










Phục hưng trở lại những giá trị trong văn hóa cổ truyền của Việt Nam.
Trong văn hóa Việt ngày xưa, tuổi già mang lại hai sự đền bù:
+ Sự tôn trọng của cộng đồng
+ Sự bảo đảm được bước một cách thanh thản từ thế giới người sống sang thế giới người chết. Và đề ra hai lối sống: Cuộc sống của những anh hùng ngắn ngủi, đầy bão táp. Và cuộc sống của những cụ già đáng kính sống lặng lẽ trong bóng tối theo lý tưởng khắc kỷ chịu đựng.
Đối với người anh hùng, lòng dũng cảm là đức tính để đương đầu với mối nguy hiểm, các cơn sóng gió cuộc đời. Người già là hình ảnh trọn vẹn của cuộc sống đầy kinh nghiệm, thanh thản, nghĩa là vào lúc sự chiến thắng cuối cùng của tinh thần đối với thể xác, trí tuệ thoát khỏi sự nhục cảm có thể vươn lên tầm cao và chiến thắng. Tóm lại đối với người xưa có 2 cách chết vẻ vang: hoặc rất trẻ, hoặc rất già.
Nền văn hóa xưa nhấn mạnh mặt tích cực tuổi già, người già tích tụ được phẩm chất và kinh nghiệm. Trong đó sự phân biệt về mặt xã hội dựa trên tiêu chuẩn tuổi tác đã thiết lập ưu thế của người nhiều tuổi đối với người nhỏ tuổi hơn (mâm trên – mâm dưới), trong đó tri thức truyền khẩu chủ yếu. Nên kiến thức là tài sản riêng người già, không chỉ là kiến thức kỹ thuật (thủ công) (Đồ vật trên tay), mà nó còn là “kiến thức huyền thoại”. Nắm được bí quyết của huyền thoại, chuyện kể thiêng liêng về nguồn gốc, có nghĩa là biết được cái ý nghĩa sâu xa của sự vật và đạo lý tổ tiên, tức là cái nguyên lý chi phối và điều tiết trật tự của cộng đồng. Huyền thoại này tạo ra nghi lễ, nó biến người già thành những vị chủ lễ, có khả năng diễn đạt lời lẽ của thánh hiền. Do làm chủ kiến thức, người cao tuổi có vai trò giáo dục cơ bản. Ngoài sự hiểu biết huyền thoại, họ có kinh nghiệm truyền đạt lịch sử của cộng đồng – ngành nghề – nhóm (bộ tộc) những qui tắc xã hội mà họ nắm giữ.
Sự truyền đạt này theo từng bước, nhất là những buổi lễ – THỤ PHÁP – là cao điểm trong tiến trình giáo dục (như họp thứ 4 hoặc nghi lễ dưới cổng mặt trời, cũng là hình thức thụ pháp)
Tóm lại: Tuổi già là nguồn vốn sẵn có. Kinh nghiệm – tài năng và tình cảm của họ kêu gọi chúng ta hãy đổi lấy một tình đoàn kết mà họ (tuổi già) xứng đáng được hưởng để xã hội tìm lại sự thống nhất: “Một xã hội cho mọi lứa tuổi”.
Trong một xã hội bắt đầu già đi vì sự bùng nổ:
CÁC CÂU NÓI TRONG KHU PHỐ TÓC BẠC
-------
- Khi tình cờ tôi có dịp nhìn vào gương, thì than ôi, một cụ già không quen biết mà hình như tôi đã gặp.
Kakinomoto Nohitomaro (681 – 729) – Nhật Bản
- Phải có lòng từ tâm và tính hài hước cao đến đâu để có thể chịu đựng được sự khủng khiếp của tuổi già? Khu vườn ngoài nhà và các bông hoa trong phòng đều đẹp, nhưng như người ta thường nói: Ở đây mùa xuân là một “Trò Hề”. Cuối cùng tôi đã biết thế nào là giá lạnh.
Sigmund Freud (1856 – 1939) – Áo
- Người già trong xã hội truyền thống truyền khẩu chủ yếu họ là người nắm bắt được bí quyết của huyền thoại, chuyện kể thiêng liêng về nguồn gốc, có nghĩa là biết được cái ý nghĩa sâu xa của sự vật và đạo lý của tổ tiên.
(Người Đà Lạt Xưa)
- Yahvé nói: “Tinh thần của tôi sẽ không vĩnh viễn chịu trách nhiệm về con người, bởi vì nó là xác thịt và do đó mà cuộc sống của nó có thể kéo dài đến 120 năm”.
“Sáng thế kỷ” (Kinh Thánh)
- Đà lạt xưa là một thành phố của những con người không có tuổi. Già hay trẻ không phải là thời gian ta tồn tại trên cõi đời này. Mà cái quan trọng là trẻ trong trái tim, cái trái tim còn có thể đam mê vì sự nghiệp cao cả.
(Người Đà Lạt xưa).
- Chúng ta có thể sử dụng được cái vốn có sẵn có của người già: KINH NGHIỆM – TÀI NĂNG – TÌNH CẢM của họ để đổi lấy một tình đoàn kết mà họ xứng đáng được hưởng, tìm lại được sự thống nhất.
(Nghệ nhân lớn tuổi)
1. Việc thờ phụng dẫn đến một sự đồng cảm phổ quát với loài người.
2. Cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng cả thế giới
- Archimede -
3. Lòng yêu thương là đòn bẩy nhấc bổng cả thế giới
- Đức Giáo Hoàng -
------------------------------------------------------------------------------------
CÁC CUỐN SÁCH KHU PHỐ TÓC BẠC
--------
1. Giá trị cổ truyền và việc giải quyết vấn đề cuộc sống thuần túy kỹ thuật.
2. Nghệ thuật khám phá ra những bí mật cơ thể
3. Hiện đại và sự tôn thờ các vị thần trẻ.
4. Người trẻ: ưa nịnh – hời hợt và hoang phí – tính đồng bóng không giới hạn,
5. Bệnh Alzheimer – bóng ma của sự cô đơn.
6. Khu phố tóc bạc với những trải nghiệm đau đớn.
7. Khu phố tóc bạc với lớp học dành cho “sinh viên” từ 60 đến 70 tuổi
8. Khu phố tóc bạc – dịch vụ tra cứu duy nhất dành cho người trên 50 tuổi.
9. Những trang website duy nhất tại khu phố tóc bạc:
- Tra Cứu đồ cổ.
- Phòng tranh nghệ thuật.
- Các bảo tàng.
- Các loại sách.
- Các câu lạc bộ.
10. Hòm thư điện tử tại khu phố tóc bạc:
- Văn học
- Lịch sử và địa lý
- Ngôn ngữ
- Triết học
- Làm văn.
- Toán.
- Khoa học.
11. Kịch bản thành lập “hội đồ nghề trên tay” tại khu phố tóc bạc.
12. Kịch bản “Lễ hội mùa xuân các thế hệ” tại khu phố tóc bạc.
13. Về hưu và những lá phiếu cử tri.
14. Phụ nữ với sự chăm sóc người già trong 15 năm tới.
15. Công nghệ “đầu bạc”.
16. 120 chiếc giường thì hết 90 cái gãy chân tại căn nhà dưỡng lão ở khu phố tóc bạc.
17. Xin ông bà cụ điền vào những mẫu khai hưu trí và thanh toán hóa đơn in sẵn.
18. Quan hệ người quá già và người già trẻ hơn.
19. Những người về hưu quá trẻ và thanh niên không đủ thay thế họ – hệ quả thời kỳ “bùng nổ sinh đẻ” sau chiến tranh.
20. Vị thế người lao động tóc hoa râm.
21. Lòng từ thiện bà con trong xã với người hành khất 70 tuổi.
22. Ngân hàng thực phẩm, quần áo, y tế, nhà ở và mai táng.
23. Nghệ thuật làm chủ được tiến trình lão hóa.
24. Những “gien” quyết định tuổi thọ từ 68 tuổi đến 110 hoặc 120 tuổi.
25. Những ngành “công nghiệp đầu bạc”.
26. Khi tỉ lệ người già trong xã hội cao hơn thì trật tự văn hóa – kinh tế của xã hội có những vấn đề.
27. Dự án “khu phố tóc bạc” hình thành gia đình “tam – tứ đại đồng đường”.
28. Lý thuyết doanh nghiệp và thị trường “người lớn tuổi”.
29. Địa chỉ những thầy thuốc lão hóa.
30. Thị trường cung cấp công ăn việc làm cho người cao tuổi.
-------------------------------------------------------------------------------------
BÀI THUYẾT TRÌNH KHU VƯỜN TUỔI GIÀ
------------
Chúng ta đang đến với Khu Phố Tóc Bạc hay còn gọi là Khu Vườn Tuổi Già
+ Baby boom – là sự bùng nổ sinh đẻ
+ Papi boom - là sự bùng nổ các ông nội/ông ngoại
+ Mamiboom – là sự bùng nổ các bà nội / bà ngoại
Chính sự bùng nổ này đã tạo ra một quan niệm cứng nhắc về 3 giai đoạn trong cuộc đời con người
Và chính sự bùng nổ này đã phá vỡ được truyền thống gia đình tam tứ đại đồng đường. Sự tương thân tương trợ dường như biến mất, phúc lợi xã hội không còn nhiều nữa, chỉ còn một nền văn hóa ca ngợi thế giới của những vị thần trẻ hoang phí và đồng bóng hết cỡ. Người già trở thành một gánh nặng, sự phân biệt người già và tuổi lao động tạo nên một thứ Apacthai. Ở Việt Nam, số liệu thống kê cho thấy : cứ 5 người dân thì có một người già , và ¾ trong số đó chỉ còn sống được 15 năm nữa. Từ đó có một vấn đề đặt ra cho chúng ta : tuổi già là một nguồn vốn sẵn có của kinh nghiệm, tài năng và tình cảm. Liệu với vốn liếng sẵn có đó, chúng ta có thể hợp tác để xây dựng một thế giới hòa bình được không ? Vì thế chúng tôi tự hào nghề thêu của mình ra đời để tưới bón cho tất cả các giai đoạn của cuộc đời con người, nên có thể gọi khu vườn tuổi già này là Khu Vườn Hy Vọng Không Có Tuổi. Bởi vì già hay trẻ không phải là thời gian bao lâu ta tạm trú trên cõi đời này mà là già hay trẻ trong trái tim, trái tim có còn yêu thương cuộc đời và chiến đấu vì những sự nghiệp cao cả hay không?
Dù rằng người kia 80-90 tuổi nhưng trái tim vẫn còn yêu cuộc đời, yêu sự nghiệp cao cả thì đó là người không có tuổi. Để làm được điều đó, chúng tôi đã làm ra Khu Phố Tóc Bạc này. Nó như một chất thuốc hiện hình làm hiện lên một số giá trị mà người ta chưa bao giờ biết đến. Được biểu hiện qua 3 chiếc ghế trong không gian này
Trăm năm ngắn lắm người ơi
Thương nhau xin nở nụ cười cùng hoa
Tuổi già phải có một góc vườn
Để khi cô quạnh nghe sương tự tình
Hay là bài thơ
« Buổi chiều nhìn nắng vàng qua trước ngõ
Phút thanh xuân chốc thoáng đã tà huy
Tiếng chim kêu tự cuối vườn ai đó
Thoảng trong không như báo triệu điều gì »
« Há phải múa gươm bàn nghĩa khí
Dám nào khoe cọ vẽ chân dung
Đời vô tri kỷ thơ vô chữ
Góc đá chơ vơ bạn lão tùng »
Nên hôm nay, nếu quý vị có nhiều thời gian, tôi xin thay mặt cho người mẹ thợ thêu để kể lại một câu chuyện dưới rừng thông.
Với khu vực tuổi già này, chúng tôi được nhắc nhở : «động lực của sự phát triển là mưu cầu sự thống nhất chứ không phải lòng tham » nên khu vực này là một hy vọng «đi tìm lại sự thống nhất giữa các thế hệ con người và các loài vật dưới rừng thông.
---------------
Nhà Nguyện : “THẬP TỰ GIÁ HOA HỒNG” của người thợ thêu lớn tuổi
Tương truyền rằng, tại Đà Lạt khi có mấy vị linh mục người Pháp được hỏi: Lí do gì khiến họ ra đi phiêu lưu xa tổ quốc đến vậy? Nghe đâu họ đã trả lời bằng câu nổi tiếng này “VÌ CÂY THÁNH GIÁ VÀ HOA HỒNG”
Sự liên kết chặt chẽ giữa Chúa trời và các thần linh địa phương, là dấu hiệu của nhà thờ mà người Pháp đã thành lập tại Đà Lạt này. Cách cư xử của họ được xây dựng trên thái độ tôn trọng lẫn nhau và thậm chí là một thứ tình hữu nghị.
Có những người khác cho rằng các nhà truyền giáo Pháp quốc ít ra đã tìm cách tách mình ra khỏi các tham vọng về kinh tế và chính trị của đồng bào họ.
Vì vậy nghệ nhân của chúng tôi có lời cầu nguyện: “Chúa hãy cho con được biết Chúa, để con được mắt Chúa thương đến và coi nghề thêu này là ngành nghề của Chúa”
=o0o=
Thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, thái tử Siddhartha – người sáng lập đạo Phật, rời bỏ cung điện của mình đi tìm chân lý, người được biết rằng đã có 48 trường phái triết học khác nhau, từ chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên tới chủ nghĩa thần bí. Từ Triết Học trong tiếng phạn có nghĩa là Darshana, nghĩa đen là “chiêm ngưỡng”, là “nhìn thấy”. Chân lý chỉ có một, nhưng chân lý lại đa diện. Và có thể nhìn thấy chân lý từ những góc độ khác nhau. Vì vậy, các Darshana hay các trường phái triết học khác nhau, không đối lập mà bổ sung cho nhau. Điều đó có nghĩa là có sự KHOAN DUNG về MẶT TRÍ TUỆ.
Những nhân tố thống nhất làm cho các trường phái triết học nhích lại gần nhau là:
Niềm tin cho rằng tri thức triết học không phải là mục đích tự thân, mà nó chỉ là một phương tiện để chuyển hóa nội tâm nhằm đạt tới giải thoát tức Mukti hay Nirvana (niết bàn). Ngay những người sáng lập ra những hệ triết học trừu tượng nhất cũng đều thừa nhận mục đích chung này.
Coi tri thức triết học chỉ là một trong nhiều khía cạnh của sự thông thái cao nhất trong đó có sự trong sạch về đạo đức của người hiền sỹ, sự nhạy cảm của người nghệ sỹ.
Các nhà triết học còn thống nhất với nhau ở một điều nữa, không thể đạt đến sự giải thoát – tức là mục đích tri thức – bằng một ngoại lực, chẳng hạn như “số mệnh” mà bằng sự tu thân tích đức của mỗi con người qua các kiếp luân hồi.
Căn phòng Yoga
Samkhya và Yoga ( một trong những trường phái triết học)
Với quan niệm thừa nhận hai thực thể độc lập là tinh thần (Purusha) và tự nhiên (Prakrit) tinh thần là ý thức thuần túy của con người, tự nhiên là nguồn gốc của mọi tiềm năng, sinh lực con người, hoạt động của tinh thần có thể thúc đẩy hoạt động của tự nhiên.
Trường phái Yoga chấp nhận cơ sở triết học này và vận dụng nó vào thực tế cuộc sống là thực hành của việc tự nhận thức bản thân mình.
Mục đích của yoga là loại trừ những lệch lạc, méo mó do ý thức gây ra để tìm về với bản chất chân thực của tinh thần. Phương thức để đạt tới là suy tưởng. Một điều cần nhiều sự rèn luyện và chuẩn bị về thể xác và tâm thức.
Căn phòng “Tình Sử Của Người Thợ Thêu”
Đó là một câu chuyện trong công cuộc đi tìm kiếm cái siêu hình trong tình yêu của người phụ nữ làm nghề thêu, để một ngày nào đó người phụ nữ thoát khỏi một sự mỉa mai kinh khủng trong lịch sử tình yêu của mình. Và chính trong căn phòng đi tìm kiếm siêu thực này, sẽ sản sinh ra nghệ thuật của người phụ nữ, sẽ rải đầy tình yêu trên thành phố của mình. Khi đó bạn sẽ thấy những con bò biết bay, người chơi đàn trên nóc nhà, con cá trèo cây để nghe nhạc, con bồ câu lại đeo kính để thêu thùa với niềm hy vọng sẽ không còn những đứa trẻ khóc trong nghĩa trang. Mà thưa quý vị, nghĩa trang thì bao giờ cũng đầy sự bất công.
=o0o=
Đối diện với quý vị là khu vực triển lãm những tác phẩm mà người ta gọi là tranh khỏa thân. Đó là khu vực : Triển Lãm Chỉ Dành Cho Nội Bộ Thợ Thêu
Với chủ đề: NGƯỜI ĐÀN BÀ THÊU TAY VÀ MẢNH VƯỜN
Vì sao chúng tôi có không gian triển lãm này?
Sự ra đời của không gian này giúp cho người phụ nữ nghề thêu đi tìm kiếm lại những giá trị thẩm mỹ trên cơ thể mình, từ đó họ đòi hỏi một nghi lễ đối với những giá trị thẩm mỹ này để chống lại một thứ văn hóa tràn lan: Sống sượng - tục tằn - thô lỗ - bạo lực..vv.. mà chúng ta thường gọi là “khiêu dâm”. Điều này đẩy hình ảnh người phụ nữ xuống một bậc thấp nhất, biến họ thành nạn nhân của một tình trạng kém phát triển và lệch lạc mà hằng ngày chúng ta thấy trên những mặt báo.
Bất cứ một nền văn minh và dân tộc nào trên hành tinh này trong văn hóa tình yêu đều phải vươn lên và đòi hỏi trả lại cho cảm xúc yêu đương những khía cạnh lãng mạn của nó, với những phương thức trữ tình - ca ngợi sự bí ẩn của những đường cong của họ - những hình thái mơ mộng của tình yêu - trả lại ly rượu của những trái nho chín mọng sự trong lành của nó với một hy vọng xoa dịu nỗi đau đớn trong lịch sử của nữ thần ái tình Việt Nam.
Tại không gian này những người thợ thêu sẽ mời những vị thần nắm giữ bí quyết của nghệ thuật sống đi vào những kho tàng thông thái được thể hiện qua những tác phẩm đang triển lãm ở đây, để ban phát sự tròn trặn cho mặt trời, cho những điệu nhảy, cho mặt trăng, cho mùa màng của người nông dân, cho đường bay uốn lượn của những cánh én, cho nhịp điệu của cánh bướm, cho thủy triều, cho bụi cỏ chiều hè, cho giường chiếu, cho những điều huyền diệu khác trong kiếp phù du của chúng ta.
Đấng cứu thế nào dám phủ nhận điều đó mà không bác bỏ giá trị cứu rỗi và vẻ đẹp vĩnh hằng của tình yêu, mà chính nhờ nó Thần Linh cũng như con người trần thế chúng ta có được chất nhạc và chất thơ trong cuộc sống hàng ngày
Và những điều ấy được diễn đạt thông qua một số mô hình trong không gian này
Bi kịch của trái tim con người ngày hôm nay là sống trên cùng mảnh đất mà không còn nghe được tiếng nói của nhau nữa ?
Thưa anh chị, xưa kia, những hình ảnh đầu tiên con người để lại trên vách các hang động là hình ảnh vẽ các loài vật, bản nhạc đầu tiên hay nhất mà con người từng nghe cũng chính là tiếng chim hót. Các loài vật là nguồn gốc của những điều mộng mơ và cả những điều sợ hãi cho con người
Đây là thiên trụ tôn nghiêm, nơi mời các anh chị tìm «bí mật của cây cỏ, ngủ vùi trong đêm đen, anh chị hãy đến làm quen ». Xin mời quý vị khám phá bí mật ấy bằng cách mua một đồng xu tại quán Thu Phong và ném xuống hộp kính dưới đáy nước. Sẽ có con ve sầu cõng bạn bay về ca hát trong khu vườn này.
Ta bắt một chú ve
Chở ta về viễn phố
Hỏi thăm khu rừng năm cũ có buồn không ?