sáng tạo” trong khi làm ngày tám tiếng. Đây là nguyện vọng nằm sâu trong tiềm thức: ngoài tiền lương – phúc lợi – công bằng vật chất… nó khác hẳn cái lỗi hùng biện theo kiểu truyền đơn… cũng như sự “hồn nhiên giả hiệu” số văn sỹ được gọi là “văn học nhân dân”. Họ chờ đợi quá lâu rồi… cách duy nhất có chỗ trong văn học “thôi … không làm chất liệu cho người khác nữa…”.
Phải thốt lên rằng tình hình hiện tại… tài năng của người đàn ông - đàn bà (nguyên khí quốc gia…) không phải là cái quyền … (như những cuộc tranh luận người tài, gần đây...).
…Than ôi! Đúng là như vậy… Nhưng tạo môi trường cho tài năng đó phát triển và tự khẳng định mình trong hiện tại (chính trị - kinh tế - xã hội) thì lại là một cái quyền…
Tài năng đó bị phung phí – bóp méo đóng khuôn… - xuất khẩu lao động – lưu vong trong và ngoài nước… Vậy muốn cho tài năng được giải phóng đóng góp tại quê hương mình. Hãy tạo nền VĂN HỌC NHÂN DÂN (giáo dục) thể hiện ý thức quần chúng, phải coi đây là liệu pháp chữa trị cho sự tha hóa… chứ không phải dành riêng cho một nhóm “tinh hoa” được chọn lọc và phong hiệu, họ không có cơ sở đồng cảm vì nhóm người này đã chuyển thành lớp trên do học vấn và lối sống “ăn trắng mặc trơn”… Như câu ngạn ngữ Quảng Nam mà tri kỷ hữu Nguyễn Bá Thanh khi trò chuyện với nghệ nhân - nghệ sỹ XQ…-“Ngồi trên lưng bò làm sao biết cát nóng...?” -“Tôi thương người dân quê hương lắm! sẵn sàng giúp đỡ họ, nhưng với điều kiện đừng cho tôi xuống khỏi lưng họ…”.
Nó hoàn toàn tương phản với những lời phát biểu của giọng điệu “thực dân” bóc lột đến tận cùng của sự lầm than: Thu thuế như vặt lông vịt… đừng để cho nó kêu… -tận thu “hàng rong” sẽ được…
Vậy thì đặt vấn đề cho sự phát triển đất nước là tiềm lực tài năng của con người chưa khai thác… Đó là chức năng cách mạng của “VĂN HỌC NHÂN DÂN”. Theo mỹ từ của Benjamin:
"Quà tặng lớn nhất của “văn học” là tạo ra một yêu cầu chỉ sau này mới có thể thỏa mãn được, vì văn học đòi hỏi vận dụng cố gắng. Để phát biểu rành rọt và phân tích những khát vọng mơ hồ, để giải quyết thất vọng và oán hận bằng cách nắm lấy nguyên do từ đâu…? Và tác động lên nguyên do đó trên bình diện “THỨC TỈNH – BẢN THỂ”. Mà sự giáo dục kiểu khẩu hiệu và học thuộc lòng “không thể đạt được”".
Đây là biện minh đích thực cho sự “bảo tồn phát triển một ngành nghề truyền thống dân tộc” … Riêng nghề thêu là “văn học thợ thêu”.
Cuộc bàn thảo của Tri Kỷ Hữu XQ ngày 13/12 văn học nghề thêu với sự tham gia:
1. GIÁO SƯ - AHLĐ ĐẶNG VŨ KHIÊU
2. THI NHÂN MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
3. NHẠC SỸ - THI SỸ BẢO CƯỜNG
4. NHẠC SỸ ĐỖ HỒNG QUÂN
5. NHẠC SỸ DUY THÁI
6. NHẠC SỸ QUỲNH HỢP
7. ÔNG LƯƠNG XUÂN ĐỨC
VĂN HỌC DÂY PHƠI
Phần lớn được vẽ bằng nghệ thuật bút lửa và chạm khắc lên những mảnh gỗ “phế liệu” (khổ 10 cm x 15 cm) minh họa ca dao tục ngữ và những câu chuyện dân gian trong văn hóa Việt Nam. Chúng được treo lên những dây điện, đúng với tên gọi “Văn Học Dây Phơi” như kiểu phơi quần áo… Với những khổ thơ 4 câu - 6 câu cái chủ yếu là văn điệu qua tạo hình của mảnh gỗ.
Chúng được rao bán … Người bán đọc to, để đánh thức trí tò mò của du khách qua đường và người nông dân – công nhân đi làm về…, thu hút họ bằng một câu chuyện. Họ muốn biết “ca dao tục ngữ…” và câu chuyện ý nghĩa như thế nào trong văn hóa Việt Nam bằng cách mua nó với giá 50.000 đ. Với số lượng tạo hình bằng gỗ quý, không phải lúc nào cũng đáp ứng đủ cho người mua để làm quà cho trẻ em… Chớ quên rằng chúng không chỉ để đọc bằng mắt mà còn để tấu lên và ngâm nữa… Chính văn điệu này sẽ làm sống lại “Bản Sắc Việt”.
Nó không những được sự yêu thích của du khách mà có cả những người nông dân một ngày lăn lộn vất vả trên những cánh đồng rau trong các thung lũng và cả những người công nhân ở các nhà máy mà cuộc sống chỉ có nhà ngủ tập thể để nằm và mơ mộng… Những người đàn ông – đàn bà ấy nghèo và tự hào – tươi cười, buồn bã và hy vọng tương lai của đất nước sẽ bù lại những khó khăn của hiện tại.
Họ luôn quý trọng những câu chuyện dân gian – ca dao tục ngữ …Tuy nhiên thời đại truyền thông hiện nay… đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống, vậy nên cũng khó mà biết được tương lai, ca dao tục ngữ - những câu chuyện dân gian Việt Nam rồi sẽ đi về đâu...?


"Chúng ta chớ nên quên điều này: mỗi máy bay chiến đấu trị giá tương đương một triệu học sinh tiểu học"
Mahbub UI Haq nhà kinh tế học Pakixtan (1934 – 1998)
Tác phẩm tranh thêu:
GIÁO DỤC CHO NHỮNG ĐỨA BÉ TƯƠNG LAI
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 60 x 80 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Trần Thị Mai
Tri thức mới sinh ra từ sự già cỗi, phân hủy của tri thức trước đó, có thời từng có giá trị cách tân, nó sinh ra đúng lúc khi người ta khiêm nhường chấp nhận rằng cái tri thức ấy rồi sẽ đến lượt già nua phân hủy. Vậy mà khi giáo dục trẻ em chúng ta xem chừng quên mất điều đó …
Tác phẩm tranh thêu: GIÁO DỤC TRI THỨC
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 60 x 100 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Trịnh Thị Thu Trang
Việc sử dụng chính của xã hội về chữ viết là đọc báo vậy thì ta hãy dạy học sinh cách đọc báo.
Tác phẩm tranh thêu: ĐỌC BÁO
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 60 x 80 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Phan Mỹ Ly
Giáo dục là thứ vũ khí mạnh nhất người ta có thể sử dụng để thay đổi thế giới
Tác phẩm tranh thêu:
PHÉP MÀU CỦA GIÁO DỤC
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Mai Thúy Huệ
"Chỉ khi nào mục đích của giáo dục được xác định rõ ràng thì chúng ta mới có thể quyết định loại giáo dục nào là thích hợp đối với sự phát triển của mình"
Tác phẩm tranh thêu:
NGƯỜI CHÈO THUYỀN TRÊN BIỂN THÔNG TIN
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Phan Thị Kim Thoa
Những người mù chữ của thế kỷ 21 không phải là những người không biết đọc hay biết viết, mà là những kẻ không biết gạt bỏ những kiến thức cũ và học lại.
Tác phẩm tranh thêu: MÙ CHỮ
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Lê Thị Nữ
"Giáo dục không phải là một phương tiện để thoát khỏi tình cảnh nghèo khổ của một nước. Đó là phương tiện chiến đấu."
Julius Nyerere – cựu giáo viên,
Cựu Tổng Thống Tandania (1922- 1999)
Tác phẩm tranh thêu:
CUỘC CHIẾN CỦA THẾ KỶ 21
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Trần Thị Mai
Đọc sách là một thú vui trong đời mà ta có thể cho trẻ em làm quen ngay từ khi còn nằm trong nôi.
Tác phẩm tranh thêu: THÚ VUI
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Huỳnh Thị Thu Tâm
Nếu đặt việc truyền bá các thông điệp lên việc đào tạo trí óc con người có nghĩa là đặt cái cày đi trước con bò
Tác phẩm tranh thêu:KHAI HÓA
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Nguyễn Thị Thủy
...Trước mắt chúng ta là một mảnh đất bị tước đoạt rất nhiều công lý, và vì thế không có hòa bình và an ninh. Tình trạng bất an là một đặc điểm kéo dài và vẫn là đặc điểm không thay đổi... Cho tới khi chủ nghĩa Apacthai, nguồn gốc của mọi tình hình này cuối cùng bị xóa bỏ... Không có hòa bình vì không có công lý, không thể có hòa bình vì không có công lý cho tất cả mọi người dân trên đất nước tươi đẹp này.
Chúng ta hãy phấn đấu để trở thành những người kiến tạo hòa bình, nếu chúng ta muốn hòa bình thì chúng ta hãy phấn đấu cho công lý, chúng ta hãy rèn gươm dao, vũ khí của chúng ta thành lưỡi cày...
(Giáo mục Desmond Mpilo Tutu
Giải Nobel hòa bình 1984
Một đoạn trong bài phát biểu khi nhận giải ngày 11- 12 – 1984)
Tác phẩm tranh thêu:
HÒA BÌNH VÀ CÔNG LÝ
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Lưu Thị Hài
Sẽ nguy hiểm nếu cho rằng một nền văn hóa bằng hình ảnh có thể làm ta không cần đến những điều bắt buộc của tư duy suy lý logic và trừu tượng
Tác phẩm tranh thêu: TƯ DUY LOGIC
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Mai Thị Thảo
Gia đình – thư viện, hiệu sách và các phương tiện thông tin đại chúng phải chung phần trách nhiệm trong việc tạo ra những người ham đọc sách suốt đời
(Khuyết danh)
Tác phẩm tranh thêu:
NHÀ BÁC HỌC TƯƠNG LAI
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Phan Thị Thủy
Nghệ thuật tuyệt đỉnh của giáo dục là khơi dậy niềm hạnh phúc được học tập và sáng tạo.
Albert Einstein
Nhà vật lý và toán học Mỹ
gốc Đức (1879 – 1955)
Tác phẩm tranh thêu:
BA NHÀ THƠ
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Trần Thị Thu Tâm
Bản năng tự nhiên của con người muốn có tình hữu ái khắp năm châu bốn biển. Còn những tư tưởng phân biệt chủng tộc trong đầu óc một số người, nó là QUÁI THAI của bản năng này.
Tình cảm dân tộc là điều rất tự nhiên ở con người, còn dân tộc chủ nghĩa Sô Vanh là một QUÁI THAI của tình cảm này.
Khía cạnh tinh thần là một đặc điểm bản chất con người và là động lực của tín ngưỡng, những sự cuồng tín là một QUÁI THAI của động lực này.
Công việc con người đi tìm kiếm những hệ tư tưởng có thể giải thích đầy đủ vũ trụ là điều tất yếu. Còn sự đối đầu tư tưởng là một QUÁI THAI của nguyện vọng tự nhiên kia.
(ARMAD SIDGI AD - DAJANI
Giáo sư sử học tại trung tâm khoa học về lịch sử các nước A Rập ở Cai Rô)
Tác phẩm tranh thêu:
TÌNH HỮU ÁI
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 40 x 60 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Nguyễn Thị Hồng
Nếu chúng ta không biết dạy cho trẻ em biết cách đọc thì chúng ta không thể dạy chúng biết cách nhìn
Tác phẩm tranh thêu:
CON ĐƯỜNG TRI THỨC
Chất liệu: chỉ tơ tằm, vải silk
Kích cỡ: 30 x 40 cm
Tác giả:
- Họa sỹ: Võ Hoàng Phương Uyên
- Nghệ nhân: Nguyễn Thị Hồng
Vũ khí cơ bản của kẻ yếu nằm trong việc khai thác lương tâm tội lỗi của kẻ mạnh.
Nietzsche
Tác phẩm: GÕ CỬA LƯƠNG TÂM MỌI NGƯỜI
Chất liệu: vải silk, chỉ cotton
Kích cỡ: 35 x 40 cm
Đừng lẫn lộn sức mạnh với quyền lực. Từ quyền lực chỉ bộ máy nhà nước. SỨC MẠNH biểu hiện thực tế của một uy quyền muốn vươn tới thống trị.
(Khuyết danh)
Tác phẩm: QUYỀN LỰC VÀ SỨC MẠNH
Chất liệu: vải silk, chỉ cotton
Kích cỡ: 25 x 30 cm
Quy tắc luật pháp bao giờ cũng xuất phát từ một lực lượng xã hội thống trị - Theo thực chứng - do cơ quan thẩm quyền định ra, theo thể thức chính quy, tuy vậy nó không nhất thiết là công bằng, dù rằng luật pháp dựa trên định đề là đồng nhất với công lý sự tương đương ấy là đáng nghi vấn.
(Khuyết danh)
Tác phẩm: THỰC CHỨNG XÃ HỘI
Chất liệu: vải silk, chỉ cotton
Kích cỡ: 35 x 50 cm