Tên Việt Nam: Căm Xe
Tên Latin: Xylia xylocarpa
Họ: Đậu Fabaceae
Bộ: Đậu Fabales
Nhóm: Cây gỗ lớn
Mô tả:
Cây rụng lá, thân tròn, ít khi thẳng, cao tới 30 – 40m, gốc có bạnh nhỏ. Vỏ màu xám vàng đến xám đỏ nhạt, gồ ghề, bong mảng không đều, thịt vỏ màu đỏ. Cành nhỏ có chấm nhỏ màu nâu nhạt. Tán dày, lá khép lông chim 2 lần, cuống cấp 1 dài 2,5 – 5 cm, mang một đôi cuống cấp 2, có một tuyến ở gốc, mỗi cuống cấp 2 mang 2 – 6 đôi lá nhỏ ở gốc có một tuyến. Phiến lá thuôn hình trái xoan hoặc hình trứng, những lá ở phía dưới nhỏ và to dần về phía trên, gân bên 12 đôi gần song song.
Hoa nhỏ màu vàng nhạt, hợp thành đầu hình cầu đường kính 12 – 20mm, cánh hoa dính đến 2/3 chiều dài, nhị 10, bao phấn khi non có tuyến. Bầu phủ lông ngắn; quả đậu, hóa gỗ, dẹt, hình dao mã tấu, dài 10 – 15cm, rộng 5cm, chứa 6 – 10 hạt, dẹt, hình trái xoan.
Phân bố:
Thế giới: Lào, Campuchia …
Việt Nam: cây mọc chủ yếu ở Trung và Nam Bộ, trong các rừng kín thường xanh hoặc nửa rụng lá.
Sinh thái:
Cây thuộc loại cây ưa sáng, ưa đất cát pha, tầng đất sâu dày, sinh trưởng chậm, hệ rễ trụ phát triển.
Mùa hoa tháng 3 – 6. Mùa quả tháng 11 – 12.

Cây Cam-xe tại vườn phong lan - Tri Kỷ Hữu -
Công dụng:
Gỗ cam xe có giác và lõi:
Nó để gia công làm đồ mỹ nghệ cao cấp khi còn tươi, khi khô hoặc mục, các lớp giác còn lõi sẽ rất khó gia công, vì đinh hoặc sắt khi va chạm vào nó sẽ bị bật ra vì thế không bị mối mọt hoặc mục. Chịu đựng được mưa nắng của thời gian nên người ta hay dùng nó để đóng tàu đi biển - làm tà vẹt, đường ray xe lửa hoặc sử dụng vào mục đích lưu giữ các đồ vật cho thời gian.
Tại Sử Quán, những lõi căm xe này được sưu tầm khắp nơi (Trung – Nam Bộ). Sau khi các giác đã mục, cây dài 3 - 5m được trồng xuống đất đổ bê tông – sau đó cấy các loại phong lan rừng ở khu vực Đông Nam Á vào thân (300 – 500 cây căm xe) và gắn bảng đồng khắc tên Tri Kỷ Hữu – loại căm xe vỏ khô này vô cùng thích hợp cho các loại phong lan rừng, nó giúp phát triển nhanh và mạnh.
--------------------------------------------------
NHỮNG KHUYNH HƯỚNG SINH THÁI HIỆN NAY
Thế giới hiện thời có cuộc tranh luận nội bộ của sinh thái. Những cuộc tranh luận chủ yếu tập trung vào hai vấn đề triết học cơ bản:
Thứ nhất là vấn đề Quyền TỰ NHIÊN: Nghĩa là tự nhiên có mặt giá trị nội tại hay không và nếu có thì là loại giá trị gì?
Thứ hai là QUAN HỆ SINH THÁI VÀ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI: Các khía cạnh sinh thái buộc người ta phải xem xét lại đến đâu nền văn minh hiện đại?
Về 2 vấn đề này, trong nội bộ ngành sinh thái có những lập trường khác nhau đặc biệt là các nước “Phương Tây”.
Về vấn đề QUYỀN TỰ NHIÊN: Có 3 lập trường cơ bản trong sinh thái ngày nay:
Theo lập trường thứ nhất: Tự nhiên không có quyền nào và giá trị nội tại nào. Nếu phải bảo vệ nó chỉ là do nó là môi trường của chúng ta tức là ngoại vi của một trung tâm con người. Nếu ta không bảo vệ môi trường này thì ta không có khả năng bảo đảm cho loài người những điều kiện sinh sống tốt đẹp. Loài người là kẻ duy nhất có quyền hay là cách nói của nhà triết học “mục đích tự thân” người ta gọi là “SINH THÁI CHỦ NGHĨA”. Nó không cho tự nhiên một quy chế pháp lý nào và không thừa nhận tự nhiên có một giá trị nào.
Theo lập trường thứ 2: Thừa nhận tự nhiên có một số quyền. Đó là lập trường của những người theo “CHỦ NGHĨA VỊ LỢI” quan niệm rằng mọi sinh vật có khả năng cảm thấy sung sướng và đau đớn nên sinh vật có sở hữu một số quyền. Ta cũng nhớ rằng chủ nghĩa vị lợi không phải là một học thuyết vị kỷ, cá nhân mà là một học thuyết nhằm sản sinh ra nhiều hạnh phúc nhất và giảm đau khổ đến mức thấp nhất. Những người theo chủ nghĩa vị lợi nói rằng: Nếu ta chấp nhận nguyên tắc này thì không có lý do gì nói không coi các loài vật là đối tượng quan tâm về tinh thần và pháp lý lập trường thứ 2 này được hậu thuẫn rất rộng rãi ở Mỹ và Australia, hợp pháp hóa “PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG” loài vật.
Theo lập trường thứ ba: của những người chủ trương gọi là” SINH THÁI BỀ SÂU” nó cho rằng cần phải đảo ngược trật tự các ưu tiên thừa hưởng ở truyền thống loài người. Thay vì đặt loài người trên hết rồi đến các loài động vật, sau đó đến các loài thực vật và các khoáng vật, các “NHÀ SINH THÁI BỀ SÂU” cho rằng trước hết phải là sinh quyển hoặc trái đất, tiếp đến là các loài sinh vật nói chung và sau cùng nếu còn, mới là loài người. Theo cách nhìn nhận ấy, loài người là loài “ Có ác cảm nhiều nhất” vì chỉ có nó mới có thể nổi dậy chống lại tự nhiên đến mức phá hủy tự nhiên. Đó là loài cực kỳ đối kháng với tự nhiên, loài gây ra ô nhiễm và theo các nhà sinh thái đó là loài đáng phê phán nhất.
Quan điểm này các nhà triết học dùng nó làm cơ sở cho ý niệm về một “KHẾ ƯỚC TỰ NHIÊN” đối lập với ”KHẾ ƯỚC XÃ HỘI”. Khế ước tự nhiên là của tự nhiên với tự nhiên chứ không chỉ là một khế ước giữa con người với nhau được lấy làm nền tảng cho tuyên ngôn về quyền con người và công dân năm 1789. Đó là trên đại thể những lập trường khác nhau đối với tự nhiên như là một kẻ có các quyền.
Lập trường - SINH THÁI BỀ SÂU – đặc biệt đặt ra vấn đề thực sự cho thế giới ngày hôm nay, dù lập trường đó không bênh vực được vì quá nguy hiểm vì nó chỉ ra con người là thứ yếu, nó chiếm vị trí thấp trong những kẻ có quyền. Tại sao chúng ta lại gán cho tự nhiên một giá trị một cách độc lập với các lợi ích của chúng ta (loài người).
Vậy là quan điểm – SINH THÁI BỀ SÂU – là một sự phê phán triệt để thế giới hiện đại chúng ta.
Sự phê phán này đơn giản nhưng khá sâu sắc: Nếu ta bằng lòng quan điểm này, coi tự nhiên có những quyền ưu tiên là kẻ thực sự nắm giữ các quyền thì thế giới hiện đại của chúng ta đang đi theo chiều hướng ngược lại và người ta hay sử dụng hình ảnh chiếc xe ôtô đi ngược chiều trên xa lộ. Chiếc xe ấy có chạy chậm cũng chẳng có ích gì mà phải quay ngược lại ngay tức khắc. Hình ảnh này cho ta một khái niệm về loại cách mạng mà quan điểm này đề xuất: Mang tính bảo thủ thậm chí phản động vì nó quay lại với nền văn minh nhân văn.
Đó là một ý thức hệ đang dùng làm nền tảng cho một số khuynh hướng hiện thời, bênh vực một cách trắng trợn cho những giá trị phản nhân văn hay “Siêu nhân văn”, họ đi xa đến mức cho rằng cần phải hạn chế sự bành trướng của con người – bằng vũ lực nếu cần để bảo vệ môi trường
Chúng ta cũng biết rằng nguồn gốc của – TRUYỀN THỐNG LÃNG MẠN – được thể hiện dưới một hình thức sâu sắc những mối quan tâm sinh thái cực kỳ mạnh mẽ. Với những ý niệm cho rằng tự nhiên phải được coi là kẻ sở hữu các quyền như một thực thể cần được bảo vệ hoàn toàn độc lập với lợi ích con ngươi. Đó là ý niệm cho rằng cần phải tìm lại một quá khứ đã mất, một trạng thái tự nhiên trước khi có nền văn minh con người.
- SINH THÁI BỀ SÂU – phê phán triệt để nền văn minh con người, thật sự nó có nguồn gốc (thừa hưởng) tuyên bố vĩ đại về nhân quyền: Tuyên ngôn 1789 ở Pháp và 1776 ở Mỹ đều rõ ràng lấy con người làm trung tâm, tự nhiên là thứ yếu, ngoại vi.
Truyền thống lãng mạn lẫn quan điểm – Sinh Thái Bề Sâu – đều phê phán chủ nghĩa nhân văn hiện đại nhân danh quá khứ đã mất, cũng có thể nhân danh một lý tưởng đối lập đó là một tương lai tươi sáng hơn, hay đúng hơn nó muốn nói đến những xã hội có tham vọng giải quyết các vấn đề sinh thái bằng một sự kiểm soát hoặc tự quản hoặc kế hoạch hóa đối với công nghiệp và sự phát triển công nghệ.
Thực sự các nhà sinh thái ngày hôm nay đều có sự pha trộn những ý tưởng dẫn đến những xu hướng cực kỳ tiến bộ như là tự quản – trưng cầu ý dân – sáng kiến của nhân dân – quyền tham gia dành cho người nước ngoài …v…v… Do có sự pha trộn ý tưởng nên sẽ sai lầm gọi họ là những người “Sinh Thái Phát Xít” hay “Khơ me Xanh”. Nên những người cấp tiến thật sự có nhiều điều nghiên cứu để tìm hiểu những ý tưởng.

Manh áo mặc đã bao dung biết mấy
Chén cơm ăn cũng lụy đến bao người
Ai đổ hột giữa đường kim mũi chỉ
Đâu dám tôi - tự tại một bên trời?