KHU PHỐ TÓC BẠC

 
 
BÀI VIẾT: KHÚC CA LÃNG MẠN tại KHU PHỐ TÓC BẠC
---------
 
       ...Trời Đà Lạt chuyển lạnh, người thợ thêu lớn tuổi bị một cơn suy hô hấp, nhân viên đến, nhưng thay vì đáng lẽ phải cho bà thứ thuốc thông thường hoặc điện thoại bác sĩ đến, cô nhân viên lại dùng một cách chữa đặc biệt: Đọc một câu thơ trong tập “Hạo Ca XQ Sử Quán" rồi hỏi xem câu đó trong đoạn nào. Nghệ nhân lớn tuổi đã già, đọc ngay lại bằng một giọng run run yếu ớt cả một đoạn thơ, trong đó có câu thơ nói trên và chỉ ra đoạn thơ đó hiện treo chỗ nào trong Bảo Tàng Hoa. Rồi bà mỉm cười bảo với nhân viên rằng: “Cơn Khó Thở Đã Qua”.
Hôm sau, bà kêu nhân viên đó lên và nói lời di chúc viết đằng sau cuốn sách.
Khi hồn người vì nỗi u hoài của giống loài
bị nhấn chìm bởi những đám mây nặng trĩu
vẫn tìm vinh quang vĩnh cửu cho nghề
trong ý tưởng của người về vẻ đẹp hiên ngang
Thời gian và hoạn nạn cùng làm thêm rực rỡ
.......
 
người vừa là nghệ sỹ vừa là chiến sĩ
tình yêu quê hương Việt Nam tuyệt mỹ
cháy trong người như ngọn lửa ngàn năm.
lên đường gieo hạt những giống cây bất tử,
ngợi ca quê hương
bằng những huy chương sáng chói.
—————————-
Mỗi lần nhớ đến bà, chúng tôi thường ngân nga hát: Khúc Ca Lãng Mạn này.
.......
Tuổi già phải có
góc vườn
Để khi cô quạnh
nghe sương tự tình
 
 
- Tác phẩm: Khúc Ca Lãng Mạn - LỄ PHỤC và GUỐC (được thêu bằng sợi chỉ vàng)
 
 
 
 
Tác phẩm thêu: Tiếng Chuông Dành Cho Người Đàn Bà Bên Cửa Sổ
Kích cỡ: 70 x 100 cm
Chất liệu chỉ tơ tằm, DMC, vải cotton
Nghệ nhân: Lưu Thị Hoằng
 
Đường link bài viết trên facebook: KHÚC CA LÃNG MẠN tại KHU PHỐ TÓC BẠC
 
 
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 
 
 
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ - TÁC PHẨM
Nghệ nhân Trần Ngọc Cúc: NGƯỜI "CANH GIỮ THỜI GIAN"
(gìn giữ lịch sử nghề thêu)
---------
 
        Cùng với một nhóm nghệ nhân lớn tuổi, người "canh giữ thời gian" ấy tóc vẫn còn xanh, giọng thì nhỏ nhẹ - trí nhớ đôi khi quánh lại, trở nên khó tính và hay bắt bẻ về cách xưng hô xử thế, đặc biệt trong nghi thức, nghi lễ…
       Cô thường nói: Những người nghệ nhân lớn tuổi đi với tôi, họ như những hòn đảo nhỏ còn sót lại của một cảnh quan uy nghi và hùng vĩ của nghề thêu, nay đã bị xói lở bào mòn, bị các đợt sóng sắc cạnh của thời gian, của cái hiện đại “đánh làm cho tơi tả…”. Các chị, các mẹ là những “HÓA THẠCH SỐNG” còn sót lại – mỗi lần có một nghệ nhân lớn tuổi qua đời, là một mảng của cảnh quan mất đi vào trong lòng đất… Vì nguồn sử liệu lịch sử nghề thêu của chúng ta bên cạnh hai nguồn hàng đầu: VĂN BẢN và KHẢO CỔ HỌC, vị trí truyền thống truyền miệng, nơi nghệ nhân lớn tuổi có vị trí của mình như một bảo tàng sống thực sự, nó mật thiết nhất, phong phú nhất, được nuôi dưỡng đầy đủ nhất, bởi dòng nhựa của tính đích thực là nơi bảo tồn và truyền tải các sáng tạo xã hội và văn hóa.
       Văn bản dù có hữu ích đến đâu cũng làm cho sự việc khô cằn và cứng nhắc. Nó gạn lọc, phẫu tích, sơ đồ hóa làm cho cứng đờ mọi thứ - còn truyền thống nơi nghệ nhân lớn tuổi thì đắp da, đắp thịt và màu sắc lên sự việc, tưới dòng sinh lực cho bộ xương của quá khứ, nó trình bày làm ba chiều những gì thường bị bẹp dí trên bề mặt hai chiều của tờ giấy.
        Như một giai thoại nói lên sự nhiệt thành tôn thờ nghề (CA KHÚC - LÃNG MẠN) của nghệ nhân lớn tuổi…Một hôm, tại - Khu Phố Tóc Bạc – nghệ nhân lớn tuổi bị một cơn suy hô hấp, cô y tá được mời đến, đáng lẽ cho nghệ nhân uống thuốc thông thường, cô y tá lại dùng một cách chữa đặc biệt, bằng cách đọc lên câu thơ trong tác phẩm tranh thêu của nghệ nhân lớn tuổi đó và hỏi xem những tác phẩm đó hiện thời ở đâu? Người nghệ nhân đã già đọc ngay bằng một giọng run run yếu ớt cả một tập thơ, trong đó có câu thơ nói trên, rồi mỉm cười bảo với cô y tá rằng: CƠN KHÓ THỞ ĐÃ QUA.
        Kinh nghiệm nó cho ta thấy một con người giỏi cầm kim chỉ trong sáng tạo và giữ gìn nghề truyền thống của dân tộc…cay đắng than phiền về cảnh ngộ bị bỏ quên hay sự bất công với mình… Trong cuộc sống, sự thay đổi nhanh chóng các phong tục – tâm tính và cấu trúc xã hội, làm cho lòng tham – tham nhũng tăng lên… CA KHÚC LÃNG MẠN không chỉ đơn thuần là một bài tụng ca người nghệ nhân lớn tuổi như một giai đoạn trong lịch sử của nghề thêu – và không chỉ là khúc ca tuyệt vời về thời điểm vinh quang của nghề, ca khúc lãng mạn còn là thiên sử thi về sự trôi dạt nghề thêu chúng ta đến các bến bờ mới, đến những khả năng vô tận trong không gian và thời gian.
 
Cô thợ thêu
khi tuổi tác chống gậy đứng trong đêm
nhìn qua tháng năm
sẽ thấy những khu đồi - thung lũng Đà Lạt
những con đường và khá nhiều lối rẽ trong thành phố này
những người mình thương, những người mình ghét
được và mất - thành và bại
khổ và vui… những cái mình cho đi
và những điều mình cảm nhận
sẽ là vô nghĩa nếu đọng thành ký ức.
 
 
 
 
 
Nghệ nhân Trần Thị Ngọc Cúc đang hướng dẫn lịch sử của nghề thêu.
 
 
 
NGHI LỄ THAY ÁO SỐNG VÀ ÁO CHẾT
Trong ngày giỗ Tổ nghề thêu hàng năm
 
 
 
Chân dung nghệ nhân:
Trần Ngọc Cúc - người gìn giữ giá trị nghề thêu:
NỖI NHỚ NHÀ BÊN KHUNG THÊU.

NHỚ NHÀ!

Rỗng không hiên cỏ
sương qua lại
không rỗng am mây
gió lại qua
rỗng không trời đất
bèn vô ngại!
còn mảnh trăng khuya,
chợt nhớ nhà!
 
 
 
Bộ tranh thêu: ĐỐT ĐÈN SOI NIÊN SỬ
Chất liệu: chỉ tơ tằm, chỉ bóng, vải silk
Kích cỡ: 50 x 55 cm/bức
Nghệ nhân: nhóm nghệ nhân lớn tuổi 
 
 
 
Bộ tranh thêu hai mặt: ĐỐT ĐÈN SOI NIÊN SỬ
Chất liệu: chỉ tơ tằm, chỉ bóng, vải silk
Kích cỡ: 45 x 55 cm/bức
Nghệ nhân: nhóm nghệ nhân lớn tuổi 
 
 
 
Bộ tranh thêu điêu khắc: ĐỐT ĐÈN SOI NIÊN SỬ
Chất liệu: chỉ tơ tằm, chỉ bóng, vải silk
Nghệ nhân: nhóm nghệ nhân lớn tuổi 
 
 
 
 
 
 
 
Đường link bài viết trên facebook: NGƯỜI "CANH GIỮ THỜI GIAN"
 
----------------------------------------------------------------------------------------------------
 
 
KHU PHỐ TÓC BẠC
------
 
 
        Là khu vườn học cách chết, nơi để đương đầu với tuổi già, giai đoạn cuối cùng của cuộc sống.
Nơi đây tuổi già được vũ trang để rút ra những điều tốt đẹp trong cuộc sống – tiếp cận với cái chết kề bên với sự cương nghị và quyết tâm cần thiết không chút nản lòng.
Gồm các nội dung:
 
I. Phục hưng trở lại giá trị trong văn hóa truyền thống Việt Nam:
 
II. Giới thiệu một số lối sống không chỉ là biểu hiện các giá trị, mà còn là một thứ thuốc hiện hình một số giá trị mà người ta không biết đến:
 
III. Những cuộc khủng hoảng: (Lứa tuổi thứ 3)
 
      - Nhà nước không còn đủ sức chăm sóc
      - Các cơ cấu gắn bó truyền thống đang tan rã.
      - Sự tương trợ quá nhỏ nhoi
 
Nguy cơ nổi lên một thứ “Apacthai” (phân biệt đối xử) ở người cao tuổi và số dân ở tuổi lao động.
 
IV. Những chương trình XQ tạo dựng tương lai bằng nền văn hóa Hòa Bình:
 
V. Những chiến lược: Làm cho “Khu phố Tóc Bạc” có tiếng nói mạnh mẽ, vang dội đến những người có quyết định, kêu gọi các phương tiện thông tin đại chúng, khơi dậy lương tâm và sự cam kết hàn gắn những vết thương đau.
 
-------
 
I. KHU PHỐ TÓC BẠC: (Khu vườn tuổi già)

       Phục hưng trở lại những giá trị trong văn hóa cổ truyền của Việt Nam.
Trong văn hóa Việt ngày xưa, tuổi già mang lại hai sự đền bù:

+ Sự tôn trọng của cộng đồng
+ Sự bảo đảm được bước một cách thanh thản từ thế giới người sống sang thế giới người chết. Và đề ra hai lối sống: Cuộc sống của những anh hùng ngắn ngủi, đầy bão táp. Và cuộc sống của những cụ già đáng kính sống lặng lẽ trong bóng tối theo lý tưởng khắc kỷ chịu đựng.


       Đối với người anh hùng, lòng dũng cảm là đức tính để đương đầu với mối nguy hiểm, các cơn sóng gió cuộc đời. Người già là hình ảnh trọn vẹn của cuộc sống đầy kinh nghiệm, thanh thản, nghĩa là vào lúc sự chiến thắng cuối cùng của tinh thần đối với thể xác, trí tuệ thoát khỏi sự nhục cảm có thể vươn lên tầm cao và chiến thắng. Tóm lại đối với người xưa có 2 cách chết vẻ vang: hoặc rất trẻ, hoặc rất già.
       Nền văn hóa xưa nhấn mạnh mặt tích cực tuổi già, người già tích tụ được phẩm chất và kinh nghiệm. Trong đó sự phân biệt về mặt xã hội dựa trên tiêu chuẩn tuổi tác đã thiết lập ưu thế của người nhiều tuổi đối với người nhỏ tuổi hơn (mâm trên – mâm dưới), trong đó tri thức truyền khẩu chủ yếu. Nên kiến thức là tài sản riêng người già, không chỉ là kiến thức kỹ thuật (thủ công) (Đồ vật trên tay), mà nó còn là “kiến thức huyền thoại”. Nắm được bí quyết của huyền thoại, chuyện kể thiêng liêng về nguồn gốc, có nghĩa là biết được cái ý nghĩa sâu xa của sự vật và đạo lý tổ tiên, tức là cái nguyên lý chi phối và điều tiết trật tự của cộng đồng. Huyền thoại này tạo ra nghi lễ, nó biến người già thành những vị chủ lễ, có khả năng diễn đạt lời lẽ của thánh hiền. Do làm chủ kiến thức, người cao tuổi có vai trò giáo dục cơ bản. Ngoài sự hiểu biết huyền thoại, họ có kinh nghiệm truyền đạt lịch sử của cộng đồng – ngành nghề – nhóm (bộ tộc) những qui tắc xã hội mà họ nắm giữ.
       Sự truyền đạt này theo từng bước, nhất là những buổi lễ – THỤ PHÁP – là cao điểm trong tiến trình giáo dục (như họp thứ 4 hoặc nghi lễ dưới cổng mặt trời, cũng là hình thức thụ pháp)

        Tóm lại: Tuổi già là nguồn vốn sẵn có. Kinh nghiệm – tài năng và tình cảm của họ kêu gọi chúng ta hãy đổi lấy một tình đoàn kết mà họ (tuổi già) xứng đáng được hưởng để xã hội tìm lại sự thống nhất: “Một xã hội cho mọi lứa tuổi”.

Trong một xã hội bắt đầu già đi vì sự bùng nổ:

  • Baby - boom (bùng nổ sinh đẻ)
  • Papi - boom (bùng nổ các ông nội/ngoại)
  • Mamie – boom (bùng nổ các bà nội/ngoại)
 
II. KHU PHỐ TÓC BẠC:
 
         Giới thiệu một lối sống không chỉ là biểu hiện các giá trị, mà còn là thứ thuốc hiện hình một số giá trị mà người ta không biết đến.
 
1. Không gian đi tìm lại kinh nghiệm sống của những người Đà Lạt xưa đi khai khẩn, tiếp xúc với một thế giới đang ở trong tình trạng tự nhiên – nơi đây ghi chép dàn dựng lại kinh nghiệm ấy. Tuy hơi nghèo vật chất nhưng giàu có về nội tâm, mà người Đà Lạt xưa không nơi nào có được.
Nó được diễn đạt qua 3 không gian (3 chiếc ghế):
      a. Chiếc ghế quạnh hiu (tại thác “Hoa đào không rơi” nơi sản sinh ra những “áng thơ”)
      b. Chiếc ghế dành cho tình bạn (không gian Cồn Cò) tại đây nhà thơ Tố Hữu khi còn hưởng dương đã đến đây trò chuyện cùng nghệ nhân lớn tuổi, cảm xúc viết 2 câu thơ:
Trăm năm ngắn lắm người ơi
Thương nhau cho nở nụ cùng hoa
      c. Chiếc ghế dành cho cộng đồng (chiếc ghế Vinh Quang cho người thợ thêu lớn tuổi)
 
2. Tinh thần khắc kỷ: Với những góc vườn ghi nhật ký để làm việc, để sống trong khu vườn sinh thái. Hình thành nên một thế giới quan với bốn quan điểm:
     a. Tất cả mọi người đều tuyệt đối bình đẳng và đều cùng thuộc về thế giới tự nhiên
     b. Thế giới này chịu sự chi phối của những qui luật tự nhiên
     c. Mọi người phải sống theo đúng qui luật đó
     d. Số phận của mỗi người đã được định đoạt và không thể thay đổi (thời gian sống và chết)
 
3. Tính Thanh Đạm (thể hiện qua khu vực ẩm thực sinh thái – khu vực ẩm thực “Hương Vị Của Bà”)
      Tính từ Thanh Đạm “Frugal”  từ này nguyên thủy chỉ ra một người sống bằng trái cây, ngũ cốc tự trồng. Tính thanh đạm được nhìn với tư cách là sự phản kháng tinh thần với trật tự chính thức hiện hành.
       Tính thanh đạm là người làm chủ được một cách thông minh cách xử sự của mình, với tư cách là người tiêu dùng, giúp cho họ thưởng thức tốt hơn những lạc thú và lợi ích cuộc đời. Khái niệm này nó khác hẳn tính Hà Tiện và tính Lo Xa.
        Như chiếc bàn ăn trong khu vườn “Thỏ Vờn Trăng” nơi mọi người có thể tham gia “Bữa Tiệc Với Các Thần Linh” tham gia nhưng không ăn (cúng vườn, thức ăn chỉ dành cho các loài vật). Thanh đạm xem xét đến cùng nó là nguồn gốc của mọi đức tính. Vì đức tính vẫn thường dạy chúng ta rằng: người ta không thể có được một cuộc sống hạnh phúc mà không có sự thận trọng, chính trực và công bằng.
 
III. Những Cuộc Khủng Hoảng Của Xã Hội Hiện Thời:
 
        Các cơ cấu gắn bó gia đình truyền thống bị tan rã. Nguy cơ nổi lên một thứ Apacthai (phân biệt đối xử)
               + Vì người trẻ tuổi coi họ là gánh nặng kinh tế
               + Sống trong tình trạng trợ cấp bấp bênh
 
1. Sự kéo dài cuộc sống sẽ trả cái giá: Trật tự văn hóa, chính trị, kinh tế và xã hội.
2. Khi lớn tuổi nghĩa là sống trong bệnh tật và sự bấp bênh tài chính (tim và nhồi máu cơ tim).
3. Sự phân biệt đối xử trong tuổi tác là yếu tố thúc đẩy người thợ thêu chọn con đường về hưu sớm (người lao động tóc hoa râm).
4. Cách xử thế “ Hiện Đại”.
Quan điểm thanh niên 81% đều cho rằng các cặp vợ chồng trẻ và con cái họ không thể nào cùng ở chung với cha mẹ.
5. Văn hóa chỉ tập trung cho giới trẻ, có chuyển dịch sang người già không?
6. Phân biệt giữa người lớn tuổi và người trong tuổi lao động.
7. Phúc lợi của nhà nước hầu như không còn.
8. Tương thân tương trợ dường như biến mất của một xã hội sản xuất và tiêu dùng.
9. Phòng triển lãm: sự ruồng bỏ người cao tuổi.
10. Phòng triển lãm: nước mắt của người thợ thêu lớn tuổi khi nhìn những tấm ảnh thời còn trẻ của mình.
 
IV. Những chương trình của XQ để chống lại sự khủng hoảng đó:
 
1. Hình ảnh lãng mạn những gia đình xưa, các mối liên hệ tỏ ra bền chặt “tam – tứ đại đồng đường”
2. Phòng y học cổ truyền cộng đồng.
3. Trường học dành cho sinh viên từ tuổi 60-70 và cao hơn – khiêu vũ – sân khấu hoặc làm thủ công.
4. Quỹ hưu cho nghệ nhân lớn tuổi.
5. Đạo luật nghề thêu chống sự phân biệt đối xử vì tuổi tác:
          + Nghề thêu không có tuổi về hưu
          + Không gian tạo công ăn việc làm cho người thợ thêu lớn tuổi
6. Không gian giúp cho người cao tuổi trên trái đất tiếp xúc với nhau, giúp đỡ nhau.
7. Những chương trình quý trọng người cao tuổi.
8. Những nhiệm vụ “người già trẻ hơn” đảm nhận thay cho các bà lão.
9. Sống lâu hơn – nên làm việc lâu hơn không để vô công rồi nghề.
 
V. Tạo ra một tiếng vang để làm thức tỉnh lương tri của con người để chữa những căn bệnh thương đau bằng cách kêu gọi những chính khách và phương tiện thông tin đại chúng thực hiện những cam kết với những chương trình của XQ.
 
1. Kỹ nghệ đầu bạc.
2. Dự án: Chăm sóc sức khỏe, an toàn tài chính và thực phẩm, giáo dục và đào tạo, cấp cứu và bảo vệ quyền lợi… người lớn tuổi.
 
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 

CÁC CÂU NÓI TRONG KHU PHỐ TÓC BẠC

-------

 

- Khi tình cờ tôi có dịp nhìn vào gương, thì than ôi, một cụ già không quen biết mà hình như tôi đã gặp.
                                                                                                    Kakinomoto Nohitomaro (681 – 729) – Nhật Bản

- Phải có lòng từ tâm và tính hài hước cao đến đâu để có thể chịu đựng được sự khủng khiếp của tuổi già? Khu vườn ngoài nhà và các bông hoa trong phòng đều đẹp, nhưng như người ta thường nói: Ở đây mùa xuân là một “Trò Hề”. Cuối cùng tôi đã biết thế nào là giá lạnh.
                                                                                                                   Sigmund Freud (1856 – 1939) – Áo

- Người già trong xã hội truyền thống truyền khẩu chủ yếu họ là người nắm bắt được bí quyết của huyền thoại, chuyện kể thiêng liêng về nguồn gốc, có nghĩa là biết được cái ý nghĩa sâu xa của sự vật và đạo lý của tổ tiên.
                                                                                                                 (Người Đà Lạt Xưa)

- Yahvé nói: “Tinh thần của tôi sẽ không vĩnh viễn chịu trách nhiệm về con người, bởi vì nó là xác thịt và do đó mà cuộc sống của nó có thể kéo dài đến 120 năm”.
                                                                                                                 “Sáng thế kỷ” (Kinh Thánh)

- Đà lạt xưa là một thành phố của những con người không có tuổi. Già hay trẻ không phải là thời gian ta tồn tại trên cõi đời này. Mà cái quan trọng là trẻ trong trái tim, cái trái tim còn có thể đam mê vì sự nghiệp cao cả.
                                                                                                                 (Người Đà Lạt xưa).

- Chúng ta có thể sử dụng được cái vốn có sẵn có của người già: KINH NGHIỆM – TÀI NĂNG – TÌNH CẢM của họ để đổi lấy một tình đoàn kết mà họ xứng đáng được hưởng, tìm lại được sự thống nhất.
                                                                                                                 (Nghệ nhân lớn tuổi)

1. Việc thờ phụng dẫn đến một sự đồng cảm phổ quát với loài người.
2. Cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng cả thế giới
                                                                   - Archimede -
3. Lòng yêu thương là đòn bẩy nhấc bổng cả thế giới
                                                                 - Đức Giáo Hoàng -

------------------------------------------------------------------------------------

 

CÁC CUỐN SÁCH KHU PHỐ TÓC BẠC

--------

 

1. Giá trị cổ truyền và việc giải quyết vấn đề cuộc sống thuần túy kỹ thuật.
2. Nghệ thuật khám phá ra những bí mật cơ thể
3. Hiện đại và sự tôn thờ các vị thần trẻ.
4. Người trẻ: ưa nịnh – hời hợt và hoang phí – tính đồng bóng không giới hạn,
5. Bệnh Alzheimer – bóng ma của sự cô đơn.
6. Khu phố tóc bạc với những trải nghiệm đau đớn.
7. Khu phố tóc bạc với lớp học dành cho “sinh viên” từ 60 đến 70 tuổi
8. Khu phố tóc bạc – dịch vụ tra cứu duy nhất dành cho người trên 50 tuổi.
9. Những trang website duy nhất tại khu phố tóc bạc:
      - Tra Cứu đồ cổ.
      - Phòng tranh nghệ thuật.
      - Các bảo tàng.
      - Các loại sách.
      - Các câu lạc bộ.
10. Hòm thư điện tử tại khu phố tóc bạc:
      - Văn học
      - Lịch sử và địa lý
      - Ngôn ngữ
      - Triết học
      - Làm văn.
      - Toán.
      - Khoa học.

11. Kịch bản thành lập “hội đồ nghề trên tay” tại khu phố tóc bạc.
12. Kịch bản “Lễ hội mùa xuân các thế hệ” tại khu phố tóc bạc.
13. Về hưu và những lá phiếu cử tri.
14. Phụ nữ với sự chăm sóc người già trong 15 năm tới.
15. Công nghệ “đầu bạc”.
16. 120 chiếc giường thì hết 90 cái gãy chân tại căn nhà dưỡng lão ở khu phố tóc bạc.
17. Xin ông bà cụ điền vào những mẫu khai hưu trí và thanh toán hóa đơn in sẵn.
18. Quan hệ người quá già và người già trẻ hơn.
19. Những người về hưu quá trẻ và thanh niên không đủ thay thế họ – hệ quả thời kỳ “bùng nổ sinh đẻ” sau chiến tranh.
20. Vị thế người lao động tóc hoa râm.
21. Lòng từ thiện bà con trong xã với người hành khất 70 tuổi.
22. Ngân hàng thực phẩm, quần áo, y tế, nhà ở và mai táng.
23. Nghệ thuật làm chủ được tiến trình lão hóa.
24. Những “gien” quyết định tuổi thọ từ 68 tuổi đến 110 hoặc 120 tuổi.
25. Những ngành “công nghiệp đầu bạc”.
26. Khi tỉ lệ người già trong xã hội cao hơn thì trật tự văn hóa – kinh tế của xã hội có những vấn đề.
27. Dự án “khu phố tóc bạc” hình thành gia đình “tam – tứ đại đồng đường”.
28. Lý thuyết doanh nghiệp và thị trường “người lớn tuổi”.
29. Địa chỉ những thầy thuốc lão hóa.
30. Thị trường cung cấp công ăn việc làm cho người cao tuổi.

 

-------------------------------------------------------------------------------------

 

BÀI THUYẾT TRÌNH KHU VƯỜN TUỔI GIÀ

------------

 

Chúng ta đang đến với Khu Phố Tóc Bạc hay còn gọi là Khu Vườn Tuổi Già

  • Ngày hôm nay, chúng ta đang đối đầu với 1 thời kỳ

+ Baby boom – là sự bùng nổ sinh đẻ

+ Papi boom - là sự bùng nổ các ông nội/ông ngoại

+ Mamiboom – là sự bùng nổ các bà nội / bà ngoại

Chính sự bùng nổ này đã tạo ra một quan niệm cứng nhắc về 3 giai đoạn trong cuộc đời con người

  1. Tuổi trẻ học tập
  2. Tuổi trưởng thành sản xuất
  3. Tuổi già nghỉ ngơi và chờ đợi cái chết

           Và chính sự bùng nổ này đã phá vỡ được truyền thống gia đình tam tứ đại đồng đường. Sự tương thân tương trợ dường như biến mất, phúc lợi xã hội không còn nhiều nữa, chỉ còn một nền văn hóa ca ngợi thế giới của những vị thần trẻ hoang phí và đồng bóng hết cỡ. Người già trở thành một gánh nặng, sự phân biệt người già và tuổi lao động tạo nên một thứ Apacthai. Ở Việt Nam, số liệu thống kê cho thấy : cứ 5 người dân thì có một người già , và ¾ trong số đó chỉ còn sống được 15 năm nữa. Từ đó có một vấn đề đặt ra cho chúng ta : tuổi già là một nguồn vốn sẵn có của kinh nghiệm, tài năng và tình cảm. Liệu với vốn liếng sẵn có đó, chúng ta có thể hợp tác để xây dựng một thế giới hòa bình được không ? Vì thế chúng tôi tự hào nghề thêu của mình ra đời để tưới bón cho tất cả các giai đoạn của cuộc đời con người, nên có thể gọi khu vườn tuổi già này là Khu Vườn Hy Vọng Không Có Tuổi. Bởi vì già hay trẻ không phải là thời gian bao lâu ta tạm trú trên cõi đời này mà là già hay trẻ trong trái tim, trái tim có còn yêu thương cuộc đời và chiến đấu vì những sự nghiệp cao cả hay không?

          Dù rằng người kia 80-90 tuổi nhưng trái tim vẫn còn yêu cuộc đời, yêu sự nghiệp cao cả thì đó là người không có tuổi. Để làm được điều đó, chúng tôi đã làm ra Khu Phố Tóc Bạc này. Nó như một chất thuốc hiện hình làm hiện lên một số giá trị mà người ta chưa bao giờ biết đến. Được biểu hiện qua 3 chiếc ghế trong không gian này

  1. Chiếc ghế của tình bạn: nơi đây hàng năm người thợ thêu lớn tuổi thường mời những người bạn thuộc những ngành nghề thủ công truyền thống khác của dân tộc đến để triển lãm chương trình của phường thợ những người bạn Đà Lạt dưới rừng thông để lưu giữ và truyền dạy lại nghề thủ công của mình cho thế hệ tuổi trẻ, để thấy được một ngành nghề truyền thống Việt Nam có đủ khả năng trau chuốt cho tâm hồn con người Việt. Cũng chính vì thế, khi còn hưởng dương, nhà thơ Tố Hữu đã có lần đến đây, ông xúc động đề tặng lại 2 câu thơ

Trăm năm ngắn lắm người ơi

Thương nhau xin nở nụ cười cùng hoa

  • Xin mời quý vị bước vào tham quan cửa hàng nơi có bán những sản phẩm cát tường của người thợ thêu lớn tuổi để trau chuốt cho tâm hồn người Việt. Nếu quý khách không đủ tiền chúng tôi sẽ giảm giá 20%.
  • Biểu tượng tối cao của người không tuổi là vườn nấm này bởi vì trong nền văn hóa Việt Nam, nấm là biểu tượng của sự trường thọ
  1. Chất thuốc hiện hình thứ 2 là Góc Thảo Nhai Đình, để người lớn tuổi học cách sống và học cách chết. Mời các bạn hãy nghe một bài thơ chiêm nghiệm của người thợ thêu lớn tuổi

Tuổi già phải có một góc vườn

Để khi cô quạnh nghe sương tự tình

 

Hay là bài thơ

« Buổi chiều nhìn nắng vàng qua trước ngõ

Phút thanh xuân chốc thoáng đã tà huy

Tiếng chim kêu tự cuối vườn ai đó

Thoảng trong không như báo triệu điều gì »

 

« Há phải múa gươm bàn nghĩa khí

Dám nào khoe cọ vẽ chân dung

Đời vô tri kỷ thơ vô chữ

Góc đá chơ vơ bạn lão tùng »

  1. Còn đây là căn phòng Thụ Pháp để nơi người thợ thêu lớn tuổi và những con người lớn tuổi nắm được những bí quyết của huyền thoại trong các nghệ thuật thủ công truyền thống khác có để ngồi truyền đạt lại những kinh nghiệm sống, kể những câu chuyện kể thiêng liêng về nguồn gốc ra đời để nói đến ý nghĩa sâu xa của sự vật hay đạo lý của tổ tiên.
  • Còn tình cảm của họ được thể hiện qua góc vườn Nỗi Nhớ Bà Dành Cho Trẻ Thơ, nơi đó có bánh trái, tiền lì xì mà người thợ thêu lớn tuổi dành tặng cho con cháu vì bà thèm lắm nụ cười của trẻ thơ
  • Còn đây là góc vườn cổ tích, nơi người lớn tuổi có thể truyền đạt lại đạo lý của người Việt. Khi kể chuyện cổ tích, bà thường nhìn mãi đôi mắt của các bé trai bé gái và đôi lúc bà xúc động trào nước mắt vì nó nhắc bà nhớ đến một thời tuổi trẻ của mình

Nên hôm nay, nếu quý vị có nhiều thời gian, tôi xin thay mặt cho người mẹ thợ thêu để kể lại một câu chuyện dưới rừng thông.

Với khu vực tuổi già này, chúng tôi được nhắc nhở : «động lực của sự phát triển là mưu cầu sự thống nhất chứ không phải lòng tham » nên khu vực này là một hy vọng  «đi tìm lại sự thống nhất giữa các thế hệ con người và các loài vật dưới rừng thông.

 ---------------

Nhà Nguyện :  “THẬP TỰ GIÁ HOA HỒNG” của người thợ thêu lớn tuổi

         Tương truyền rằng, tại Đà Lạt khi có mấy vị linh mục người Pháp được hỏi: Lí do gì khiến họ ra đi phiêu lưu xa tổ quốc đến vậy? Nghe đâu họ đã trả lời bằng câu nổi tiếng này “VÌ CÂY THÁNH GIÁ VÀ HOA HỒNG”

        Sự liên kết chặt chẽ giữa Chúa trời và các thần linh địa phương, là dấu hiệu của nhà thờ mà người Pháp đã thành lập tại Đà Lạt này. Cách cư xử của họ được xây dựng trên thái độ tôn trọng lẫn nhau và thậm chí là một thứ tình hữu nghị.

        Có những người khác cho rằng các nhà truyền giáo Pháp quốc ít ra đã tìm cách tách mình ra khỏi các tham vọng về kinh tế và chính trị của đồng bào họ.

        Vì vậy nghệ nhân của chúng tôi có lời cầu nguyện: “Chúa hãy cho con được biết Chúa, để con được mắt Chúa thương đến và coi nghề thêu này là ngành nghề của Chúa”

=o0o=

         Thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, thái tử Siddhartha – người sáng lập đạo Phật, rời bỏ cung điện của mình đi tìm chân lý, người được biết rằng đã có 48 trường phái triết học khác nhau, từ chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên tới chủ nghĩa thần bí. Từ Triết Học trong tiếng phạn có nghĩa là Darshana, nghĩa đen là “chiêm ngưỡng”, là “nhìn thấy”. Chân lý chỉ có một, nhưng chân lý lại đa diện. Và có thể nhìn thấy chân lý từ những góc độ khác nhau. Vì vậy, các Darshana hay các trường phái triết học khác nhau, không đối lập mà bổ sung cho nhau. Điều đó có nghĩa là có sự KHOAN DUNG về MẶT TRÍ TUỆ.

         Những nhân tố thống nhất làm cho các trường phái triết học nhích lại gần nhau là:

         Niềm tin cho rằng tri thức triết học không phải là mục đích tự thân, mà nó chỉ là một phương tiện để chuyển hóa nội tâm nhằm đạt tới giải thoát tức Mukti hay Nirvana (niết bàn). Ngay những người sáng lập ra những hệ triết học trừu tượng nhất cũng đều thừa nhận mục đích chung này.

         Coi tri thức triết học chỉ là một trong nhiều khía cạnh của sự thông thái cao nhất trong đó có sự trong sạch về đạo đức của người hiền sỹ, sự nhạy cảm của người nghệ sỹ.

         Các nhà triết học còn thống nhất với nhau  ở một điều nữa, không thể đạt đến sự giải thoát – tức là mục đích tri thức – bằng một ngoại lực, chẳng hạn như “số mệnh” mà bằng sự tu thân tích đức của mỗi  con người qua các kiếp luân hồi.

Căn phòng Yoga

Samkhya và Yoga ( một trong những trường phái triết học)

         Với quan niệm thừa nhận hai thực thể độc lập là tinh thần (Purusha) và tự nhiên (Prakrit) tinh thần là ý thức thuần túy của con người, tự nhiên là nguồn gốc của mọi tiềm năng, sinh lực con người, hoạt động của tinh thần có thể thúc đẩy hoạt động của tự nhiên.

         Trường phái Yoga chấp nhận cơ sở triết học này và vận dụng nó vào thực tế cuộc sống là thực hành của việc tự nhận thức bản thân mình.

         Mục đích của yoga là loại trừ những lệch lạc, méo mó do ý thức gây ra để tìm về với bản chất chân thực của tinh thần. Phương thức để đạt tới là suy tưởng. Một điều cần nhiều sự rèn luyện và chuẩn bị về thể xác và tâm thức.

Căn phòng “Tình Sử Của Người Thợ Thêu”

         Đó là một câu chuyện trong công cuộc đi tìm kiếm cái siêu hình trong tình yêu của người phụ nữ làm nghề thêu, để một ngày nào đó người phụ nữ thoát khỏi một sự mỉa mai kinh khủng trong lịch sử tình yêu của mình. Và chính trong căn phòng đi tìm kiếm siêu thực này, sẽ sản sinh ra nghệ thuật của người phụ nữ, sẽ rải đầy tình yêu trên thành phố của mình. Khi đó bạn sẽ thấy những con bò biết bay, người chơi đàn trên nóc nhà, con cá trèo cây để nghe nhạc, con bồ câu lại đeo kính để thêu thùa với niềm hy vọng sẽ không còn những đứa trẻ khóc trong nghĩa trang. Mà thưa quý vị, nghĩa trang thì bao giờ cũng đầy sự bất công.

=o0o=

 Đối diện với quý vị là khu vực triển lãm những tác phẩm mà người ta gọi là tranh khỏa thân. Đó là khu vực : Triển Lãm Chỉ Dành Cho Nội Bộ Thợ Thêu

Với chủ đề: NGƯỜI ĐÀN BÀ THÊU TAY VÀ MẢNH VƯỜN

 Vì sao chúng tôi có không gian triển lãm này?

         Sự ra đời của không gian này giúp cho người phụ nữ nghề thêu đi tìm kiếm lại những giá trị thẩm mỹ trên cơ thể mình, từ đó họ đòi hỏi một nghi lễ đối với những giá trị thẩm mỹ này để chống lại một thứ văn hóa tràn lan: Sống sượng - tục tằn - thô lỗ - bạo lực..vv.. mà chúng ta thường gọi là “khiêu dâm”. Điều này đẩy hình ảnh người phụ nữ xuống một bậc thấp nhất, biến họ thành nạn nhân của một tình trạng kém phát triển và lệch lạc mà hằng ngày chúng ta thấy trên những mặt báo.

         Bất cứ một nền văn minh và dân tộc nào trên hành tinh này trong văn hóa tình yêu đều phải vươn lên và đòi hỏi trả lại cho cảm xúc yêu đương những khía cạnh lãng mạn của nó, với những phương thức trữ tình - ca ngợi sự bí ẩn của những đường cong của họ - những hình thái mơ mộng của tình yêu - trả lại ly rượu của những trái nho chín mọng sự trong lành của nó với một hy vọng xoa dịu nỗi đau đớn trong lịch sử của nữ thần ái tình Việt Nam.

         Tại không gian này những người thợ thêu sẽ mời những vị thần nắm giữ bí quyết của nghệ thuật sống đi vào những kho tàng thông thái được thể hiện qua những tác phẩm đang triển lãm ở đây, để ban phát sự tròn trặn cho mặt trời, cho những điệu nhảy, cho mặt trăng, cho mùa màng của người nông dân, cho đường bay uốn lượn của những cánh én, cho nhịp điệu của cánh bướm, cho thủy triều, cho bụi cỏ chiều hè, cho giường chiếu, cho những điều huyền diệu khác trong kiếp phù du của chúng ta.

         Đấng cứu thế nào dám phủ nhận điều đó mà không bác bỏ giá trị cứu rỗi và vẻ đẹp vĩnh hằng của tình yêu, mà chính nhờ nó Thần Linh cũng như con người trần thế chúng ta có được chất nhạc và chất thơ trong cuộc sống hàng ngày

Và những điều ấy được diễn đạt thông qua một số mô hình trong không gian này

  • Những giáo điều với khẩu súng săn – kèm theo chiếc mặt nạ hình đầu lâu. Đó là sự đe dọa của thần chết đối với nữ thần ái tình
  • Góc vườn Nỗi buồn thần chết.
  • Căn phòng Tái tạo bốn mùa.
  • Tác phẩm Kinh nghiệm đau đớn của lịch sử ái tình
  • Góc vườn nơi Adam và Eva cười to vào mặt thần chết.
  • Căn phòng triển lãm nghệ thuật xum xuê và màu nhiệm của những nghệ nhân ngây thơ của XQ.
  • Góc vườn Sự cuồng nộ mộ địa của người đàn bà đòi được sống.
  • Dưới gốc đa có căn phòng: Nơi hát thánh ca cho một bé gái vừa qua đời của Nghệ Sỹ Sống Về Đêm.
  • Căn phòng triển lãm Ngân hàng gien, nơi tìm kiếm những phụ nữ Việt Nam bị thất lạc.
  • Và cũng nơi đó triển lãm những hình ảnh quái đản sinh ra trong thời kỳ đau thương.

Bi kịch của trái tim con người ngày hôm nay là sống trên cùng mảnh đất mà không còn nghe được tiếng nói của nhau nữa ?

         Thưa anh chị, xưa kia, những hình ảnh đầu tiên con người để lại trên vách các hang động là hình ảnh vẽ các loài vật, bản nhạc đầu tiên hay nhất mà con người từng nghe cũng chính là tiếng chim hót. Các loài vật là nguồn gốc của những điều mộng mơ và cả những điều sợ hãi cho con người

         Đây là thiên trụ tôn nghiêm, nơi mời các anh chị tìm «bí mật của cây cỏ, ngủ vùi trong đêm đen, anh chị hãy đến làm quen ». Xin mời quý vị khám phá bí mật ấy bằng cách mua một đồng xu tại quán Thu Phong và ném xuống hộp kính dưới đáy nước. Sẽ có con ve sầu cõng bạn bay về ca hát trong khu vườn này.

 

Ta bắt một chú ve

Chở ta về viễn phố

Hỏi thăm khu rừng năm cũ có buồn không ?

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
.
.
.