MEN RƯỢU ĐƯỜNG THI

RƯỢU TRONG THƠ ĐƯỜNG

Thay lời dẫn

Chẳng phải mãi đến đời Đường thì rượu mới hiện diện và tỏa hương trong thơ ca Trung Quốc. Thực ra ngay từ khi có rượu và thơ trên đời này, thì hai thứ đã đồng hành cùng nhau. Hơn 3000 năm trước, trong Kinh thi, tập thơ cổ nhất của Trung quốc đã có bóng dáng rượu trong thơ. Bài “Quyển Nhĩ” thiên Chu Nam trong kinh thi viết: “Trách bỉ thôi ngôi Ngã mã hủy đồi Ngã cô chước bỉ kim lôi Duy nhĩ bất vĩnh hoài Trắc bỉ cao cương Ngã mã huyền hoàng Ngã cô chước bỉ hủy quăng Duy dĩ bất vĩnh thương”, ý là ta leo lên ngọn núi cao kia, ngựa mệt bủn rủn cả đùi, ta rót rượu đầy chén vàng, mượn rượu tiêu sầu đỡ nhớ nhung; ta leo lên gò cao kia, ngựa mệt biến cả sắc, ta rót rượu đầy chén sừng tê giác, không để cho lòng mãi bi thương. Vào thời tam quốc, Tào Tháo (155-220), kiêu hùng một thời, khi làm tể tướng cuối đời Đông Hán từng có lệnh cấm rượu rất ngặt, nhưng lại có “Đoản ca hành”, một bài thơ nói đến rượu được truyền bá rộng rãi: “Đối tửu đương ca Nhân sinh kỷ hà… Ưu tư nan vong Hà dĩ giải ưu Duy hữu Đỗ Khang…” Tạm dịch là trước rượu phải hát ca, cuộc đời được bao lăm…lo buồn khó quên, lấy gì phải buồn, chỉ có rượu mà thôi. Thời tấn, nhà thơ Đào Uyên Minh (365?-427) không vì năm đấu thóc mà phải khom lưng trong chốn quan trường, đã từ quan về sống cảnh điền viên gần gũi thiên nhiên, ngày ngày “Thái cúc đông ly hạ Du nhiên kiến Nam Sơn” (Hái cúc dưới dậu mé đông Thung dung ngắm nhìn núi Nam Sơn). Trong số 121 bài thơ hiện còn của ông có nhiều bài nói đến rượu, trong đó có cả chùm “Ẩm tửu” (Uống rượu) gồm 20 bài. Chẳng hạn bài số 8 “Cố nhân thưởng ngã thú”:

             Cố nhân thưởng ngã thú

             Khiết hồ tương dữ chí

             Ban kinh tọa tùng hạ

             Sổ châm dĩ phục túy

             Phụ lão tạp loạn ngôn

             Thương chước thất hàng thứ

             Bất giác tri hữu ngã

             An tri vật vi quý

             Du du mê sở lưu

             Tửu trung hữu thâm vị

Tạm dịch nghĩa:

             Cố nhân có hứng thú giống ta

             Mang bình rượu cùng nhau tới

             Trải chiếu ngồi dưới bóng thông

             Mấy lần rót đã bắt đầu say

             Các cụ nói năng tạp loạn

             Chén rót rượu ngổn ngang

             Bất giác ta biết là mình tồn tại

             Biết đâu mọi thứ khác là quý

             Đê mê chẳng biết mình ở đâu

             Trong rượu có ý vị sâu đậm!

Uống rượu, ca hát để quên sầu; rượu làm ta biết mình có tồn tại trên đời, nhưng đê mê không biết mình ở đâu! Thơ viết về uống rượu như thế cũng đã là tinh tế. Nhưng phải đợi đến thời Đường, một thời đại rực rỡ về thơ ca trong lịch sử Trung Quốc, với những tên tuổi như Lý Kỳ, Vương Duy, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Nguyên Chẩn, Vi Ứng Vật, Bạch Cư Dị, Lý Hạ, Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn và rất nhiều nhà thơ khác nữa thì thơ rượu mới đạt tới đỉnh cao về số lượng lẫn chất lượng.

Có thể nói, ở đây lịch sử đã chứng kiến một “cặp đôi” thật hài hòa, thật ý nghĩa giữa rượu và thơ, giữa một sản phẩm sáng tạo vật chất và một sản phẩm sáng tạo tinh thần của loài người. Rượu có mặt mọi lúc mọi nơi, trong mọi cảnh ngộ cuộc đời, mọi trạng thái cung bậc tình cảm của con người.

Ấy là khi người ta vui. Niềm vui trong một đời người đôi khi không nhiều, nhất là người làm thơ, nhưng có niềm vui nào lại không tìm đến rượu:

             Nhân sinh đắc ý tu tận hoan

             Mạc sử kim tôn không đổi nguyệt

             Vui thỏa thích khi ta đạt ý

             Trước trăng vàng chén quý đừng với

             Phanh dương tể ngưu thả vi lạc

             Hội tu nhất ẩm tam bách bôi

             Dê, trâu giết để vui say

             Ba trăm ly uống hết bay một lần

Rồi

             Trần vương tích thời yến Bình Lạc

             Đấu tửu thập thiên tử hoan hước

             Trần vương xưa một thời Bình Lạc

             Yến tiệc vui bát ngát thâu đêm

             Rượu ngon một đấu vạn tiền

             Có hề chi, vẫn mua liền để vui

             (Lý Bạch “Tương Tiến Tửu”. NBT dịch)

Đối với người xưa khi phương tiện giao thông chưa phát triển mà cảnh chinh chiến loạn ly lại diễn ra thường ngày thì có niềm vui nào lớn hơn là niềm vui lúc cửu biệt trùng phùng, và lúc ấy người ta thả sức nâng chén:

             Chủ xưng hội diện nan

             Nhất cử lũy thập thương

             Thập thương diệc bất túy

             Chủ nhân bảo gặp nhau thật khó

             Hãy uống đi một bữa thỏa thuê

             Một hơi uống cạn mười ly

             Mười ly cũng chẳng thấy gì là say

             Nhưng hội ngộ rồi lại chia ly, mà giây phút hội ngộ sao mà ngắn ngủi:

             Minh nhật cách sơn nhạc

             Thế sự lưỡng mang mang

             Ngày mai lại cách xa sông suối

             Người một phương đôi ngả mênh mang

             (Đỗ Phủ. “Tặng Vệ Bát Xử Sỹ”.TVL dịch)

Thế là lại chia tay, lại tiễn đưa. Thơ Đường có rất nhiều bài nói đến tiễn đưa. Nhưng dường như không cuộc tiễn đưa nào trong thơ Đường mà không có rượu:

             Túy biệt giang lâu quất hữu dương

             Giang phong dẫn vũ nhập chu lương

             Tiễn nhau say khước quán ven giang

             Mưa bụi, bưởi thơm, gió lộng khoang

             (Vương Xương Linh. “Tống Ngụy nhị”.NXD dịch)

             Kim nhật tống quân tu tận túy

             Minh triêu tương ức lộ man man

             Tiễn bác hôm nay say hết cỡ

             Mai nhớ thương nhau vạn dặm đường

             (Giả Chí. “Tống Lý thị lang phó Thường Châu”. NĐN dịch)

Phút bịn rịn chia tay, người ta cứ muốn lấy chén rượu để níu kéo người thân ở lại lâu thêm chút nữa:

             Khuyến quân cách tận nhất bôi tửu

             Tây xuất Dương Quan vô cố nhân

             Cạn thêm chén nữa bạn ơi

             Dương Quan ra khỏi còn người quen đâu

             (Vương Duy. “Tống Nguyên nhị sứ An Tây”. NND dịch)

Chia tay thương buồn. Nhưng chia tay trong cảnh xa xứ vào dịp lễ tết (như tết Trung dương trong bài thơ dưới đây chẳng hạn) lúc mà lẽ ra người ta phải đoàn tụ lại càng buồn hơn:

             Cửu nguyệt cửu nhật Vọng Hương đài

             Tha tịch tha hương tống khách bôi

             Mùng chín tháng chín lầu Ngóng Quê

             Chén rượu tha hương tiễn khách về

             (Vương Bột. “Thục trung cửu nhật”. NND dịch)

Khách về còn mình thì ở lại với nỗi cô đơn của thân phận tha hương, cứ ngóng mãi về chốn xa xăm mù khơi mong tìm thấy chút ấm áp của tình quê. Người ở lại đã thế nhưng người đi cũng đâu có nhẹ nhàng, nhất là trong một ngày được gọi là “trong sáng” (thanh minh) nhưng trớ trêu thay lại đầy trời gió mưa sầu thảm:

             Thanh minh thời tiết vũ phân vân

             Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn

             Tiết thanh minh mưa phùn rây rứt

             Khách đường xa lòng não nuột buồn

Trong tình cảnh một thân một mình nơi lữ thứ ấy chỉ còn cách

             Tá vấn tửu gia hà xứ hữu

             Ghé hỏi ở đâu có quán rượu

             (Đỗ Mục. “Thanh minh”. NXD dịch)

Để tới đầu ngõ hầu tìm thấy một chút ấm áp và an ủi trong chất men say mà thôi.

Buồn chia tay cũng chỉ là một trong vạn nỗi buồn đau ở cõi đời này. Nhưng giống như khi vui, khi buồn người ta cũng tìm đến rượu.

          Khí ngã khứ giả, tạc nhật chi nhật bất khả lưu

          Loạn ngã tâm giả, kim nhật chi nhật đa phiền ưu

          Trường vong vạn lý tống thu nhạn

          Đối thử khả dĩ hàm cao lâu

          Ngày hôm qua bỏ ta mà đi, ta không thể níu giữ

          Ngày hôm nay làm rối lòng ta, gây bao nỗi ưu phiền

          Gió dài vạn dặm tiễn đưa nhạn

          Cảnh này lầu cao phải dốc bầu

          (Lý Bạch. “Tuyên châu tạ diểu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Van”. NND dịch)

Có biết bao nhiêu thứ khiến người ta đau buồn. Buồn trước cảnh vật đổi sao giời:

          Thả khan dục tận hoa kinh nhãn

          Mạc yếm thương đa tửu nhập thần

          Hãy nhìn trước mắt hoa gần chết

          Đừng để buồn nhiều rượu chán nâng

          (Đỗ Phủ. “Khúc Giang 1”. NĐN dịch)

Buồn tiếc ngày tháng qua mau, tuổi xuân không trở lại:

             Xuân phong dư kỷ nhật

             Lưỡng mấn các thành ty

             Gió xuân còn mấy ngày thôi

             Tóc mai ta đã trắng hết rồi còn đâu

             (Lý Bạch. “Tặng Tiền Trưng quân Thiếu Dương”. TVL dịch)

Buồn trước cảnh đời ngang trái bất công. Như Đỗ Phủ diễn tả trong “Túy thời ca”: Kẻ thì “yếm lương nhục” (no xôi chán thịt) người thì “phạn bất túc” (cơm chẳng đủ ăn). Mà đấy đâu có phải người thường: đấy là người “hữu đạo xuất Hy Hoàng” (có đạo bắt nguồn từ Phục Hy), “hữu tài quá Khuất Tống” (có tài vượt Khuất Nguyên, Tống Ngọc). Trớ trêu thay, ở đời người tài giỏi đức độ và kẻ ngu xuẩn gian manh rồi số phận cũng đều như nhau:

             Khổng Khâu Đạo Chích câu trần ai

             Khổng Khâu, Đạo Chích cũng ra ma

Vậy nên

          Bất tu văn thử ý thảm thảng

          Sinh tiền tương ngộ thả hàm bôi

          Nghe chi chuyện ấy cho sầu não

          Còn sống gặp nhau cứ say nhòa

          (Đỗ Phủ. “Túy thời ca”. NĐN dịch)

Âu cũng là một cách tự an ủi vậy. Và đấy chính là tác dụng của rượu. Nhưng có lúc rượu cũng trở nên vô dụng:

          Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu

             Tửu bôi tiêu sầu sầu cánh sầu

             Rút dao chém nước nước cùng chảy

             Nâng chén tiêu sầu sầu càng thêm

             (Lý Bạch. “Tuyên Châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Vân”. TVL dịch)

             Đình bôi đầu trợ bất năng ẩm

             Bạt kiếm tú cố tâm mang nhiên

             Đặt chén quẳng đũa uống không nổi

             Tuốt kiếm nhìn quanh lòng bối rối

Vì nỗi đau này quá lớn. Ấy là nỗi đau của kẻ sỹ ưu thời mẫn thế mà không thi thố được tài năng hoài bão của mình. Đường, đặc biệt Thịnh Đường là thời đại thịnh trị trong lịch sử chế độn phong kiến Trung Quốc. Giới trí thức, trong đó có những tên tuổi lớn như Lý Bạch, Đỗ Phủ…, mong muốn được kẻ thống trị trọng dụng để thực hiện lý tưởng định quốc an bang của mình. Nhưng do nhiều nguyên nhân, mà chủ yếu là do sự chèn ép của những kẻ đương quyền, cơ hội đã không tới, con đường tiến thân đầy trắc trở:

             Dục độ Hoàng Hà băng tắc xuyên

             Tương đăng Thái Hàng tuyết mãn sơn

             Muốn vượt Hoàng Hà băng nghẽn sông

             Định lên Thái Hàng tuyết đầy núi

             (Lý Bạch. “Hành lộ man”. NND dịch)

Lúc này, rượu đã “bó tay”, nên để xoa dịu nỗi đau của mình, chỉ còn một cách: tìm đến thiên nhiên, làm bạn với sơn thủy hữu tình:

             Nhân sinh tại thế bất xứng ý

             Minh triêu tán phát lộng biên chu

             Sống ở trên đời không vừa ý

             Sáng mai xõa tóc cưỡi thuyền đi

             (Lý Bạch. “Tuyên Châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Vân)

Nhưng điều đặc biệt ở các nhà thơ Đường là thiên nhiên mà họ bị hút hồn cũng phải có rượu thì mới được tôn lên. Chính thiên nhiên tươi đẹp làm người ta phấn khích tìm đến rượu và uống rượu được coi là một cách để đền đáp lại vẻ đẹp hào phóng của thiên nhiên:

             Phong quang nhược thử nhân bất túy

             Sâm si cô phụ đông viên hoa

             Cảnh này mà người không say khướt

             Là phụ lòng hoa phía đông nhà

             (Trương Vị. “Hồ trung đối tửu tác”. NXD dịch)

          Đãn tương mính đính thù giai tiết

          Bất đụng đăng lâm hận lạc huy

          Say tít để đền thời tiết đẹp

          Lên cao chi nữa, hận gì đây

          (Đỗ Mục. “Cửu nhật Tề Sơn đăng cao”. TVL dịch)

Rượu làm cho thiên nhiên và con người xích lại gần nhau như những người bạn tri kỷ. Thử hỏi có cảnh nào nên thơ hơn là cảnh sau đây trong bài “Hú đề bàn thạch” của Vương Duy:

             Khả liên bàn thạch lâm tuyền thủy

             Phục hữu thùy dương phất tửu bôi

             Nhược đạo xuân phong bất giải ý

             Hà nhân xuy tống lạc hoa lai

Một bàn đá xinh xắn bên bờ con suối trong róc rách chảy, mấy cành dương liễu phất phơ rủ xuống chén rượu đầy, một người thơ ưng dung nhàn nhã ngồi nâng chén trên phiến đá, và gió xuân, gió xuân cứ phơi phới thổi đưa những cánh hoa rụng tới chỗ nhà thơ như biết rằng ngồi đấy là một người rất yêu hoa, yêu cảnh thiên nhiên. Không thể bảo rằng gió xuân không hiểu ý người được.

Và đây nữa, một đêm gió mát trăng thanh:

             Thiềm gian thanh phong điệm

             Tùng hạ minh nguyệt bôi

             Giữa thềm gió mát trải chiếu ngồi

             Thông lồng bóng nguyệt rượu đầy vơi

Thật tình cờ, đúng lúc ấy lại có “bạn hiền” tới thăm:

             U ý chính như thử

             Huống nãi cố nhân lai

             Cảnh tình u nhã là như vậy

             Huống hồ bạn cũ lại tới chơi

             (Bạch Cư Dị. “Hữu nhân dạ phỏng”. NND dịch)

Thật còn gì hơn nữa! Vì nên nhớ rằng, trừ trường hợp bất đắc dĩ phải “Uống rượu một mình”, làm bạn với trăng và bóng trong cảnh cô đơn không cùng như Lý Bạch trong bài “Nguyệt hạ độc chước”:

             Hoa gian nhất hồ tửu

             Độc chước vô tương thân

             Cử bôi yêu minh nguyệt

             Đối ảnh thành tam nhân

             Trong tay rót một bầu rượu

             Mình rót uống dưới hoa

             Nâng chén mời trăng sáng

             Thêm bóng nữa thành ba

             (Lý Bạch. “Nguyệt hạ độc chước”. TVL dịch)

Còn nói chung uống rượu phải có bạn mới vui. Chẳng thể mà Đỗ Phủ trong bài “Túy thời ca” đã nhắc tới trên kia viết “Đắc tiền tức tương mịch Cô tửu bất phục nghi” (có tiền liền tìm nhau Lại rượu có sai đâu – NXD dịch) hay Lục Du, nhà thơ Trung Quốc thời Tống viết “Tửu vô độc ẩm lý Thường hận khiếm giai khách Hốt đắc ngã bối nhân Khởi kế thần dữ tịch” (Rượu không lý uống một mình Hận vì thiếu bạn tâm tình mà thôi Bọn ta nay gặp mặt rồi Kể chi sáng sớm hay trời nhá nhem – NND dịch) còn nhà thơ Nguyễn Khuyến của ta trong bài “Khóc Dương Khuê” thì viết “Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải tiền không mua”.

Vậy là rượu có thể làm tăng thêm niềm vui, làm vơi đi nỗi sầu, làm cho người ta quên đi những mất mát trong đời, quên đi cả cái quy luật khắt khe của tự nhiên là:

          Nhật nhật nhân không lão

          Niên niên xuân cánh quy

          Người ngày ngày già đi

          Xuân mỗi năm lại về

Để có thái độ ung dung trước mọi biến đổi, mọi mất mát, vì

             Tương hoan hữu tôn tửu

             Bất dụng tích hoa phi

             Cùng vui đã có rượu

             Hoa dẫu rụng tiếc chi

             (Vương Duy. “Tống xuân từ”. NND dịch)

Rượu còn có thể góp phần khẳng định, tôn lên cốt cách của người quân tử, củ lẽ sỹ. Đấy là những người không màng công danh phú quý, coi rẻ cả cường quyền, chẳng hạn Mạnh Hạo Nhiên:

             Hồng nhan khí hiên miện

             Bạch thủ ngọa tùng vân

             Túy nguyệt tần trung thánh

             Mê hoa bất sự quân

             Thời trẻ chẳng thiết chức tước

             Về già thì quy ẩn sơn lâm

             Dưới trăng nhiều lần say khướt

             Mê hoa vua cũng cóc cần

             (Lý Bạch. “Tặng Mạnh Hạo Nhiên”. NND dịch)

Hay Lý Bạch:

             Lý Bạch đấu tửu thi bách thiên

             Trường an thị thượng tửu gia mien

             Thiên tử hô lai bất thướng thuyền

             Tự xưng thần thị tửu trung tiên

             Lý Bạch đấu rượu thơ trăm áng

             Ngủ ngay quán rượu phố Trường An

             Thiên tử gọi cũng chẳng lên thuyền

             Tự xưng làng rượu thần là tiên

             (Đỗ Phủ. “Ẩm trung bát tiên ca”. NĐN dịch)

Vua chúa trong chế độ phong kiến là quyền uy tuyệt đối tối thượng, nhưng khi chén rượu đã trên tay thì lệnh vua ý chúa cũng chẳng lọt tai người thơ đang say. Vì khi đó rượu và thơ là trên hết:

          Hứng hàm lạc bút dao Ngũ Nhạc

          Thi thành tiếu ngạo lăng Thương Châu

          Say hứng bút vung mờ Ngũ Nhạc

          Thơ thành cười nhạo át Thương Châu

          (Lý Bạch. “Giang thượng ngâm”. TVL dịch)

Đến đây thì quyền uy của rượu và thơ, của thứ sức mạnh làm lung lay tất cả, vượt trên tất cả do rượu và thơ mang lại đã được nâng lên tới đỉnh cao tuyệt đối, tót vời!

Đương nhiên lác đác trong thơ Đường nói đến rượu đôi khi ta cũng bắt gặp đôi vầng mang hơi hướng của thứ nhân sinh quan sống gấp, kịp thời hành lạc:

             Thân hậu đôi kim trụ Bắc Đẩu

             Bất như sinh tiền nhất tôn tửu

             Sau khi chết vàng cao như núi

             Cũng chẳng bằng chén rượu hôm nay

             (Bạch Cư Dị. “Khuyến Tửu”. TVL dịch)

Hay

             Khuyến quân chung nhật mính đính túy

             Tửu bất đáo Lưu Linh phần thượng thổ

             Khuyên bạn cả ngày say ngất ngưỡng

             Lúc đã xuống mồ, rượu chắc không

             (Lý Hạ. “Tương Tiến Tửu”. NĐN dịch)

Nhưng nhìn bằng con mắt thực tế thì như thế cũng chẳng có gì không ổn.

*

Trên đây chỉ là mấy nét chấm phá về mối lương duyên giữa rượu và thơ trong vườn thơ Đường bao la đầy hương sắc. Hơn một trăm bài thơ rượu được dịch trong cuốn sách hôm nay đến với bạn đọc cũng chỉ là một phần rất nhỏ trong con số khổng lồ những bài thơ mà các thi sỹ thời Đường đã viết về rượu, viết trong rượu và viết nhờ rượu. Những người dịch cũng là những người suốt đời yêu thơ và rượu, và họ đã tìm được ở đây nơi gửi gắm cùng lúc cả hai niềm yêu đó. Họ đã cố gắng rất nhiều, nhưng không dám chắc là đã lột tả được hết qua các vầng thơ dịch sự kết hợp kỳ thú bậc nhất trong lịch sử nhân loại giữa hai sản phẩm văn hóa độc đáo là Rượu và Thơ. Dù sao việc làm của họ cũng giúp ích rất nhiều cho bạn đọc Việt Nam tiếp cận một thứ men say ngạt ngào tỏa hương từ mười mấy thế kỷ trước cho đến tận bây giờ và còn mãi mãi về sau – “Men rượu Đường thi”.

Vậy xin mời bạn đọc cùng thưởng thức.

Xuân Nhâm Thìn 2012

Giáo sư

Vũ Khiêu

___________________________________

Vương Tích (王績)

Vương Tích (585?–644?), tên tự là Vô Công, hiệu Đông Cao Tử, người ở huyện Long Môn, Giáng Châu (nay là Hà Tân; Sơn Tây). Thời đại nghiệp nhà Tùy (605 – 617) trúng khoa hiếu đễ liêm khiết, ra làm huyện thừa ở Lục Hợp. Đầu đời Đường có làm qua một số chức quan nhỏ nhưng chỉ được ít lâu lại treo mũ về quê. Ông hâm mộ Đào Uyên Minh, gửi lòng vào thơ và rượu. Thơ ông phần nhiều viết về đề tài điền viên sơn thủy, phong cách mạnh mẽ, tao nhã, cổ điển. Có Văn tập gồm 5 quyển.

***

TÚY HẬU

Nguyễn Tịch tỉnh thời thiểu

Đào tiềm túy nhật đa

Bách niên hà túc độ

Thừa hứng thả trường ca

 

Dịch nghĩa:

Nguyễn Tịch1 ít khi tỉnh. Đào tiềm2 nhiều ngày say. Trăm năm có gì đáng tính, thừa hứng ta cứ ca dài.

(1).Nguyễn Tịch (210 – 263), nhà thơ nước Ngụy thời Tam Quốc. Tính thích uống rượu, cùng với Sơn Đào, Kê Khang, Hướng Tú, Lưu Linh, Vương Nhung và Nguyễn Hàm xưng là “Trúc lâm thất hiền (7 người hiền trong rừng trúc)”,suốt ngày uống rượu và bài bác chính sự lúc bấy giờ. Tác phẩm tiêu biểu là “Vịnh hoài thi” gồm 28 bài. Có Nguyễn Bộ binh tập.

(2).Đào Uyên Minh (365 – 427),nhà thơ thời Đông Tấn, tên Tiềm, tự Nguyên Lượng. Làm qua chức quan nhỏ, sau từ quan về làm ruộng tự cung. Thích uống rượu, thưởng hoa cúc. Ông làm nhà thơ tiêu biểu cho phong trào cách mạng thơ điền viên. Có Đào Tính Tiết tập.

 

  • Dịch Thơ:

Nguyễn Tịch ít khi tỉnh

Đào Tiềm nhiều ngày say

Trăm năm được mấy độ

Thừa hứng cứ ca dài

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch Thơ:

Nguyễn Tịch mấy khi tỉnh

Đào Tiềm nhiều ngày say

Trăm năm là mấy chốc

Cao hứng hát suốt ngày

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

 

***

Quá tửu gia

Thử nhật trường hôn ẩm

Phi quan dưỡng tính linh

Nhãn khan nhân tận túy

Hà nhẫn độc vi tinh

 

Dịch nghĩa:

Qua Quán Rượu

Hôm nay ta uống rượu mãi đến người. Điều đó chẳng liên quan gì đến việc nuôi dưỡng tính cách. Nhưng mắt nhìn thấy người đời say cả, sao ta nỡ riêng mình mình tỉnh*!

(1)Gợi nhớ câu thơ Khuất Nguyên: “Chúng nhân giai túy ngã độc tỉnh (Mọi người đều say riêng ta tỉnh)”.

 

  • Dịch thơ:

Hôm nay ta uống rượu đến mê người

Chẳng liên quan gì đến việc nuôi tính cách

Nhưng mắt nhìn thiên hạ say hết sạch

Riêng một mình ta tỉnh sao đang!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Hôm nay ta uống rượu say

Chẳng hề mong muốn đổi thay tính người

Thấy đời say cả mười mươi

Sao ta nỡ tỉnh lẻ loi một mình

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Vào quán rượu uống say mê mệt

Ngại gì đâu đến cái tính cái tâm

Trông ra người đời đều say hết

Riêng mình ta tỉnh có đành chăng?

                   Nguyễn Chí Tình dịch

____________________________________

Vương Bột (王勃)

Vương Bột (650-676), tự Tử An, người Long Môn, Giáng Châu (nay là Hà Tân, Sơn Tây). Xuất thân vọng tộc, ông nội Vương Thông là bậc đại nho cuối thời Tùy, 15 tuổi đi thi, được phong triều tán lang, được bát vương là Lý Hiền triệu làm thị độc trong vương phủ. Sau làm tham quân Quắc Châu (nay là Linh Báo Hà Nam). Năm 27 tuổi vượt biển theo cha làm Giao Chỉ lệnh, chết đuối trên đường đi.

Ông là một trong “tứ kiệt thời sơ Đường” (Ba người kia là Dương Quýnh, Lô Chiếu Lân, Lạc Tân vương), thơ ca mới mẻ thanh tú, chất phác tự nhiên, phần nhiều bộc lộ tình cảm cá nhân, cũng có những bài đả kích những mặt xấu xa của thời cuộc. Có Lạc Lâm hỉ tập. Trong toàn đường thi có 3 quyển thơ ông.

***

Thục trung cửu nhật

Cửu nguyệt cửu nhật vọng Hương đài

Tha tịch tha hương tống khách bôi

Nhân tình dĩ yếm Nam Trung khổ

Hồng nhạn ná tùng bắc địa lai.

 

Dịch nghĩa:

Này mồng chín ở đất Thục

Ngày mồng chín tháng chín1 ta lên đài ngóng quê2. Trên chiếu rượu nơi xa xứ cùng nâng chén tiễn khách. Lòng ta đã quá chán với cảnh khổ ở Nam Trung3 rồi, thế mà chim nhạn ở đất bắc còn bay về đây làm gì chứ!

1.Ngày 9 tháng 9: tức tiết trùng dương (hay trùng cửu).Vào ngày này người xưa có lục leo lên cao, giắt nhánh thù du lên đầu và uống rượu cúc. Thù du là một loại cây có mùi hương, người ta cho rằng có thể trừ tà, còn cúc là loài hoa riêng có của mùa thu, làm rượu uống thơm ngon, khoan khoái.

2.Vọng hương đài (Đài ngóng quê): ở phía Bắc Thành Đô.

3.Nam Trung: tức đất Thục.

 

  • Dịch thơ:

Mùng chín tháng chín lầu Ngóng Quê

Chén rượu tha hương tiễn khách về

Lòng người đã ngán Nam Trung khổ

Nhạn từ phương Bắc tới đây chi!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

______________________________________

ĐỖ THẨM NGÔN (杜審言)

Đỗ Thấm Ngôn (khoảng 645-708), tự Tất Giản, quê gốc Thương Dương (nay thuộc Tương Phàn, Hồ Bắc), bố ông di cư đến huyện Củng (nay là Củng Nghĩa, Hà Nam). Tiến sĩ đời Hàm Hanh (670-674), làm chức trực học sĩ ở Tu văn quán. Ông là ông nội của Đỗ Phủ, có ảnh hưởng nhất định đến Đỗ Phủ.

Thơ ông chủ yếu thổ lộ nỗi niềm xa xứ, miêu tả cảnh vật núi sông, cấu tứ nghệ thuật tinh tế, cách luật nghiêm chỉnh.

***

Hạ nhật quá Trịnh thất sơn trai

       Đỗ Thẩm Ngôn

 

Cộng hữu tôn trung hảo

Ngôn tầm Cốc Khẩu lai

Bệ la sơn kính nhập

Hạ kỵ thủy đình khai

Nhật khí hàm tàn vũ

Vân âm tống vãn lôi

Lạc Dương chung cổ chí

Xa mã hệ trì hồi.

 

Dịch nghĩa:

Ngày hè qua sơn trai bảy Trịnh1

Chúng mình cùng thích rượu

Vì thế hôm nay tôi tìm đến sơn trai2  của anh 

Bệ lệ, nữ la3 bò lan ra con đường nhỏ trên núi

Hoa sen hoa sung nở quanh thủy đình

Hơi nóng mặt trời thấm trong những hạt mưa rơi rớt lại

Bóng mây vang vọng tiếng sấm buổi chiều tà

Nghe tiếng chiêng trống từ phía Lạc Dương vọng tới

Đã đến lúc phải về rồi nhưng vẫn dùng dằng ghìm ngựa chưa muốn trở về.

(1)Bảy Trịnh: chắc là một bạn thân của tác giả

(2)Sơn trai: nguyên văn là “Cốc Khẩu”, tên một huyện đời Hán, nay ở phía đông huyện Lễ Tuyền tỉnh Thiểm Tây, là nơi đời Hán có cao sĩ là Trịnh Phác ẩn cư. ở đây mượn tích này để chỉ nơi ở của bảy Trịnh.

(3)Bệ lệ, nữ la: các loại cây dây leo thuộc họ địa y)

 

  • Dịch thơ:

Cùng là dân thích men say

Nên tôi tìm đến nơi này cùng anh

Đường núi cây cỏ rợp xanh

Hoa sen hoa súng nở quanh ao làng

Mưa tan loang vệt nắng vàng

Mây đen chen tiếng sấm vang ỳ ầm

Lạc Dương chiêng trống nghe gần

Lên xe mà vẫn tần ngần chưa đi

                             Trần Vân Long dịch

  • Dịch thơ:

Chúng mình rượu đều ham

Tôi tìm đến Cốc Khẩu

Đường mòn có bò lan

Thủy đình hoa sen nở

Nắng ấm hạt mưa tàn

Mây chiều vang tiếng sấm

Trống Lạc Dương vọng sang

Lên xe đi chẳng dứt

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

__________________________________

HẠ TRI CHƯƠNG (賀知章)

Hạ Tri Chương (659-khoảng 744), tự Quý Chân, người Vĩnh Hưng Việt Châu (nay là Tiêu Sơn Triết Giang). Tiến sĩ năm Võ Hậu Chững Thánh 1 (695), được phong quốc tử tứ môn bác sỹ, sau chuyển làm thái thường thiếu khanh. Thời Huyền Tông lần lượt làm Lễ bộ thị lang, thái tử tân khách, bí thư giám. Tính cách khoáng đạt tự do, cuối đời càng phóng túng, tự xưng là Tứ Minh Cuồng Khách. Thân với các nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ. Thơ ông phần lớn thất truyền. Có Hạ Bí Giám tập. Toàn Đường thi có 1 quyển thơ ông.

***

Đề Viên thị biệt nghiệp

        Hạ Tri Chương

 

Chủ nhân bất tương thức

Ngẫu tọa vi lâm tuyền

Mạc mạn sầu cô tửu

Nang trung tự hữu tiền.

 

Dịch nghĩa:

Đề nhà riêng họ Viên

Chủ nhân không quen biết ta, tình cờ ta đến đây ngồi vì thích cảnh rừng suối. Đừng lo phải mua rượu đãi khách. Trong túi ta có tiền ta khắc tự mua.

 

Dịch thơ:

Chủ nhân nào có biết ta

Thấy rừng suối đẹp ghé qua ta ngồi

Đừng lo tốn rượu đãi người

Túi ta đã sẵn tiền rồi, yên tâm!

                     Nguyễn Như Diệm dịch

_________________________

TRẦN TỬ NGANG (陳子昂)

Trần Tử Ngang (659-700), tự Bá Ngọc, người Xạ Hồng, Tử Châu (nay thuộc Tứ Xuyên). Tiến sĩ năm Khai Diệu 2 (681), Cao Tông. Thời Võ Hậu làm võ thập di, nói thẳng, giám can gián, từng hai lần tòng quân đến biên giới phương bắc. Năm Thánh Lịch 1 (689), từ quan về quê, sau bị huyện lệnh Đoàn Giản hãm hại, chết trong ngục.

Thơ ông phong cách cao vợi, ý tứ hồn hậu chất phác, không thích gọt giũa chau chuốt. Có Trần Bá Ngọc văn tập. Trong Toàn Đường thi ông có 2 quyển.

 

Xuân dạ biệt hữu nhân

    Trần Tử Ngang

Ngân chúc thổ thanh yên

Kim tôn đối ỷ diên

Ly đường tư cầm sắt

Biệt lộ nhiễu sơn xuyên

Minh nguyệt ẩn cao thụ

Trường hà một hiểu thiên

Du du Lạc Dương đạo

Thử hội tại hà niên.

 

Dịch nghĩa:

Đêm xuân giã bạn

Nến bạc tỏa khói xanh. Ta nâng chén vàng trước tiệc ngon. Ở lầu chia tay mọi người thèm có tiếng đàn cầm. Con đường ly biệt vòng vèo sông núi. Trăng sáng bị cây cao che khuất. Ngân hà chìm đi lúc trời sáng. Đường tới Lạc Dương vời vời xa. Biết năm nào lại có cuộc hội ngộ như thế này?

 

  • Dịch thơ:

Nến bạc nhả khói xanh bay

Chén vàng đưa tiễn khi đầy khi vơi

Đường biệt ly vòng vèo sông núi

Lầu chia tay nhớ tiếng sắt cầm

Cây cao che khuất ánh trăng

Bình minh lên giải sông Ngân nhạt mờ

Lạc Dương xa lắc xa lơ

Hội này biết đến bao giờ diễn ra?

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Nến trong cháy tỏa khói xanh

Chén vàng chuốc rượu trong lành tiệc ngon

Chia tay nhớ tiếng đàn cầm

Đường đi uốn lượn xoay vần núi sông

Cây cao che ánh trăng ngần

Bình minh khuất bóng sông Ngân trên trời

Lạc Dương đường ấy xa vời

Biết năm nạo lại được ngồi bên nhau?

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch.

 

  • Dịch thơ:

Nến bạc lâng lâng tỏa khói xanh

Chén vàng trước tiệc tiễn đưa anh

Xa nhau nhớ tiếng đàn ai đó

Lối nhỏ chia tay uống khúc quanh

Trăng sáng khuất sau hàng cây lớn

Ngân hà mất bóng trước bình minh

Lạc Dương đường đến xa vời vợi

Biết đến năm nao lại gặp mình?

                   Nguyễn Chí Tình dịch.

_____________________________

VƯƠNG HÀN (王翰)

Không rõ năm sinh năm mất. Tự là Tử Vũ, người Tịnh Châu, Tấn Dương (nay là Thái Nguyên, Sơn Tây). Tiến sĩ năm Cảnh Vân 1 đời Duệ Tông (710). Được phong chính tự Bí thư sảnh, rồi cát nhắc lên làm thông sự xá nhân, chuyên làm giá bộ ngoại lang. Sau làm trưởng sử Nhữ Châu, chuyển làm biệt giá Tiên Châu rồi bị biếm làm tư mã Đạo Châu. Ông thiên viết về đòi sống biên tái, đặc biệt sở trường về đòi sống tinh thần nhân vật. Trong Toàn Đường thi có 1 quyển thơ ông (13 bài).

***

Lương Châu từ

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

 

Dịch nghĩa:

Lương Châu từ1

Rượu ngon bồ đào đựng trong chén dạ quang2. Sắp nâng chén thì đội nhạc liền tấu đàn tỳ bà trên lưng ngựa thôi thúc trợ hứng 3. Uống đi nếu có say nắm lăn ra giữa chốn sa trường thì bạn cũng đừng cười. xưa nay chinh chiến có mấy người trở về đâu!

 

  • Dịch thơ:

Rượu bồ đào chén dạ quang

Tỳ bà lưng ngựa rộn ràng tấu vui

Uống đi, say bạn đừng cười

Sa trường tự cổ mấy người về đâu

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Chén dạ quang rượu quý bồ đào

Tỳ bà lưng ngựa cổ vũ nhau

Say kềnh giữa trận đừng cười nhé

Sa trường sống sót mấy ai đâu

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Rượu bồ đào chén dạ quang

Nâng ly uống giữa tiếng đàn sục sôi

Say nằm chiến địa đừng cười

Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Này rượu bồ đào chén dạ quang

Từ trên lưng ngựa dục cung đàn

Cười chi giữa trận ta say ngã

Chinh chiến xưa nay mấy kẻ còn

                   Nguyễn Chí Tình dịch

  • Dịch thơ:

Bồ đào ngon lắm ai ơi

Chén dạ quang rót xin mời nâng ly

Tỳ bà giục hãy xuống đi

Sa trường nằm xỉn có chi đáng cười

Xưa nay hỏi có mấy người

Đánh nhau sống sót rời nơi chiến trường?

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

_______________________________

VƯƠNG CHI HOÁN (王之渙)

Vương Chi Hoán (688-742), tự Quý Lăng, quê gốc Tấn Dương (Thái Nguyên, Sơn Tây ngày nay), đời thứ 5 di cư đến Giáng Quận (nay là Tân Giáng, Sơn Tây). Đầu thời Khai Nguyên (713-742) làm chủ bạ huyện Hành Thủy, Ký Châu (nay thuộc Hà Bắc), bị vu cáo bèn từ quan. Chu du 15 năm, dấu chân đặt khắp vùng nam bắc Hoàng Hà. Cuối đời làm huyện úy Văn An (nay thuộc Hà Bắc), mất tại nhiệm sở. Ông là một trong những nhà thơ biên tai nổi tiếng thời thịnh Đường. Nhưng thơ ông phần lớn thất truyền. Trong Toàn Đường thi chỉ còn 6 bài tuyệt cú.

***

Cửu nhật tống biệt

  Vương Chi Hoán

Kế đình tiêu sắt cố nhân hy

Hà xứ đăng cao thả tống quy

Kim nhật tạm đồng phương cúc tửu

Minh triêu ứng tác đoạn bồng phi.

 

Dịch nghĩa:

Ngày mồng chín tiễn nhau

Kế đình hưu hắt, bạn cũ thưa thớt. Đâu là chỗ lên cao rồi tiễn nhau đi. Hôm nay ta tạm cùng nhau uống rượu cúc thơm. Sáng mai lại như cỏ bồng đứt gốc bay tan tác vậy.

 

  • Dịch thơ:

Kế Đình hiu hắt bạn cũ đây

Nào chốn lên cao để chia tay

Nay tạm cùng say ly rượu cúc

Mai người một ngả cỏ bồng bay

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Hơi thu lạnh lẽo gió heo may

Lưa thưa bạn cũ mấy thày mà thôi

Dắt nhau lên núi ta ngồi

Mượn hương rượu cúc cho vơi nỗi buồn

Sớm mai như đám cỏ bồng

Đứt lìa khỏi gốc thinh không bay vèo

                   Trần Vân Long dịch

__________________________________________

MẠNH HẠO NHIÊN (孟浩然)

Mạnh Hạo nhiên (689-740), người Tương Dương (Tương Phàn, Hồ Bắc ngày nay). Lúc trẻ ấn cư ở núi Lộc Môn. Thời Khai Nguyên du ngoạn Trường An, thi tiến sĩ không đỗ, bèn chu du vùng Giang Hoài, Ngô Việt, Tương Cám, rồi quay về Tương Dương, suốt đời không làm quan. Phần lớn cuộc đời ông sống ở Tương Dương.

Phong cách thơ ông thanh đạm, thường phản ánh đời sống của ngưới ẩn dật và miêu tả thiên nhiên. Ông sở trường về ngũ ngôn luật thi. Thi nhân đời Đường ngoài Lý Bạch phải kể đến Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên. Đó là do hai ông đã có những thành tựu đặc sắc về miêu tả sơn thủy, điền viên. Ông có Mạnh Hạo Nhiên tập. Trong Toàn Đường thi có 2 quyển thơ ông.

***

Yến Mai đạo sĩ sơn phòng

       Mạnh Hạo Nhiên

Lâm ngọa sầu xuân tận

Khiên duy lãm vật hoa

Hốt phung thanh điểu sứ

Yêu nhập xích tùng gia

Kim táo sơ khai hỏa

Tiên đào chính phát hoa

Đồng nhan nhược khả trú

Hà tích túy Lưu Hà.

 

Dịch nghĩa:

Dự tiệc tại sơn phòng của đạo sĩ Mai

 

Nằm trong chốn sơn lâm buồn vì ngày xuân sắp hết. Vén mành cửa sổ nhìn cảnh sắc rực rơ bên ngoài. Bỗng có vị sứ của tiên nhân 1 tới mời ta vào nhà của Xích Tùng 2. Bếp vàng 3  vừa nhóm lửa, đào tiên 4 đang đúng lúc nở hoa. Ôi, nếu giữ mãi được vẻ mặt trẻ thơ thì ta chẳng tiếc suốt ngày say với rượu Lưu Hà 5!

(1)Thanh điểu sứ: sứ giả của tiên nhân. Ở đây chỉ người đạo sĩ Mai cử đến mời Mạnh Hạo Nhiên.

(2)Xích Tùng gia: nhà của Xích Tùng tử, ở đây chỉ đạo sĩ Mai

(3)Kim táo (lò vàng): chỉ lò luyện đan của Đạo gia

(4)Tiên đào (đào tiên)chỉ cây đào bên ngoài nhà

(5)Lưu Hà: tên loại rượu tiên. Sách Bão Phác tử của Cát Hồng ghi: “Hạng Man Tư vào núi học tiên, mười năm không trở về. Người nhà hỏi lý do, ông ta nói: Có tiên nhân một chén Lưu Hà, uống vào không cảm thấy đói khát nữa”

 

  • Dịch thơ:

Nằm dài thương tiếc xuân qua

Vén rèm ngắm cảnh có hoa bên ngoài

Chợt thấy Thanh điểu đến mời

Ta liền cất bước chơi nơi Xích Tùng

Bếp vàng nhen nhóm lửa nồng

Đào tiên đang lúc rực hồng nở hoa

Nếu được trẻ mãi không già

Tiếc chi chẳng uống Lưu Hà cho say

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Nằm dài trong chốn sơn Lâm

Lòng buồn bởi nghĩ ngày xuân sắp tàn

Vén mành bỗng thấy bàng hoàng

Vì chưng cảnh sắc huy hoàng quanh ta

Chợt kia sứ giả tới nhà

Ấy là người của bạn ta đến mời

Sang nhà của đạo sỹ Mai

Cùng là tri kỷ ở nơi núi rừng

Bếp vàng nổi lửa bập bùng

Ngoài sân đào đã tưng bừng nở hoa

Sao cho chẳng biết tuổi già

Để ta mãi mãi vẫn là trẻ thơ

Thì bao chuyện khác đều thừa

Ta ôm vò rượu say sưa suốt ngày

                   Nguyễn Chí Tình dịch

***

Thu đăng Lan Sơn Ký Trương Ngũ

         Mạnh Hạo Nhiên

Bắc sơn bạch vân lý

Ẩn giả tự di duyệt

Tương vọng thí đăng cao

Tâm tùy nhạn phi diệt

Sầu nhân bạc mộ khởi

Hứng thị thanh phu phát

Thời kiến quy thôn nhân

Sa hành độ đầu yết

Thiên biên thụ nhược tề

Giang bạn châu như nguyệt

Hà đương tải tửu lai

Cộng túy trùng dương tiết.

 

Dịch nghĩa:

Mùa thu lên Lan Sơn Gửi năm Trương

Trong mây trắng trên bắc sơn kẻ ở ẩn tự vui thú với mình. Ta thư lên cao trông về phía bạn. Lòng theo cánh nhạn bay tới nơi xa tít. Nỗi buồn nhân buổi chiều mong manh dấy lên, niềm hứng do mùa thu trong trẻo khơi dậy. Phóng tầm mắt nhìn ra xa thấy người về làng ngồi nghỉ trên bãi cát đầu bến. Cây cối bên trời nhỏ như cây rau tề, bãi cồn ven sông nhỏ như vầng trăng. Lúc nào bạn có thể chở rượu đến để cùng nhau uống say vào tiết trùng dương?

 

  • Dịch thơ:

Bác sơn mây trắng phủ

Ẩn giả lòng thảnh thơi

Thử lên cao trông vời

Lòng hút theo cánh nhạn

Chiều mỏng gây sầu cảm

Thu trong gợi hứng hồn

Người lác đác về thôn

Dừng chân đầu bến nghỉ

Cây bên trời bé tý

Bãi sông tựa trăng soi

Lúc nào rượu tới nơi

Cùng say ngày trùng cửu?

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Núi Bắc giữa ngàn mây

Ẩn sỹ tự vui vầy

Thử lên cao ngóng bạn

Lòng theo cánh nhạn bay

Sắc chiều gieo sầu muộn

Tiếng thu gọi hứng say

Dân quê đang về bản

Nghỉ chân bến cát ngoài

Chân trời cây giống cỏ

Cồn cát tựa trăng gầy

Lúc nào thì rượu tới

Để trùng dương cùng say?

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Núi Bắc mây trắng dày

Ẩn sỹ thanh thoát bay

Lên đỉnh cao chót vót

Hồn theo cánh nhạn bay

Khí thu cực trong trẻo

Chiều về buồn dâng đầy

Bãi sông cát phẳng thay

Người về thôn ngồi nghỉ

Bên trời cây nhỏ tý

Đảo bé tựa bàn tay

Bao giờ rượu đến nhỉ

Trùng cửu uống cho say

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

Quá cố nhân trang

  Mạnh Hạo Nhiên

 

Cố nhân cụ kê thử

Yêu ngã chí điền gia

Lục thụ thôn biên hợp

Thanh sơn quách ngoại tà

Khai hiên diện trường phố

Bả tửu thoại tang ma

Đãi đáo trùng dương nhật

Hoàn lai tựu cúc hoa.

 

Dịch nghĩa:

Qua trang viên bạn cũ

Bạn cũ làm sẵn gà và xôi nếp mời ta đến điền gia. Cây xanh vây bọc xung quanh thôn, núi biếc chênh chếch bên ngoại thôn. Cửa số nhìn thẳng ra sân đập lúa và vườn ra quả. Bạn mang rượu ra cùng uống vừa nói chuyện dâu đay. Đợi đến ngày trùng dương ta lại về đây tề tựu bên hoa cúc.

 

  • Dịch thơ:

Bạn cũ có xôi, gà

Rủ mình đến điền gia

Thôn xanh hoa lá rợp

Núi biếc chếch ngoài xa

Mở cửa ngắm vườn tược

Uống rượu, chuyện dưa cà

Trùng dương lại đến nhé

Cùng ngắm cúc nở hoa

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Bạn cũ có xôi, gà

Lại có ý mời ta

Một làng cây xanh biếc

Mờ mờ rặng núi xa

Bạn cùng ta uống rượu

Nói rặt chuyện nông gia

Đợi đến ngày trùng cửu

Lại về cùng cúc hoa

                   Trần Vân Long dịch

  • Dịch thơ:

Xôi, gà đã sắp sẵn

Bạn mời ta đến nhà

Quanh thôn cây xanh ngắt

Núi tím biếc xa xa

Qua cửa sổ ta thấy

Sân đạp lúa, vườn cà

Rượu rót ta cùng bạn

Hàn huyên say la đà

Hẹn ngày trùng dương tới

Lại tề tựu bên hoa

                   Lê Sơn dịch

 

  • Dịch thơ:

Bạn cũ sẵn xôi gà

Mời ta đến nhà chơi

Cây xanh vây quanh xóm

Núi biếc chếch ngoài trời

Mở cửa nhìn vườn tược

Uống rượu bàn dâu đay

Đợi đến ngày trùng cửu

Cúc nở, lại về đây

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

______________________________________

LÝ KỲ (李頎)

Lý Kỳ (690-751), người Dĩnh Dương (vùng tây nam Đăng Phong, Hà Nam ngày nay). Tiến sĩ thời Khai Nguyên, làm huyện úy Tân Hương, sau bỏ chức về ở ẩn ở Đông Xuyên.

Thơ ông nội dung rộng rãi, đề cập đến biên tái, âm nhạc, du hiệp, núi rừng, huyền học…, đặc biệt nổi về thơ biên tái. Thơ biên tái của ông phong cách hào phóng, đặc sắc nhất là thơ thất ngôn ca hành. Có Lý Kỳ thi. Trong Toàn Đường thi  ông có 3 quyển.

***

Cầm ca

 Lý Kỳ

Chủ nhân hữu tửu hoan kim tịch

Thỉnh tấu minh cầm Quảng Lăng khách

Nguyệt chiếu thành đầu ô bán phi

Sương thê vạn mộc phong nhập y

Đồng lô hoa chúc chúc tăng huy

Sơ đàn lục thủy hậu sở phi

Nhất thanh dĩ động vật giai tĩnh

Tứ tọa vô ngôn tinh dục hy

Thanh Hoài phụng sứ thiên dư lý

Cảm cáo vân sơn tòng thử thủy.

 

Dịch nghĩa:

Đàn ca

Chủ nhân có rượu vui đêm nay, lại mời khách Quảng Lăng 1 tấu đàn cầm. Trăng chiếu đầu thành quạ bay xao xác. Sương rơi lạnh cây cối gió luồn vào trong áo. Hỏa lò bằng đồng đèn đuốc sáng rực. Trước đàn lục thủy sau đàn sở phi 2. Một tiếng đàn ngân lên mọi vật đều lặng ngắt. Bốn bên cử toạ im phăng phắc, sao trời cùng muốn thưa đi. Ta phụng mệnh công cán Thanh Hoài2 ngoài nghìn dặm. Giám xin báo với núi mây bắt đầu xuất phát từ đây4.

(1)Khách Quảng Lăng: chỉ những người khách sành về đàn nhạc. Thời Tam Quốc, Kê Khang (223-262) giỏi đàn cầm, Quảng Lăng tán là khúc nhạc ông thành thạo nhất. Đời sau gọi những người có ngón đàn cao siêu là khách Quảng Lăng.

(2)Lục thủy, sở phi: là tên các bản đàn

(3)Thanh Hoài: tức Hoài Hà, lúc này Lý Kỳ làm Tân Hương úy, gần Hoài Hà, cách kinh thành trên nghìn dặm

(4)câu này có hai cách hiểu: có người hiểu là buổi bắt đầu đi nhậm chức, có người lại hiểu là bỏ chức về ở ẩn cùng núi mây.

 

  • Dịch thơ:

Chủ nhân mở tiệc liên hoan

Lại mời ban nhạc tấu đàn đêm nay

Trăng rọi thành quạ bay xao xác

Gió luồn mành lạnh buốt xương da

Lư đồng rực rỡ nến hoa

Trước chơi “lục thủy” sau là “sở phi”

Tiếng đàn vút, bặt đi vạn vật

Bốn bề im vắng ngắt sao trời

Làm quan ngàn dặm xứ người

Sao bằng về ngắm mây trời quê hương

                   Trần Vân Long dịch

  • Dịch thơ:

Chủ nhân có rượu vui đêm nay

Mời khách Quảng Lăng tấu nhạc khúc

Trăng chiếu đầu thành quạ loạn bay

Gió luồn trong áo, sương lạnh cây

Lư đồng hoa nến thêm rặng rỡ

“Lục thủy”, “Sở phi” luyến liền tay

Một tiếng đàn ngân đêm lạnh ngắt

Sao dường thưa, cử tọa im ngay

Thanh Hoài phụng mệnh ngoài nghìn dặm

Dám cáo từ nay bạn núi mây

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

***

Tống Trần Chương Phủ

              Lý Kỳ

 

Tứ nguyệt nam phong đại mạch hoàng

Táo hoa vị lạc đồng diệp trường

Thanh sơn triêu biệt mộ hoàn kiến

Tê mã xuất môn tư cựu hương

Trần hầu lập thân hà thản đãng

Cầu tu hổ mi nhưng đại tảng

Phúc trung trữ thư nhất vạn quyển

Bất khẳng đê đầu tại thảo mãng

Đông môn cô tửu ẩm ngã tào

Tâm khinh vạn sự như hồng mao

Túy ngọa bất tri bạch nhật mộ

Hữu thời không vọng cô vân cao

Trường hà lãng đầu liên thiên hắc

Tân khẩu đình chu độ bất đắc

Trịnh quốc du nhân vị cập gia

Lạc Dương hành tử không than tức

Văn đạo cố lâm tương thức đa

Bãi quan tạc nhật kim như hà.

 

Dịch nghĩa:

Tiễn Trần Chương Phủ 1

Tháng tư gió nam thổi đại mạch chín vàng. Hoa táo chưa rụng lá ngô đồng mọc dài. Rặng núi xanh sáng giã biệt chiều lại nhìn thấy. Ngựa hý vang ra khỏi cửa nhớ về quê cũ.

Trần Hầu2 tính cách sao mà rộng rãi cởi mở. Râu quăn mày xếch lại thêm trán rộng. Trong bụng chứa sách một vạn quyển. Chẳng chịu cúi đầu ở trong chốn thảo dã. Mua rượu đãi bọn chúng tôi ở cửa phía đông 3. Lòng xem mọi chuyện nhẹ như long hồng. Uống rượu say nằm chẳng biết là ngày đã về chiều. Có lúc lại bang quơ đám mây cô đơn trên trời cao.

Sông dài đầu sóng đen kịt tới chân trời. Dừng tuyền ở bến sông không qua được. Khách lãng du nước Trịnh 4 chưa về tới nhà. Người lữ hành đát Lạc Dương5 chỉ ta thán suông.

Nghe nói ở quê cũ có nhiều người quen biết. Hôm qua ông bãi quan không biết hôm nay như thế nào ?

(1)Trần Chương Phủ: bạn thơ của tác giả, người Giang Lăng quê gốc Trịnh Châu, cư trú lâu dài ở Hà Nam. Ông là người tài kiêm văn võ, chí hướng phi thường, nhưng có tài mà không được dùng vào vị trí xứng đáng. Sauk hi bãi quan quay về Lạc Dương. Nhà thơ làm bài này để tặng lúc chia tay. Bút điệu nhẹ nhõm phong cách hào sảng, không vì thất ý mà lời lẽ thê thiết, không vig li biệt mà từ ngữ bi lụy, là một phong cách mới trong thể lọi thơ tiễn biệt.

(2)Trần Hầu: cách gọi tôn kính đói với Trần Chương Phủ.

(3)Cửa đông thành Lạc Dương

(4)Khách lãng du nước Trịnh: tác giả tự chỉ mình, lúc này đang làm  huyện úy Tân Hương thuộc nước Trịnh

(5)Người lữ hành đất Lạc Dương: Chỉ Trần Chương Phủ lúc này ở Lạc Dương, Hà Nam.

 

  • Dịch thơ:

 

Tháng tư đại mạch chín vàng

Hoa táo chưa rụng gió nam thổi hoài

Ngô đồng lá nhỏ rũ dài

Nhớ quê tiếng ngựa cửa ngoài hý ran

Núi xanh xanh biết đại ngàn

Sáng chia tay lại chiều tàn thấy ngay

Trần Hầu dáng vẻ oai thay

Thân cao trang rộng mày dày râu quăn

Trong đầu sách chứa nghìn trăm

Chẳng cam chịu cảnh tối tăm mịt mùng

Cửa đông ngày ấy tưng bừng

Anh em uống cạn muôn chum rượu đào

Sự đời coi tựa hồng mao

Rượu say chẳng biết khi nao tối ngày

Ngẩn đầu ngắm áng mây bay

Xoay lưng thấy cảnh sông dài sóng xô

Neo thuyền đậu lại bên bờ

Chẳng sang ta lại nằm chờ đến mai

Khách chơi nước Trịnh kìa ai

Lạc Dương bác biết có vui vẻ gì

Bạn thân kẻ ở người đi

Từ quan bữa trước nay thì ra sao?

                   Trần Vân Long dịch

***

Tống thiếu phủ Đông Khê phiếm chu

                     Lý Kỳ

Đăng ngạn hoàn nhập chu

Thủy cầm kinh tiếu ngữ

Vãn diệp đê chúng sắc

Thấp vân đới tàn thự

Lạc nhật thừa túy quy

Khê lưu phục kỷ hứa.

 

Dịch nghĩa:

Thiếu phủ họ Tống bơi thuyền ở Đông khê

Mọi người lên bờ rồi lại quay vào thuyền. Tiếng nói cười râm ran làm kinh động bầy thủy cầm. Mưa làm cho lá cây nhiều màu sắc rủ xuống. Mây ẩm ướt còn mang chút hơi nóng sót lại. Ngày tàn say khướt trở về. Khe suối cứ chảy dài chẳng biết tới đâu.

 

  • Dịch thơ:

Lên bờ rồi lại xuống thuyền

Nói cười kinh động lũ chim sâm cầm

Mưa chiều sắc lá âm âm

Lọt mây chút ánh nắng vàng nhạt đi

Ngày tàn say khướt trở về

Suối tuôn róc rách tỷ tê đêm trường

                   Trần Vân Long dịch

  • Dịch thơ:

Lên bờ rồi lại xuống thuyền

Thủy cầm kinh sợ huyên thuyên tiếng cười

Mưa rơi cành lá tả tơi

Không gian mang chút nóng trời trong mây

Ra về đêm xuống người say

Dưới khe nước vẫn đêm ngày mãi trôi

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

_______________________________________

VƯƠNG XƯƠNG LINH (王昌齡)

Mất khoảng 756. Tự Thiếu Bá, người Trường An, Kinh Triệu (Tây An, Thiểm Tây ngày nay). Tiến sĩ năm Khai Nguyên 15 (727). Được phong hiệu thư lang Bí thư sảnh. Năm Khai Nguyên 22 (734) lại trúng bác học hoăng từ khoa, được phong Tỷ Thủy úy (Tỷ Thủy gần huyện Củng, Hà Nam ngày nay). Sau đó liên tục bị biếm trích. Cuối đời bị biếm làm Long Tiêu úy (Long Tiêu ở Kiểm Dương, Hồ Nam ngày nay). Trong cuộc dấy loạn An-Sử, bị thứ sử Hào Châu là Lư Khẩu Hiểu sát hại.

Vương Xương Linh thiên về đề tài biên tái, cung oán, giỏi khắc họa tâm lý nhân vật. Có Vương Xương Linh tập. Trong Toàn Đường thi, ông có 4 quyển.

***

          Tống Ngụy Nhị

       Vương Xương Linh

Túy biệt giang lâu quất dữu hương

Giang phong dẫn vũ nhập chu lương

Ức quân dao tại Tiêu Tương nguyệt

Sầu thính thanh viên mộng lý trường.

 

Dịch nghĩa:

Tiễn hai Ngụy

Rượu say rồi chia tay ở lầu bên sông hương quất bưởi thơm lừng. Gió sông đưa hơi mưa vào thuyền mát rượi. Giờ nhớ bạn đang ở xa tít mãi vùng Tiêu Tương đầy ánh trăng. Trong mơ buồn nghe tiếng vượn kêu lảnh lót kéo dài.

 

  • Dịch thơ:

Lầu bên sông ngát hương cúc bưởi

Gió đưa mưa mát rượi vào thuyền

Chia tay khi ấy say mềm

Nhớ anh giờ ở xa miền Tiêu Dương

Mênh mang trăng dọi đêm trường

Sầu nghe tiếng vượn vấn vương mộng hồn

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Tiễn nhau say khướt quán ven giang

Mưa bụi, bưởi thơm, gió lộng khoang

Giờ ở Tiêu Dương đầy trăng sáng

Bạn buồn nghe vượn hú mênh manh

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

__________________________________

VƯƠNG DUY (王維)

Vương Duy (701-761), tự Ma Cật, quê đất Kỳ, Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, Sơn Tây), theo cha di cư đến Bồ Châu (nay là Vĩnh Tế, Sơn Tây). Tiến sĩ năm Khai Nguyên 9 (721), làm quan đến chức cấp sự trung. Trong thời kỳ loạn An-Sử, bị quân phản loạn bắt, sau loạn bị giáng làm thái tử trung doãn. Về sau làm quan đến thượng thư hữu thừa, nên được gọi là Vương Hữu Thừa. Cuối đời ở Vòng Xuyên, Lam Điền, sống cuộc đời nhàn nhã dở quan dở ẩn.

Vương Duy đa tài nghệ, thi thư họa nhạc thứ gì cũng tinh thông. Về thơ ông làm nhiều thể loại, đặc biệt nổi về ngũ ngôn luật thi và ngũ ngôn tuyệt cú, sánh ngang Mạnh Hạo Nhiên, đều là những nhà thơ tiêu biểu cho trường phái sơn thủy điền viên thời thịnh Đường. Phong cách thơ ông trang nhã trong sáng, mang chất thiền. Có Vương hữu thừa tập. Trong Toàn Đường thi ông có 4 quyển.

***

       Tống biệt

      Vương Duy

Hạ mã ẩm quân tửu

Vẫn quân hà sở chi

Quân ngôn bất đắc ý

Quy ngọa Nam Sơn thùy

Đã khứ mạc phục vấn

Bạch vân vô tận thì.

 

Dịch nghĩa:

Tiễn biệt

Xuống ngựa mời bạn uống rượu để tiễn biệt. Hỏi bạn bây giờ này đi đâu. Bạn nói mình bất đắc ý, về nằm cạnh núi Nam Sơn. Bạn đi, tôi không hỏi lại nữa. Ấy là lúc mây trắng nhàn nhã trôi vô tận.

 

  • Dịch thơ:

Xuống ngựa uống rượi cùng anh

Hỏi anh giờ định xuất hành nơi nao

Anh rằng đời chẳng ra sao

Nam Sơn núi ấy ta vào nằm chơi

Anh đi tôi chẳng nhiều lời

Mênh mang mây trắng bên trời mãi bay

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Xuống ngựa tiệc rượu bày

Hỏi anh chuyện dở hay

Anh rằng chẳng như ý

Về núi Nam nằm say

Đã đi, không hỏi nữa

Mây trắng vô tận bay

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Xuống ngựa mời bác rượu

Hỏi bác đi đâu ta

Bác nói cực chẳng đã

Về Nam Sơn nằm nhà

Bác đi, không hỏi nữa

Mây nhàn trôi trùng xa

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

 

***

Hán Giang lâm phiếm

        Vương Duy

Sở tái tam tương tiếp

Kinh Môn cửu phái thông

Giang lưu thiên địa ngoại

Sơn sắc hữu vô trung

Quận ấp phù tiền phố

Ba lan động viễn không

Tương Dương hảo phong nhật

Lưu túy dữ sơn ông.

 

Dịch nghĩa:

Đi thuyền trên sông Hán Giang 1

 

Vùng biên tái nước Sở2 tiếp liền với Tam Tương3. Dưới núi Kinh Môn 4 chín nhánh Trường Giang nối liền nhau. Sông nước như chảy bên ngoài trời đất, màu núi dường có lại dường không. Châu thành5 nổi lên trước bến sông. Sóng nước trấn động chân trời xa. Vùng Tương Dương6  phong cảnh đẹp quá! Ta muốn ở lại cùng say với ông lão miền núi7

(1)Hán Giang: còn gọi là sông Hán Thủy, nhánh lớn nhất của sông Trường Giang, bắt nguồn từ huyện Ninh Cường tỉnh Thiểm Tây, đổ vào Trường Giang ở thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc

(2)chỉ vùng lưu vực sông Hán Thủy

(3)Tam Tương: Ly Tương, Chưng Tương và Tiêu Tương.

(4)Kinh Môn: ngọn núi ở phía tây Hán Giang, phía nam Kinh Môn (Hồ Bắc ngày nay)

(5)ở đây chỉ Tương Dương

(6)Vùng Tương Dương nay thuộc Hồ Bắc

(7)Nguyên văn “sơn ông” chỉ Sơn Giản đời Tấn, con Sơn Đào, một trong “Trúc Lâm thất hiền”. Từng là chinh nam tướng quân, trấn thủ Tương Dương, thường say rượu.

 

  • Dịch thơ:

Qua sở đến Tam Tương

Kinh Môn nối chín luồng

Sông chảy ngoài trời đất

Sắc núi cõi vô thường

Làng mạc nổi trước bến

Sóng vang động thiên đường

Tương Dương phong cảnh tuyệt

Dừng say với già mường

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Nước sở liền Tam Tương

Kinh Môn chín nhánh thông

Sông chảy ngoài trời đất

Sắc núi có dường không

Châu Thành nhô trên sông

Sóng xao động tầng không

Tương Dương phong cảnh đẹp

Dừng say cùng Sơn Ông

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

***

Tống nguyên nhị sứ An Tây

              Vương Duy

Vị Thành  triêu vũ ấp khinh trần

Khách xá thanh thanh liễu sắc tân

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu

Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.

 

Dịch nghĩa:

Tiễn hai Nguyên 1 công cán An Tây 2

Con mưa sáng ở Vị Thành3 làm ướt đám bụi nhẹ. Nơi quán khách mầu liễu xanh xanh như lới lại. Sắp chia tay rồi hãy cạn thêm với tôi chén rượu nữa kẻo ra khỏi Dương Quan 4  đi về phía Tây là không còn bạn cũ nữa đâu.

(1)Hai Nguyên: bạn của tác giả

(2)An Tây: tức là An Tây đô hộ phủ (Viết Nam lúc bấy giờ là An Nam đô hộ phủ). Trị sở tai Khổ Xa, Tân Cương ngày nay.

(3)Vị Thành: tại vờ Bắc sông Vị Thủy, phía tây bắc Tây An ngày nay.

(4)Dương Quan: tại phía tây nam Đôn Hoàng ngày nay.

 

  • Dịch thơ:

Sáng ra mưa ướt Vị Thành

Liễu nơi quán khách xanh xanh ngời

Cạn thêm chén nữa bạn ơi

Dương quan ra khỏi còn người quen đâu!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Quán bên sắc liễu xanh xanh

Sáng nay bụi ướt Vị Thành mưa rơi

Khuyên anh uống cạn chén mời

Dương Quan biết có ai người cố tri

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

     Lâm hồ đình

      Vương Duy

 

Khinh chu nghinh thượng khách

Du du hồ thượng lai

Đương hiên đối tôn tửu

Tứ diện phù dung khai.

 

Dịch nghĩa:

Lầu nhỏ bên hồ

Thuyền nhẹ đón thượng khách ung dung từ trên hồ tới. Lên bờ ngồi uống rượu giữa hiên lầu. Hoa sen nở đầy bốn xung quanh.

 

  • Dịch thơ:

 

Thuyền nhẹ đón thượng khách

Ung dung từ hồ lên

Giữa đêm ngồi nâng chén

Sen nở đầy bốn bên.

                   Nguyễn Như Diệm dịch\

 

  • Dịch thơ:

Thuyền nhẹ ta cùng bạn

Trên mặt hồ lang thang

Tâm nhàn ta nâng chén

Ngào ngạt bốn bề sen

                   Trần Vân Long dịch

 

***

Tống xuân từ

Nhật nhật nhân không lão,

Niên niên xuân cánh quy.

Tương hoan tại tôn tửu,

Bất dụng tích hoa phi.

 

Dịch nghĩa

Lời tiễn xuân

Ngày lại người cứ già đi, còn xuân thì hàng năm đều trở về. Vui cùng nhau đã có chén rượu. Vậy nên chẳng phải buồn tiếc chuyện hoa rụng làm gì (vì đó là lẽ tự nhiên)!

 

  • Dịch thơ:

Người ngày ngày già đi

Xuân mỗi năm lại về

Cùng vui đã có rượu

Hoa dẫu rụng tiếc chi

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

***

   Hý đề bàn thạch

         Vương Duy

Khả liên bàn thạch lâm tuyền thủy

Phục hữu thùy dương phất tửu bôi

Nhược đạo xuân phong bất giải ý

Hà nhân xuy tống lạc hoa lai.

 

Dịch nghĩa:

Đùa đề bàn đá

Đáng yêu thay bàn đá bên  bờ suối. Trên đó lại có cây liễu rũ phất phơ bên chén rượu. Nếu gió nói xuân không hiểu ý người thì tại sao nó lại thổi đưa hoa rụng đến chỗ ta ngồi?

 

  • Dịch thơ:

Yêu thay bàn đá bên bờ suối

Phất phơ liễu rũ chén rượu đầy

Nếu bảo gió xuân không hiểu ý

Thôi chi hoa lại chỗ ta đây?

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Yêu sao bàn đá cạnh bờ khe

Chén rượu bâng khuâng liễu rũ che

Nếu gió xuân kia không hiểu ý

Sao đưa hoa rụng đến nhiều ghê

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Lòng suối trong veo chảy lững lờ

Bên bờ bàn đá đẹp như mơ

Trên bàn chén rượu chờ ta đó

Cây liễu buôn mành rũ phất phơ

Nếu bảo gió xuân chẳng hiểu người

Bởi chung là gió của trời thôi

Cớ sao gió thổi đưa hoa rụng

Tới tận nơi ta vẫn thường ngồi

                   Nguyễn Chí Tình dịch

 

***

Chước tửu dữ Bùi Địch

         Vương Duy

Chước tửu dữ quân quân tự khoan

Nhân tình phiên phúc tự ba lan

Bạch thủ tương tri do án kiếm

Chu môn tiên đạt tiếu đàn quan

Thảo sắc toàn kinh tế vũ thấp

Hoa chi dục động xuân phong hàn

Thế sự phù vân hà túc vấn

Bất như cao ngọa thả gia san.

 

Dịch nghĩa:

Uống rượu cùng Bùi Địch

Rót rượu uống rượu với anh, anh cảm thấy trong lòng thu thái. Lúc này đây nhân tình lật lọng tựa sóng nước. Biết nhau đến lúc bạc đầu mà khi gặp còn định rút gươm 1. Chốn cửa son kẻ thành đạt trước vẫn cười người “phủi mũ”2 để hy vọng được làm quan theo. Sắc cỏ đầm đìa ướt vì mưa bụi. Cành hoa muốn lay động thì gió xuân lại lạnh. Sự đời như mây nổi chẳng có gì đáng băn khoăn. Chẳng bằng nắm khểnh lại có thêm cơm ăn.

 

  • Dịch thơ:

Uống rượu với nhau để bác vui

Thói đời đen bạc đến thế rồi

Quen đến bạc đầu còn giữ miếng

Cửa quan kẻ đắc nhạo người xui

Cỏ muốn xanh tươi mưa nước ngập

Hoa toan khoe sắc gió lạnh vùi

Thế sự phù vân đâu đáng hỏi

Chi bằng nhàn tản uống rượu vui

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Rót mời chén rượu để anh vui

Lật lọng thói đời sóng biển khơi

Đầu bạc quen nhau còn nắm kiếm

Cửa son đến trước đã chê người

Đầm đìa sắc cỏ vì mưa bụi

Run rẩy mầu hoa bởi gió phơi

Thế sự phù vân không đáng hỏi

Chi bằng nằm khểnh có cơm xơi

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

*** 

Đáp Trương ngũ đệ

       Vương Duy

Chung Nam hữu mao ốc

Tiền đối Chung Nam san

Chung niên vô khách trường bế quan

Chung nhật vô tâm trường tự nhàn

Bất phương ẩm tửu phục kỳ điếu

Quân đãn năng lai tương vãng hoàn.

 

Dịch nghĩa:

Đáp chú năm Trương

Ở Chung Nam tôi có căn nhà tranh. Phía trước nhìn ra núi Chung Nam. Quanh năm không có khách, cửa luôn đóng. Cả ngày chẳng bận tâm chuyên gì, người nhàn nhã hoài. Chẳng có gì ngăn ta uống và buông câu. Chú nên năng quan lại vui chơi.

 

  • Dịch thơ:

Ở Chung Nam tôi có căn nhà lá

Quay mặt nhìn ra núi Chung Nam

Quanh năm vắng khách cửa luôn đóng

Cả ngày vô tâm người luôn nhàn

Uống rượu buông câu chẳng ai cản

Vui cùng nhau chú nên năng sang

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Chung Nam ta có lều tranh

Nhìn ra phía trước núi xanh xanh rờn

Quanh năm cửa đóng luôn luôn

Cả ngày chẳng bận chẳng buồn chẳng vui

Chú năng qua chỗ tôi chơi

Nếu không uống rượu thì ngồi buông câu

                   Trần Vân Long dịch

 

***

Tống Mạnh Lục Quy Tương Dương

               Vương Duy

Đỗ môn bất phục xuất

Cửu dữ thế tình sơ

Dĩ thử vi trường sách

Khuyến quân quy cựu lư

Túy châm điền xá tửu

Tiếu độc cổ nhân thư

Hảo thị nhất sinh sự

Vô lao hiến “Tử Hư”.

 

Dịch nghĩa:

Tiễn Sáu Mạnh về Tương Dương

Đã lâu tôi đóng cửa không ra ngoài, xa cách với mọi sự trên đời, coi đó là kế sách lâu dài. Tôi khuyên bạn hãy trở về căn nhà cũ của mình. Ở đó muốn say thì rót rượu quê uống, muốn vui thì đọc sách người xưa. Một đời như thế là hay, chẳng phải nhọc lòng dâng bài phú “Tử hư”1 làm gì.

(1)Bài phú “Tử hư”: bài phú của Tư Mã Tương Như (179-118 trước công nguyên). Nhà văn thời Tây Hán. Nhờ bài phú này Tương Như được Hán Vũ đế trọng dụng, phong làm trung lang tướng. Ý câu thơ là : chẳng phải nhọc lòng lo việc tiến thân trên con đường quan chức làm gì.

 

  • Dịch thơ:

Đóng cửa lâu chẳng ra ngoài

Tâm ta dần tĩnh sự đời dần xa

Đó là kế sách của ta

Khuyên anh hãy trở về nhà thử xem

Rượu quê rót uống say mèm

Khi vui đọc sách, khi buồn ngắm hoa

Một đời như thế mới là

“Tử hư” phú ấy thiết tha làm gì

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Đóng cửa từ lâu tôi chẳng ra

Trên đời mọi sự cũng rời xa

Đây là kế sách lâu dài đó

Khuyên anh nên hãy trở về nhà

Muốn say uống chén rượu quê mùa

Muốn cười đọc sách của người xưa

Đời mà như thế vui biết mấy

Chẳng phải nhọc lòng hiến “Tử hư”

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

___________________________________

CAO THÍCH (高適)

Cao Thích (700-765), tự Đạt Phu, Trọng Vũ. Người đất Điều, Bột Hải (nay là huyện Cảnh, Hà Bắc). Thời trẻ  cùng khổ, từng cùng Lý Bạch, Đỗ Phủ chơi vùng đất Lương, Tống, sau vào làm chưởng thư ký dưới trướng Ca Thư Hàn, tiết độ sứ Lúng Hữu, Hà Tây. Sau loạn An –Sử lần lượt làm tiết độ sứ Hoài Nam, Tây Xuyên, tả tán kỵ, , thường thị, được phong tước hầu huyện Bột Hải, người đời gọi là Cao Thường Thị, Cao Bột Hải.

Ông nổi danh về thơ biên tái, phong cách hùng hồn, cứng cỏi, sánh ngang với Sầm Tham lúc bấy giờ. Có Cao Thường Thị tập. Trong Toàn Đường thi ông có 4 quyển.

***

     Dạ biệt Vi tư sỹ

         Cao Thích

Cao quán trương đăng tửu phục thanh

Hiểu chung tàn nguyệt nhạn quy thanh

Chỉ ngôn đề điểu kham cầu lữ

Vô ná xuân phong dục tống hành

Hoàng hà khúc lý sa vi ngạn

Bạch mã tân biên liễu hướng thành

Mạc oán tha hương tạm ly biệt

Tri quân đáo xứ hữu phùng nghênh.

 

Dịch nghĩa:

Đêm chia tay tư sỹ họ Vi

Nơi quán cao giăng đèn rượu lại trong. Chuông sớm ngân, trăng tàn tiếng nhạn bay về. Chỉ nói rằng chim kêu là để tìm bạn. Thế mà ta lại phải tiễn bạn vào lúc gió xuân đang thổi. Trên khúc sông Hoàng Hà bờ toàn cát. Bên bến Bạch Mã liễu hướng về phía thành. Bạn đừng oán than rằng chúng mình phải tạm xa nhau nơi quê người, vì tôi biết rằng nơi bạn đến sẽ có người đón tiếp bạn linh đình.

 

  • Dịch thơ:

Quán cao đèn sáng rượu ngần trong

Trăng tà, chuông sớm, nhạn kêu không

Vẫn bảo chim kêu chim tìm bạn

Mà ta tiễn biệt lúc xuân nồng

Bờ nước Hoàng Hà loang dạm cát

Bến thành Bạch Mã liễu ngã dòng

Đừng oán cha tay nơi đất lạ

Tôi tin người đón bác rất đông

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Trong quán treo đèn, chén rượu say

Trăng tàn, chuông sớm, nhạn về bay

Chim bay cất tiếng kêu bầy đó

Xuân gió chia tay giục bạn đây

Mấy khúc Hoàng Hà bờ cát nổi

Một bờ Bạch Mã liễu thành xây

Biệt ly đất khách xin đường oán

Nơi đến người quen đón bạn ngay

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Quán cao, đèn sáng, rượu trong

Trăng tàn, chuông sớm, chim vòng vèo bay

Tiếng chim ríu rít kêu bầy

Mà xuân nay phải chia tay bạn rồi

Hoàng Hà mấy khúc cát bồi

Liễu bờ Bạch Mã hướng nơi lũy phường

Xin đừng oán giận ly hương

Ở nơi bạn đến người đương đón mời

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

*** 

Túy hậu tặng Trương Cửu Húc

              Cao Thích

Thế thượng mạn tương thức

Thử ông thù bất nhiên

Hứng lai thư tự thánh

Túy hậu ngữ do điên

Bạch phát lão nhàn sự

Thanh vân tại mục tiền

Sàng đầu nhất hồ tửu

Năng canh kỷ hồi miên.

 

Dịch nghĩa:

Sau khi say tặng Trương Cửu Húc 1

 

Người đời giao du với nhau một cách tùy tiện, riêng ông già này2  không thế. Khi hứng lên thì thư pháp tự nhiên thần kỳ, rượu say rồi thì nói năng càng điên3. Đầu bạc phơ bằng lòng với cuộc sống an nhàn thư thái, có mây xanh lừng lờ trôi trước mắt. Đầu giường luôn có một bình rượu, không biết có thể đổi được mấy giấc ngủ say?

(1)Trương Cửu Húc: nhà thư pháp đời Đường nổi tiếng với thể chữ cuồng thảo, được người đời gọi là “thảo thánh” (thánh về chữ thảo)

(2)Ông già này: tức Trương Húc

(3)Trương Húc còn được gọi là Trương Điên

 

  • Dịch thơ:

Người quen nhau tùy tiện

Ông già này thì không

Hứng lên chữ như thánh

Rượu say lời càng điên

Tóc trắng tìm nhàn vậy

Mây xanh trước mắt bay

Đầu giường rượu một hũ

Đổi được mấy giấc say?

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Người đời tụy tiện giao du

Riêng ông ổng chẳng giống như người đời

Hứng lên thư pháp tuyệt vời

Rượu say nói nói cười cười như điên

Bạc đầu thư thái cảnh tiên

Ngắm mây xanh lượn ở trên đầu mình

Đầu giường rượu có một bình

Đổi thành mấy giấc cho mình ngủ say?

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Đời quen nhau dễ dãi

Riêng ông chẳng thể nào

Hứng lên viết như thánh

Say rồi nói tào lao

Già bạc đầu nhàn sự

Đưa mắt ngắm mây cao

Đầu giường một vò rượu

Đổi mấy giấc say nào?

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

______________________________________

Lý Bạch (李白)

Lý Bạch (701-762), tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê gốc ở Thành Kỷ Lũng Tây (Cam Túc ngày nay), sinh ở Toái Diệp (nay thuộc Kyrgystan). Năm 5 tuổi theo cha di cư đến Thanh Liên Hương, Xương Long, Miễn Châu(nay là huyện Giang Du, Tứ Xuyên). Năm 25 tuổi dời Thục đi chu du thiên hạ 10 năm. Năm Thiên Báo thứ nhất (742) được triệu vào kinh làm hàn lâm. Sau vì miệt thị quyền quý, bị đám thân tín của Đường Huyền Tông dèm pha, phẫn chí từ quan dời kinh đô, tiếp tục chu du thiên hạ, gót chân đặt khắp vùng nam bắc Trướng Giang. Năm Thiên Bảo thứ 3 (744) gặp Đỗ Phủ tại Lạc Dương, kết giao tình bạn sâu sắc. An-Sử giấy loạn, ông tham gia mạc phủ của Vĩnh Vương Lý Lân. Lý Lân bại trận bị giết, ông bị liên lụy, bị giam tại nhà ngục Tầm Dương, sau lưu đầy Dạ Lang, năm sau trên đường Vu Sơn được xá tội trở về miền đông, phiêu bạt tới các vùng Vũ Xương, Lạc Dương, Kim Lăng. Mất tại Đương Đồ.

Lý Bạch là nhà thơ vĩ đại đời Đường, thích rượu, được người đời gọi là “trích tiên”. Thơ ông hào sảng phóng khoáng, tưởng tượng phong phú mới lạ, ngôn ngữ tự do bay bổng, âm vận hài hòa đa biến, đưa nghệ thuật thơ Đường tới đỉnh cao, được người đời sau gọi là “thi tiên”. Ông giỏi về tất cả các thể laoị thơ, đặc biệt sở trường về thất ngôn tuyệt cú và thất ngôn ca hành. Có Lý Thái Bạch tập. Trong Toàn Đường thi ông có 25 quyển.

***

      Hành lộ man

          Lý Bạch

Kim tôn thanh tửu đấu thập thiên

Ngọc bàn trân tu trị vạn tiền

Đình bôi đầu trợ bất năng ẩm

Bạt kiếm tú cố tâm mang nhiên

Dục độ Hoàng Hà băng tắc xuyên

Tương đăng Thái hàng tuyết mãn sơn

Nhàn lại thùy điếu bịch khê thượng

Hốt phục thừa chu mộng nhật biên

Hành lộ nan hành lộ nan

Đa kỳ lộ kim an tại

Trướng phong phá lãng hội hữu thì

Trực quải vân phàm tế thương hải.

 

Dịch nghĩa:

Đường khó đi 1

    (Bài 1)

Chén vàng rượu trong mỗi đấu2 mười nghìn tiền. Các món trân quý trên bàn ngọc đáng giá vạn tiền. Thế mà ta phải dừng chén quẳng đũa không uống được. Ta rút gươm nhìn xung quanh lòng rối bời.

Ta muốn vượt Hoàng Hà nhưng băng nghẽn sông, định lên Thái Hàng3 thì tuyết đầy núi. Lúc rỗi rãi ta ngồi buông câu trên ngòi biếc, bỗng lại mơ thấy cưỡi thuyền đến bên mặt trời 4.

Đường khó đi, đường khó đi! Nhiều ngã rẽ giờ đâu là đường ta cần đi?

Ta tin rằng sẽ có lúc ta cưỡi gió lớn phá sóng, giương thẳng buồm mây vượt biển xanh5.

(1)Hành lộ nan thuộc “Tạp khúc ca từ” trong nhạc phủ, thường được dùng để thể hiện đường đời gian nan và tình cảm ly biệt đau xót. Bài thơ này viết vào khoảng năm Thiên Bảo 3 (744) khi Lý Bạch rời Trường An. Lý Bạch vốn dĩ tới kinh thành với chí lớn kinh bang trị quốc, đã tiếp cận hoàng đế nhưng vì nịnh thần cản đường mà không được trọng dụng phải trở về. Đòn nặng nề đó khiến nhà thơ uất ức. Bài thơ này thể hiện khúc chiết tinh tế biến đổi dữ dội trong tâm trạng nhà thơ uất ức, theo đuổi, thất vọng, hy vọng…đen xen xung đột nhau. Cuối cùng kết thúc với cảm xúc lạc quan hào hùng.

(2)Đơn vị dung tích xưa, bằng 10 lít.

(3)Ngọn núi nằm giữa ba tỉnh: Sơn Tây, Hà Bắc và Hà Nam của Trung Quốc ngày nay.

(4)Theo truyền thuyết, Khương Thái Công Lã Thượng từng ngồi câu trên Bàn Khê, tuổi rất cao mới được Chu Văn Vương trọng dụng; còn Y Doãn trước khi được vua nhà Thương là Thành Thang trọng dụng từng mộng thấy mình ngồi thuyền đi ngang qua mặt trời, mặt trăng. Ở đây nhà thơ dùng hai điển cố này để nói mình còn tràn đầy hy vọng sẽ được trọng dụng để thi thố tài năng hoài bão.

(5)Thời Tống Nam Triều, khi Tông Xác còn nhỏ, thúc phụ hỏi chí hướng của ông là gì, ông trả lời: “Nguyện thừa trường phong phá vạn lý lãng” (nguyện cưỡi gió lớn phá vạn dặm sóng).

 

  • Dịch thơ:

Đường khó đi

Chén vàng, rượu trong, đấu mười nghìn

Bàn ngọc, món ngon đáng vạn tiền

Đặt chén quẳng đũa uống không nổi

Tuốt kiếm nhìn quanh lòng bối rối

Muốn vượt Hoàng Hà băng nghẽn sông

Định lên Thái Hàng tuyết đầy núi

Bên khe buông câu lúc thảnh thơi

Bỗng mơ cưỡi thuyền quanh mặt trời

Đường khó đi, đường khó đi!

Nhiều ngã rẽ, giờ đâu nơi?

Cưỡi gió phá sóng ắt có lúc

Dương thẳng buồm mây vượt biển khơi

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

*** 

    Tương tiến tửu

         Lý Bạch

Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi

Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát

Triêu như thanh ty mộ thành tuyết

Nhân sinh đắc ý tu tận hoan

Mạc sử kim tôn không đối nguyệt

Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng

Thiên kim tán tận hoàn phục lai

Phanh dương tể ngưu thả vi lạc

Hội tu nhất ẩm tam bách bôi

Sầm phu tử Đan Khâu sinh

Tương tiến tửu bôi mạc đình

Dữ quân ca nhất khúc

Thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thính

Chung cổ soạn ngọc bất túc quý

Đản nguyện trường túy bất phục tỉnh

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh

Trần vương tích thời yến Bình Lạc

Đấu tửu thập thiên tứ hoan hước

Chủ nhân hà vị ngôn thiếu tiền

Kính tu cô thủ đối quân chước

Ngũ hoa mã thiên kim cừu

Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu

Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.

 

Dịch nghĩa:

Sắp mời rượu 1

Anh há chẳng thấy Hoàng Hà từ trên trời đổ xuống rồi mải miết chảy ra biển không trở lại? Anh há chẳng thấy có người soi gương trên nhà cao buồn vì tóc bạc, sáng như tơ xanh chiều đã thành tuyết trắng? Cho nên đời người khi đắc ý nên vui hết mình, đừng để chén vàng rỗng không trước trăng sáng. Trời sinh ra ta có tài tất sẽ được dùng. Nghìn vàng mất hết rồi lại có trở lại. Vậy nên hãy nấu dê mổ trâu thả sức vui. Một lần uống phải ba trăm chén.

Sầm phu tử, Đan Khâu sinh2! Đã nâng chén uống thì đừng có dừng! Tôi sẽ ca cho các bạn một khúc! Xin các bạn vì tôi lắng tai nghe:

Chuông trống 3  món ăn lạ không đáng quý. Ta chỉ muốn say dài không tỉnh lại. Xưa nay các vị thánh hiền đều chìm vào cõi lặng im, chỉ có dân rượu để lại tên tuổi mà thôi. Trần vương 4  xưa kia mở tiệc ở Bình Lạc  5, một đấu6 rượu giá mười nghìn tiền thả sức vui. Cớ sao chủ nhân lại nói thiếu tiền? Hãy mua ngay rượu về để chúng ta cùng rót cho nhau! Ngựa ngũ sắc, áo lông nghìn vàng, hãy bảo bọn trẻ đem ra đổi lấy rượu ngon để ta cùng các bạn xóa tan mối sầu vạn cổ!

(1)Tương tiến tửu, một đề cũ trong nhạc phủ, thường viết về yến tiệc vui vẻ. Bài thơ này làm vào khoảng năm Thiên Bảo 11 (752), sau khi nhà thơ từ Trường An  trở về. Băng ngôn ngữ hào sảng khoáng đạt và thủ pháp khoa trương, bài thơ thể hiện tinh thần phóng túng không câu thúc, lạc quan tự tin, tình cực bi phẫn nhưng lại cuồng phóng, lời cực phóng túng nhưng lại trầm tĩnh, có khí thế và sức mạnh lay động lòng người.

(2)Hai người bạn của nhà thơ là Sầm Huân và Nguyên Đan Khâu

(3)Chỉ các nhạc khí dùng trong yến tiệc của các gia đình quyền quý

(4)Chỉ Trần Tư vương Tào Thực của nước Ngụy thời Tam Quốc

(5)Bình Lạc quán, tên cung khuyết thời Hán, tại Lạc Dương. Danh đô thiên của Tào Thực có câu « Quy lai yến Bình Lạc, Mỹ tửu đấu thập thiên » (Trở về mở tiệc tại Bình Lạc, Rượu ngon một đấu giá nghìn tiền.

(6)Đơn vị đo dung tích cũ, bằng 10 lít.

  • Dịch thơ:

Sắp mời rượu

Anh chẳng thấy từ trời cao nước Hoàng Hà ào ào đổ xuống

Ra biển đông cuồn cuộn thẳng một đường

Anh chẳng thấy nỗi buồn tóc bạc trước đài gương

Sớm như tơ xanh chiều đã thành tuyết trắng

Đời khi vui, vui cho thỏa chí mình

Đừng để chén vàng không trước ánh trăng

Trời sinh ta tài sắt sẽ có lúc dùng

Bạc vạn mớ tiêu đi rồi lại có

Giết dê mổ trâu vui hết cỡ

Cuộc uống này phải cạn mấy trăm ly

Sầm Phu tử, Đan Khâu sinh

Đã nâng ly xin chớ có dừng

Ta sẽ vì bạn ca một khúc

Vì ta bạn hãy lắng tai nghe

Chiêng tống bạc vàng nào có quý gì

Xin nguyện được một lần say mãi mãi

Thánh hiền cũng chẳng gì lưu lại

Có chăng là dân rượu được lưu danh

Trần Vương xưa mở tiệc vui hết mình

Tại Bình Lạc, rượu mười nghìn một đấu

Chủ nhân sao nói lời tiền thiếu

Hãy mua rượu ngay để ta rót cho nhau

Áo gấm nghìn vàng, ngựa quý năm màu

Hãy hô trẻ đổi rượu ngon đãi khách

Để mối sầu muôn xưa ta cùng nhau xóa sạch!

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Anh thấy chăng

Nước Hoàng Hà lưng trời tuông chảy

Ra biển rồi nào thấy về đâu

Anh thấy chăng

Lầu cao gương sáng tóc sầu

Sáng soi còn biếc chiều màu tuyết pha

Vui thỏa thích khi ta đạt ý

Trước trăng vàng chén quý đừng vơi

Có tài phải được dùng thôi

Nghìn vàng hết sạch ắt rồi có ngay

Dê, trâu giết để vui say

Ba trăm ly uống hết bay một lần

Sầm, Khâu hai bạn chí thân

Rượu mời xin chớ lần chần ngừng ly

Cùng nhau hãy hát đi một khúc

Lại vì nhau hãy dốc tai nghe

Ngọc ngà chiên trống ra gì

Ta đây chỉ muốn li bì mãi say

Thánh hiền xưa cũng như nay

Đâu bằng dân rượu tiếng hay để đời

Trần Vương xưa một thời Bình lạc

Yến tiệc vui bát ngát thâu đêm

Rượu ngon một đấu vạn tiền

Có hề chi, vẫn mua liền để vui

Chủ nhân sao nói lời tiền ít

Hãy mua ngay vui tít cùng nhau

Áo vàng ngựa quý mặc dầu

Gọi con đem đổi rượu mau mang về

Cùng nhau ta uống thỏa thuê

Mối sầu vạn cổ ắt thì tiêu tan

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

 

***

           Nghĩ cổ

          (kỳ tam)

 

          Lý Bạch

Trường thằng nan hệ nhật

Tự cổ cộng bi tân

Hoàng kim cao Bắc Đẩu

Bất tich mãi dương xuân

Thạch hỏa vô lưu quang

Hoàn như thế trung nhân

Tức sự dĩ như mộng

Hậu lại ngã thùy thân

Đề hồ mạc từ bần

Thủ tửu hội tứ lân

Tiên nhân thù hoảng hốt

Vị nhược tửu trung chân

 

Dịch nghĩa:

Phỏng xưa

  (Bài 3)

Dây thừng dài cũng khó cột mặt trời. Từ xưa kiếp người đã buồn khổ đắng cay. Tuổi xuân nếu có thể mua được thì vàng dù chất cao đến tận sao bắc đẩu cũng chẳng tiếc. Lửa trong đá không để lại ánh sáng. Ta quay về như người trong đời. Ngẫm mọi chuyện chỉ như một giấc mơ. Kẻ đến sau ta sẽ là ai? Đã nâng bình rượu thì đừng vì nghèo mà không uống. Lấy rượu ra tụ họp mọi người. Người tiên là chuyện rất lờ mờ, chi bằng đi tìm cái thật trong rượu.

 

  • Dịch thơ:

       Phỏng xưa

Thừng sao cột được mặt trời

Từ xưa buồn khổ đời người đắng cay

Nếu giữ được tuổi xuân này

Vàng cao như núi cho bat tiếc gì

Trong đá lửa có sáng chi

Hãy vui làm một dân quê yêu đời

Trăm năm giấc mộng mà thôi

Đến sau ta, biết là người nào đây

Lấy rượu đãi bạn uống say

Cảnh nghèo cũng có cái hay cảnh nghèo

Người tiên là chuyện khó theo

Vui trong rượu ấy là điều chân tiên

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Thừng dài không buộc được mặt trời

Xưa nay ta khổ đã bao đời

Nếu có vàng cao bằng Bắc Đẩu

Tiếc chi mua lấy tuổi xuân tươi

Đá lửa không lưu chút ánh quang

Ta đến như người trong thế gian

Ngẫm lại sự đời như giấc mộng

Sau ta ai sẽ đến trần gian

Nâng ly chấp nhận phận thanh bần

Lấy rượu quây quần chúng bạn thân

Người tiên là chuyện trong hư ảo

Chi bằng trong rượu thấy điều “chân”

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Dây kia dài đến mấy mươi

Làm sao cột được mặt trời lên cao

Sinh ra từ những thuở nào

Kiếp người chất chứa biết bao hận đời

Dẫu cho vàng bạc ngất trời

Cũng không mua lại được thời thanh xuân

Đá kia mang mạch lửa ngầm

Không hề để lại đôi vầng hào quang

Ta về đứng giữa nhân gian

Ngẫm ra mọi chuyện chỉ toàn là mơ

Tới khi sắp sửa xuống mồ

Vẫn còn chưa biết ai chờ thế chân

Bây giờ bình rượu tay nâng

Ấy là xin nhận cái thân bần hàn

Cũng nhờ bình rượu trên bàn

Bọn ta mới được họp đàn bên nhau

Người tiên là chuyện đâu đâu

Sự đời chân thực ở bầu rượu đây

                   Nguyễn Chí Tình dịch

 

  • Dịch thơ:

Mặt trời thừng khôn cột

Kiếp người vốn đắng cay

Vàng chất ngang Bắt Đẩu

Chẳng tiếc mua xuân ngay

Lửa trong đá không sáng

Về dân thường lại hay

Ngẫm đời như giấc mộng

Sau ta là ai đây

Chấp nhận nghèo nâng hũ

Rượu tụ láng giềng đầy

Người tiên là ảo tưởng

Nhờ rượu tìm thực, ngay

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

***

           Nghĩ cổ

          (kỳ ngũ)

           Lý Bạch

Nguyệt sắc bất khả tảo

Khách sầu bất khả đạo

Ngọc lộ sinh thu y

Lưu huỳnh phi bách thảo

Nhật nguyệt chung tiêu hủy

Thiên địa đồng khô cảo

Huệ cô đề thanh tùng

An kiến thử thụ lão

Kim đan ninh ngộ tục

Muội giả nan tinh thảo

Nhĩ phi thiên tuế ông

Đa hận khứ tuế tảo

ẩm tửu nhập ngọc hồ

tàng thân dĩ vi bảo.

 

Dịch nghĩa:

Phỏng xưa

   (Bài 5)

 

Ánh trăng không thể quét đi được. Nỗi buồn của khách thật khó nói ra. Sương ngọc là chiếc áo của mùa thu. Đom đóm lập lòe trong trăm thứ cỏ. Mặt trăng mặt trời cuối cùng cũng tiêu hủy. Trời đất sẽ cùng khô xác. Ve sầu kêu ở cây thông xanh, nào biết cây ấy đã già rồi. Thuốc tiên làm người trần lầm lẫn. Người dốt khó bàn chuyện hay. Không nghe nói ai sống đến nghìn tuổi, mà phần nhiều đều hận vì chết sớm. Uống rượu rồi nhập thân vào bình ngọc, dấu mình đi trong rượu mới là quý.

 

  • Dịch thơ:

Phỏng xưa

  (Bài 5)

Ánh trăng không thể xóa

Lòng khách buồn khó tả

Sương ngọc dệt áo thu

Đom đóm soi hoa lá

Nhật nguyệt rồi chẳng còn

Đất trời cũng tàn tạ

Ve cứ hát tùng xanh

Biết đâu tùng già quá

Thuốc tiên mê hoặc người

Ngu khó bàn ý lạ

Chưa thấy ai trường sinh

Đời toàn than đoản thọ

Uống rượu nhập ngọc bình

Ẩn trong rượu mới đã!

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

***

Tặng Tiền Trưng quân Thiếu Dương

           Lý Bạch

Bạch ngọc nhất bôi tửu

Lục dương tam nguyệt thì

Xuân phong dư kỷ nhật

Lưỡng mấn các thành ty

Bỉnh chúc duy tu ẩm

Đầu can dã vị trì

Như phùng Vị Xuyên liệp

Do khả đế vương sư.

 

Dịch nghĩa:

Tặng bác Tiền Trưng Thiếu Dương

Một chén bạch ngọc rượu, ngồi uống giữa tháng ba dương liễu xanh rờn. Gió xuân chỉ còn thổi mấy ngày nữa thôi. Hai bên tóc mai ta đã thành tơ trắng cả rồi. Phải chong đuốc lên mà uống rượu thôi 1. Buông câu 2  cũng đừng để muộn. Nếu gặp cuộc đi săn ở Vị Xuyên 3 ta vẫn có thể làm thầy các bậc đế vương.

(1)Người xưa thường nói “Bỉnh chúc dạ du” (cầm đuốc chơi đêm), ý nói phải kịp thời hành lạc kẻo thời gian trôi qua mất. Câu thơ này cũng có ý thế.

(2)Nhắc lại điển Lã Vọng (Khương Tử Nha) buông câu trên sông Vị Thủy để chờ thời.

(3)Nhắc đến chuyện Chu Văn Vương đi săn ở Vị Xuyên gặp Lã Vọng ngồi câu cá, hỏi chuyện biết là người tài, bèn mời về làm quốc sư.\

 

  • Dịch thơ:

Tặng bác Tiền Trưng Thiếu Dương

Bạch ngọc một chén rượu thanh

Tháng ba dương liễu sắc xanh ngời ngời

Gió xuân còn mấy ngày thôi

Tóc mai đã trắng cả rồi còn chi

Chong đèn lên uống rượu đi

Buông câu sông Vị thích thì vẫn nên

Đế Vương săn ở Vị Xuyên

Nếu ta gặp, vẫn làm nên được thầy

Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Rượu bạch ngọc một chén

Liễu xanh tiết tháng ba

Gió xuân còn mấy bữa

Tóc mai đã trắng ngà

Cần uống thì đốt nến

Buông câu muộn đâu mà

Đi Vị Xuyên săn thú

Thầy Đế Vương là ta

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

*** 

         Đối tửu

         Lý Bạch

Khuyến quân mạc cự bôi

Xuân phong tiếu nhân lại

Đào lý như cựu thức

Khuynh hoa hướng ngã khai

Lưu oanh đề bích thụ

Minh nguyệt khuy kim lôi

Tạc nhật chu nhan tử

Kim nhật bạch phát thôi

Cức sinh Thạch Hổ điện

Lộc tẩu Cô Tô đài

Tự cổ đế vương trạch

Thành khuyết bế hoàng ai

Quân nhược bất ẩm tửu

Tích nhân an tại tai.

 

Dịch nghĩa:

Trước rượu

Khuyên anh đừng từ chối rượu. Gió xuân đang tươi cười đến với người. Đào mận như người quen biết cũ cứ nghiêng hoa về phía ta mà nở hoa. Chim oanh hót trên cây biếc. Trăng sáng rọi vào trong chén vàng. Hôm qua còn là gã trai mặt hồng, hôm nay tóc trắng đã giục giã rồi. Gai góc đã mọc dưới điện Thạch Hổ1, hươu nai chạy trên đài Cô Tô2, dinh thự, thành quách của các bậc đế vương xưa bụi vàng đã che phủ hết. Nếu anh không uống rượu thì sao biết người xưa nay ở đâu ?

(1)Thạch Hổ điện : điện của Thạch Hổ. Thời hậu Triệu, Thạch Hổ bày tiệc tại điện Thái Vũ, Phật Đồ Trừng lên điện, vừa đi vừa ngâm rằng : « Điện ơi, điện ơi, cây gai sẽ mọc thành rừng làm nát áo người ». Thạch Hổ cho đào đá nát nền lên, quả nhiên ở dưới có những cây gai đang mọc.

(2)Ngô vương Phù Sai say đắm Tây Thi, bỏ bễ triều chính, Ngũ Tử Tư can không được, bèn nói : «Ngày nay thần đã trông thấy hươu nai nhởn nhơ trên đài Cô Tô». 

 

  • Dịch thơ:

Đừng từ chối rượu bạn ơi

Gió xuân hây hẩy tươi cười đưa duyên

Đào mận như người quen biết cũ

Nghiên cánh hoa niềm nở cùng ta

Cành xuân ríu rít oanh ca

Lung linh trăng sáng rọi qua chén vàng

Hôm qua còn là chàng trai tráng

Mà hôm nay tóc trắng giục rồi

Điện Thạch Hổ gai sinh sôi

Đài Cô Tô hoẵng dạo chơi từng đàn

Lầu đế vương tự ngàn xưa cũ

Thành quách nay bao phủ bụi đầy

Nếu không uống rượu cho say

Người xưa bạn biết giờ này chốn nao?

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Anh đừng thôi uống rượu

Gió xuân chở vui qua

Đào mận như bạn cũ

Hướng vào mình trỗ hoa

Oanh reo trong khóm biếc

Chén ngọc trăng sáng lòa

Hôm qua mặt hồng phấn

Hôm nay tóc sương pha

Điện thạch Hổ gai mọc

Đài Cô Tô hươu dùa

Thành vách xưa vương giả

Giờ cát bụi phôi pha

Nếu anh không uống rượu

Biết giờ đâu người xưa?

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Xin đừng từ rượu bạn ơi

Gió xuân mừng bạn đang cười đón đưa

Mận đào như bạn hữu xưa

Nghiên về ta nở, đúng đưa lá cành

Oanh ca trong rặng cây xanh

Trăng thanh soi sáng long lanh chén vàng

Hôm qua trai tráng mặt hồng

Mà nay tóc đã như bông mất rồi

Điện Thạch Hổ gai khắp nơi

Hươu nai đi dạo trên đài Cô Tô

Đế vương dinh thự ngày xưa

Bụi vàng vương phủ sương mờ khói bay

Nếu không uống rượu cho say

Người xưa bạn biết hôm nay chốn nào?

 

  • Dịch thơ:

Này rượu đây đừng chối từ chi nữa

Kìa gió xuân đang hớn hở cùng ta

Đào mận như người quen biết cũ

Nghiêng về ta mà cùng loạt ra hoa

Trên cây biếc oanh líu lo vui thế

Trong chén vàng lóng lánh ánh trăng soi

Gương mặt hôm qua còn hồng lên sắc trẻ

Mà hôm nay tóc bạc đã giục giã ta rồi

Dưới nền điện kia rừng gai đã mọc

Lũ nai rừng dào bước giữa đài sang

Thành vách đế vương lầu vàng gác ngọc

Đã ngập chìm trong lớp bụi thời gian

Dấu vết người xưa còn ai biết nữa chăng

Nên hôm nay không cùng nâng chén rượu?

                   Nguyễn Chí Tình dịch

*** 

Nguyệt hạ độc chước

       (kỳ nhất)

        Lý Bạch

Hoa gian nhất hồ tửu

Độc chước vô tương thân

Cử bôi yêu minh nguyệt

Đối ảnh thành tam nhân

Nguyệt ký bất giải ẩm

Ảnh đồ tùy ngã thân

Tạm bạn nguyệt tương ảnh

Hành lạc tu cập xuân

Ngã ca nguyệt bồi hồi

Ngã vũ ảnh linh loạn

Tỉnh thời đồng giao hoan

Túy hậu các phân tán

Vĩnh kết vô tình du

Tương kỳ diểu vân hán.

 

Dịch nghĩa:

Dưới trăng uống rượu một mình

(Bài 1)

Bên hoa một bình rượu, một mình rót uống không người thân. Nâng chén mời trăng sáng, cùng bóng mình nữa thanh ba người. Trăng vốn không biết uống rượu, bóng thì cứ quân theo ta. Thôi tạm bạn với trăng và bóng, hành lạc phải kịp lúc còn xuân. Ta hát trăng luẩn quẩn, ta múa bóng tán loạn. Lúc tỉnh cùng giao hoan, say rồi mỗi người đi một ngả. Mãi mãi kết mối giao du phi nhân thế, cùng hẹn nhau ở chốn mây trời xa xôi.

 

  • Dịch thơ:

Bên hoa một bình rượu

Cuộc rượu có mình ta

Nâng chén mời trăng sáng

Cùng bóng thành ba

Trăng thì không sành rượu

Bóng vốn tùy vào ta

Tạm chơi cùng hai gã

Vui cốt kịp lúc mà

Ta hát trăng xao xuyến

Ta múa bóng la đà

Lúc tỉnh cùng vui thú

Say rồi tạm chia ba

 

Mối kết giao khác tục

Hẹn gặp cuối trời xa

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Trong tau một bầu rượu

Mình ta rót dưới hoa

Nâng chén mời trăng sáng

Thêm bóng nữa thành ba

Trăng đã chẳng biết uống

Bóng lại quẩn theo ta

Bạn cùng trăng với bóng

Vui đi kẻo xuân qua

Ta ca nguyệt bồi hồi

Ta múa bóng nghiên ngả

Lúc tỉnh cùng giao hoan

Say, mỗi bên một ngả

Giao kết tình duyên lạ

Hẹn gặp phía trời xa

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Bên hoa uống rượu một mình

Người thân chẳng có, thấu tình ta chăng?

Ta nâng chén với chị Hằng

Nhìn trăng nhìn bóng nỗi lòng vấn vương

Trăng không uống rượu thông thường

Ta đây bóng đấy mà thương thân mình

Giờ hành lạc đã điểm canh

Xin tạm biệt cả bóng hình lẫn trăng

Trong khi trời vẫn còn xuân

Ta ca, trăng cứ tần ngần dõi theo

Ta múa, bóng đổ liêu xiêu

Lúc tỉnh cùng bóng trăng treo bên thềm

Khi say kết mối giao duyên

Mỗi người một ngả, ai đường nấy đi

Phù du tình bạn một khi

Hẹn nhau ở chốn mây trời xa xăm

                   Lê Sơn dịch

 

  • Dịch thơ:

Trăng treo lồng lộng trời xanh

Ta nâng bình rượu một mình bên hoa

Bạn bè thân thích đều xa

Ai người đồng ẩm cho ta rót mời

Ngẩn lên chỉ có trăng thôi

Trăng thêm bóng nữa là người thứ ba

Này trăng này bóng này ta

Bên bình rượu ngọt nay là tri âm

Ta nâng chén rượu mời trăng

Dẫu trăng vốn chẳng một lần say men

Bóng thì luôn ở kề bên

Cùng đi cùng đứng như liền một thân

Tạm khi cô độc cõi trần

Cùng trăng cùng bóng kết thân bạn bầy

Bạn ơi nếu có vui say

Thì vui say giữa những ngày đang xuân

Này ta đang hát cùng trăng

Thấy trăng như cũng lâng lâng bồng bềnh

Ta múa bóng cũng động tình

Theo ta nghiêng ngả lượn mình múa theo

Tỉnh thì vui thú thật nhiều

Say thì mỗi kẻ tìm theo lối mình

Dẫu không thân thế nhân tình

Mà trong cõi thực kết thành thâm giao

Hòa cùng đất rộng trời cao

Những lời hò hẹn gửi vào gió mây

                   Nguyễn Chí Tình dịch

***

Nguyệt hạ độc chước

          (Bài 2)

Thiên nhược bất ái tửu,

Tửu tinh bất tại thiên.

Địa nhược bất ái tửu,

Địa ưng vô tửu tuyền.

Thiên địa ký ái tửu,

Ái tửu bất quý thiên.

Dĩ văn thanh tỷ thánh,

Phục đạo trọc như hiền.

Hiền thánh ký dĩ ẩm,

Hà tất cầu thần tiên.

Tam bôi thông đại đạo,

Nhất đấu hợp tự nhiên.

Đản đắc túy trung thú,

Vật vi tỉnh giả truyền.

 

Dịch nghĩa:

Nếu trời mà không thích rượu trên trời đã chẳng có Sao Rượu; nếu đất không thích rượu thì trên mặt đất đã chẳng có suối rượu. Trời đất kia đã thích rượu thì ta thích rượu là không hổ thẹn với trời. Ta đã nghe nói rằng rượu trong sánh với bậc thánh nhân, lại nghe nói rượu đục thì giống như bậc hiền nhân. Nếu đã uống Thánh Hiền, thì cần gì phải cầu thần tiên nữa? Uống ba chén thì thông hiểu đạo lớn, uống một đấu thì hợp với tự nhiên. Chỉ mong có được cái thú trong lúc say, chứ không muốn để lại tiếng tăm là người tỉnh.

 

  • Dịch thơ:

Nếu trời không thích rượu

Sao trời có Tửu Tinh

Nếu đất không thích rượu

Sao đất có Tửu Tuyền

Trời đất đã thích rượu

Ham rượu là tự nhiên

Rượu trong – rằng là thánh

Rượu đục - ấy là hiền

Thánh, hiền đều đã uống

Còn cần gì thần tiên

Ba chén thông đại đạo

Một đấu hợp tự nhiên

Trong say tìm được hứng

Hơn tiếng “tỉnh” lưu truyền

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Nếu trời không thích rượu

Sao Rượu không trên trời

Nếu đất không thích rượu

Suối Rượi không khắp nơi

Trời đất đã thích rượu

Uống rượu sao thẹn trời

Nghe rượu trong là thánh

Rượu đục là hiền nhân

Thánh, Hiền đều đã uống

Còn cần gì thần tiên

Ba chén thông đại đạo

Một đấu hợp tự nhiên

Mong được vui trong say

Đừng là người đương tỉnh

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Nếu trời không thích rượu

Sao Sao Rượu ở trời

Nếu đất không thích rượu

Sao Suối Rượu chẳng vơi

Trời đất đà thích rượu

Mê rượu sao ngại trời

Rượu trong bì bới Thánh

Rượu đục – Hiền nhân thôi

Đã uống rồi Hiền Thánh

Thần tiên chi phải mời

Ba chén thông đại đạo

Một đấu hợp lẽ trời

Mong được vui khi xỉn

Tiếng “người tỉnh” bỏ thôi

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

 

***

Nguyệt hạ độc chước

       (Bài 3)

Tam nguyệt Hàm Dương thành

Thiên hoa trú như cẩm

Thùy năng xuân độc sầu

Đối thử kính tu ẩm

Cùng thông dữ tu đoản

Tạo hóa túc sở bẩm

Nhất tôn tề tử sinh

Vạn sự cố nan thẩm

Túy hậu nhất thiên địa

Ngột nhiên tựu cô chẩm

Bất tri hữu cô thân

Thử lạc tối vi thậm.

Dịch nghĩa:

Một mình uống rượu dưới trăng

                ( Bài 3)

Thành Hàm Dương tháng ba. Ban ngày nghìn hoa nở như gấm. Ai có thể một mình buồn được trong mùa xuân? Trước cảnh đẹp này không thể không uống rượu. Cuộc đời người cùng hay thông dài hay ngắn ông trời đã định sẵn. Một chén rượu uống vào sống chết cũng như nhau. Mọi việc khó xét đoán cho rõ ràng. Say rồi trời đất như nhau cả, ngất ngây đến bên chiếc gối lẻ. Không biết đến cả cái thân ta nữa. Niềm vui ấy mới thật là cùng cực.

 

  • Dịch thơ:

Thành Hàm Dương tháng ba rực rỡ

Cả ngàn hoa đua nở gấm thêu

Với Xuân sao có thể sầu

Cảnh này nhất định phải cầu Lưu Linh

Đời rủi may, dữ lành, thọ yểu

Đều đã do Tạo hóa định rồi

Một say, sinh tử chẳng mùi

Sự đời vốn khó rạch ròi đúng sai

Lúc đã say đất trời chẳng có

Tấm thân ta cũng hóa hư không

Ngất ngây trên chiếc gối bông

Niềm vui ngày mới tột cùng vô biên

Nguyễn Xuân Dũng dịch

  • Dịch thơ:

Thành Hàm Dương tháng Ba

Đẹp tựa gấm muôn hoa

Với Xuân sầu ai nỡ

Phải uống, cảnh đẹp mà

Rủi may với vắn dài

Tạo hóa định sẵn rồi

Sống chết cùng một chén

Vạn sự khó xét hoài

Say xỉn quên đất trời

Ngất ngây ôm gối ngơi

Có mình không, chẳng biết

Vui thế mới tuyệt vời

Nguyễn Đình Nhữ dịch

***

Nguyệt hạ độc chước

          (Bài 4)

Cùng sầu thiên vạn đoan,

Mỹ tửu bách tam bôi.

Sầu đa tửu tuy thiểu,

Tửu khuynh sầu bất lai.

Sở dĩ tri tửu thánh,

Tửu hàm tâm tự khai.

Từ túc ngọa Thú Dương,

Lũ không cơ Nhan Hồi.

Đương đại bất lạc ẩm,

Hư danh an dụng tai.

Giải ngao tức kim dịch,

Tao khâu thị Bồng Lai.

Thả tu ẩm mỹ tửu,

Thừa nguyệt túy cao đài.

 

Dịch nghĩa:

Một mình uống rượu dưới trăng (Bài 4)

Sầu cùng cực nghìn vạn mối. Rượu ngon ba trăm chén. Sầu nhiều rượu tuy ít, nhưng dốc rượu uống sầu sẽ không tới. Vì thế biết rượu là thánh1. Rượu say lòng rộng mở. Bá Di Thúc Tề từ chối thóc nhà Chu nằm tại núi Thú Dương2. Nhan Hồi3 bụng thường đói. Khi còn sống mà không vui uống rượu. lúc chết đi hư danh dùng được vào việc gì chứ! Ta có cua và rượu. Gò rượu này chính là cõi Bồng lai3. Chúng ta nên uống rượu ngon. Nhân lúc trăng say trên lầu cao.

(1)Xưa một thời từng có lệnh cấm rượu rất nghiêm, dân rượu phải dùng tiếng lóng để gọi rượu: rượu trong là thánh nhân, rượu đục là hiền nhân (xem chú thích các bài trước)

(2)Thú Dương: tên ngọn núi nơi Bá Di, Thúc Tề ở ẩn, không ăn gạo nhà Chu, thà chịu chết đói.

(3)Nhan Hồi: một học trò nổi tiếng của Khổng Tử, nổi tiếng là người nghèo mà vẫn vui.

(4Bồng Lai: vùng núi đảo trong biển Bột Hải nơi tương truyền có thần tiên ở.

 

  • Dịch thơ:

Buồn thảm ngàn vạn mối

Rượu ngon trăm chén thôi

Rượu tuy rằng ít ỏi

Cũng đủ giải buồn rồi

Bởi vậy rượu là Thánh

Rượu vào tâm sảng khai

Bá, Thúc xưa chê gạo

Nhan Hồi chịu đói hoài

Lúc sống không vui uống

Hư danh giúp gì ai

Ta có cua và rượu

Khác gì cảnh Bồng Lai

Rượu ngon thực đáng uống

Trăng lầu cao say dài

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

*** 

Xuân nhật độc chước

         Lý Bạch

Xuân phong phiến thục khí

Thủy mộc vinh xuân huy

Bạch nhật chiêu lục thảo

Lạc hoa tản thả phi

Cô vân hoàn không sơn

Chúng điểu các dĩ quy

Bỉ vật giai hữu thác

Ngô sinh độc vô y

Đối thử thạch thượng nguyệt

Trường túy ca phương phi.

 

Dịch nghĩa:

Ngày xuân uống rượu một mình

Gió xuân thổi đưa không khí êm dịu tới. Nước cây tươi tốt trong ánh xuân. Mặt trời chiếu trên cỏ xanh. Hoa rụng bay tản mạn khắp nơi. Đám mây lẻ bay về núi vắng. Chim chóc đều đã về tổ. Mọi vật kia đều có chốn nương thân. Riêng ta không biết nương tựa vào đâu. Trước ánh trăng soi trên mặt đá này ta say dài, hát  về các loài hoa thơm.

 

  • Dịch thơ:

Gió xuân trời trong dịu

Cây, nước rạng xuân thời

Nắng trắng soi cỏ biếc

Hoa thả cánh nơi nơi

Mây lẻ theo núi vắng

Chim muông về tổ rồi

Vạn vật đều có chốn

Trơ thân ta không nơi

Trước gò đá trăng dọi

Say dài hát vang trời

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Gió xuân dịu mát thổi về

Nước, cây xanh tốt đê mê xuân đời

Nắng vàng trên cỏ xanh tươi

Khắp nơi lả tả hoa rơi từng làn

Lẻ loi mây trở về ngàn

Chim bầy đều đã theo đàn về xanh

Muôn loài có chỗ nương mình

Mà riêng ta vẫn một mình nơi đây

Dưới trăng trên phiến đá này

Hoa thơm ta hát trong say dài dài

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Gió xuân dìu dịu thổi qua

Nắng xuân tô sắc muôn hoa tươi mầu

Cỏ xanh rụng mấy hoa ngâu

Mấy kia đơn lẻ khuất đầu núi xa

Chim chiều vỗ cánh về nhà

Vạn vật đều có chỗ mà dung thân

Riêng ta ở giữa cõi trần

Một mình nào biết xoay vần ra sao

Đêm nay dưới ánh trăng sao

Ta say, ta hát nghêu ngao một bài

Vì hoa tỏa ngát muôn loài

Đặng lòng bớt chút u hoài mênh mông

                   Lê Sơn dịch

 

***

Xuân nhật túy khởi ngôn chí

                Lý Bạch

Xử thế nhược đại mộng

Hồ vi lao kỳ sinh

Sở dĩ chung nhật túy

Đồi nhiên ngọa tiền doanh

Giác lai miện đình tiền

Nhất điểu hoa gian minh

Tá vấn thử hà nhật

Xuân phong ngữ lưu oanh

Cảm chi dục than tức

Đối tửu hoàn tự khuynh

Hạo ca đãi minh nguyệt

Khúc tận dĩ vong tình.

Dịch nghĩa:

Ngày xuân tỉnh rượu nói chí mình

Sống ở đời như giấc mộng lớn, làm gì cho vất vả đời mình. Cho nên suốt ngày ta say khướt, nằm lăn dưới cột trước nhà. Tỉnh dậy liếc nhìn ra trước sân thấy một con chim hót trong lùm hoa. Ta ướm hỏi hôm nay là ngày gì mà con oanh bay hót trong gió xuân. Xúc động trước cảnh ấy ta muốn than lên, nhưng rồi thấy rượu sẵn ta lại nghiêng chén. Ta hát vang chờ trăng sáng. Hát xong quên hết mọi nỗi niềm.

 

  • Dịch thơ:

Nhân sinh giấc mộng mà thôi

Cớ sao cực nhọc một đời làm chi

Cả ngày uống rượu tì tì

Say rồi nằm ngủ li bì trước hiên

Tỉnh rượu nhìn ra mé sân

Một con chim hót rất gần trong hoa

Hôm nay ngày mấy vậy ta

Gió xuân thổi, tiếng oanh ca rập rình

Tự dưng cảm thấy buồn tênh

Sẵn bình rượu rót một mình lại say

Chờ trăng ta hát khúc này

Hát xong phút chốc quên bay sự đời

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Đời người như giấc mộng dài

Làm chi vất vả đọa đầy thân ta

Cả ngày uống rượu say nhòa

Nằm dài dưới cột trước nhà ngủ lăn

Tỉnh dậy ngó ra trước sân

Có con chim hót trong ngần bên hoa

Hôm nay ngày mấy vậy ta

Mà con oanh hát khúc ca xuân đời?

Rưng rưng muốn thốt nên lời

Sẵn bình rượu lại rốt rồi nhắp ngay

Hát chờ trăng sáng đêm nay

Hát xong ta bỗng quên bay sự đời

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

***

Đề Đông Khê công u cư

           Lý Bạch

Đỗ Lăng hiền nhân thanh thả liêm

Đông Khê bốc trúc tuế thời yêm

Trạch cận thanh khê đồng Tạ Diểu

Môn thùy bích liễu tự Đào Tiềm

Hảo điểu nghênh xuân ca hậu viện

Phi hoa tống tửu vũ tiền thiềm

Khách đáo đãn tri lưu nhất túy

Bàn trung chỉ hữu thủy tinh diêm

 

Dịch nghĩa:

Đề nơi ở ẩn của Đông Khê

Một người hiền ở Đỗ Lăng1 trong sạch và liêm khiết, chọn Đông Khê làm đất dựng nhà ở quanh năm. Nhà gần khe xanh giống Tạ Diểu2 . Cửa rủ liễu biếc tựa Đào Tiềm3. Chim đẹp đón xuân hót ở sân sau. Hoa bay đưa rượu múa nơi thềm trước. Khách đến ông chỉ biết giữ lại uống cho say. Trong mâm chỉ có muối trắng.

(1)Đỗ Lăng : địa danh ở phía nam thành Trường An

(2)Tạ Diểu: nhà thơ nước Tề thời Nam Triều

(3)Đào Tiềm: tức Đào Uyên Minh nhà thơ điền viên thời Đông Tấn.

 

  • Dịch thơ:

Đỗ Lăng thanh bạch một người hiền

Chọn Đông Khê cư ngụ chung niên

Nhà cành ngòi xanh như Tạ Diểu

Cửa buông liễu biếc tự Đào Tiềm

Chim quý mừng xuân ca sau bếp

Hoa bay mời rượu múa trước thềm

Khách đến chỉ hay lưu uống rượu

Trong mâm ngoài muối chẳng gì thêm!

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Người hiễn Đỗ Lăng tiếng thanh liêm\

Ở ẩn Đông Khê cảnh êm đềm

Nhà cạnh ngòi xanh như Tạ Diểu

Cửa bênh liễu biếc tựa Đào Tiềm

Đón xuân chim đẹp ca sâu hận

Đưa rượu hoa tươi múa trước thềm

Khách đến chỉ mời ngồi uống rượu

Mâm toàn muối trắng vẫn say mềm

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

*** 

Há Chung Nam son quá Hộc Tư

        sơn nhân túc trí tửu

                Lý Bạch

Mộ tùng Bích Sơn há

Sơn nguyệt tùy nhân quy

Khước cố sở lai kính

Thương thương hoành thúy vi

Tương huề cập điền gia

Đồng trĩ khai tinh phi

Lục trúc nhập u kính

Thanh la phất hành y

Hoan ngôn đắc sở khế

Mỹ tửu liêu cộng huy

Trường ca ngâm tùng phong

Khúc tận hà tinh hy

Ngã túy quân phục lạc

Đào nhiên cộng vong ky.

 

Dịch nghĩa:

Xuống núi Chung Nam1 ngang qua nhà sơn nhân Hộc Tư, ở lại, chủ nhân đặt rượu mời

Chiều ta từ núi biếc2 xuống. Trăng núi theo người về. Quay lại nhìn chặng đường vừa đi qua thấy bóng chiều mênh mang vắt ngang dốc núi xanh biếc. Cùng Hộc Tư dắt tay nhau về đến điền gia, trẻ nhỏ đã ra mở cửa rào. Trúc xanh dẫn vào ngõ tối, thanh la3 phất áo người đi qua. Ta  vui mừng có được lư trú nghỉ ngơi. Chủ mang rượu ngon ra cùng nhau nâng chén, rồi hát mãi khúc “gió thổi cây tùng”4. Hát xong sao trời đã thưa thớt. Ta say bạn lại vui. Thảnh thơi cùng quên những toan tính trong cuộc đời.

(1)Núi Chung Nam: một trong những ngọn chính của dãy Tần Lĩnh, các văn sĩ đời Đường thường ẩn cư ở đây đợi được tiến cử, do đó mới có thành ngữ “Chung Nam tiệp kính” (con đường tắt Chung Nam).

(2)Bích sơn (núi biếc) ở đây chỉ ngọn Chung Nam

(3)Thanh La: còn có các tên gọi khác như nữ la, tùng la, là một loại tầm gửi thường từ trên cây mẹ buông rủ xuống

(4)Gió thổi cây tùng (tùng phong): tên một khúc nhạc cổ.

 

  • Dịch thơ:

Chiều từ núi biếc xuống

Trăng theo núi người về

Ngoảnh nhìn đường vừa đi

Xanh mênh mang một giải

Dắt tay nhau về nhà

Trẻ mở cửa đón ta

Ngõ trúc xanh thăm thẳm

Áo vương nhành thanh la

Mừng được chốn nghỉ ngơi

Rượu ngon cùng nhau mời

Ngâm khúc “Tùng Lộng Gió”

Đến lúc thưa sao trời

Ta say bạn lại vui

Thảnh thơi quên sự đời

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Chiều từ núi biếc xuống

Trăng núi theo người về

Ngoảnh trông vời lối cũ

Chiều loang biếc sơn khê

Cùng nhau đến điền chủ

Trẻ nhỏ mở cổng tre

Trúc xanh rợp ngõ thẳm

Hoa dây bám người đi

Mừng nơi nghỉ tuyệt hảo

Rượu ngon nốc tì tì

Nghêu ngao bài hát cổ

Vui tới lặn sao khuya

Tay say, bác khoái chí

Chuyện đời bỗng quên đi

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Chiều buông bóng núi tà tà

Ánh trăng dường cũng theo ta về nhà

Ngoảnh đầu nhìn lại phía xa

Lẫn trong sương khói còn màu xanh lam

Sơn thôn qua mấy khúc quanh

Trẻ con mau mắn mở nhanh cửa ngoài

Thanh la vấn vít áo người

Trúc xanh rợp bóng ở nơi ngõ nhà

Mừng rằng bác hiểu ý ta

Rượu ngon bày cuộc la đà say sưa

Cao giọng hát gió thông đưa

Khúc ca tận cũng vừa thưa sao trời

Bác vui tôi cũng say rồi

Thảnh thơi quên hết cảnh đời rối ren

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

Tuyên châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt

       Hiệu thư thúc Vân

Khí ngã khứ giả, tạc nhật chi nhật bất khả lưu

Loạn ngã tâm giả, kim nhật chi nhật đa phiền ưu

Trường phong vạn lý tống thu nhạn

Đối thử khả dĩ hàm cao lâu

Bồng Lai văn chương Kiến An cốt

Trung gian Tiểu Tạ hự thanh phát

Câu hoài dật hứng tán tứ phi

Dục thướng thanh thiên lãm minh nguyệt

Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu

Tửu bôi tiêu sầu sầu cánh sầu

Nhân sinh tại thế bất xứng ý

Minh triêu tán phát lộng thiên chu

 

Dịch nghĩa:

Tại lầu Tạ Diểu ở Tuyên Châu1, tiễn biệt chú họ Lý Vân hiệu thư lang ở Bí thư sảnh

Ngày hôm qua bỏ ta mà đi ta không thể níu giữ. Ngày hôm nay làm rối lòng ta gây nhiều ưu phiền. Gió dài vạn dặm đang tiễn những cánh nhạn mùa thu bay đi. Trước cảnh này ta có thể uống say trên lầu cao.

Văn chương Bông Lai2 mang cốt cách Kiến An3. Trong đó văn chương Tiểu Tạ4 lại càng thanh tân phấn phát. Hoài bão lớn, hứng thú trang nhã, ý tứ hùng tráng bay bổng. Muốn lên trời xanh xem trăng sáng. Rút gươm chém nước nước cứ chảy dài. Nâng chén tiêu sầu sầu càng sầu. Người sống trên đời không vừa ý, sớm mai xõa tóc5 bơi thuyền nhỏ ra đi.

(1)Tuyên Châu: tức Tuyên Thành, nay thuộc An Huy. Nhà thơ TQ thời Nam Triều là Tạ Diểu từng làm Thái thú Tuyên Thành, cho xây trên núi Lăng Dương tòa Bắc Lâu. Người đời gọi đây là  Lầu Tạ Diểu.

(2)Bồng Lai: ngọn núi thần trên biển trong truyền thuyết. Trong văn chương thường mượn để nói tiên cảnh. Thời Đông Hán học giả gọi Đông Quán (nơi tàng trữ sách quốc gia) là núi Bồng Lai. Người thời Đường  để chỉ Bí thư sảnh. Lý Vân là hiệu thư lang ở Bí thư sảnh, nên ở đay dùng “văn chương bồng lai” để chỉ văn chương của Lý Vân. (bản dịch thơ dùng Bồng Các).

(3)Kiến An là niên hiệu của Hán Hiến Đế. Lúc đó thơ văn của cha con Tào Tháo và những người trong nhóm “Kiến An thất tử” (Khổng Dung, Trần Lâm, Vương Xán, Hứa Càn, Nguyên Vũ, Ứng Dương và Lưu Trình) có phong cách rất mạnh mẽ rắn rỏi. Ở đây muốn ví văn chương Lý Vân mang cốt cách Kiến An.

(4)Tiểu Tạ; chỉ Tạ Diểu. Người thời Đường gọi Tạ Linh Vận (385-433), nhà thơ thời Tống Nam Triều là Đại Tạ, Tạ Diểu là Tiểu Tạ.(bản dịch thơ vẫn dùng Tiểu Tạ để chỉ văn chương của Tạ Diểu).

(5)Xõa tóc: ý nói cởi mũ áo từ quan về với đời thường giao du ẩn dật

 

  • Dịch thơ:

Bỏ ta mà đi ngày của ngày qua không thể giữ

Làm rối lòng ta ngày của ngày nay lắm ưu phiền

Ta ngồi thưởng rượu tại lầu cao

Gió vạn dặm tiễn đưa cánh nhạn

Văn Bồng Lai cốt cách Kiến An

Thơ Tiểu Tạ càng thêm thanh phát

Hoài bão lớn tứ thơ bát ngát

Thẳng trời cao bạn với trăng thanh

Rút dao chém nước, nước càng xiết

Nâng chén tiêu sầu sầu càng sầu

Sống ở trên đời không vừa ý

Sáng mai xõa tóc cưỡi thuyền đi

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

Bả tửu vấn nguyệt

         Lý Bạch

Thanh thiên hữu nguyệt lai ký thời

Ngã kim đình bôi nhất vấn chi

Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc

Nguyệt hành khước dữ nhân tương tùy

Kiểu như phi kính lâm đan khuyết

Lục yên diệt tận thanh huy phát

Đãn kiến tương tùng hải thượng lai

Ninh tri hiểu hướng vân gian một

Bạch thố đảo dược thu phục xuân

Thường nga cô thê dữ thùy lân

Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt

Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân

Cổ nhân kim nhân nhược lưu thủy

Cộng khan minh nguyệt giai như thử

Duy nguyện đương ca đối tửu thời

Nguyệt quang trường chiếu kim tôn lý.

 

Dịch nghĩa:

Nâng chén hỏi trăng

Trời xanh có trăng tự thuở nào? Nay ta dừng chén hỏi trăng xem. Người không leo lên được trăng sáng, còn trăng lại luôn đi theo người. Sáng long lánh như gương bay xuống cung điện mầu đỏ. Khói xanh tan hết ánh sáng trong tỏa ra. Chỉ thấy về đem trăng từ trên biển tới và sáng ra liền chìm vào trong mây. Thỏ trắng1 giã thuốc hết thu lại xuân. Thường Nga2 sống cô đơn biết làm làng giềng cùng ai. Người thời nay không thấy trăng thời cưa nhưng trăng thời nay từng chiếu người thời xưa. Người xưa người nay như nước chảy, cùng thấy trăng sang sáng như thế này cả. Ta chỉ mong khi ca hát trước rượu3, ánh trăng mãi mãi rọi vào trong chén vàng.

(1)Thỏ trắng: theo truyền thuyết trên mặt trăng có con thỏ trắng quanh năm giã thuốc. Vì thế “ngọc thỏ”  là chỉ mặt trăng.

(2)Thường Nga: là vợ Hậu Nghệ. Tương truyền Hậu Nghệ lấy được thuốc bất tử từ chỗ Tây Vương Mẫu, chưa kịp ăn, Thường Nga lấy trộm ăn trước rồi bay lên cung trăng.

(3)Bài “đoản ca hành” của Tào Tháo có câu: “Đối tửu tương ca, Nhân sinh kỷ hà” (Trước rượu phải ca hát, Cuộc đời được bao lăm).

 

  • Dịch thơ:

Trời cao có nguyệt khi nào

Nay ta dừng chén hỏi vào trăng thanh

Muốn kéo trăng xuống mình chẳng được

Trăng vẫn từng theo bước ta đi

Sáng như một tấm gương phi

Khói xanh tan hết thanh huy vẫn còn

Khi đêm đến trăng tàn trên biển

Lúc ngày về tan biến vào mây

Thỏ trắng giã thuốc đêm ngày

Hằng Nga cô độc có ai bạn cùng

Người nay chẳng biết trăng ngày trước

Trăng ngày nay lại biết người xưa

Ngắm trăng vẫn rượu vẫn thơ

Tình người nay với người xưa khác gì

Chỉ mong được mỗi khi uống rượu

Trong chén vàng mãi đượm ánh trăng

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

Tặng Mạnh Hạo Nhiên

Ngô ái Mạnh Phu tử

Phong lưu thiên hạ văn

Hồng nhan khí hiên miện

Bạch thủ ngọa tùng vân

Túy nguyệt tần trung thánh

Mê hoa bất sự quân

Cao sơn an khả ngưỡng

Đồ thử ấp thanh vân.

 

Dịch nghĩa:

Tặng Mạnh Hạo Nhiên

Ta yêu Mạnh Phu tử, phong lưu nổi tiếng khắp thiên hạ. Lúc trẻ tuổi chẳng thích gì xe mũ miện1, khi về già thì ẩn cư trong chốn sơn lâm. Từng nhiều lần say trăng và rượu trong2, mê hoa ông chẳng phụng sự nhà vua. Ông như núi cao ta làm sao với tới được3. Ta chỉ có thể kính vái phẩm chất cao khiết của Phu tử mà thôi.

1.Hiên (xe đẹp) miện (mũ miện) những thứ thể hiện quan chức. ở đay nói lúc trẻ tuổi Mạnh Phu tử chẳng thiết tha gì với đường quan tước.

2.Thánh: rượu trong (hiền: rượu đục)

3.Lấy ý từ câu trong Kinh thi: “Cao sơn ngưỡng chỉ, Cảnh hành hành chỉ” (Trông vời núi cao, đi theo đường lớn). Ý là ngưỡng mộ làm theo những người có phẩm hạnh, đức độ cao thượng. Ở đây thể hiện lòng kính ngưỡng đối với Mạnh Hạo Nhiên.

 

  • Dịch thơ:

Ta yêu quý Mạnh Phu tử

Phong lưu nức tiếng xa gần

Thời trẻ chẳng thiết chức tước

Về già vui chốn sơn lâm

Dưới trăng nhiều lần say khướt

Mê hoa vua cũng cóc cần

Núi cao ta sao sánh được

Chỉ biết kính phục muôn phần

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Ta yêu Mạnh Phu tử thay

Phong lưu thiên hạ mấy ai sánh tày

Công dung gác bỏ ngoài tai

Ung dung tự tại vui nơi núi rừng

Dưới trăng say tít bao lần

Thờ vua cũng chẳng thể bằng yêu hoa

Tinh thần cao khiết thực là

Núi kia cũng phải ở xa kính người

                   Trần Vân Long dịch

 

***

Khách trung tác

      Lý Bạch

Lan Lăng mỹ tửu úc kim hương

Ngọc uyển thịnh lai hổ phách quang

Đãn sử chủ nhân năng túy khách

Bất tri hà xứ thị tha hương.

 

Dịch nghĩa:

Làm thơ nơi đất khách

Rượu ngon đất Lan Lăng1 sực nức mùi uất kim hương. Đem đựng trong bát ngọc rượu ánh lên mầu hổ phách. Chỉ cần chủ nhân có thể chuốc khách say thì ta chẳng còn biết đâu là đất khách quê người nữa!2

1.Lan lăng : Thương Sơn Sơn Đông ngày nay

2.Ý nói đâu cũng là quê hương.

 

  • Dịch thơ

Lan Lăng rượu quý ngạt ngào hương

Đựng trong bát ngọc sánh lạ thường

Ví thử chủ nhân say cùng khách

Còn biết nơi nào chốn tha phương!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ

Lan Lăng rượu quý uất kim hương

Rót tràn đầy trong chén dạ quang

May được chủ nhân yêu đãi khách

Cũng vơi dần cái nỗi tha phương

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân chí du Động Đình

(Kỳ nhị)

Nam hồ thu thủy dạ vô yên

Nại khả thừa lưu trực thướng thiên

Thả tựu Động Đình xa nguyệt sắc

Tương thuyền mãi tửu bạch vân biên.

 

Dịch nghĩa:

Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân chí du Động Đình1

Nước mùa thu ở Nam Hồ2 về đêm trong suốt không gợn khói. Làm sao có thể đi thuyền theo dòng nước đi thẳng lên trời được nhỉ? Thôi hãy tạm mua chịu hồ Động Đình một chút ánh trăng rồi đem thuyền đi mua rượu ở phía bên mây trắng kia.

1.Động đình: hồ lớn thứ hai Trung Quốc ở phía Bắc tỉnh Hồ Nam

2.cũng là hồ Động Đình, vì nằm ở phía tây nam Nhạc Châu nên còn có tên gọi Nam Hồ.

 

  • Dịch thơ

Nam Hồ đêm thu chẳng khói bay

Chẳng thể lên trời theo lối này

Về tạm Động Đình vay ánh nguyệt

Đưa thuyền mua rượu phía chân mây

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

*** 

Đề Đái lão tửu điếm

        Lý Bạch

Đái lão hoàng tuyền hạ

Hoàn ừng nhưỡng đại xuân

Dạ đài vô Lý Bạch

Cô tửu dữ hà nhân ?

 

Dịch nghĩa:

Ông Đới1 ở dưới suối vàng vẫn nấu rượu Đại Xuân2 ,nhưng chốn dạ đài không có Lý Bạch, vậy ông bán rượu cho ai?

1.Ông Đới: tên ông chủ quán rượu mà Lý Bạch thường đến uống. Tương truyền sau khi ông Đới mất, Lý Bạch đề bài thơ này tại quán rượu của ông.

2.Đại xuân: tên loại rượu mà ông Đới thường nấu

 

  • Dịch thơ:

Cụ Đới rời cõi trần

Vẫn nấu rượu Đại Xuân

Dạ đài vắng Lý Bạch

Rượu nấu, biết ai cẩn?

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Ông đới dưới suối vàng

Vẫn nấu rượu Đại Xuân

Dạ đài vắng Lý Bạch

Ai người mua rượu ông?

                   Trần Đình Hiến dịch

 

  • Dịch thơ:

Lão Đới ở dưới hoàng tuyền

Đại xuân vẫn nấu ngày đêm miệt mài

Rượu ngon lão bán cho ai

Lý Bạch đâu ở dạ đài mà mua

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Ông Đới ở dưới âm cung

Đại Xuân vẫn nấu thơm lừng mùi men

Nhưng Lý Bạch – một khách quen

Đâu ở chốn đó để khen rượu nồng

Bán cho ai hở lão ông?

                   Lê Sơn dịch

 

  • Dịch thơ:

Dưới suối vàng ông Đới

Không quên nghiệp trần gian

Lại nấu rượu Đại Xuân

Vẫn thơm ngon biết mấy

Nhưng dạ đài chốn ấy

Không có Lý Bạch ta

Thì rượu quý nấu ra

Bán cho ai, ông Đới?

                   Nguyễn Chí Tình dịch

 

***

Tặng nội

 Lý Bạch

Tam bách lục thập nhật

Nhật nhật túy như nê

Tuy vi Lý Bạch phụ

Hà dị thái thường thê.

 

Dịch nghĩa:

Tặng vợ

Một năm ba trăm sáu mươi ngày, ngày nào ta cũng say bét như bùn. Nàng tuy là vợ Lý Bạch ta nhưng cũng chẳng khác gì làm vợ quan thái thường1

1.Quan thái thường: Chu Hoạch làm chức quan thái thường đời Hậu Hán, vì coi sóc tôn miếu  nên quanh năm trai giói nghiêm cẩn thường không về nhà với vợ, để vợ đằng đẵng buồng không một mình.

 

  • Dịch thơ:

Một năm ba trăm sáu mươi ngày

Ngày nào tôi cũng bét be say

Mình tiếng là vợ tôi – Lý Bạch

Có khác chi vợ thái thường đây!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Tròn ba trăm sáu mươi ngày

Ngày nào tôi cũng rượu say như bùn

Nàng là Lý Bạch phu nhân

Với vợ Chu Trạch cũng gần, khác chi

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

*** 

Giang thượng ngâm

          Lý Bạch

Mộc lan chi duệ sa đường chu

Ngũ tiêu kim quản sinh lưỡng đầu

Mỹ tửu tôn trung trí thiên hộc

Tái kỹ tùy ba nhiệm khứ lưu

Tiên nhân hữu đãi thừa hoàng hạc

Hải khách vô tâm tùy bạch âu

Khuất bình từ phú huyền nhật minh

Sở vương đài tạ không sơn khâu

Hứng hàm lạc bút dao ngũ nhạc

Thi thành túy ngạo lăng thương châu

Công danh phú quý nhược trường tại

Hán thủy diệc ưng tây bắc lưu.

 

Dịch nghĩa:

Ngâm trên sông

Chèo gỗ mộc lan thuyền gỗ sa đường. Nhạc công thổi sáo ngọc kèn vàng ngồi ở hai đầu. Rượu  ngon trong vò cả ngàn hộc1. Mang theo kỹ nữ theo sáng đi dừng tùy thích. Người tiên còn chờ cưỡi hạc vàng. Khách chơi biển vô tâm theo cánh hải âu trắng. Từ phú của Khuất Bình2 vẫn vằng vặc trên cao như mặt trăng mặt trời còn lâu đài của Sở vương đã thành núi gò trơ trụi. Hứng lên trong lúc say hạ bút là lung lay cả Ngũ Nhạc3. Thơ viết xong cười ngạo nghễ át cả Thương Châu4. Nếu công danh phú quý tồn tại được mãi thì Hán Thủy có mà chảy ngược lên tây bắc!

1.Hộc: đơn vị đo dung tích xưa bên TQ=10 đấu=100 thăng=100 lít

2.Khuất Bình: tên của Khuất Nguyên

3.Ngũ nhạc: 5 ngọn núi nổi tiếng ở TQ: Thái Sơn ở Sơn Đông (phía đông), Hành Sơn ở Hồ Nam (phía nam), Hoa Sơn ở Thiểm Tây (phía Tây), Hằng Sơn ở Sơn Tây (phía bắc), Tùng Sơn ờ Hà Nam (trung tâm)

4.Thương Châu: tương truyền là chỗ ở của tiên.

  • Dịch thơ:

Ngồi hai đầu tiêu vàng sáo ngọc

Chèo gỗ lan thuyền bọc gỗ sa

Rượu ngon chất cả ngàn vò

Yêu kiều tha thước gái tơ trên thuyền

Bóng hạc vàng người tiên chờ cưỡi

Cánh hải âu đắm đuối khách du

Khuất Bình vằng vặc ý thơ

Lâu đài Vua Sở còn trơ một gò

Say hứng bút vung mờ Ngũ Nhạc

Thơ thành cười nhạo át Thương Châu

Công danh phú quý bền lâu

Có mà Hán Thủy quay đầu về tây!

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Thuyền gỗ sa đường, chèo mộc lan

Hai đầu – sáo ngọc với kèn vàng

Rượu ngon trong chóe chứa ngàn hộc

Theo sóng thuyền trôi, chở mấy nàng

Hạc vàng tiên đợi cưỡi từ lâu

Vô tâm khách biển dõi chim âu

Từ phú Khất Bình – ngời trăng sáng

Lâu đài Vua Sở - trụi gò khâu

Hứng bút khi say chuyển núi đồi

Tiếng thơ ngạo át chỗ tiên chơi

Công danh phú quý mà còn mãi

Cầm bằng Hán Thủy ngược dòng trôi!

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

***

Sơn trung dữ u nhân đối chước

                   Lý Bạch

Lưỡng nhân đối chước sơn hoa khai

Nhất bôi nhất bôi hựu nhất bôi

Ngã túy dục mien khanh thả khứ

Minh triêu hữu ý bão cầm lai.

 

Dịch nghĩa:

Uống rượu cùng người lánh đời trong núi

Hai người gật gù uống rượu với nhau còn xung quanh thì hoa núi nở. Một chén một chén rồi lại một chén. Tôi say muốn ngủ rồi ông hãy tạm về đi. Sáng mai đến nhớ mang theo cây đàn nhé.

 

  • Dịch thơ:

Hai người uống rượu hoa rừng nở

Một chén một chén cứ rót tràn

Tôi say muốn ngủ ông về nhé

Mai đến nhớ mang theo cây đàn

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Hoa rừng nở, rượu hai người

Chén thì chén tạc chén vơi chén đầy

Bác về nhé, tôi đã say

Mai sang bác nhớ mang cây đàn cầm

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

Tự khiển

 Lý Bạch

Đối tửu bất giác mính

Lạc hoa doanh ngã y

Tửu khởi bộ khê nguyệt

Điểu hoàn nhân diệc hy.

 

Dịch nghĩa:

Giải khuây

Ngồi uống rượu trời tối lúc nào không hay. Hoa rụng đầy trên áo. Tỉnh dậy đi dọc the bờ suối đầy trăng sáng. Chim đã về tổ người đi cũng thưa thớt.

 

  • Dịch thơ:

Rượu say chẳng biết thối ngày

Tỉnh ra hoa rụng vương đầy áo ta

Dạo khe lóng lánh trăng ngà

Chim về tổ ngủ người đà vắng tanh

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Say nằm chẳng buồn dậy

Áo, hoa rụng vương đầy

Suối, trăng vàng sóng sánh

Chim về người vắng tanh

                   Trần Vân Long dịch

_______________________________________

ĐỖ PHỦ (杜甫)

Đỗ Phủ (712- 770), tự Tử Mỹ, tự xưng là Đỗ Lăng Bố Y (người áo vải Đỗ Lăng), Thiếu Lăng Dã Lão (ông lão nhà quê Thiếu Lăng). Quê gốc Tương Dương, (nay là Tương Phàn, Hồ Bắc),  sinh ở huyện Củng (nay thuộc Hà Nam), cháu nhà thơ Đỗ Thẩm Ngôn. Nhiều lần đi thi tiến sĩ không đỗ, lãng du khắp nơi, kết thân với Lý Bạch, về sau cư trú Trường An. An-Sử dấy loạn ông bị bắt ở Trường An, về sau trốn tới Phượng Tường, yết kiến Túc Tông, được phong làm tả thập di, vì dâng sở cứu Phòng Quản, đắc tội với Túc Tông, ít lâu sau qua Tần Châu vào đất Thục, tới Thành Đô dựng thảo đường bên ngòi Cán Hoa. Sau làm tham mưu dưới trướng của tiết độ sứ Kiếm Nam là Nghiêm Vũ, rồi được tiến cử làm kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Cuối đời đưa gia đình rời đất Thục, mất trên đường đi.

Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại đời Đường của Trung Quốc, thơ ông phản ánh quá trình lịch sử từ thịnh chuyển suy của triều Đường, được tôn là “thi sử”, có ảnh hưởng rất sâu xa tới đời sau. Ông nếm đủ đau buồn trong cuộc đời, gần gũi, am hiểu đời sống nhân dân, công kích những mặt đen tối của xã hội. Phong cách thơ dồn nén, trầm uất, niêm luật nghiêm chỉnh, quy chuẩn hó thơ cách luật cổ điển, trở thành mẫu mực cho thơ đời sau. Vì vậy ông được tôn vinh là “thi thánh”. Ông có Đỗ Công bộ tập. Trong Toàn Đường thi có 19 quyển thơ ông.

***

Tặng Vệ bát xử sĩ

         Đỗ Phủ

Nhân sinh bất tương kiến

Động như Sâm dữ Thương

Kim tịch phục hà tịch

Cộng thử đăng chúc quang

Thiếu tráng năng kỷ thời

Mấn phát các dĩ thương

Phỏng cựu bán vi quỷ

Kinh hô nhiệt trung trường

Yên tri nhị thập tải

Trùng thướng quân tử đường

Tích biệt quân vị hôn

Nhi nữ hốt thành hàng

Di nhiên kính phụ chấp

Vấn ngã lai hà phương

Vấn đáp nãi vị dĩ

Khu nhi la tửu tương

Dạ vũ tiễn xuân cửu

Tân xuy gián hoàng lương

Chủ xưng hội diện nan

Nhất cử lũy thập thương

Thập thương diệc bất túy

Cảm tử cố ý trường

Minh nhật cách sơn nhạc

Thế sự lưỡng mang mang.

 

Dịch nghĩa:

Tặng ẩn sĩ tám Vệ1

Ở đời không gặp nhau, mỗi người thường như sao Hôm và sao Mai. Đêm nay là đêm gì2 mà ta lại cùng ngồi dưới ánh đèn nến này. Tuổi trẻ trai tráng được mấy lúc, người nào giờ tóc cũng bạc rồi. Hỏi chuyện bạn cũ thì phần nữa đã là ma. Thảng thốt lòng ta như lửa đốt.

Nào biết hai mươi năm sau ta lại lần nữa lên nhà bạn. Trước kia khi chia tay bạn còn chưa kết hôn mà giờ con cái đã thành hàng. Chúng vui mừng kính chào bạn của cha, hỏi ta từ đâu tới. Hỏi đáp còn chưa dứt thì bạn đã sai con bày rượu và món ăn ra. Đêm mưa cắt rau hẹ mùa xuân, cơm mới nấu trộn với kê vàng. Chủ nói gặp nhau khó, uống liền một lúc mười chén rượu. Mười chén cũng chẳng say. Ta vô cùng xúc động trước tình cũ sâu đậm của bạn.

Ngày mai chia tay nhau, núi đồi cách trở, sự đời đôi ngả mênh mang!

1.Ẩn sĩ tám Vệ : bạn thời trẻ của tác giả. Mùa xuân năm Càn Nguyên 2 (759), Đỗ Phủ từ Lạc Dương về Hoa Châu, dọc đường ghé qua Bồ Châu (Vĩnh Tế Sơn Tây ngày nay) thăm người bạn này.

2.Người xưa thường dùng « Kim tịch thị hà tịch » (cái đêm hôm ấy đêm gì) để diễn ta một đêm khó quên.

  • Dịch thơ:

Sống trên đời gặp nhau khó thật

Như sao Hôm khó gặp sao Mai

Đêm nay tôi bác cùng vui

Dưới đèn hoa cúc mai rồi chia xa

Thời trai trẻ được là mấy chốc

Giờ thì đều bạc tóc cả rồi

Hỏi thăm bạn cũ trên đời

Số thành ma chiếm nửa rồi còn đâu

Tai nghe chuyện lòng đau lửa đốt

Hai mươi năm thảng thốt qua mau

Nào ngờ nay lại gặp nhau

Chia tay ngày ấy bạn đâu gia đình

Thế mà giờ đình huỳnh con cái

Đứng thành hàng kính vái bạn cha

Hỏi ta tự chốn nào qua

Chuyện trò chưa dứt lại đà mời ăn

Sai con bày rượu ra mâm

Nào canh rau hẹ nào cơm kê vàng

Chủ nhân bảo gặp nhau thật khó

Hãy uống đi một bữa thở thuê

Một hơi uống cạn mười ly

Mười ly cũng chẳng thấy gì là say

Không say mà vẫn ngất ngây

Ngất ngây vì cái tình đầy bạn ta

Ngày mai lại cách xa sống núi

Người một phương đôi ngả mênh mang!

                   Trần Vân Long dịch

 

***

Khách chí

   Đỗ Phủ

Xá nam xá bắc giai xuân thủy

Đãn kiến quần âu nhật nhật lai

Hoa kính bất tằng duyên khách tảo

Bồng môn kim thủy vị quân khai

Bàn xan thị viễn vô kiêm vị

Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi

Khẳng dữ lân ông tương đối ẩm

Cách ly hô thủ tận dư bôi.

 

Dịch nghĩa:

Khách đến chơi nhà

Phía nam phía bắc nhà mênh mang nước mùa xuân. Chỉ thấy từng đàn chim sâm cầm ngày ngày bay tới. Đường đầy hoa rụng chưa từng vì có khách đến chơi mà phải quét. Cửa sài hôm nay mới lần đầu mở ra đón bác. Trên bàn ăn vì chợ xa nên chẳng có nhiều món. Nhà nghèo chỉ có chén rượu lâu năm chưa lọc. Nếu bác muốn ngồi uống với ông hàng xóm thì tôi sẽ gọi qua hàng rào mời sang để ta cùng cạn chén.

 

  • Dịch thơ:

Lũ Xuân vây bọc trước sau nhà

Chỉ mỗi hải âu tới thăm ta

Đường hoa vắng khách nên không quét

Cổng rào bác đến mới mở ra

Chợ xa nhà túng cơm đạm bạc

Chén rượu đưa mời cũng rượu xưa

Đối ẩm có một ông hàng xóm

Nếu bắc vui lòng ta gọi qua

                   Trần Đình Hiến dịch

 

  • Dịch thơ:

Bắc nam nhà, nước xuân đầy

Ngáy ngày bay tới mấy bầy thiên nga

Chưa duyên chưa quét đường hoa

Cửa sài nay mới mở ra đón mời

Chợ xa cơm nước sơ sài

Cảnh nghèo chỉ có mấy chai rượu nhà

Hôm nay bác đến chơi ta

Thêm ông hàng xóm nữa là đủ vui

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Bốn bề nước ngập mênh mông

Họa may chỉ có sâm cầm bay qua

Đường đầy hoa rụng trước nhà

Vì không có khách, quét ta chẳng cần

Bác là vị khách đầu xuân

Ghé thăm, cửa mới một lần mở ra

Hiềm một nỗi chợ thì xa

Thức ăn chẳng sẵn trong nhà như xưa

Đãi nhau chỉ có rau dưa

Vài ba ly rượu cất vừa ba năm

Nếu ưng, mời bác uống cùng

Với lão hàng xóm vẫn từng sang chơi

Để tôi nhắn lão đôi lời

Ta cùng cạn chén cho vơi nỗi buồn

                   Lê Sơn dịch

 

*** 

Ẩm trung bát tiên ca

          Đỗ Phủ

Tri Chương kỵ mã tự thừa thuyền

Nhãn hoa lạ tỉnh thủy để mien

Nhữ Dương tam đầu thủy triều thiên

Đạo phùng khúc xa khẩu lưu diên

Hận bất di phong hướng Tửu Tuyền

Tả tướng nhật hứng phế vạn tiền

Ẩm như trường kình hấp bách xuyên

Hàm bôi lạc lạc xưng tỵ hiền

Tông Chi Tiêu sái mỹ thiếu niên

Cử thương bạch nhãn vọng thanh thiên

Kiểu như ngọc thụ lâm phong tiền

Tô Tấn trường trai tú tú phất tiền

Tửu trung vãng vãng ái đào thiền

Lý Bạch đấu tửu thi bách thiên

Trường an thị thượng tửu gia mien

Thiên tử hô lai bất thướng thuyền

Tự xưng thần thị tửu trung tiên

Trương Húc tam bôi thảo thánh truyền

Thoát mạo lộ đỉnh vương công tiền

Huy hào lạc chỉ như vân yên

Tiêu Toại ngũ đấu phương trác nhiên

Cao đàm hùng biện kinh tứ diên.

 

Dịch nghĩa:

Bài ca tám vị tiên trong rượu

Tri Chương1 cưỡi ngựa tựa đi thuyền, mắt hoa, rơi xuống giếng, nằm ngủ dưới đáy nước. Nhữ Dương2 uống ba đấu rượu mới hướng lên trời, trên đường gặp xe chở rượu miệng chảy dãi, giận không thể chuyển đất được phong đến Suối Rượu3. Tả thừa tướng4 một ngày hứng lên tiêu hết vạn tiền, uống rượu như cá voi hút nước trăm sông, ngậm chén rượu khoái chí xưng là lẩn tránh người hiền5. Tông Chi6 tiêu sái tuổi thiếu niên đẹp, nâng chén mắt trắng dã nhìn trời xanh, rạng ngời như cây ngọc trước gió. Tô Tấn7 ăn chay dài mặc áo thêu trước Phật, khi say thường thích lẩn vào cửa thiền. Lý Bạch uống một đấu rượu làm trăm bài thơ. Say nằm ngủ ngay tại quán rượu trên phố Trường An, thiên tử gọi cung chẳng thèm lên thuyền, tự xưng thần là tiên trong làng rượu. Trương Húc8 uống ba chén chữ thảo thánh để đời, bỏ mũ để đầu trần trước vương công, vung bút xuống giấy như khói mây. Tiêu Toại9 uống năm đấu rượu mới nổi bật, cao giọng hùng biện làm kinh ngạc bốn bên cử tọa.

(1)Tri Chương: tức Hạ Tri Chương

(2)Nhữ Dương: tức Lý Tiến, thuộc tôn thất nhà Đường, con Lý Hiến (không rõ năm sinh năm mất). Thời Huyền Tông được phong Như Dương vương, từng làm chức thái bốc khanh. Tính thích uống rượu và nấu rượu. Tự xưng là Nhương (nấu rượu) vương kiêm khúc bộ thượng thư

(3)Tửu Tuyền: tên một quận thời Hán, ở phía đông bắc huyện Tửu Tuyền tỉnh Cam Túc ngày nay.

(4)Tả thừa tướng: tức Lý Thích Chi, thuộc tôn thất nhà Đường, cháu của Hằng Sơn Mẫn vương. Làm quan qua chức Thông Châu thứ sử, hình bộ thượng thư. Năm Thiên Bảo 1 (742) làm tả thừa tướng “thích khách khứa, uống rượu trên một đấu không rối trí” (Tân Đường thư, Lý Thích Chi truyện)

(5)Xưng là lẩn tránh người hiền: tức là kiêng rượu. Sách Tửu điên của Hạ Thụ Phương ghi: “Thích Chi làm chức quan thái tử thiếu bảo, bị Lý Lâm Phủ dèm pha mất chức, uống rượu vui với bạn cũ, làm thơ rằng “Tỵ hiền sơ bãi tướng, Lạc thánh thả hàm bôi” (Tránh hiền nhân vừa mới bị bãi tướng, vui vói thánh nhân ta hãy cứ ngậm chén). Câu này có ý hài hước: hiền nhân và thánh nhân đều là tiếng lóng chỉ rượu, hiền nhân là rượu đục, thánh nhân là rượu trong.

(6)Thôi Tông Chi, nhà thơ đời Đường, làm quan đến chức tả ty lang trung thị ngự sử. Tính thích uống rượu

(7)Tô Tấn, người Lan Điền thời Đường. Con Tô Hướng. Thời Huyền Tông làm Lại bộ thị lang. Tính phóng đãng, thích rượu mà lại thích bàn về Thiền.

(8)Trương Húc: nhà thư pháp nổi tiếng đời Đường. Tự Bá Cao, không rõ năm sinh năm mất. Người đất Ngô nay là vùng phụ cận Tô Châu, Giang Tô. Giỏi về chữ thảo

(9)Tiêu Toại: người thời Đường Huyền Tông. Không rõ năm sinh năm mất.

 

  • Dịch thơ:

Tri Chương cưỡi ngựa tựa đi thuyền

Hoa mắt dáy giếng đánh giấc tiên

Nhữ Dương ba đấu mặt hướng thiên

Gặp xe chở rượu, chảy dãi liền

Muốn chuyển phong ấp về Suối Rượu

Tả Tướng ngày hứng tiêu vạn tiền

Uống như cá voi hút trăm sông

Ngậm chén khoái lên xưng tránh Hiền

Tông Chi xinh đẹp tuổi thiếu niên

Nâng ly mắt trắng ngắm thanh niên

Trước gió, sáng ngời như cây ngọc

Tô Tấn ăn chay, mặc áo thêu

Khi say chỉ thích Trốn vào Thiền

Lý Bạch đấu rượu thơ trăm áng

Ngủ ngay quán rượu phố trường an

Thiên tử gọi cũng chẳng lên thuyền

Tự xưng làng rượu thần là tiên

Trương Húc ba chén, chữ để đời

Trước Vương Công, bỏ mũ đầu phơi

Bút vung xuống giấy như mây khói

Tiêu Toại năm đấu mới tuyệt vời

Tọa đàm hùng biện khắp muôn nơi

Khiến cử tọa bốn bên kinh ngạc

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

***

Bất kiến

 Đỗ Phủ

Bất kiến Lý sinh cửu

Dương cuồng chân ngã ai

Thế nhân giai dục sát

Ngô ý độc liên tài

Mẫn tiệp thi thiên thủ

Phiêu linh tửu nhất bôi

Khuông Sơn độc thư xứ

Đầu bạch hảo quy lai.

 

Dịch nghĩa:

Lâu chẳng gặp

Đã lâu chẳng gặp anh lý1. Anh phải giả điên thật đáng thương. Người đời ai cũng muốn giết anh, riêng ta thật thương tài. Đầu óc nhạy bén viết nghìn bài thơ; cuộc sống lênh đênh vui cùng chén rượu. Nơi đọc sách ở Khuông Sơn còn đó, đầu bạc anh về đi thôi.

(1)Lý sinh cửu: tức Lý Bạch. Bài thơ này làm năm Thượng Nguyên 2 (761), khi Đỗ Phủ ở đất Thục, là bài thơ cuối cùng Đỗ Phủ viết về Lý Bạch. Lý Bạch và Đỗ Phủ gặp nhau lần cuối năm 745 ở Sơn Đông. Từ đó về sau không gặp lại nhau nữa.

  • Dịch thơ:

Lâu không gặp anh Lý

Giả cuồng đáng thương thay

Người đời đều muốn giết

Riêng ta rất mến tài

Phiêu linh rượu một chén

Mẫn tiệp thơ nghìn bài

Khuông Sơn nơi đọc sách

Đầu bạc rồi, về thôi!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

***

Túy thời ca

    Đỗ Phủ

Chư công cổn cổn đăng đài sảnh

Quảng Văn tiên sinh quan độc lãnh

Giáp đệ phân phân điếm lương nhục

Quảng văn tiên sinh phạn bất túc

Tiên sinh hữu đạo xuất Hy Hoàng

Tiên sinh hữu tài quá Khuất Tống

Đức tôn nhất đại thường khảm kha

Danh lưu vạn cổ tri hà dụng

Đỗ Lăng dã khách nhân cánh xuy

Bị hạt đoản trách mấn như ty

Nhật địch thái thương ngũ thăng mễ

Thời phó Trịnh lão đồng khâm kỳ

Đắc tiền tức tương mịch

Cô tửu bất phục nghi

Vong hình đáo nhĩ nhữ

Thống ẩm chân ngô sư

Thanh dạ trầm trầm động xuân chước

Đăng tiền tế vú thiềm hoa lạc

Đãn giác cao ca hữu quỷ thần

Yên tri ngã tử điền khâu hác

Tương Như dật tài thân địch khí

Tử Vân thức tự vân đầu các

Tiên sinh tảo phú “Quy khứ lai”

Thạch điền mao ốc hoang thương đài

Nho thuật hà hữu ư ngã tai

Khổng Khâu đạo trích câu trần ai

Bất tu văn thử ý thảm thảng

Sinh tiền tương ngộ thả hàm bôi.

 

Dịch nghĩa:

Nghêu ngao lúc say

Các ngài ngất ngưởng lên đài sảnh, riêng thày Quảng Văn một chức quan lạnh1. Dinh các  ngài thì tấp nập no xôi chán thịt, riêng thày Quảng Văn thì không đủ cơm ăn. Đạo của thày bắt nguồn từ Hy Hoàng2, tài của thày vượt Khuất Nguyên, Tống Ngọc3. Đạo đức nhất đời mà luôn lận đận! Danh lưu vạn cổ để làm gì chứ?

Ông nhà quê Đỗ Lăng4 mới càng buồn cười. Áo vải vừa ngắn vừa hẹp tóc như tơ. Hàng ngày được đong năm thưng gạo ở kho nhà nước. Ông thường hay đến chỗ cụ Trịnh5 là bạn tâm giao. Hễ có tiền là họ liền tìm nhau, chẳng nghi ngờ gì là để đi mua rượu. Bỏ hết câu thúc lễ tiết, gọi nhau mày tao. Họ uống hết mình thực đáng bậc thầy của tôi. Đêm thanh lặng lẽ cảm xuân mà chuốc chén. Trước đèn mưa nhỏ ngoài thềm hoa rụng. Cứ biết cao giọng hát ca cho quỷ thần hay, đâu biết có thể chết đói thân lấp ngoài ngòi rãnh, kỳ tài như Tương Như6 mà phải đích thân rửa bát. Học thức sâu rộng như Tử Vân7 mà cuối cùng phải nhảy lầu.

Thày sớm ngâm bài “Về đi thôi”8. Ruộng đá nhà tranh rêu xanh hoang phế. Nho học có ích gì cho ta đâu. Khổng Khâu9, Đạo Chích10 đều trở thành cát bụi. Chẳng nên nghe chi chuyện ấy cho đau lòng. Thôi lúc sống gặp nhau hãy cứ nhắp chén.

(1)Thầy Quảng Văn: ở đây chỉ Trịnh Kiển, bạn vong nên của Đỗ Phủ, hay thơ, giỏi vẽ, năm Thiệu Bảo thứ 9 (750) được bổ làm bác sĩ Quảng Văn quán ở Quốc Tử giám.

(2)Hy Hoàng: tức Phục Hy, theo truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, là người dạy cho dân chúng đan lưới, đánh cá, săn bắt, chăn nuôi.

(3)Tống Ngọc: nhà từ phú nước Sở thời Chiến Quốc, có thuyết nói là học trò của Khuất Nguyên. Tác phẩm có : Cửu biện, Phong phú , Đăng đồ tử hiếu sắc phú.

(4)Ông nhà quê Đỗ Lăng (Đỗ Lăng dã lão): tác giả tự chỉ mình (tức Đỗ Phủ)

(5)cụ Trịnh : tức Trịnh Kiền (thầy Quảng văn) là bạn tâm giao với Đỗ Phủ, hai người thường đến nhau uống rượu thân mật gần gủi như trong bài thơ này nói rõ ở những câu tiếp

(6)Tư Mã Tương Như (179-118 tcn), nhà văn học thời Tây Hán. Tự Tử Khanh. Người Thành Đô, Thục Quận. Phú của ông dung hợp đặc điểm các nhà, là điển hình của phú thời Hán, hậu thế lấy làm mẫu mực. Có Tử Hư phú, Thượng lâm phú…Tương Như và vợ là Trác Văn Quân từng mở quán rượu. Văn Quân đứng bán, Tường Như giúp việc vặt, rửa bát chén.

(7)Tử Vân: tức Dương Hùng (53-18tcn), một nhà phú thời Hán. Thời Vương Mãng, học trò của ông bị tội, liên lụy tới ông, ông đứng trên lầu nhảy xuống xuýt chết.

(8)Bài “về đi thôi” tức Quy khứ lai từ của Đào Tiềm.

(9)Khổng Tử, Khổng Khâu tự Trọng Ni

(10)Đạo Chích: theo truyền thuyết, là lãnh tụ khởi nghĩa nông dân dưới thời Xuân Thu. Thiên “Bất cẩu” sách Tuân Tử nói ông thanh danh hiển hách, như mặt trăng mặt trời, được lưu truyền không dứt cùng với Thuấn, Vũ. Thiên “Đạo Chích, sách Trang Tử nói ông lãnh đạo 9.000 quân khởi nghĩa, ngang dọc trong thiên hạ, đi đến đâu cũng làm cho quan lại bạt vía kinh hồn. Quan niệm chính thống thời phong kiến vẫn gọi ông là giặc, còn trong dân gian ông bị coi là kẻ trộm cắp. (Phần vì tên ông có chữ “đạo” có nghĩa là “ăn trộm”).

 

  • Dịch thơ:

Các ngài ngất nghểu lên đài sảnh

Riêng thầy Quảng Văn – chức quan hàn

Phủ đệ các ngài đầy rượu thịt

Thầy Quảng Văn thường thiếu cơm ăn

Trong lòng thầy vốn ôm đạo thánh

Tài năng dư vượt bậc tiền nhân

Đạo đức trùm đời khổ hạnh

Danh lưu vạn thế có ai cần

Thảo dân Đỗ Lăng buồn cười chưa

Áo vải hở lưng tóc như tơ

Gạo vua mỗi ngày mua năm lẻ

Cùng Lão Trịnh là chỗ bạn bè

Có tiền liền tìm nhau

Lại rượu có sai đâu

Bỏ qua lời sao lễ

Gọi nhau bằng mày tao

Uống rượu thật hết mình

Đáng bậc thầy ta lắm

Đêm thanh, cảm khí xuân, liền uống

Trước hiên đen, mưa bụi, hoa rơi

Cứ hát ca với đất với trời

Chẳng sợ đói vùi thây nơi ngòi rãnh

Tương Như tài cao đành rửa bát

Tử Vân học rộng phải nhảy lầu

Thầy ơi mau hát bài “Quy khứ”

Ruộng đá, nhà rêu, hoang đã lâu

Đạo Nho nào có ích gì chứ

Khổng Khâu, Đạo Chích khác gì nhau

Nghe chi chuyện đó cho buồn chán

Còn sống gặp nhau cứ dốc bầu

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Các ngàu ngất ngưởng bước lên đài

Thầy Quảng Văn quan ghẻ bằng ai

Nơi các ngài nhiều xôi lắm thịt

Thầy Quảng Văn cơm chẳng đủ xài

Đạo thầy nguồn có tự Phục Hy

Tài trên Khuất, Tống mãi còn ghi

Đạo đức nhất đời mà lận đận

Lưu danh muôn thuở để làm gì

Ông già Đỗ Lăng buồn cười chưa

Áo quần cũn cỡn, tóc lưa thưa

Ngày đến kho mua năm đấu gạo

Rồi đi lão Trịnh, chỗ bạn bè

Có tiền, tìm nhau ngay

Hẳn là mua rượu đây

Mày tao, không lễ tiết

Nốc rượu, đáng bậc thầy!

Đêm thanh lặng lẽ rượu xuân mời

Trước đèn mưa bụi, cửa hoa rơi

Có quỷ thần đây, cao giọng hát

Biết đâu đói chết, lấp sông ngòi

Tài giỏi Tương Như mà rửa bát

Học rộng Từ Vân phải nhảy lầu

“Về đi thôi”, thầy sớm ngâm khúc

Ruộng đá, nhà tranh hoang đã lâu

Nho học chẳng giúp được gì ta

Khổng Khâu, Đạo Chích cũng ra ma

Nghe chi chuyện ấy cho sầu não

Còn sống gặp nhau cứ say nhòa

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Các ngài ngồi ngất ngưởng

Đài sảnh cao mấy tầng

Riêng một chức quan lạnh

Dành cho thầy Quảng Văn

Dinh các ngài tấp nập

Xôi thịt chất đầy mâm

Nhưng miếng cơm chẳng đủ

Ấy phận thầy Quảng Văn

Đạo của thầy sáng chói

Bắt nguồn từ Hy Hoàng

Tài của thầy xuất chúng

Khuất, Tống khó sánh ngang

Kẻ nhất thời đạo đức

Sao cả kiếp long đong

Danh này lưu muôn thuở

Có để làm gì không?

Ông Đỗ Lăng quê kệch

Nghĩ đã buồn cười chưa

Áo vừa ngắn vừa chật

Sợi tóc như sợi tơ

Mỗi ngày năm thưng gạo

Lĩnh từ kho triều đình

Rồi tìm sang lão Trịnh

Là chỗ bạn thâm tình

Có chút tiền trong túi

Là họ tìm đến nhau

Dĩ nhiên đem mua rượu

Chuyện này có lạ đâu!

Gọi mày tao chi tớ

Mọi nghi lễ bỏ qua

Rượu uống không biết mệt

Đáng bậc thầy của ta

Vì xuân mà chuốc chén

Giữa thanh vắng trời đêm

Đèn soi cơn mưa nhỏ

Cánh hoa rụng ngoài thềm

Chỉ biết cao giọng hát

Cho quỷ thần biết thôi

Ai hay rồi chết đói

Thân lấp vào rãnh ngòi

Tương Như tài đến thế

Phải rửa bát kiếm ăn

Người nhảy lầu suýt chết

Là Tử Vân uyên thâm

Nhưng thầy sớm đã cao ngâm

Bài thơ trả áo bỏ khăn ra về

Nơi này thanh bạch đất quê

Nhà tranh ruộng đá bốn bề rêu xanh

Bao năm Nho thuật học hành

Hỏi còn để lại cho mình gì đâu

Này Đạo Chính này Khổng Khâu

Đều thành cát bụi một màu hư không

Nghe chi chuyện ấy đau lòng

Chi bằng nâng chén vui trong cõi trần

                   Nguyễn Chí Tình dịch

 

*** 

Khúc giang (kỳ nhất)

            Đỗ Phủ

Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân

Phong phiêu vạn điểm chính sầu nhân

Thả khan dục tận hoa kinh nhãn

Mạc yếm thương đa tửu nhập thần

Giang thượng tiểu đường sào phỉ thúy

Uyển biên cao trủng ngọa kỳ lân

Tế suy vật lý tu hành lạc

Hà dụng phù vinh bạn thử thân

 

Dịch nghĩa:

Khúc Giang1

    (Bài 1)

Một cánh hoa rơi là vẻ xuân giảm bớt. Gió thổi làm muôn cánh hoa rơi chình là lúc người ta buồn. Hãy xem trước mắt hoa đã rụng gần hết. Nhưng đừng vì buồn nhiều mà chán rượu. Căn nhà nhỏ ven sông chim trả làm tổ2; Ngôi mộ cao bên vườn tượng kỳ lân đổ nằm3. Suy xét kỹ cái lẽ biến đổi của sự vật thì nên hành lạc. Việc gì phải để cho thứ vinh hoa phù phiếm buộc tấm thân này chứ!

1.Khúc Giang: còn có tên là Hồ Khúc Giang, chốn cũ nằm cách thành Tây An ngày nay chừng 5 km về phía nam. Hán Vũ đế nhân vường Nghi Xuân đời Tần cho đào rộng ra, nước chảy quanh co nên có tên là Khúc Giang. Thời Khai Nguyên nhà Đường tu sửa thêm, bên hồ có các danh thắng  như lầu Tử Vân, vườn Phù Dung, vườn Hạnh, chùa Từa Ân, vườn Lạc Du…hoa cỏ vây quanh, khói nướctrong sạch. Những ngày đẹp trời mùa xuân mùa thud u khách nườm nượp.

2.chim trả làm tổ: ý nói nhà hoang phế, không người ở

3.kỳ lân đổ nằm:  ý nói không được tu bổ chăm sóc, tượng đá kỳ lân đổ kềnh càng.

 

  • Dịch thơ:

Hoa rơi một cánh giảm xuân

Hoa rơi muôn cánh càng nhân nỗi sầu

Thấy hoa rụng hết mà đau

Thương tâm nhờ rượu về sau vơi dần

Xa xa kìa mộ kỳ lân

Trên sông một bóng chim xanh xây nhà

Hai chi cái bả phù hoa

Suy đi xét lại vui là vẫn hơn

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Một cánh hoa bat bớt vẻ xuân

Hoa rơi vạn đóa nỗi sầu dâng

Hãy nhìn trước mắt hoa gần hết

Đừng để buồn nhiều rượu chán nâng

Nhà nhỏ bên sông chim làm tổ

Mồ cao trên bãi tượng đổ nằm

Xét lẽ tự nhiên cần vui vẻ

Đừng để phù hoa trói buộc chân

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

*** 

Khúc Giang (Kỳ nhị)

           Đỗ Phủ

 

Triều hồi nhật nhật điển xuân y

Mỗi nhật giang đầu tận túy quy

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu

Nhân sinh thất thập cổ lai hy

Xuyên hoa kiệp điệp thâm thâm kiến

Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi

Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển

Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.

 

Dịch nghĩa:

Khúc Giang

(Bài 2)

Ngày ngày tan chầu về là ta cầm đợ áo mùa xuân để đổi rượu uống. Mỗi ngày đều say khướt bên Khúc Giang mới trở về. Thường thường nơi nào ta cũng có nợ rượu. Đời người sống được 70 xưa nay hiếm lắm. Hãy xem: bươm bướm luồn hoa lúc ẩn lúc hiện; Chuồn chuồn chấm nước lơ lửng bay lên bay xuống. Ta muốn nhắn lời rằng cảnh vật luôn luôn thay đổi, do đó hãy cùng thưởng thức đừng để lỡ dịp

 

  • Dịch thơ:

Ngày ngày sau buổi chầu tan

Áo xuân đổi rượu Khúc Giang say mềm

Chẳng lo tiền nợ nhiều lên

Chỉ buồn cuộc sống nhân gian chóng già

Kìa xem bươm bướm luồn hoa

Chuồn chuồn giỡn nước bay ra bay vào

Cuộc đời tựa giấc chiêm bao

Hãy vui chớ để tiêu hao tháng ngày

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Ngày ngày chầu vãn áo cầm ngay

Mỗi buổi ra về lướt khướt say

Nợ rượu thường xuyên găm khắp chốn

Người già bảy chục hiếm xưa nay

Vườn hoa bươm bướng vòng quanh lượn

Chấm nước chuồn chuồn thấp thoáng bay

Nhắn lời cảnh vật cùng thay đổi

Vui đi đừng để lỡ cơ may

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

*** 

Khúc giang đối tửu

         Đỗ Phủ

Uyển ngoại giang đầu tọa bất quy

Thủy tinh xuân điện chuyển phi vi

Đào hoa tế trục lê hoa lạc

Hoàng điểu thời kiêm bạch điểu phi

Túng ẩm cửu phan nhân cộng khí

Lãn triều chân dữ thế tương vi

Lại tình tiếu giác Thương Châu viễn

Lão đại bi thương vị phất y.

 

Dịch nghĩa:

Uống rượu bên Khúc Giang

Ngoài vườn ngự1 bên Khúc Giang ngồi lỳ chẳng về. Cung điện mùa xuân lòng bóng nước trở nên lấp lánh. Hoa đào nhỏ rụng theo hoa lê; Chim vàng thỉnh thoảng bay cùng chim trắng. Uống thả cửa lâu ngày bị mọi người ruồng bỏ; Lười đi chầu thật trái ngược với người đời. Dính líu vào chuyện quan chức buồn cười cảm thấy Thương Châu2 xa vời. Già cả buồn thương vì chưa phủi áo được3.

 

  • Dịch thơ:

 Ngồi lỳ vườn ngự Khúc Giang đây

Lâu đài chiếu nước bóng lung lay

Hoa đào hoa lê theo nhau rụng

Chim vàng chim trắng nối nhịp bay

Uống phứa nên đời nhiều kẻ tránh

Lười chầu thật khác nói thường thay

Việc quan thấy đất nhàn xa mãi

Già rồi phủi áo thế nào đây!

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Ngoài vườn, trên bến, mải mê ngồi

Cung điện lung linh ánh nước soi

Đào, liễu hoa rơi, cành rã rượi

Trắng, vàng chim lượn cánh chơi vơi

Ngồi lâu nát rượu, xa nhân thế

Lười trễ chầy vua, trái lẽ đời

Tiên cảnh Thương Châu ta vốn biết

Áo chưa rũ được, tóc sương phơi

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Ngoài vườn, trên bến, ngồi dai

Gương soi mặt nước lâu đài lung linh

Đào, lê hoa rụng bên mình

Trắng, vàng chim lượn bóng mình bên nhau

Người chê nát rượu ngồi lâu

Thường hay đi trễ, lười chầu khó coi

Thương Châu tiên cảnh xa vời

Áo chưa rũ được già rồi còn đâu

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch



***

Cửu nhật lam điền Thôi thị trang

                 Đỗ Phủ

Lão khứ bi thu cưỡng tự khoan

Hững lai kim nhật tận quân hoan

Tu tương đoản phát hoàn xuy mạo

Tiếu thiến bang nhân vị chỉnh quan

Lam thủy viễn tùng thiên giản lạc

Ngọc sơn cao tịnh lưỡng phong hàn

Minh niên thử hội tri thùy kiện

Túy bả thù du tử tế khan.

 

Dịch nghĩa:

Ngày mồng 9 tại trang viên họ Thôi ở Lam Điền1

Về già buồn thu gượng tự khuây khỏa. Hôm nay hứng đến cùng các bác vui hết mình. Thẹn vì tóc ngắn lại bị gió thổi bay mũ. Phải cười nhờ người bên cạnh sửa lại mũ cho2. Dòng Lam Thủy3 từ nghìn suối xa đổ xuống; Ngọn Ngọc Sơn cao vời cũng lạnh như hai ngọn núi kia4. Sang năm trong cuộc gặp này biết ai còn mạnh. Ta hãy uống say rồi cầm cành thù du5  nhìn kỹ xem.

1.Lam Điền: một huyện thuộc phủ Kinh Triệu đời Đường

2.Mạnh Gia đời Tần nhân tiết trùng dương đi chơi núi Long Sơn bị gió thổi bay mũ phải nhờ người bên cạnh là Long Ôn sửa lại mũ cho. Việc này thành đề tài để cho Tôn Thịnh làm bài văn trào lộng

3.Lam Thủy Ngọc Sơn là con sông và ngọn núi trước trang viên họ Thôi

4.Hai ngọn núi kia: chỉ Hoa Sơn và Thái Sơn.

5.Thù du: ảnh minh họa là một loại sơn thù du quả mọng.

 

  • Dịch thơ:

Thu buồn già lão gượng cho khuây

Hết mình cùng bác vui hôm nay

Ngại quá mũ nghiêng trơ tóc cộc

Cười trừ nhờ bạn sửa cho ngay

Lạc Thủy xa ngàn khe đổ xuống

Ngọc Sơn cao hai núi sánh tày

Năm sau gặp lại ai yếu khỏe

Uống say bói thử nhánh du này

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

             

*** 

Lạc nhật

  Đỗ phủ

Lạc nhật tại liêm câu

Khê biên xuân sự u

Phương phi duyên ngạn phố

Tiều thoán ỷ than chu

Trác tước tranh chi trụy

Phi trùng mãn viện du

Trọc dao thùy tạo nhữ

Nhất trước tán thiên ưu.

 

Dịch nghĩa:

Mặt trời lặn

Mặt trời lặn trước mành. Bên suối cảnh xuân mờ tối, cỏ trong vườn ven suối thơm ngát. Người kiếm củi nấu ăn trên thuyền bên bãi. Chim gõ kiến tranh nhau cành đậu. Côn trùng bay đầy nhà. Rượu đục kia ai làm ra mày mà cứ rót uống là tan ngìn mỗi lo?

 

  • Dịch thơ:

Mặt trời đang xuống trước mành

Vẻ xuân bên suối hóa thành âm sâm

Vườn trên bờ cỏ ngát thơm

Tiều phu hái củi nấu cơm trong thuyền

Đầy nhà bướm muỗi huyên thuyên từng bày

Rượu kia ai tạo mà ra

Uống vào tức khắc tan ngay nghìn sầu?

                   Nguyễn Như Diệm dịch

_____________________________________

SẦM THAM (岑參)

Sầm Tham (715-770), quê gốc Nam Dương (Hà Nam ngày nay), sau di cư đến Giang Lăng (nay thuộc Hồ Bắc). Phụ thân là Sầm Thực, từng hai lần là thứ sử mất sớm. Nhà thơ theo anh cần mẫn khắc khổ học tập. Năm Thiên Bảo 3 (744) đỗ tiến sĩ, làm chức quan nhỏ, sau vào An Tây, làm cácchức tiết độ chưởng thư ký và phán quan An Tây, rồi làm thứ sử Gia Châu, sau khi bãi quan mất ở Thành Đô.

Sầm Tham là nhà thơ biên tái nổi tiếng thời thịnh Đường, giỏi về thơ thất ngôn ca hành, phong cách bi tráng, ngôn ngữ trong sáng, biến hóa tự nhiên. Có Sầm Gia Châu thi tập. Trong Toàn Đường thi ông có 4 quyển.

***

Hành quân cửu nhật tư Trường An cố viên

             Sầm Tham

Cưỡng dục đăng cao xứ

Vô nhân tống tửu lai

Dao liên cố viên cúc

Ứng bạng chiến trường khai.

 

Dịch nghĩa:

Ngày mồng chín hành quân Nhớ vườn cũ ở Trường An

Muốn gượng lên chỗ cao ngóng trông nhưng chẳng có ai đưa rượu tới. Ở xa nhớ thương vườn cúc xưa phải nở cạnh chiến trường.

 

  • Dịch thơ:

Muốn gượng lên chỗ cao

Không người đưa rượu tới

Thương vườn xưa vời vợi

Cúc nở cạnh chiến trường

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

***

Bạch Tuyết ca tống Vũ phán quan quy kinh

             Sầm Tham

Bắc phong quyển địa bạch thảo chiết

Hồ thiên bát nguyệt tức phi tuyết

Hốt như nhất dạ xuân phong lai

Thiên thụ vạn thụ lê hoa khai

Tán nhập châu liêm thấp la mạc

Hồ cừu bất noãn cẩm khâm bạc

Tướng quân giác cung bất đắc khống

Đô hộ thiết y lãnh nan trước

Hãn hải lan can bách trượng băng

Sầu vân thảm đạm vạn lý ngưng

Trung quân trí tửu ẩm quy khách

Hồ cầm tỳ bà dữ Khương địch

Phân phân mộ tuyết há viên môn

Phong xế hồng kỳ đống bất phiên

Luân đài đông môn tống quân khứ

Khứ thời tuyết mãn thiên sơn lộ

Sơn hồi lộ chuyển bất kiến quân

Tuyết thượng không lưu mã hành xứ.

 

Dịch nghĩa:

Khúc ca tuyết trắng tiễn phán quan họ Vũ về kinh

 

Gió bấc cuồn cuộn khắp mặt đất, cỏ trắng gẫy gập. Vùng trời Hồ tháng tám tuyết bay khắp nơi. Cảnh tượng giống như một đêm gió xuân thổi đến khiến cho hàng nghìn hàng vạn cây lê đều nở hoa. Gió bay vào rèm châu làm ướt màn là, áo da cáo không ấm chăn gấm mỏng. Cây cung trang sức bằng sừng thú của tướng quân không kéo được vì tay cóng. Áo giáp sắt của đô hộ lạnh khó mặc. Vùng đại sa mạc ngổn ngang trăm trượng băng. Mây buồn ảm đạm đọng lại vạn dặm. Trong doanh trại của chủ soái bày tiếc tiến người về. Đàn tỳ bà của Hồ và sáo của người Khương cùng tấu. Tuyết chiều rơi lả tả xuống cửa lớn doanh trại. Cờ đỏ lạnh cúng gió thổi không bay được. Tại cửa phía đông Luân đài ta tiễn bác đi. Khi bác đi tuyết đầy đường Thiên Sơn. Đường núi vòng vèo trông chẳng thấy bác. Chỉ trơ lại dấu ngựa đi trên tuyết.

 

  • Dịch thơ:

Gió bắc ào qua cỏ bạch gãy

Xứ Hồ tháng tám tuyết rơi nhanh

Khác nào một đem gió xuân lại

Hoa lê nở trắng ức vạn cành

Tuyết lọt màn thưa ướt rèm lụa

Áo lông chẳng ấm chăn mỏng manh

Cung sừng tướng quân khôn dương thẳng

Giáp sắt đô đầu khó mặc nhanh

Đại mạc hàng hàng băng như núi

Thảm đạm mây buồn mấy dặm quanh

Tiệc quân rượu tiễn người về xứ

Sáo Khương đàn Hồ cũng hòa thanh

Tuyết rơi lả đả cửa doanh trại

Cờ hồng đông cứng, gió cũng đành

Cửa đông Luân Đài dã biệt bác

Giờ này Thiên Sơn tuyết ngập ghềnh

Đường núi quanh co không thấy bác

Vó ngựa còn in tuyết rành rành

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Gió bấc mù mịt, cỏ trắng tàn

Trời Hồ tháng tám tuyết bay sang

Như bỗng một đêm gió xuân tới

Muôn đóa hoa lê nở trắng ngàn

Tuyết hoa bay bám rèm châu ướt

Áo da không ấm, mỏng chăn màn

Tướng không giương nổi cung sừng thú

Áo giáp quan đô lạnh khó mang

Mây buồn vạn dặm thảm thê giăng

Trong trại rượu bày đưa tiễn khách

Đàn Hồ sáo Khương tấu hòa vang

Tuyết chiều lả tả ngoài doanh trại

Cờ hồng đông cứng gió tràn sang

Cửa đông Luân Đài đưa tiễn bác

Bác đi Thiên Sơn tuyết ngập tràn

Đường núi quanh co không thấy bác

Dấu ngựa còn in tuyết mênh mang

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

_______________________________________

THÔI MẪN ĐỒNG (崔敏童)

Thôi Mẫn Đông, quê Bác Châu, (phía tây bắc Liêu Thành, tỉnh Sơn Đông), làm chức phó mã đô úy đời vua Đường Huyền Tông (712-756).

***

Yến Đông Thành trang

       Thôi Mẫn Đồng

Nhất niên hựu quá nhất niên xuân

Bách tuế tằng vô bách tuế nhân

Năng hướng hoa trung kỷ thời túy

Thập thiên cô tửu mạc từ bần.

 

Dịch nghĩa:

Dự tiệc tại trang viên Đông Thành

Một năm lại qua đi một mùa xuân. Trăm năm chưa từng thấy có người sống được trăm tuổi. Hồ để được mấy lúc say trước hoa. Vậy nên một vạn đồng mua rượu cũng đừng lấy cớ nghèo mà từ chối.

 

  • Dịch thơ:

Năm nọ năm kia nối tiếp nhau

Trăm năm trăm tuổi có ai đâu

Say khướt bên hoa được mấy lúc

Tiếc tiền mua rượu cũng chẳng giàu

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Năm đi, xuân lại qua rồi

Xưa nay ai sống tuổi đời một trăm

Trước hoa say được bao lần

Vạn đồng mua rượu chẳng bần cùng đâu

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

________________________________________

THÔI HUỆ ĐỒNG (崔惠童)

Thôi Huệ Đồng người Bác Châu (phía tây bắc Liêu Thành tỉnh Sơn Đông). Em họ Thôi Mẫn Đồng. Con trai khiêu vệ tướng quân thứ sử Ký Châu Thôi Đình Ngọc. Lấy công chúa Tấn Quốc, con gái Đường Huyền Tông.

***

Yến Đông Thành trang

       Thôi Huệ Đồng

Nhất nguyệt chủ nhân tiếu kỷ hồi

Tương phùng tương trị thả hàm bôi

Nhãn khan xuân sắc như lưu thủy

Kim nhật tàn hoa tạc nhật khai.

 

Dịch nghĩa:

Dự tiệc tại trang viên Đông Thành

Một tháng chủ nhân vui cười được mấy lần. Gặp nhau đúng lúc nên nhắp chén. Mắt nhìn vẻ xuân trôi qua như nước chảy. Ngày hôm nay đã tàn những bông hoa nở ngày hôm qua.

 

  • Dịch thơ:

Một tháng chủ nhân mấy lúc cười

Gặp nhau uống rượu để tìm vui

Xuân như nước chảy treo trước mắt

Hoa tàn mới nở một ngày thôi

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Một tháng chủ nhân mấy trận cười

Gặp được nhau đây nhắp chén thôi

Kìa trông xuân sắc như nước chảy

Hoa nở hôm qua, nay héo rồi

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

________________________________

NGUYÊN KẾT (元結)

Nguyên Kết (719-772), tự Thứ Sơn, người Lỗ Sơn (nay thuộc Hà Nam). Tiến sĩ năm Thiên Bảo 12 (753). Từng tham gia đánh Sử Tư Minh, lập chiến công, sau làm các chức thứ sử Đạo Châu…Chủ trương nhân chính, am hiểu dân tình, làm việc thiết thực, tương đối có tiếng về chính sự.

Thơ ông phản ánh nỗi thống khổ của nhân dân, thiết thực chân chất, không câu nệ niêm luật, có ý nghĩa xã hội tương đối mạnh. Ông có Khiếp trung tập. Trong Toàn Đường thi có 2 quyển thơ ông.

***

Thạch ngư hồ thượng túy ca

Thạch Ngư hồ tự Động Đình

Hạ thủy dục mãn Quân Sơn thanh

Sơn vi tôn thủy vi chiểu

Tửu đồ lịch lịch tọa châu đảo

Trường phong liên nhật tác đại lãng

Bất năng phế nhân vận tửu phảng

Ngã trì trường biều tọa Ba Khâu

Chước ẩm tứ tọa dĩ tán sầu.

 

Dịch nghĩa:

Say hát trên hồ Thạch Ngư

Hồ Thạch Ngư (cá đá)1 giống như hồ Động Đình. Nước Hạ Thủy2 sắp đầy, núi Quân Sơn3 xanh xanh. Núi là chén rượu, nước là ao rượu. Tửu đồ ngồi lần lượt trên cồn nổi giữa hồ. Gió lớn cả ngày gây sóng to, cũng không thể ngăn thuyền vận chuyển rượu. Ta cầm bầu rượu dài ngồi tại Ba Khâu4. Rót mới bốn bên uống để tiêu sầu.

1.Hồ Thạc Ngư : phía đông huyện Đạo, tỉnh Hồ Nam ngày nay, do trong hồ có nhưng hòn đá to hình con cá nên có tên như vậy.

2.Sông Hạ Thủy : con sông ở phía đông nam Giang Lăng, Hồ Bắc ngày nay. Cũng có thể hiểu là nước mùa hè cho thi vị.

3.Núi Quân Sơn : còn có tên là núi Tương Sơn, ở trong hồ Động Đình, tương truyền phi tử của vua Thuấn là Tương Quân từng chơi ở đây.

4.Ba Khâu : tức là Ba Lăng, ngọn núi bên hồ Động Đình.

 

  • Dịch thơ:

Thạch Ngư giống Động Đình hồ

Quân Sơn xanh, nước mùa hè dâng nhanh

Núi là chén, nước – ao thanh

Tửu đồ lần lược ngồi quanh đảo gò

Suốt ngày gió giấy sóng to

Ngăn được thuyền chở những võ rượu đâu

Ta ngồi chính giữa Ba Khâu

Rót mời khắp lượt tiêu sầu bốn bên

                   Trần Vân Long dịch

_____________________________________

GIẢ CHÍ (賈至)

Giả Chí (?-772), tự Âu Lân, người Lạc Dương (nay là Hà Nam). Đầu thời Thiên Bảo, Huyền Tông làm đơn phụ úy, làm quan qua 3 triều Huyền Tông, Túc Tông, Đại Tông, giữ các chức trung thư xá nhân…làm chức quan tán kỵ thường thị. Phong cách thơ sang trọng cao nhã.

***

Tống Lý thị lang phó Thường Châu

                     Giả Chí

Tuyết tình vân tán bắc phong hàn

Sở thủy Ngô sơn đạo lộ nan

Kim nhật tống quân tu tận túy

Minh triêu tương ức lộ man man

 

Dịch nghĩa:

Tiễn thị lang họ Lý đi Thường Châu

Tuyết tạnh mây tan gió bấc lạnh. Sông nước Sở núi nước Ngô đường đi khó khăn. Hôm nay tiễn anh ta nên uống hết mình. Sáng mai nhớ nhau đường xa vời vợi

 

  • Dịch thơ:

Tuyết tan mây tản gió bắc tràn

Núi Ngô sông Sở đường gian nan

Tôi bác bữa nay say một trận

Mai rồi xa cách nhớ mênh mang

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Tuyết tạnh, mây tan, gió Bắc tràn

Nước Sở, non Ngô, khó lôi sang

Tiễn bạn hôm nay say hết cỡ

Mai nhớ thương xa vạn dặm đàng

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

________________________________________

TRƯƠNG VỊ (張謂)

Trương Vị (?-khoảng 778), tự Chính Ngôn, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Thẩm Dương, Hà Nam). Tiến sĩ năm Thiên Bảo 2 (743) làm thượng thư lang. Năm Đại Lịch 2, 3 đời Đại Tông (767,768) làm thứ sử Đàm Châu. Sau vào triều làm thái tử tả thứ tử. Mùa đông năm Đại Lịch 6 (771) làm thị lang bộ Lễ.

Thơ ông cách luật nghiêm chỉnh, thi tứ tinh thâm.

***

Hồ trung đối tửu tác

         Trương Vị

Dạ tọa bất yếm hồ thượng nguyệt

Trú hành bất yếm hồ thượng sơn

Nhãn tiền nhất tôn hựu thường mãn

Tâm trung vạn sự như đẳng nhàn

Chủ nhân hữu thử bách dư thạch

Trọc dao sổ đầu ưng bất tích

Tức kim tương đối bất tận hoan

Biệt hậu tương tư phục hà ích

Thù du loan đầu quy lộ xa

Nguyện quân thả túc Hoàng công gia

Phong quang nhược thử nhân bất túy

Sâm si cô phụ đông viên hoa.

 

Dịch nghĩa:

Thơ làm khi uống rượu trong hồ

Đêm ngồi ngắm không chán trăng trên hồ, ngay đi nhìn không chán núi trên hồ. Trước mặt chén rượu lại thường đầy, trong lòng mọi chuyện dường thảnh thơi. Chủ nhân có nếp trên trăm thạch1, rượu đục mấy đấu2 hẳn chẳng tiếc. Giờ gặp mặt không vui hết mình, sau chia tay nhớ nhau phỏng có ích gì. Đầu vịnh Thù Du3 đường về còn xa, mong bác hãy trú lại nhà ông Hoàng4. Phong cảnh thế này mà người không say thì há chẳng phụ lòng những bông hoa nhấp nhô ở vườn phía đông sao!

1.Thạch: bằng 60 kg

2.đấu: bằng 10 lít

3.vịnh Thù Du: tại Dương Châu

4.Hoàng công gia: nhà chủ lò rượu, nơi trước đây Tấn vương Tuất, Kê Khang, Nguyễn Tịch uống rượu. Ở đây chỉ có nghĩa là một quán rượu nào đấy.

 

  • Dịch thơ:

Hồ đêm nay trăng sáng ngồi không chán

Ngày đi chẳng mỏi ven núi hồ

Trước mặt chén rượu thường đầy ắp

Trong lòng vạn sự dường hư vô

Chủ nhà gạo nếp có trăm thúng

Rượu đục tiếc gì vài bốn vò

Gặp nhau nếu không vui hết mức

Xa rồi nhớ nhau cũng bằng thừa

Từ vịnh ra đường còn rất xa

Bác hãy nghỉ tạm Hoàng công gia

Cảnh này mà người không say khướt

Là phụ lòng hoa phía đông nhà

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Đêm ngồi ngắm nguyệt rạng trên hồ

Ngày dạo ngắm hoài núi nhấp nhô

Chén rượu thường đầy ngay trước mặt

Lòng không vương vấn chuyện tầm phơ

Chủ nhân có nếp dư ngàn thạch

Rượu mạnh mấy thùng chẳng tiếc chi

Giờ gặp nhau đây vui thở thích

Xa rồi nhung nhớ có ích gì

Đường tới Thù Du còn xa vời

Đây quán ông Hoàng bác nghỉ chơi

Cảnh đẹp thế này người cứ tỉnh

Là phu lòng hoa phía đông rồi

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

____________________________________

TƯ KHÔNG THỰ (司空曙)

Tư Không Thự (720-790), tự Văn Minh (có bản ghi là Văn Sơ?), người Quảng Bình (phía đông Vĩnh Niên, Hà Bắc ngày nay). Lúc trẻ tới Trường An thi, không đỗ. Thời Trinh Nguyên, Đức Tông, làm kiếm hiệu thủy bộ lang trung. Ông là một trong 10 tài tử thời Đại Lịch.

Thơ ông phần nhiều viết về cảnh tiễn biệt, cuộc sống lênh đênh phiêu dạt. Ông khéo dùng từ ngữ chân thật thẳng thắn để biểu hiện nỗi niềm lưu lạc tha hương, tình cảm buồn rầu thất ý. Trong Toàn Đường thi ông co 2 quyển.

***

Ngoạn hoa dữ vệ tượng đồng túy

            Tư Không Thự

Suy mấn thiên hành tuyết

Tha hương nhất thụ hoa

Kim triêu dữ quân túy

Vong khước tại Trường Sa.

 

Dịch nghĩa:

Ngắm hoa cùng say với Vệ Tượng

Tóc ta cắn nghìn sợi trắng như tuyết. Chốn quê người cùng ngắm một cây hoa. Sáng nay cùng bạn say khiến tôi quên rằng mình đang ở Trường Sa*.

*Trường Sa: thuộc Hồ Nam, cách Động Đình 150 km về phía nam, nơi trước kia khí hậu rất độc, làm quan nơi này coi như bị đi đày.

 

  • Dịch thơ:

 

Tóc cằn nghìn sợi tuyết

Quê người một nhành hoa

Sáng nay say cùng bạn

Quên mình ở Trường Sa

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

*** 

Vân Dương quan dữ Hàn Thân túc biệt

Cố nhân giang hải biệt

Ký độ cách sơn xuyên

Sạ kiến phiên nghi mộng

Tương bi các vấn niên

Cô đăng hàn chiếu vũ

Thấp trúc ám phù yên

Cánh hữu minh triêu hận

Ly bôi tích cộng truyền.

 

Dịch nghĩa:

Chia tay Hàn Thân sau khi cùng nhau trọ tại quán Vân Dương*

Bạn cũ mối người một ngả bôn ba sông biển, bao lần cách trở núi sông. Nay bỗng gặp lại thoạt nhìn nhau lại ngỡ trong mơ. Sau một hồi đau buồn liền hỏi tuổi nhau. Ánh đèn lẻ loi lạnh lẽo soi rọi làn mưa bên ngoài; Khóm trúc ướt bị lớp khói nổi lên làm mờ khuất. Giận nỗi sáng mai lại phải chia tay nhau rồi. Chén rượu tiễn biệt mà lòng dùng dằng không dứt.

*Vân dương: tên huyện phía tây bắc huyện Kinh Dương Thiểm Tây ngày nay.

 

  • Dịch thơ:

Cố nhân phiêu bạt cả

Mấy độ cách giang hà

Bỗng gặp tưởng như mộng

Mừng tủi hỏi chuyện qua

Đèn lẻ chiếu mưa lạnh

Trúc ướt phủ khói xanh

Mai đã chia tay nhỉ

Nâng chén, dừng chẳng đành

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Xa nhau biền biệt biển sông

Bao lần cách trở núi sông mịt mờ

Gặp nhau ngỡ trong mơ

Chợt buồn hỏi tuổi bây giờ là bao

Mưa rơi đèn lạnh soi vào

Trúc mai ẩm ướt khói bao phủ dày

Buồn vì mai phải chia tay

Nâng ly từ biệt mà day dứt hoài

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

______________________________________

TIỀN KHỞI (錢起)

Tiền khởi (khoảng 720-782), tự Trọng Văn, người Ngô Hưng (Hồ Chây, Triết Giang ngày nay). Tiến sĩ năm Thiên Bảo 10 (751) đời Huyền Tông, làm hiệu thư lang ở Bí thư sảnh. Khoảng năm Càn Nguyên 1 (758) làm huyện úy Lam Điền. Thời Đại Lịch (766-780) làm tư huân viên ngoại lang, tư phong lang trung, rồi đến khảo công lang trung.

Thơ ông phong cách mới lạ hoa mỹ, ngôn ngữ trong sángtinh luyện. Có Tiền Khảo công tập. Trong Toàn Đường thi ông có 4 quyển.

***

Đề Thôi dật nhân sơn đình

           Tiền Khởi

Dược kính thâm hồng tiển

Sơn song mãn thúy vi

Tiện quân hoa hạ túy

Hồ điệp mộng trung phi.

 

Dịch nghĩa:

Đề nhà trong núi của ẩn sĩ Thôi

Đương hoa thược dược đỏ mọc dày. Cửa sổ nhà trong núi cây cối xanh um. Thật hâm mộ bác say nằm dưới hoa, trong giấc mơ bươm bướm bay chập chờn.

 

  • Dịch thơ:

Đường núi hoa nở đầy

Trước cửa xanh ngàn cây

Dưới hoa rượu say ngủ

Mộng rợp cánh bướm bay

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Đường hoa thược dược nở đầy

Nhà trong xóm núi bóng cây xanh rờn

Dưới hoa say rượu bác nằm

Trong mơ bướm bướm chập chờn cánh bay

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Đường hoa rêu đỏ dày

Ngoài cửa thẫm lá cây

Dưới hoa say. Phục bác

Mơ, chập chờn bướm bay

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Đường hoa thuộc dược dày rêu đỏ

Cửa nhà nép kín vạn cây xanh

Dưới hoa phục bác nằm say khướt

Trong mộng chờn vờn bướm lượn bay

                   Nguyễn Chí Tình dịch

_________________________________________

ĐỚI THÚC LUÂN (戴叔倫)

Đới Thúc Luân (732-789), tự Âu Công, người Kim Đản, Nhuận Châu (nay thuộc Giang Tô). Từng làm Đông Dương lệnh, sau làm thứ sử Phủ Châu. Năm Trinh Nguyên 4 (788), đổi làm thứ sử Dung Châu, kinh lược sứ Dung Quản, năm sau qua đời.

Thơ ông trữ tình chân thật, tả cảnh sinh động. Trong Toàn Đường thi có 2 quyển thơ ông.

***

Giang hương cố nhân ngẫu tập khách xá

            Đới Thúc Luân

Thiên thu nguyệt hựu mãn

Thành khuyết dạ thiên trùng

Hoàn tác Giang Nam hội

Thiên nghi mộng lý phùng

Phong chi kinh ám thước

Lộ thảo khấp hàn trùng

Cơ lữ trường kham túy

Tương lưu úy hiểu chung.

 

Dịch nghĩa:

Bạn cũ quê Giang Nam Tình cờ họp mặt tại quán khách.

Trời đã sang thu, trăng tròn đầy, chiếu trên nghìn trùng lâu đài thành quách chốn kinh thành. Đâu ngờ lại gặp bạn cũ quê Giang Nam ở đây. Cứ ngỡ như gặp ở trong mộng vậy. Gió lay cành làm kinh động đám chim khách đang đậu trên đó. Trong đám cỏ ngậm sương tiếng côn trùng kêu như than khóc. Phiêu dạt chốn quê người chỉ còn biết cùng nhau say dài. Muốn giữ nhau lại như lại sợ tiếng chuông báo sán.

 

  • Dịch thơ:

Giang Nam trăng thu tròn

Thành ốc phơi bát ngát

Chợt bạn bè gặp đông

Cứ ngỡ là trong mộng!

Gió lay chim dáo dác

Cỏ sương dế kêu than

Tha hương muốn say mãi

Chuông canh báo đêm tàn

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Đêm thu trăng tròn đầy

Chiếu muôn trùng thành quách

Giang Nam bạn về đây

Gặp nhau ngỡ trong mộng

Gió động chim trên cây

Trùng kêu trong sương cỏ

Đời phiêu dạt cùng say

Giữ nhau, lo chuông sáng

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

___________________________________________

VI ỨNG VẬT (韋應物)

Vị Ứng Vật (737-khoảng 792), người Van Niên, Kinh Triệu (nay là Tây An, Thiểm Tây. Thiếu thời làm tam vệ lang, hầu cận Huyền Tông. Sau vào học thái học, lần lượt giữ các chức Lạc Dương thừa, Giang Châu thứ sử, tả ty lang trung, Tô Châu thứ sử, nên người đời gọi Vi Giang Châu, Vi Tả Ty, Vi Tô Châu.

Thơ ngũ ngôn của Vi Ứng Vật cao nhã, thơ sơn thủy điền viên học Đào Uyên Minh, thanh nhã điềm đạm. Cũng có một số thơ phản ánh nỗi thống khổ của nhân dân, đả kích nền chính trị đương thời. Có Vi Tô Châu tập. Trong Toàn Đường thi có 10 quyển thơ ông.

***

Ký toàn Tiêu Sơn Trung đạo sĩ

          Vi Ứng Vật

Kim triêu quận trai lãnh

Hốt niệm sơn trung khách

Giản để thúc kinh tân

Quy lai chử bạch thạch

Dục trì nhất biều tửu

Viễn úy phong vũ tịch

Lạc diệp mãn không sơn

Hà xứ tầm hành tích.

 

Dịch nghĩa:

Gửi đạo sĩ trong núi Toàn Tiêu1

Sáng nay dinh quận2 vắng vẻ lạnh lẽo, ta bỗng nhớ người bạn trong núi3 vẫn kiếm củi đáy khe đem về nấu bạch thạch4. Ta muốn mang một bầu rượu đến thăm bạn, nhưng xa ngại chiều mưa gió nhưng lá rụng đầy núi. Biết tìm hành tích bạn nơi đâu bây giờ?

1.Toàn Tiêu: tên một huyện ở phía đông tỉnh An Huy

2.Dinh quận: lúc này Vi Ứng Vật đang làm thứ sử Tô Châu

3.Người bạn trong núi: chỉ đạo sĩ  trong núi Thần Sơn phía tây huyện Toàn Tiêu

4.Theo sách Thần Tiên truyện, nấu bạch thạch làm lương thực. Còn theo sách Vân cấp thất thiêm, đạo gia có 5 cách nấu thạch anh vào ngày trùng dương, sau khi trai giới, người ta nấu thiêm bạch (?), thạch anh trắng, mật trắng (?), vừng đen và nước suối để uống.

 

  • Dịch thơ:

Dinh quang nay buổi lạnh trời

Bâng khuâng tấc dạ nhớ người Thần Sơn

Lòng khe kiếm củi sớm hôm

Về nấu bạch thạch luyện đan tháng ngày

Muốn đem một hũ rượu đầy

Tới thăm bạn hữu giữa ngày gió mưa

Hoang sơn lá rụng bộn bừa

Biết tìm hành tích bạn xưa chốn nào

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

Hoài thượng hỉ hội Lương Châu cố nhân

           Vi Ứng Vật

Giang Hán từng vi khách

Tương phùng mỗi túy hoàn

Phù vân nhất biệt hậu

Lưu thủy thập niên gian

Hoan tiếu tình như cựu

Tiêu sơ mấn dĩ hoàn

Hà nhân bất quy khứ

Hoài thượng hữu thu san.

 

Dịch nghĩa:

Ven sông Hoài2 mừng Gặp bạn cũ ở Lương Châu2

Vùng lưu vực Hán Thủy3 ta từng làm khách ở đó. Mỗi lần gặp nhau là lại say khướt mới trở về. Cuộc đời lang thang như mấy nổi, sau lần gặp ấy thế mà thời gian qua mau như nước chảy, thoáng chốc đã mười năm. Giờ gặp nhau lại nhau vui cười, tình vẫn như xưa, nhưng mái tóc lưa thưa vì đã lốm đốm bạc. Vì cớ gì mà bạn không trở về? Trên bờ sông Hoài vẫn có dãy núi mùa thu, là nơi ta có thể ngắm cảnh tiêu sầu.

1.Sông Hoài: chỉ vùng Hoài Âm, Giang Tô ngày nay

2.Lương Châu: phía đông huyện Nam Trịnh, Thiểm Tây ngày nay

3.Giang Hán: trong nguyên văn là chỉ sông Hán Thủy, phần phía bắc sông thuộc địa phận Lương Châu.

  • Dịch thơ:

Từng là khách rượu Giang Hán

Mỗi chầu say tít cung thang đã đời

Kiếp người nước chảy mây trôi

Mới chia tay đó đã mười tiết xuân

Tình xưa xa vẫn như gần

Dẫu rằng mái tóc có phần điểm sương

Sông Hoài cảnh đẹp Thu Sơn

Sau mê đến mấy cũng nên quay về

                   Trần Đình Hiến dịch

 

  • Dịch thơ:

Đất Giang Hán ta từng làm khách

Gặp nhau thường say khướt mới về

Nước mây cách trở sơn khê

Mới chia tay đó ai dè mười năm

Vui gặp lại tình thâm như cũ

Có khác chăng tóc đã bạc rồi

Cớ sao còn chửa về thôi

Núi mùa Thu với sông Hoài gọi ta

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Vùng Hán Thủy ta từng làm khách

Mỗi lần gặp nhau một cuộc say

Mà đời phiêu dạt như mây nổi

Mười năm phút chốc đã vèo bay

Hội ngộ – tình xưa nay vẫn thắm

Quản chi tóc bạc theo tháng ngày

Hãy trở về thôi người bạn cũ

Hoài Hà còn đó, núi giăng mây

                   Lê Sơn dịch

 

  • Dịch thơ:

Ta vẫn nhớ đất xưa Hán Thủy

Đời lãng du từng có lúc dừng chân

Mỗi buổi tương phùng cạn chén tri âm

Say mê mệt mới trở về quán trọ

Từ buổi chia tay dặm dài sương gió

Như đám mây lang thang cuối đất cùng trời

Vun vút thời gian – thoắt đã chục năm rồi

Trên đất khách lại tình cờ gặp mặt

Lại cạn chén tri âm, lại câu cười tiếng hát

Tấm tình xưa vẫn giữ trọn cho nhau

Nhưng trông kìa: trên mỗi mái đầu

Thời gian nhuốm lưa thưa từng sợi bạc

Thì cớ gì mà gót chân phiêu bạt

Chưa trở về cùng chốn cũ quê xưa

Trên bờ sông Hoài có rặng núi mùa Thu

Cảnh trí đẹp cho lòng ta ngây ngất

                   Nguyễn Chí Tình dịch

 

***

Hiệu Đào Bành Trạch

        Vi Ứng Vật

Sương lạc tụy bách thảo

Thời cúc độc nghiên hoa

Vật tính hữu như thử

Hàn thủ kỳ nại hà

Xuyết anh phiếm trọc lao

Nhật nhập hội điền gia

Tận túy mao thiềm hạ

Nhất sinh khởi tại gia.

 

Dịch nghĩa:

Bắt chước Đào Bành Trạch

Sương xuống làm trăm thứ cây cỏ khô cằn, riêng hoa cúc vẫn xinh tươi. Bản tính của vạn vật là như thế, nóng lạnh có làm sao. Ta ngắt hoa ngâm vào rượu đục, đợi lúc mặt trời lặn cùng họp nhau tại điền gia, cùng mọi người say hết mình dưới thềm tranh. Cuộc đời cần gì nhiều hơn thế nữa đâu!

 

  • Dịch thơ:

Sương roi cây cỏ tiêu điều

Mà riêng cúc vẫn yêu kiều dáng hoa

Tự nhiên là vậy đó mà

Dẫu rằng nóng lạnh có là làm sao

Ngắt cánh hoa ngâm vào rượu đục

Hẹn gặp nhau vào lúc chiều tà

Thềm tranh nâng chén la đà

Cuộc đời như thế với ta đã nhiều!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Sương sa lạnh cây cỏ héo khô

Riêng cúc hoa rực rỡ cánh vàng

Bản tính sự vật lạ thường

Trời kia nóng lạnh biết chừng làm sao

Ngắt cánh hoa ngâm vào rượu đục

Lúc chiều tà ta gặp mặt nhau

Uống ca vui suốt đêm thâu

Cuộc đời nghĩ vậy cũng âu đủ rồi

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Cỏ cằn khô, sương sa

Riêng mình cúc nở hoa

Vạn vật là như thế

Nóng lạnh cách bao xa

Ngắt nhụy hoa ngâm rượu

Tối họp tại điền gia

Dưới thềm tranh say khướt

Còn gì hơn đâu mà

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

*** 

Thính giang địch tống Lục thị ngự

            Vi Ứng Vật

Viễn thính giang thượng địch

Lâm thương nhất tống quân

Hoàn sầu độc túc dạ

Cánh hướng cộng trai văn.

 

Dịch nghĩa:

Nghe sáo trên sông tiễn thị ngự họ Lục

Nghe tiếng sáo xa xa trên sông. Nâng chén tiễn bạn đi rồi, còn một mình buồn rầu trong đêm. Ta lại hướng về phía thư phòng lắng nghe tiếng sáo.

 

  • Dịch thơ:

Xa nghe tiếng sáo trên sông

Rượu đưa tiễn người xong

Trở về đêm sầu lẻ

Sáo vẫn vẳng trong phòng

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Xa nghe tiếng sáo trên sông

Bữa nay nâng chén rượu nồng tiễn anh

Trở về đêm bắng buồn tênh

Lại nghe văng vẳng bên mình sáo ngâm

                   Trần Vân Long dịch

 

***

Thù liễu lang trung xuân nhật quy Dương Châu nam quách kiến chi tác

                       Vi Ứng Vật

Quảng Lăng tam nguyệt chính hoa khai

Hoa lý phùng quân túy nhất hồi

Nam bắc tương qua thù bất viễn

Mộ triều quy khứ tảo triều lai.

 

Dịch nghĩa:

Đáp bài thơ Ngày xuân về ngoài thành phía nam Dương Châu gặp bạn rồi chia tay của lang trung họ Nguyễn.

Tháng ba ở Quảng Lăng1 đúng lúc hoa nở. Gặp bạn giữa mùa hoa ta phải say một chầu. Nam bắc2 qua lại thật ra chẳng xa là mấy. Buổi chiều thủy triều rút rồi buổi sáng thủy triều lại tới thôi mà.

1.Quảng Lăng: tức Dương Châu

2.Nam bắc: chỉ đôi bờ nam bắc sông Dương Tử

 

  • Dịch thơ:

Quảng Lăng hoa nở rộ tháng ba

Giữa hoa gặp bạn rượu say nhòa

Buổi sáng triều lên chiều triều xuống

Nam bắc đôi bờ đâu cách xa

                   Nguyễn Như Diệm dịch

___________________________________________

HÀN DŨ (韩愈)

Hàn Dũ (768-824), tự Thoái Chi, người Hà Dương (phía đông Mạnh Châu, Hà Nam ngày nay). Còn được người đời gọi là Hàn Xương Lê. Tiến sĩ năm Đức Tông Trinh Nguyên (792).Từng giữ các chức quốc tử bác sĩ, Hình bộ thị lang, giám sát ngự sử. Vì dâng sớ can gián vua bị biếm làm Thứ sử Triều Châu. Không lâu quay về triều, lần lượt làm quốc tử tế tửu, Binh bộ thị lang, kinh triệu doãn. Tính cách chính trực, nói thẳng, là người khởi xướng phong trào cổ văn đời Đường. Lý luận và sáng tác thơ ca của ông đều có những thành tựu quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới hậu thế. Tản văn của ông được xếp đứng đầu “Bát đại gia Đường, Tống”.

Thơ ông khí phách hùng vĩ, tưởng tượng ới lạ, ý cảnh tráng khoat, không rơi vào lối mòn quen thuộc, thích dùng chữ mới, vần hiểm, tạo ra một phong cách mói, nhưng cũng có lúc rơi vào bí hiểm. Ông có ảnh hưởng tương đối lớn tới thơ Tống. Có Xương Lê tiên sinh tập. Trong Toàn Đường thi có 10 quyển của ông.

***

Bát nguyệt thập ngũ dạ tặng Trương Công Tào

               Hàn Dũ

Tiêm vân tứ quyển thiên vô hà

Thanh phong thư không nguyệt thư ba

Sa bình thủy tức thanh ảnh tuyệt

Nhất bôi tương thuộc quân đương ca

Quân ca thanh toan từ chính khổ

Bất năng thính chung lệ như vũ

Động Đình liên thiên Cửu Nghi cao

Giao long xuất một tinh ngô hiệu

Thập tinh cửu tử đáo quan sở

U cư mặc mặc như tàng đào

Hạ sàng úy xà thực úy dược

Hải khí thấp chập huân tinh tao

Tạc giả châu tiền chúy đại cổ

Tự hoàng kế thánh đăng Quý Cao

Xá thư nhất nhật hành thiên lý

Tội tùng đại bích giai trừ tử

Thiên giả truy hồi lưu giả hoàn

Địch hà đãng cấu thanh triều ban

Châu gia thân danh sứ gia ức

Khám kha chỉ đắc di kinh man

Phán ty tỳ quan bất kham thuyết

Vị miễn chúy sở trần ai gian

Đồng thời lưu bối đa thương đạo

Thiên lộ u hiểm nan truy phan

Quân ca thả hưu thính ngã ca

Ngã ca kim dữ quân thù khoa

Nhất nguyên minh nguyệt kim tiêu đa

Nhân sinh do mệnh phi do tha

Hữu tửu bất ẩm nại minh hà?

 

Dịch nghĩa:

Đêm rằm tháng tám tặng công tào họ Trương1

Mây tơ cuồn cuộn bốn bên trời không có sao. Gió trong thổi trên không ánh trăng như sóng nước tràn ra xung quanh. Bờ cát bằng phẳng, nước sông êm ru, xung quanh không một tiếng động. Mời nhau một chén để nghe bác hát. Bác hát tiếng chua xót, lởi đắng cay. Tôi không thể nghe hết nước mắt như mưa:

“Hồ Động Đình như liền với trời, Cửu nghi2 cao vời. Giao long ẩn hiện, tinh tinh và loài chuột bay khổng lồ gầm gào. Một sống mười chết mới đến được nhiệm sở nơi bị biếm3. Sống âm thầm lặng lẽ như lẩn trốn. Xuống giường sợ rắn, ăn sợ thuốc độc. Rắn rết ẩn nấp chỗ ẩm ướt bốc mùi tanh tao.

Hôm qua trước nha môn châu4 nổi trống lớn5. Vua nối ngôi6 trọng dụng Quỳ Cao7. Quan lại đưa lệnh ân xá 8 một ngày đi nghìn dặm. Tội từ tử hình đều miễn chết. Những người bị giáng chức được phục hồi, những người bị lưu phóng được trở về. Thanh trừ tệ nạ chỉnh đốn triều cương.

Nhà Châu9 áo tên ta lên trên, nhà sứ10 ghìm lại. Thất vọng ta đành chịu điều về vùng kinh man11 này. Là phán ty12 chức quan thấp, ta có nói cũng vô ích. Không những thế mà còn không tránh được bị nọc ra đánh đòn roi. Những người cùng bị lưu phóng với ta phần lớn đã lên đường trở về kinh thành. Con đường tiến thân nhập triều u hiểm ta khó leo lên”.

Bác tạm ngừng ca nghe tôi ca. Tôi ca lúc này khác với bác ca:

“Cả năm đêm nay trăng sáng nhất. Đời người do số mệnh không phải do gì khác. Có rượu ngon không uống làm sao xứng với trăng sáng?”

(1)Công tào họ Trương: tức Trương Thự, nhà thơ và Trương Thự cùng là giám sát ngự sử, cùng vì thẳng thắn can gián mà bị biếm xuống phương nam, lại cùng hy vọng nhân Hiến Tông đại xá mà được triệu hồi, nhưng rồi hy vọng tan vỡ, buồn chán cùng nâng chén ca ngâm động viên lẫn nhau vào đêm trung thu trăng sáng.

(2)Cửu Nghi: tên ngọn núi tại Ninh Viễn, tỉnh Hồ Nam

(3)nhiệm sở nơi bị biếm: Lâm vũ, nay thuộc Hồ Nam

(4)Nha môn châu: chỉ  Châu Xâm này thuộc vùng đông nam tỉnh Hồ Nam

(5)Thời Đường khi ban bố lệnh ân xá phải đánh trống để triệu tập quan lại và dân chúng

(6)Vua nối ngôi: chỉ Đường Hiến Tông

(7)Quỳ, Cao: hai hiền thần đời Nghiêu Thuấn. Ở đây chỉ những người hiền tài

(8)Lệnh ân xá: do Hiến Tông ban ngày 5 tháng 8 năm Vĩnh Trinh thứ 1 (805)

(9)Nhà châu: chỉ thứ sử châu quận

(10)Nhà sứ: chỉ Dương Bằng, quan sát sứ do trung ương đặc phái, người gây trở ngại cho Hàn Dũ và Trương Thự

(11)Kinh man này: chỉ việc bị điều về Giang Lăng

(12)Phán ty: gọi chung các tào tham quân

 

  • Dịch thơ:

Mây tuyết bốn bề, tinh tú vắng

Gió lay sóng sánh ánh trăng ngà

Cát bằng, nước lặng, thanh bình quá

Một chén đưa mời bác ngâm nga

Bác ngâm giọng thảm lời chua xót

Chẳng thể nghe xong lệ ứa nhòa

Cái kiếp quan trường là thế thế

Giữa đường ngõ hẹp lắm oan gia

Nào bẩn, nào gian, nào hung ác

Trời cao luôn điếc đặc đó mà

Bác đã ca rồi, để tôi ca

Bài ca tôi biết khác bác xa 

Cả năm đêm nay trăng sáng nhất

Đời người tại số chẳng tại ta

Trong tay có rượu mà không uống

Làm sao xứng đáng với trăng ngà

                   Nguyễn Xuân Dũng lược dịch

 

  • Dịch thơ:

Bốn bề cuồn cuộn mây tơ

Trời xanh thăm thẳm lặng tờ không sao

Gió trong hun hút trên cao

Trăng như sóng nước đổ trào xung quanh

Êm ru sổng chẳng cựa mình

Bên bờ cát phẳng, lặng thinh đất trời

 

Tay nâng chén rượu cùng mời

Lắng nghe bác hát những lời đắng cay

Nghe sao hết được lời này

Xót lòng nước mắt rơi đầy như mưa:

“Hồ Động Đình tiếp với trời

Núi Cửu Nghi cao thăm thẳm

Giao long khi hiện khi ẩn

Tinh tinh rình rập đó đây

Lại thêm những bầy chuột bay

Mình khổng lồ tiếng gầm rú

Đường lưu đầy muôn gian khó

Tới nơi sống một chết mười

Chốn này mảnh đất kinh người

Sống âm thầm như lẩn trốn

Rời khỏi giường sợ rắn cắn

Ăn sợ thuốc độc vào thân

Một màn ẩm ướt bao trùm

Làm nơi ẩn mình rắn rết

Một mùi tanh tao khủng khiếp

Thay cho khí thở ngày đêm

Mới hôm qua nổi lên trống lớn

Trước nha môn chào đón tin vui

Minh quân vừa đó nối ngôi

Chăm lo việc nước trọng người tài cao

Lệnh ân xá ngựa lao nghìn dặm

Đưa ý vua đến tận mọi nhà

Tội tử hình cũng được tha

Những người giáng chức lại ra quan trường

Người lưu phóng hồi hương lập nghiệp

Xứ sở này giải hết nỗi oan

Trừ lại những loại tham quan

Quang minh chính sự rỡ ràng triều cương

Lòng ta khấp khởi mừng

Nghĩ cửa đời đang mở

Công văn quan thứ sử

Đưa tên ta lên trên

Ngờ đâu gặp vận đen

Là bàn tay sát sứ

Sao bỗng nhiên vô cớ

Chặng lại đường ta đi

Một chức quan thấp kém

Ví bằng ta cất tiếng

Liệu có ai nghe ta

Chưa kể bị lôi ra

Ăn đòn roi vùi dập

Bao người đã cùng ta qua những ngày bi đát

Đều hân hoan về lại kinh thành

Đường tiến thân của ta trăm nối gập ghềnh

Nguy hiểm đủ bề ta làm sao leo được”.

Bác tạm ngừng ca nghe tôi ca

Nhưng tôi ca giờ khác bác xa

Bởi lời tôi hát chan hòa niềm vui

Hẳn rằng bác thấy như tôi

Ánh trăng tỏa sáng nhất đời đêm nay

Trăm ngàn khổ sướng rủi may

Cũng do số mệnh đời này mà thôi

Nếu không nâng chén cùng vui

Làm sao xứng được với trời đầy trăng?

                   Nguyễn Chí Tình dịch

________________________________________

LƯU VŨ TÍCH (劉禹錫)

Lưu Vũ Tích (772-842), tự Mộng Đắc, người Lạc Dương (nay thuộc Hà Nam). Tiến sĩ năm Trình Nguyên 9 (793), được trao chức thái tử hiệu thư, giám sát ngự sử. Sauk hi Đường Thuận Tông kế vị, giữ chức đồn điền viên ngoại lang. Tham gia vào cuộc cách tân Vĩnh Trinh (805). Sauk hi cuộc cách tân thất bại, bị biếm làm tư mã Lang Châu. Sau lần lướt làm thứ sử các châu Bá, Liêu, Quỳ, Hòa, Tô Nhữ, Đồng rồi vào triều đình làm thái tử tân khách. Thời Vũ Tông được phòng hàm Kiểm hiệu Lễ bộ thượng thư. Người đời gọi là Lưu Tân Khách, Lưu Thượng Thư.

Thơ ông gồm đủ thể loại, phong cách trầm tĩnh, vững trãi, mới mẻ, tự nhiên. Những bài thơ ông làm phỏng theo dân ca, như “Trúc chi từ” mở ra một diện mạo mới trong thơ Đường, có ảnh hưởng sâu xa đến đời sau. Có Lưu Tân Khách thi tập. Toàn Đường thi có 12 quyển thơ ông.

***

Ẩm tửu khan mẫu đơn

         Lưu Vũ Tích

Kim nhật hoa tiền ẩm

Cam tâm túy sổ bôi

Đãn sầu hoa hữu ngữ

Bất vị lão nhân khai.

 

Dịch nghĩa:

Uống rượu ngắm hoa mẫu đơn

Hôm nay uống rượu trước hoa. Những mong uống mấy chén cho say. Nhưng lại buồn vì hoa như muốn nói: Chẳng phải hoa nở cho người già đâu.

 

  • Dịch thơ:

Hôm nay uống rượu trước hoa

Những mong mấy chén la đà cho vui

Buồn vì hoa muốn nhắn lời:

Em đây không nở cho người già đâu!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Hôm nay uống rượu dưới hoa

Say sưa một chút gọi là cho vui

Chỉ e hoa sẽ mỉm cười

Hoa đâu có nở vì người già nua!

                   Trần Vân Long dịch

 

***

Thù Lạc Thiên Dương Châu Sơ phùng tịch thượng kiến tặng

                      Lưu Vũ Tích

Ba sơn Sở thủy thê lương địa

Nhị thập tam niên khí trí thân

Hoài cựu không ngâm văn địch phú

Đáo hương phiên tự Lạn Kha nhân

Trầm chu trắc bạn thiên phàm quá

Bệnh thụ tiền đầu vạn mộc xuân

Kim nhật thính quân ca nhất khúc

Tạm bằng bôi tửu trưởng tinh thần.

 

Dịch nghĩa:

Đáp bài thơ Lạc Thiên1 tặng Tại chiếu rượu khi mới gặp nhau ở Dương Châu2

Non núi xứ Ba sông nước xứ Sở3 vùng đất thê lương. Hai mươi ba năm tấm thân bị biếm trích4. Nhớ bạn cũ ngâm suông bài phú “Nghe tiếng sáo”5. Về đến quê hương mà như người dưng vậy6. Bên cạnh chiếc thuyền bị chìm nghìn cánh buồm lướt qua; Trước cây bị bệnh vạn cây tươi tốt vẻ xuân. Hôm nay nghe bác ca một khúc, tôi tạm nhờ chén rượu làm cho tinh thần phấn chấn.

(1)Lạc Thiên: tự của Bạch Cư Dị

(2)Bài thơ làm vào năm Bảo Lịch 2 (826). Lúc này Lưu Vũ Tích bãi chức thứ sử Hòa Châu trở về kinh đô, ngang qua Dương Châu, gặp Bạch Cư Dị từ Tô Châu về Lạc Dương. Bạch cư dị làm bài “túy tặng Lưu nhị thập bát sứ quân” tặng Lưu Vũ Tích. Đây là bài Lưu Vũ Tích đáp lại Bạch Cư Dị. Nhà thơ khúc triết biểu hiện tâm trạng phức tạp khi lâu ngày bị biếm trích: trầm uất, buồn chán những vẫn có cái gì đó hào phóng, khoáng đạt. Riêng hai câu 5 và 6 có những cách hiểu khác nhau. Có người cho đó là niềm lạc quan trước sự thay cũ đổi mới, có người lại hiểu đó Lf sự ngậm ngùi của người thất thế và sự vênh vang của những kẻ hãnh tiến đắc thế.

(3)Nhà thơ bị biếm trích đến các vùng Lãng Châu, Hòa Châu, Quỳ Châu, Quý Châu xưa thuộc nước Ba, Lãng Châu xưa thuộc đất Sở, nên mới nói là núi non xứ Ba, sông nước xứ Sở.

(4)chỉ thời gian nhà thơ bị biếm rời kinh đo năm Vĩnh Trinh thứ nhất (805) đến năm trở về kinh đo năm Bảo Lịch thứ 2 (826)

(5)chỉ bài “ Tư cựu phú” ( Nhớ bạn cũ) của Hướng Tú, một trong “Trúc lâm thất hiền” đời Tấn. Có lần Hướng Tú đi qua chỗ ở cũ của các bạn bị hại là Kê Khang và Lữ An, nghe người láng giềng của hai ông thổi sáo, tiếng sáo bi thiết khiến ông xúc động làm nên bài phú này.

(6)Nguyên văn là “Lạn Kha nhân” tức là người có cái cán rìu mục nát. Theo sách Thuật dị ký có ghi một người đời Tấn tên là Vương Chất vào núi đốn củi, thấy hai cậu bé đánh cờ, liền dừng lại xem. Đến cuối cuộc cờ Vương phát hiện ra cán rìu đã mục. Trở về nhà mới biết thời gian đã trôi qua một trăm năm. Người cùng trang lứa đã chết gần hết. Nhà thơ bị biếm trích 23 năm, khi trở về Giang Nam thấy người và vật đều hoàn toàn đổi khác, cảm thấy mình lạc long, không nén nổi xót xa nên dùng tích này để bộc lộ nối thương cảm của mình trước cảnh vật đổi sao rời.

 

  • Dịch thơ:

Núi Ba sông Sở xứ thê lương

Hai mươi ba năm bị rẫy ruồng

Nhớ bạn ngân suông bài “Nghe sáo”

Về quê mà ngẫm giống người dưng

Buồm mới lướt qua con thuyền đắm

Gốc mục cây non mọc thành rừng

Hôm nay nghe bác ca một khúc

Tinh thần nhờ chén rượu tưng bừng

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Non Ba, nước Sở, thảm thê buồn

Hai chục năm dư, biếm trích luôn

Nhớ bạn ngâm suông bài “Nghe sáo”

Về quê tuổi phận chẳng người thân

Một con thuyền đắm nhìn buồm lướt

Mấy nhánh cây tàn, vạn búp xuân

Hôm nay nghe bác ca một khúc

Tinh thần phấn chấn, chén cùng nâng

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Núi Ba sông Sở đất thê lương

Hai ba năm lận đận cùng đường

Nhớ bạn ngâm suông bài “Nghe sáo”

Về quê mà như chốn tha hương

Bên cạnh thuyền chìm nghìn buồm lướt

Trước cây bị bệnh vạn cây cường

Hôm nay nghe bác ca một khúc

Mượn rượu để lòng đỡ bi thương

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

____________________________________________

BẠCH CƯ DỊ (白居易)

Bạch Cư Dị (772-846), tự Lạc Thiên, hiệu Hương Sơn cư sĩ, quê gốc Hạ Khuê (nay là vùng phụ cận huyện Vị Nam, Thiểm Tây), sinh ở Tân Trịnh, Hà Nam. Tiến sĩ năm Trinh Nguyên 16 (800). Từng giữ các chức hiệu thư lang, tán thiện đại phu, sau làm thái tử thiếu phó. Tận mắt chứng kiến triều chính đổ nát, lý tưởng kiêm tế thiên hạ đổ vỡ, ông lui về cư trú tại Lạc Dương, độc thiện kỳ thân, vui thú rượu thơ.

Bạch Cư Dị trải qua 8 triều vua, sống 75 tuổi, làm gần 3000 bài thơ. Đây là điều ít thấy trong các nhà thơ Đường. Ông là người khởi xướng phong trào nhạc phủ mới, bản thân có quan điểm văn học hoàn chỉnh, và thông qua sáng tác để nghiệm chứng lý luận của mình. Ông là bậc cao thủ về thơ tự sự. “Trường hận ca”, “Tỳ bà hành” thể hiện tài năng về mặt này của ông. Một điều đáng nêu là, đối với người phụ nữ ở địa vị hèn yếu khuất nhục, ông tỏ ra thông cảm và bằng quan điểm nhân đạo, ông đã vì họ cất lên tiếng kêu đau thương. Ông có Bạch thi Trường Khánh tập. Toàn Đường thi có 39 quyển thơ ông.

***

TỰ KHUYẾN

Ức tích cơ hàn ứng cử niên

Thoát y điển tửu Khúc Giang biên

Thập thiên nhất đấu do xa ẩm

Hà huống quan cung bất trị tiền.

 

Dịch nghĩa:

TỰ KHÍCH LỆ MÌNH

Nhớ năm xưa đang lúc đói rét ta đi thi. Cởi áo đợ rượu bên bờ Khúc Giang, mười ngàn đồng một đấu hoang phí ta vẫn uống, huống giờ đây đã có chút tiền lương còm.

 

  • Dịch thơ:

Nhớ xưa tuổi trẻ thuở cơ hàn

Áo đem đổi rượu tại Khúc Giang

Mười ngàn một đấu uống thỏa thích

Huống chi nay đã có tiền quan

                   Trần Vân Long dịch

 

***

ĐỒNG LÝ THẬP NHẤT TÚY ỨC NGUYÊN CỬU

                        Bạch Cư Dị

Hoa thời đồng túy phá xuân sầu

Túy chiết hoa chi đương tửu trù

Hốt ức cố nhân thiên tế khứ

Kế trình kim nhật đáo Lương Châu.

 

Dịch nghĩa:

Cùng Lý Thập Nhất say nhớ Chín Nguyên1

Vào lúc hoa nở cùng uống rượu say để giải mối sầu mùa xuân. Say rồi bẻ hoa làm thẻ rượu2. Bỗng nhớ bạn cũ đang đi về phía chân trời, tính lịch trình thì hôm nay đến Lương Châu3

1.Nguyên Cửu: tức nhà thơ Nguyên Chẩn, bạn thân của tác giả

2.Tửu trù (thẻ rượu): thẻ để tính số rượu đã uống

3.Lương Châu: nay là vùng Nam Trịnh, Thiểm Tây. Năm Nguyên Hòa thứ 4 (809), với tư cách giám sát ngự sử, Nguyên Chẩn đến Đông Xuyên (nay là Tam Đài, Tứ Xuyên) xem xét vụ án. Ông đi chưa bao lâu, Bạch Cư Dị cùng Lý Thập Nhất (tên Kiến) và Bạch Hành Giản (em Bạch Cư Dị) đi chơi chùa Từ Ân bên bờ Khúc Giang. Lúc uống rượu nhà thơ nhớ tới Nguyên Chẩn, tính quãng đường ông đi và viết bài thơ này. Ít lâu sau Nguyên Cẩn gửi cho Bạch Cư Dị bài thơ “Lương Châu mộng” ông mới làm quả nhiên hôm ấy ông đến Lương Châu và mơ thấy Bạch Cư Dị chơi Khúc Giang. Đây tuy là sự trùng hợp ngẫu nhiên, song đã thành một giai thoại trên văn đàn. Toàn văn bài thơ của Nguyên Chẩn như sau: “Mộng quân đồng nhiễu Khúc Giang đầu, Dã hường Từ Ân viện viện du. Đình lại hô nhân bãi khứ mã, Hốt kinh  thân tại cổ Lương Châu” (mơ thấy cùng bác vòng quanh đầu Khúc Giang, rồi đến chơi viện Từ Ân. Viên chức dịch của chùa hô người dắt ngựa đi. Sực tỉnh dậy hóa ra đang ở đất Lương Châu xưa).

 

  • Dịch thơ:

Dưới hoa say rượu giải xuân sầu

Bẻ hoa làm thẻ rượu rút mau

Chợt nhớ bạn thân đang rong ruổi

Tính ra nay đã đến Lương Châu

                   Trần Vân Long dịch

 

***

VẤN LƯU THẬP CỬU

           Bạch Cư Dị

Lục nghị tân phôi tửu

Hồng nê tiểu hỏa lô

Vãn lại thiên dục tuyết

Năng ẩm nhất bôi vô.

 

Dịch nghĩa:

Hỏi Lưu Thập Cửu1

Rượu “Kiến xanh”2 mới nấu chưa lọc. Lò lửa nhỏ bằng đất đỏ để hâm rượu đã có sẵn. Chiều về trời sắp có tuyết rơi. Này ông Lưu, có thể uống với nhau một chén chứ?

1.Lưu Thập Cửu: tức Lưu Kha ẩn cư trong núi Lư Sơn. Bạch Cư Dị kết giao với ông khi ở Giang Châu.

2.Rượu “Kiến xanh” (Lục nghĩ): loại rượu gạo mới nấu chưa lọc, có váng mầu xanh, ly ty như kiến, nên gọi như vậy.

 

  • Dịch thơ

“Lục nghị” chưa kịp lắng

Lò nhỏ, đất gan gà

Chiều về tuyết sắp sa

Uống cùng ta một chén?

                   Trần Đình Hiến dịch

 

  • Dịch thơ

Rượu mới nấu chưa lắng

Lò lửa nhỏ đất hồng

Chiều về tuyết sắp xuống

Có làm một chén không?

                   Trần Vân Long dịch

 

***

KHUYẾN TỬU

    Bạch Cư Dị

Khuyến quân nhất bôi quân mạc từ

Khuyến quân lưỡng bôi quân mạc nghi

Khuyến quân tam bôi quân thủy tri

Diện thượng kim nhật lão tạc nhật

Tâm trung túy thời thắng tỉnh thời

Thiên địa thiều thiều tự trường cửu

Bạch thỏ xích ô tương sấn tẩu

Thân hậu đôi kim trụ Bắc Đẩu

Bất như sinh tiền nhất tôn tửu

Quân bất kiến

Xuân Minh môn ngoại thiên dục minh

Huyên huyên ca khốc bán tử sinh

Du nhân trú mã xuất bất đắc

Bạch du tử xa tranh lộ hành

Quy khư lai đầu dĩ bạch

Điển tiền tương dụng mãi tửu khiết.

 

Dịch nghĩa :

KHUYẾN TỬU

Mời anh một chén anh đừng từ chối. Mời anh hai chén anh đừng nghi ngờ. Mời anh ba chén anh mới biết, nét mặt hôm nay già hơn hôm qua. Trong lòng khi say hay hơn khi tỉnh. Trời đất mênh mang dài lâu vô tận. Thỏ trắng quạ đỏ1 tranh nhau đi. Khi chết đi, vàng chất cao tới Bắc Đẩu cũng chẳng bằng một chén rượu khi còn sống. Anh chẳng thấy nên ngoài cửa Xuân Minh2 trời sắp sáng, tiếng ca tiếng khóc huyên náo nửa sống nửa chết, khách chơi ghìm ngựa không ra được, xe trắng xe tía tranh đường đi. Về đi thôi3 đầu đã bạc rồi. Cầm đồ lấy tiền mua rượu uống.

1.Thỏ trắng quạ đỏ: mặt trăng, mặt trời, ngày tháng trôi mau

2.Cửa Xuân Minh: Cổng giữa trong ba cổng phía đông của thành Trường An, thủ đô thời nhà Đường TQ

3.Về đi thôi: mượn chữ trong Quy khư lai từ của Đào Tiềm.

 

  • Dịch thơ:

Mời nah một ly mong anh đừng chối

Mời hai ly chớ vội nghi ngờ

Ba ly anh sẽ hiểu ra

Sáng nay trên mặt đã già thêm lên

Tâm khi say sáng hơn khi tỉnh

Đất trời còn thăm thẳm bền lâu

Quạ vàng thỏ trắng đuổi nhau

Chẳng bao lâu nữa mái đầu bạc phơ

Sau khi chết vàng cao như núi

Cũng chẳng bằng chén rượu hôm nay

Anh chẳng thấy

Ngoài Xuân Minh mặt trời sắp ló

Tiếng khóc ca nửa tử, nửa sinh

Kẻ chơi dừng ngựa không len

Xe vàng xe tía bon chen đường đời

Về đi thôi tóc thời đã bạc

Cởi áo ta đổi rượu uống chơi

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

TÚY HẬU

Bạch Cư Dị

Túy hậu cao ca thả phóng cuồng

Môn tiền nhàn sự mạc tư lường

Do hiềm tiểu hộ trường tiên tỉnh

Bất đắc đa thời trú túy hương.

 

Dịch nghĩa:

SAU KHI SAY

Sau khi uống rượu ta cao giọng hát và vui thả cửa như điên. Những chuyện linh tinh trước cửa chẳng bận tâm suy nghĩ làm gì. Chỉ hiềm nhà nhỏ tỉnh dậy quá sớm, không thể ở lại lâu trong xứ sở của say sưa.

 

  • Dịch thơ:

Rượu say nghêu ngao hát tựa điên

Chuyện người ngoài cửa chẳng ưu phiền

Chỉ hiềm nhà nhỏ, tỉnh quá sớm

Không thể lưu lâu trong xứ nghiền

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Rượu vào, ta hát, ta ca

Vui chơi thỏa thích như là phát điên

Kệ đời mọi chuyện ưu phiền

Ta say sưa ở trong miền ngất ngây

Chỉ e tỉnh giấc lúc này

Không thể ở rốn đôi ngày cõi tiên

                   Lê Sơn dịch

 

*** 

Khúc Giang hữu cảm

         Bạch Cư Dị

Khúc Giang tây ngạn hựu xuân phong

Vạn thụ hoa tiền nhất lão ông

Ngộ tửu phùng hoa hoàn thả túy

Nhược luận trù trương sự hà cùng.

 

Dịch nghĩa:

Cảm xúc bên dòng Khúc Giang

Bờ tây sông Khúc Giang gió xuân lại thổi. Có một ông già ngồi trước hàng nghìn cây hoa nở. Gặp rượu  gặp hoa hãy cứ say đi, còn cứ ngồi bàn về những nỗi đau buồn thì biết bao giờ cho hết.

 

  • Dịch thơ:

Bờ tây hồ Khúc gió xuân ra

Muôn cây hoa nở một cụ già

Hoa đấy rượu đây say cho đã

Chuyện buồn bàn mãi ích chi mà

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Lại gió xuân về tây Khúc Giang

Ông lão trước hoa nở trắng ngàn

Gặp hoa, gặp rượu, nên say khướt

Bàn chuyện buồn đau chẳng thể tàn

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

*** 

Khúc Giang túy hậu

        Bạch Cư Dị

Quách đông khâu mộ hà niên khách

Giang bạn phong quang kỷ nhật xuân

Chỉ hợp ân cần trục bôi tửu

Bất tu sơ sách hướng giao thân

Trung thiên hoặc hữu trường sinh dược

Hạ giới ưng vô bất tử nhân

Trừ khước khứ lai khai khẩu tiếu

Thế gian hà sự cánh quan thân.

 

Dịch nghĩa:

Sau khi say bên Khúc Giang

Mộ ai phía đông thành không biết mất năm nào. Phong cảnh bên sông được mấy ngày xuân. Chỉ nên ân cần vui với chén rượu. Chẳng nên lơ là việc kết giao bạn thân. Trong trời đất có thể có thuốc trường sinh mà hạ giới không có người nào là không chết. Trừ có lúc say mới hé miệng cười. Trên đời này có việc gì liên quan đến ta đâu!

 

  • Dịch thơ:

Cầu Đông mộ khách táng bao giờ

Bãi hoang mấy độ đón xuân qua

Chỉ cốt cùng ta vui với rượu

Ngại gì người chết vẫn giao hòa

Nếu thuốc trường sinh trời mà có

Trần gian chẳng thiếu bất tử gia

Hễ có rượu vui là cười được

Thế gian sao cứ phải quan gia?

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

*** 

Trùng dương tịch thượng phú bạch cúc

               Bạch Cư Dị

Mãn viên hoa cúc uất kim hoàng

Trung hữu cô tùng sắc tự sương

Hoàn tự kim triêu ca tửu tịch

Bạch đầu ông nhập thiếu niên trường.

 

Dịch nghĩa:

Trên chiếu rượu tiết trùng dương vịnh hoa cúc trắng

Đầy vườn hoa cúc nở sum suê vàng ươm, trong đó có một khóm riêng biệt trắng như sương. Giống hệt như sáng hôm nay trên chiếu rượu vui ca, một ông đầu bạc lạc lõng giữa đám tuổi trẻ.

 

  • Dịch thơ:

Đầy vườn hoa cúc vàng ươm

Có lùm sắc trắng như sương lạc loài

Như trên chiếu rượu sáng nay

Một ông đầu bạc giữa bầy trẻ trai

                   Nguyễn như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Giữa vườn hoa cúc rực vàng

Nổi lên một khóm rỡ ràng như sương

Cũng giống vậy sáng nay tiệc rượu

Lão bạc đầu giữa chiếu thanh niên

                   Trần Vân Long dịch

 

***

Thu giang tống khách

         Bạch Cư Dị

Thu hồng thứ đệ quá

Ai viên triêu tịch văn

Thị nhật cô chu khách

Thử địa diệc ly quần

Mông mông nhuận y vũ

Mạc mạc mạo phàm vân

Bất túy Tầm Dương tửu

Yên ba sầu sát nhân.

 

Dịch nghĩa:

Sông thu đưa khách

Mùa thu chim nhạn lần lượt bay qua. Sáng chiều tiếng vượn kêu thảm thiết. Hôm nay một người khách lẻ loi rời đàn ở chính nơi đây. Mưa mờ mịt ướt áo, mây man mác che lấp cánh buồm mây. Rượu Tầm Dương uống chẳng thấy say. Khói sóng làm lòng người buồn chết đi được!

 

  • Dịch thơ:

Mùa thu chim nhạn bay đi

Sáng chiều tiếng vượn não nề bên tai

Thuyền đơn côi, khách một người

Ngày này đây cũng là nơi lìa bầy

Mịt mờ ướt áo mưa bay

Cánh buồm man mác bóng mây che mờ

Rượu Tầm Dương chẳng say cho

Trên sông khói sóng buồn se sắt lòng!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Thu vàng cánh nhạn xiêu xiêu

Non xanh tiếng vượn sớm chiều bi ai

Khách trên thuyền nhoe lẻ loi

Nơi đây chính cũng là nơi chia lìa

Mưa rơi mờ mịt đầm đìa

Mây trời một cánh buồm kia chở đầy

Rượu Tầm Dương uống chẳng say

Trên sông khói sóng sầu này giết ta

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Mùa thu chim nhạn bay đi

Vượn kêu ai oán thảm thê sớm chiều

Thuyền côi chở khách phiêu diêu

Nơi đây mảnh đất tiêu điều lìa tan

Đầm đìa áo ướt như chan

Mây trôi man mác che ngang buồm này

Rượu Tầm Dương uống chẳng say

Khói sông mờ mịt sầu đây chết người

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

***

Hữu nhân dạ phỏng

       Bạch Cư Dị

Thiềm gian thanh phong điệm

Tùng hạ minh nguyệt bôi

U ý chính như thử

Huống nãi cố nhân lai.

 

Dịch nghĩa:

Bạn tới thăm đêm

Giữa hiên gió mát trải chiếu ngồi nâng chén dưới bóng tùng trong trăng sáng. Ý tình đã u nhã như vậy, thế mà lại có thêm bạn cũ tới thăm vào chính lúc này mới tuyệt chứ!

 

  • Dịch thơ:

Giữa đêm gió mát trải chiếu ngồi

Thông lồng bóng nguyệt rượu đầy vơi

Cảnh tình u nhã là như vậy

Huống hồ bạn cũ lại tới chơi!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Giữa hiên gió mát ta ngồi

Thông xanh trăng sáng chén vơi chén đầy

Ý tình thực u nhã thay

Huống chi bạn đến lúc này thăm ta

                   Trần Vân Long dịch

______________________________________

LIỄU TÔNG NGUYÊN (柳宗元)

Liễu Tông Nguyên (773-819), tự Tử Hậu, người hà Đông (nay là Vĩnh Tế, Sơn Tây), người đời gọi là Liễu Hà Đông hay Liễu Liễu Châu. Tiến sĩ năm Trình Nguyên 9 (793), làm quan đến viên ngoại lang Bộ Lễ, tham gia vào cuộc cách tân của Vương Thúc Văn. Hiến Tông lên ngôi, cuộc cách tân thất bại, bị biếm làm thứ sử Thiệu Châu, rồi tư mã Vĩnh Châu, thứ sử Liễu Châu. Mất tại Liễu Châu.

Cùng với Hàn Dũ đề xướng phong trào cổ văn, cùng được liệt vào “Tám đại gia Đường Tống”, có cống hiến trác việt cho sự phát triển của tản văn. Thơ ông cấu tứ tinh diệu, ý cảnh cao nhã, phong cách thanh tân chất phác. Có Liễu Hà Đông tập. Toàn Đường thi có 4 quyển thơ ông.

***

BÁN TÚY

Thủy hướng đông lưu cánh bất hồi

Hồng nhan bạch phát đệ tương thôi

Tráng tâm cánh trục cao ca tận

Vãng sự không thành bán túy lai

Vân hộ nhạn sương lung đạm nguyệt

Vũ liên oanh hiểu lạc tàn mai

Tây lâu trướng vọng phương phi tiết

Xứ xứ tà dương thảo tự đài.

 

Dịch nghĩa:

Ngà ngà say

Nước chảy về đông không quay trở lại. Mặt hồng (tuổi trẻ) tóc trắng (tuổi già) dồn đuổi nhau. Tráng chí cạn dần theo khúc cao ca. Chuyện cũ cứ trở về vào lúc ngà ngà say. Mây che sương cho nhạn nhưng lại che khuất ánh trăng nhạt. Mưa làm đẹp long chim oanh sáng nhưng lại làm rụng hoa mai. Ở lầu tây ngậm ngùi  ngắm hoa cỏ thơm. Khắp nơi là ánh tà dương cỏ như rêu.

 

  • Dịch thơ:

Nước chảy về đông không trở lại

Đầu xanh đầu bạc vốn liền kề

Tâm tráng giọng cao rồi cũng cạn

Nửa say chuyện cũ lại hiện về

Mây dẫu che sương, làm tối nguyệt

Mưa làm tươi sắc, lại rụng huê

Lầu tây buồn ngắm mùa hoa ngát

Mà cỏ thành rêu lúc ánh tà

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

__________________________________________

LÝ HẠ (李賀)

Lý hạ (790-816), tự Trường Cát, người Phúc Xương (nay là miền tây Nghi Dương, Hà Nam). Nhánh xa của hoàng thất đời Đường nhưng gia thế sớm sa sút. Chỉ làm quan chức quan mọn là phụng lễ lang. Một đời khốn đốn bất đắc chí, mất lúc mới 27 tuổi.

Thơ Lý Hạ là đóa hoa lạ trong thi đàn trung Đường, tưởng tượng phong phú, từ ngữ mới lạ, giàu sắc thái lãng mạn. Lý Hạ quan tâm đời sống hiện thực, không ít bài thơ của ông đả kích vào tình trạng cát cứ phiên trấn, hoạn quan chuyên quyền, đế vương cầu tiên và sự hoang dâm, kiêu sa của đám hào môn quyền quý, ở mức độ nhất định phản ánh hiện thực xã hội đương thời, thể hiện sự đồng tình với nỗi thống khổ của nhân dân. Mặt khác do đời sống cô độc khổ muộn, tính cách lạnh lung cao ngạo, không ít bài thơ của ông mang sắc điệu tối tăm trầm lắng rõ rệt, có tác phẩm chồng chất từ ngữ khó hiểu.

***

Tương tiến tửu

        Lý Hạ

Lưu ly chung hổ phách nồng

Tiểu tao tửu trích chân châu hồng

Phanh long bào phượng ngọc chỉ khấp

La vi tú mạc vi hương phong

Xuy long địch kích đà cổ

Hạo xỉ ca tế yêu vũ

Huống thị thanh xuân nhật tương mộ

Đào hoa loạn lạc như hồng vũ

Khuyến quân chung nhật mính đính túy

Tửu bất đáo Lưu Linh phần thượng thổ.

 

Dịch nghĩa:

Sắp mời rượu

Chén lưu ly rượu nồng mầu hổ phách. Máng nhỏ rượu nhỏ giọt hồng như chân châu. Xào rồng rán phượng mỡ sôi xèo xèo. Mành ngà màn gấm vây quanh thơm nức. Thổi sáo rồng đánh trống da cá sấu1. Răng trắng ca lưng thon2 múa. Huống hồ ngày xuân sắp về chiều. Hoa đào rơi tan tác như mưa hồng. Khuyên bạn hãy suốt ngày ngất ngưởng say. Rượu chẳng đến được đất trên mộ Lưu Linh3.

1.Lưu ly, hổ phách, chân châu, rồng phượng, sáo rồng, trống cá sấu…đều là những từ tượng trưng để chỉ những thứ quý giá.

2.răng trắng lưng thon: chỉ những ca nữ, vũ nữ đều xinh đẹp kiều diễm cả

3.Lưu Linh, tự Bá  Luân, văn nhân đời Tấn, nổi tiếng vì thích rượu, có tác phẩm Tửu đức tụng. Câu này có ý khuyên hãy kịp thời hành lạc kẻo chết rồi thì hết, có thích rượu đến như Lưu Linh cũng không thể được hưởng một cuộc say nào nữa. 

 

  • Dịch thơ:

Chén lưu ly, rượu hổ phách nồng

Từ máng nhỏ, từng giọt châu hồng

Rồng xào, phượng ráng, xèo xèo mỡ

Trướng gấm, màn là, sực nức hương

Thổi kèn rồng, đánh trống da cá sấu

Gái đẹp ca, uốn éo thon lưng

Huống nay xuân sắc đang tàn tạ

Hoa đào rơi rụng tựa mưa hồng

Bạn hãy cả ngày say ngất ngưởng

Lúc đã xuống mồ rượu chắc không

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Chén lưu ly rượu nồng màu hổ phách

Máng nhỏ rượu rỏ giọt ngọc hồng

Xèo xèo ráng phượng xào rồng

Mành là màn gấm thơm nồng gần xa

Thổi sáo rồng, đánh trống da cá sấu

Răng trắng ca, lưng thon thả uống eo

Huống hồ xuân sắp về chiều

Hoa đào tan tác như gieo mưa hồng

Anh nên hưởng say nồng sớm tối

Mộ Lưu Linh rượu tới được đâu?

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

__________________________________________

ĐỖ MỤC (杜牧)

Đỗ Mục (803-852), tự Mục Chi, người Vạn Niên, Kinh Triệu (nay là Tây An, Thiểm Tây). Cháu tể tướng Đỗ Hựu. Tiến sĩ năm Đại Hòa 2 (828), được chức hiệu thư lang ở Hoằng văn quán. Sau lần lượt làm giám sát ngự sử, tả bổ khuyết, thứ sử Hoàng Châu, thú sử Hồ Châu, cuối cùng là trung thư xá nhân. Người đời gọi là “Đỗ Phàn Châu”, “Đỗ Tử Vi”.

Giỏi thơ phú và cổ văn. Cao nhất là thành tựu về thơ, đặc biệt sở trường về thất ngôn luật thi và tuyệt cú. Thơ ông trong sáng thanh nhã, nêu một phong cách riêng trong thi đàn vãn Đường. Nhưng cũng có một số bài tiêm nhiễm lạc thú thanh sắc, rơi vào đồi phế khinh bạc. Có Phàn Xuyên văn tập, Toàn Đường thi có 8 quyển thơ ông.

***

KHIỂN HOÀI

     Đỗ Mục

Lạc phách giang hồ tải tửu hành

Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh

Thập niên nhất giác Dương Châu mộng

Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.

 

Dịch nghĩa:

Tâm sự

Phiêu bạt giang hồ chở rượu theo. Con gái lưng ong1 nhẹ nhàng thon thả tưởng có thể múa trên bàn tay được2. Mười năm vui chơi bỗng sự tỉnh giấc mộng Dương Châu3. Mới biết ta chỉ kiếm được cái tiếng bạc tình chốn lầu xanh.

  1. Nguyên văn là “Sở yêu tiêm tế” ¨Sở Linh Vương ngày xưa rất thích con gái lưng thon.
  2. nguyên văn là “chưởng trung khinh”: hoàng hậu Hán Thành đế là Triệu Phi Yến người nhẹ tưởng có thể múa trên bàn tay được.
  3. Dương Châu: chốn phồn hoa có nhiều kỹ viện nơi Đỗ Mục hay lui tới vui chơi. Cũng giống như khu phố Khâm Thiên của Hà Nội trước đây bên ta vậy.

 

  • Dịch thơ:

Giang hồ mang rượu đi theo

Gái tơ thon thả lưng eo dập dình

Mười năm tỉnh mộng giật mình

Còn chăng cái tiếng bạc tình lầu xanh!

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Giang hồ phiêu dạt, rượu đồng hành

Gái Sở lưng ong, bế nhẹ tênh

Mười năm sực tỉnh Dương Châu mộng

Nổi tiếng lầu xanh kẻ bạc tình

                   Trần Đình Hiến dịch

 

  • Dịch thơ:

Giang hồ rượu tải trên vai

Gái tơ say đắm ngày dài đêm thâu

Mười năm tỉnh giấc Dương Châu

Chỉ lưu được tiếng thanh lâu bạc tình!

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

Cửu nhật tề sơn đăng cao

              Đỗ Mục

Giang hàm thu ảnh nhạn sơ phi

Dữ khách huề hồ thướng thúy vi

Trần thế nan phùng khai khẩu tiếu

Cúc hoa tu sáp mãn đầu quy

Đãn tương mính đính thù giai tiết

Bất dụng đăng lâm hận lạc huy

Cổ vãng kim lai chỉ như thử

Ngưu sơn hà tất độc triêm y.

 

Dịch nghĩa:

Ngày mồng chín lên núi Tề Sơn1

Sông mang mầu thu nhạn bắt đầu bay đi. Ta cùng khách mang bầu rượu lên núi xanh. Ở đời khó gặp lúc mở miệng cười. Hoa cúc nên dắt đầy đầu lúc trở về. Hãy say ngất ngưởng để đáp lại thời tiết đẹp. Cần gì lên cao để hận chiều tà. Xưa qua nay đến chỉ như vậy mà thôi, hà tất phải một mình rơi lệ trên núi Ngưu Sơn2.

1.Tề Sơn: ngọn núi ở phía đông nam thành Trì Châu

2.Ngưu Sơn: theo Hàn thi ngoại truyện, thời Xuân Thu, Tề Cảnh Công lên núi Ngưu Sơn chơi, trông vời về nước Tề ở phía bắc. Ông nói nước này mới tươi đẹp làm sao! Giá như từ trước người ta có thể không chết thì ta sẽ bỏ đây để đi đến đâu nhỉ! Nói rồi vô cùng xót xa rơi lệ.

 

  • Dịch thơ:

Sông đượm vẻ thu nhạn sớm bay

Cùng anh mang rượu tới nơi này

Ở đời gặp gỡ nên vui vẻ

Hoa dắt đầy đầu dáng ngất ngây

Say tít để đền thời tiết đẹp

Lên cao chi nữa, hận gì đây

Xưa qua nay tới là như vậy

Rơi chi lệ ở núi ngưu này

                   Trần Vân Long dịch

 

*** 

THANH MINH

       Đỗ Mục

Thanh minh thời tiết vũ phân phân

Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn

Tá vấn tửu gia hà xứ hữu

Mục đồng dao chỉ hạnh hoa thôn.

 

Dịch nghĩa:

Thanh minh

Tiết thanh minh, mưa phùn lất phất dây dưa. Trên đường lữ khách buồn não ruột. Ghé hỏi ở đâu có quán rượu, trẻ chăn trâu chỉ thôn Hoa Hạnh* ở phía xa xa.

(*)Thôn Hoa Hạnh: có thuyết cho rằng thôn này ở phía Tây huyện Quý Trì, nổi tiếng về sản xuất rượu. Đỗ Mục từng làm thứ sử Trì Châu.

 

  • Dịch thơ:

Thanh minh mưa rắc lòng ròng

Đường xa cất bước não lòng người qua

Hỏi thăm quán rượu đâu là?

Trẻ chăn trâu chỉ Hạnh Hoa thôn ngoài

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Tiết thanh minh mưa phùn rây rất

Khách đường xa lòng não nuột buồn

Ghé hỏi ở đâu có quán rượu

Trẻ chăn trâu chỉ Hạnh Hoa thôn

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Tiết thanh minh mưa phùn lất phất

Dặm đường xa lữ khách thêm rầu

Hỏi thăm lũ trẻ chăn trâu

Nói rằng quán rượu thôn đầu Hạnh Hoa

                   Trần Vân Long dịch

____________________________________

HỨA HỒN (許渾)

Hứa Hồn (788?-858), tự Dụng Hối, Trọng Hối, người Đan Dương, Nhuận Châu (nay thuộc Giang Tô). Làm qua các chức Đương Đồ úy, huyện lệnh Thái Bình, giám sát ngự sử, ngu bộ viên ngoại lang, cuối cùng làm thứ sử Dĩnh Châu. Cả đời không làm cổ thi, chuyên làm luật thể, đề tài phần lớn là sơn thủy điền viên. Thơ hoài cổ thương thời của ông tương đối đặc sắc. Có Đinh Mão tập. Trong Toàn Đường thi ông có 11 quyển.

***

Tạ đình tống biệt

        Hứa Hồn

Lao ca nhất khúc giải hành chu

Hồng diệp thanh sơn thủy cấp lưu

Nhật mộ tửu tinh nhân dĩ viễn

Mãn thiên phong vũ hạ tây lâu

 

Dịch nghĩa:

Tiễn biệt ở Tạ Đình1

Hát xong khúc hát tiễn biệt2 người cởi dây neo thuyền chèo đi. Lá đỏ núi xanh nước sông chảy xiết. Về chiều tỉnh rượu thì người đã đi xa. Đầy trời mưa gió một mình ta từ lầu tây đi xuống.

1.Tạ Đình: tức Tạ Công đình hay Tạ Diểu lâu, ở phía bắc Tuyên Thành (An Huy ngày nay) do nhà thơ thời Nam Tề là Tạ Diểu cho xây khi ông làm thái thú Tuyên Thành.

2.Khúc hát tiễn biệt: nguyên văn là “lao ca” vốn chỉ khúc hát hát lên khi tiễn nhau ở Lao Lao đình. Lao Lao đình ở phía tây nam thành phố Nam Kinh ngày nay, được xây trong thời Tam Quốc, là nơi người ta thường đưa tiễn nhau thời xưa.

 

  • Dịch thơ:

Ca khúc biệt ly bước xuống tàu

Núi xanh lá đỏ nước xiết mau

Chiều về rượu tỉnh người xa vắng

Đầy trời mưa gió xuống tây lầu

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Nghe xong khúc hát, bạn lên thuyền

Núi xanh, lá đỏ, nước xiết rền

Chiều về tỉnh rượu, người xa vắng

Xuống lầu, mưa đổ, gió triền miên

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

_________________________________________

Lý Thương Ẩn (李商)

Lý Thương Ẩn (813-858), tự Nghĩa Sơn, hiệu Ngọc Khê Sinh, Phàn Nam Sinh, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Thẩm Dương Hà Nam). Tiến sĩ năm Khai Thành 2 (837). Từng làm hiệu thư lang Bí thư sảnh, Huyện ủy Hoằng Nông. Vì bị chèn ép, đành đến những miền xa làm mạc lieu (phụ tá dưới trường các tướng soái hoặc quan viên). Từ năm Đại Trung 1 (847) tới Đại Trung 9 (855) ông lần lượt tói Quế Châu (nay là Quế Lâm Quảng Tây), Từ Châu và Tử Châu (nay là Tam Đài Tứ Xuyên) làm mạc lieu. Năm Đại Trung 12 (858) trở về Trịnh Châu nhàn cư, khoảng cuối năm thì mất.

Lý Thương Ẩn thạo về biền văn và cận thể thi (tức luật thi và tuyệt cú), đặc biệt sở trường về thất ngôn luật thi. Thơ ông cấu tứ tinh xảo mới mẻ, tưởng tượng độc đáo, âm luật hài hòa, văn từ tinh mỹ, nhưng có lúc dùng quá nhiều điển cố, gây khó hiểu. Có Lý Nghĩa Sơn thi văn tập, Toàn Đường thi có 3 quyển thơ ông.

***

Phong vũ

Thê lương bảo kiếm thiên

Ky bạc dục cùng niên

Hoàng diệp nhưng phong vũ

Thanh lâu tự quản huyền

Tân tri tao bạc tục

Cựu hảo cách lương duyên

Tâm đoạn Tân Phong tửu

Tiêu sầu đẩu kỷ thiên.

 

Dịch nghĩa:

Gió mưa

Thê lương thay bào thơ “Bảo Kiếm”1. Ta phiêu dạt gần hết tuổi thanh xuân. Hôm nay đây ngoài trời lá vàng lại mưa gió. Trên lầu cao ta tự mình tấu nhạc giải sầu. Bạn mới kết giao thì gặp thế tình đen bạc, chỗ giao du cũ thì cách trở lương duyên. Buồn nẫu ruột một mình ngồi uống rượu Tân Phong2. Để tiêu sầu, một đấu giá mấy nghìn tiền.

  1. Bảo kiếm thiên: bài thơ “Bảo kiếm” là bài thơ của Quách Chấn đời Đường. dùng bảo kiếm để nói lên chí lớn của mình.
  2. Mã Chu đời Đường cùng quẫn bất đắc chí, trọ ở lữ quán Tân Phong (phía đông Lâm Động tỉnh Thiểm Tây ngày nay), một mình uống rượu tiêu sầu.

 

  • Dịch thơ:

Bài thơ “Bảo kiếm” buồn thê thiết

Phiêu bạt một thân quá nửa đời

Lá vàng rơi tả trời mưa gió

Lầu cao tự gẩy khúc đàn chơi

Khách mới gặp qua tình đen bạc

Bạn xưa cách trở lỡ duyên rồi

Rứt lòng uống rượu Tân Phong vậy

Bao tiền một đấu để sầu vơi?

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Thê lương thay bài thơ “Bảo kiếm”

Phiêu bạt hầu hết tuổi thanh xuân

Lầu cao ta gảy khúc đàn

Lá vàng mưa gió sầu càng sầu thêm

Bạn tân giao – thế tình đen bạc

Chốn cựu du – cách trở lương duyên

Mình ngồi uống rượu Tân Phong

Nỗi buồn đứt ruột càng đong càng đầy

                   Trần Vân Long dịch

_____________________________________

ÔN ĐÌNH QUÂN (溫庭筠)

Ôn Đình Quân (?-866), vốn tên Kỳ, tự Phi Khanh, người đất Kỳ, Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, Sơn Tây). Lúc trẻ tài trí nhạy bén, nhưng nhiều lần thi tiến sĩ không đậu. Tính cách cao ngạo thường châm biếm đám quyền quý. Lại không chịu câu thúc, uống rượu bạt mạng, do đó không được thời tục nể trọng. Suốt đời lận đận chỉ làm những chức quan nhỏ như tùy Huyện úy, Phương Thành úy và quốc tử trợ giáo.

Ôn Đình Quân làm thơ và từ, giỏi cả biền văn. Thơ nhạc phủ của ông chịu ảnh hưởng của thể loại cung đình thời Lục Triều, phong cách ngôn ngữ tương đối đậm đà. Thơ vịnh sử, ai điếu, cổ tích của ông u uất, cảm khái sâu xa. Về thể thơ ông sở trường về cận thể (Luật thi và tuyệt cú), âm điệu thanh tú khác thường.Có Ôn Phi Khanh tập, Toàn Dường thi có 2 quyển thơ ông.

***

Tống nhân đông du

     Ôn Đình Quân

Hoang thú lạc hoàng diệp

Hạo nhiên ly cố quan

Cao phong Hán Dương độ

Sơ nhật Dĩnh Môn sơn

Giang thượng kỷ nhân tại

Thiên nhai cô trạo hoàn

Hà đương trùng tương kiến

Tôn tửu úy ly nhan.

 

Dịch nghĩa:

Tiễn bạn về đông

Đồn biên phòng hoang phế là vàng rụng đầy. Bạn hiên ngang rời cửa ải cũ. Gió cao thổi trên bến Hán Dương1. Mặt trời mới lên chiếu rọi núi Dĩnh Sơn2. Trên sông còn lại mấy người. Phía chân trời một chiếc thuyền đơn côi trở về. Biết lúc nào ta lại gặp lại nhau để nâng chén rượu an ủi gương mặt buồn vì lâu ngày xa cách.

1.Bến Hán Dương: tại Hán Dương Hồ Bắc ngày nay

2.Dĩnh Sơn: tại Nghi Đô, Hồ Bắc ngày nay.

 

  • Dịch thơ:

Lũy hoang lá vàng rụng

Ung dung rời ải ngoài

Hán Dương đầy gió lộng

Dĩnh Sơn nhòa nắng mai

Trên sông còn ai nữa

Một mái chèo chân mây

Bao giờ cùng gặp lại

Nâng chén mừng nhau đây?

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ:

Đồn biên rụng ngập lá vàng

Ải xưa bạn cũ hiên ngang ngày nào

Bến Hán Dương ào ào gió thổi

Núi Dĩnh Sơn rọi rọi nắng soi

Trên sông còn lại mấy người

Chân trời thuyền nhỏ đơn côi trở về

Bao giờ được đề huề gặp gỡ

Cùng nâng ly úy lạo dung nhan?

                   Trần Vân Long dịch

***

TẶNG THIẾU NIÊN

   Ôn Đình Quân

Giang hải tương phùng khách hận đa

Thu phong diệp há Ðộng Ðình ba

Tửu hàm dạ biệt Hoài Âm thị

Nguyệt chiếu cao lâu nhất khúc ca.

 

Dịch nghĩa

Trên sông biển gặp nhau, khách mang nhiều mối hận. Gió thu thổi lá rụng trên sóng nước Động Đình. Ban đêm rượu say rồi chia tay nhau ở chợ Hoài Âm. Trăng chiếu lầu cao, vẳng đưa một khúc hát.

 

  • Dịch thơ

Giang hồ gặp khách nhiều tâm sự

Gió thu, lá rụng, sóng Động Đình

Đêm say, chợ Hoài Âm giã biệt

Trăng chiếu lầu cao khúc hát tình

                   Nguyễn Xuân Dũng dịch

 

  • Dịch thơ

Giang hồ tủi phận gặp nhau đây

Động Đình sóng gợn lá thu bay

Phố chợ Hoài Âm say tiễn biệt

Lầu cao trăng sáng, khúc chia tay

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ

Gặp nhau trên sông biển

Sầu hận nặng tâm tình

Gió thu đưa lá rụng

Trên sóng nước Động Đình

Đêm chìm trong men rượu

Chia tay chợ Hoài Âm

Mình ta trên lầu vắng

Trắng chiếu, khúc hát ngân

                   Nguyễn Chí Tình dịch

 

  • Dịch thơ

Sông biển gặp nhau khách hận nhiều

Gió thu lá rụng Động Đình gieo

Hoài Âm say xỉn chia tay vậy

Lầu cao trăng chiếu, khúc hát reo

                   Nguyễn Bình Tuyển dịch

____________________________________

THÔI LỖ (崔魯)

Người Dương Châu, Giang Tô. Tiến sĩ năm Đại Trung (847-860) đời vua Tuyên Tông. Từ quan. có Vô cơ thi tập 4 quyển.

***

Tam nguyệt hối nhật tống khách

                Thôi Lỗ

Dã chước loạn vô tuần

Tống quân kiêm tống xuân

Minh niên xuân sắc chí

Mạc tác vị quy nhân

 

Dịch nghĩa:

Ngày cuối tháng 3 tiến khách

Rượu rót tràn lan không biết mấy tuần. Tiễn bạn ta tiễn luôn cả mùa xuân đi. Sang năm khi mùa xuân tươi đẹp đến, bạn đừng làm người chưa về đấy nhé!

 

  • Dịch thơ:

Rượu rót tràn lan biết mấy tuần

Tiễn bạn tiễn luôn cả mùa xuân

Sang năm lúc mùa xuân trở lại

Bạn nhớ quay về chớ lần khân

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Rượu ngon rót đã nhiều tuần

Tiến anh tiễn cả mùa xuân đi rồi

Năm tới khi xuân đến nơi

Chẳng hay có đón được người bạn quê?

                   Trần Vân Long dịch

___________________________________

TRỊNH CỐC (鄭谷)

Trịnh Cốc, tự Thủ Ngu, người Nghi Xuân (nay thuộc Giang Tây), không rõ năm sinh, mất khoảng thời Càn Ninh Chiêu Tông (894-898). Từ nhỏ thông minh, 7 tuổi có thể làm thơ. Tiến sĩ năm Quang Khải Hỷ Tông 3 (887), làm quan đô quan lang trung. Thơ Trịnh Cốc trong sags mềm mại thanh thoát, là phong cách lưu hành thời Vãn đường, được người đương thời đề cao.

***

Độc Lý Bạch tập

    Trịnh Cốc

Hà sự văn tinh dữ tửu tinh

Nhất thời chung tại Lý tiên sinh

Cao ngâm đại túy tam thiên thủ

Lưu trước nhân gian bạn nguyệt minh.

 

Dịch nghĩa:

Đọc tập thơ Lý Bạch

Chẳng biết vì sao mà sao văn và sao rượu lại cùng lúc quy tụ lại ở ông Lý. Say khướt ông ngâm vang ba nghìn bài thơ, để lại cùng sáng với trăng chốn nhân gian.

 

  • Dịch thơ:

Cớ chi Sao Rượu với Sao Văn

Cùng nhau tụ ở Lý tiên sinh

Say khướt ngâm vãng ba ngàn khúc

Lưu lại nhân gian sáng cùng trăng

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Cớ sao rượu và văn

Tù về nơi ông Lý

Suốt ngày say bí tỉ

Ngâm vang ba nghìn bài

Để lại thế gian này

Mãi ngời cùng trăng sáng

                   Nguyễn Chí Tình dịch

_________________________________________

VI TRANG (韋莊)

Vi trang (816-910), tự Đoan Kỷ, người Đỗ Lăng, Kinh Triệu (nay là đông bắc Trường An, Thiểm Tây). Tiến sĩ năm Càn Ninh (894-898), được phong hiệu thư lang. Sau vào đất Thục nương tựa Vương Kiến, khuyên Vương Kiến xừng đế.

Phong cách thơ ông thanh lệ , phiêu dật, nỗi ly biệt nhớ quê hương. Có Cán hoa tập. Toàn Đường thi có 6 quyển thơ ông.

***

Đông Dương tửu gia tặng biệt

                Vi Trang

Thiên nhai phương than dị hương thân

Hựu hướng thiên nhai biệt cố nhân

Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt

Túy tinh hà xứ các triêm cân.

 

Dịch nghĩa:

Thơ lưu biệt tại quán rượu Đông Dương

Ta vừa than thân phận xa xứ nơi chân trời lại phải tiễn bạn đi về phía chân trời! Ngày mai năm canh dưới ánh trăng nơi quán lẻ, say tỉnh ở chốn nào, cũng đều nhỏ lệ ướt khăn.

 

  • Dịch thơ:

Chân trời vừa than phận tha hương

Lại hướng chân trời biệt người thương

Mai mốt năm canh trăng quán quạnh

Tỉnh say nào chốn lệ sầu vương

                   Nguyễn Như Diệm dịch

 

  • Dịch thơ:

Thương thân làm khách quê người

Lại còn tiễn bạn phương trời xa hơn

Mai ngày trăng lạnh cô đơn

Tỉnh say xứ lạ lệ tràn thấm khăn

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Chân trời xa xứ xót thương thân

Nay lại chân trời tiễn bạn thân

Mai trắng năm canh trăng quán vắng

Tỉnh say ai cũng lệ đầm khăn

                   Nguyễn Đình Nhữ dịch

 

  • Dịch thơ:

Vừa ở chân trời than thân mình xa xứ

Nay lại tiễn bạn đi về phía chân trời

Để rồi năm canh quán vắng ngày mai

Dưới ánh trăng soi một mình cô quạnh

Chốn nào xa xăm dầu say dầu tỉnh

Lệ vẫn thấm đầy khăn bạn khăn tôi

                   Nguyễn Chí Tình dịch

____________________________________

LÔ ĐỒNG (盧仝)

Lô Đồng, hiệu Ngọc Xuyên Tử, người Phạm Dương, Hà Nam, ẩn cư ở núi Thiếu Thất. Có Ngọc Xuyên Tử thi tập.

***

HỮU SỞ TƯ

    Lô Đồng

 

Đương thời ngã túy mỹ nhân gia

Mỹ nhân nhan sắc kiều như hoa

Kim nhật mỹ nhân khí ngã khứ

Thanh lâu châu bạc thiên chi nha

Quyên quyên Thường Nga nguyệt

Tam ngũ nhị bát doanh hựu khuyết

Thúy mi thiền phát sinh biệt ly

Nhất vọng bất kiến tâm đoạn tuyệt

Tâm đoạn tuyệt kỷ thiên lý

Mộng trung túy ngọa Vu Sơn vân

Giác lai lệ trích Tương Giang thủy

Tương Giang lưỡng ngạn hoa mộc thâm

Mỹ nhân bất kiến sầu nhân tâm

Hàm sầu cánh tấu lục ỷ cầm

Điệu cao huyền tuyệt vô tri âm

Mỹ nhân hề mỹ nhân

Bất tri vi mộ vũ hề vi triêu vân

Tương tư nhất dạ mai hoa phát

Hốt đáo song tiền nghi thị quân.

 

Dịch nghĩa:

Nỗi nhớ

Lúc bấy giờ ta say ở nhà người đẹp. Người đẹp nhan sắc kiều diễm như hoa. Hôm nay người đẹp bỏ ta mà đi. Lầu xanh rèm ngọc cách xa tận chân trời. Vầng trăng xinh đẹp đáng yêu đầy rồi lại khuyết. Đang lúc mày biếc tóc mây mà xa nhau. Nhìn không thấy nhau lòng đứt đoạn. Lòng đứt đoạn mấy nghìn dặm. Trong mơ say nằm bên mây núi Vu Sơn1. Tỉnh ra lệ rơi trên sông Tương giang2. Đôi bờ Tương Giang hoa cỏ tươi tốt. Không thấy người đẹp lòng ta buồn rầu. Ngậm sầu gượng chơi đàn lục ỷ3. Điệu cao dây đứt không có tri âm. Người đẹp ơi người đẹp! Chẳng biết là mưa chiều hay mây sớm. Nhớ nhau một đêm hoa mai nở. Bỗng đến trước song nhìn hoa lại ngỡ là nàng.

1.Vu Sơn: theo truyền thuyết Sở Tương vương thăm núi Vu Sơn, mơ thấy thần nữ làm mây mưa xuống ân ái với mình.

2.Sông Tương Giang: con sông lớn nhất tình Hồ Nam. Tương truyền vua Thuấn tuần du Thương Ngô bị chết, hai phi tử của ông trông ngóng núi Thương Ngô mà khóc trên Tương thủy, nước mát rơi trên thân cây trúc khiến trúc có vết lấm chấm, gọi là trúc Tương phi.

3.đàn lục ỷ: tên cây đàn của Tư Mã Tương Như, nhà văn thời Tây Hán.

 

  • Dịch thơ:

Tại nhà người đẹp ta say

Người đẹp nhan sắc sánh tày với hoa

Hôm nay người đẹp bỏ ta

Lầu xanh rèm ngọc cách xa chân trời

Lờ mờ nhìn nguyệt nhớ người

Ba năm đôi tám khi vơi khi đầy

Đâu rồi mày biếc tóc mây

Những trông chẳng thấy lòng này xót xa

Nỗi đau cắt ruột bào da

Bây giờ người đẹp cách xa ngàn trùng

Rượu say nằm mộng Vu Sơn

Tỉnh hai hàng lệ chảy tràn Tương Giang

Tương Giang hoa cỏ hai hàng

Mỹ nhân không thấy sầu càng sầu thêm

Ngậm sầu gảy khúc đàn cầm

Điệu cao dây đứt tri âm đâu rồi

Mỹ nhân ơi! Mỹ nhân ơi!

Mưa chiều mây sớm nỡ rời xa ta

Đêm dài thao thức. Sáng ra

Thấy hoa mai nở ngỡ là mỹ nhân

                   Trần Vân Long dịch

 

  • Dịch thơ:

Ngày ấy ta say tại nhà người đẹp

Người đẹp tuyệt trần ví tựa đóa hoa

Nay người đẹp ra đi bỏ lại mình ta

Rèm ngọc lầu xanh chân trời xa tít

Vầng trăng đáng yêu tròn rồi lại khuyết

Sao phải xa nhau khi mày biếc tóc mây

Nhìn chẳng thấy nhau đức đoạn lòng này

Lòng đứt đoạn qua ngàn vạn dặm

Ta lại về với con say chìm đắm

Mơ thấy mình nằm giữa mây núi Vu Sơn

Chợt tỉnh ra giọt lệ sầu tuôn

Trên dòng Tương Giang âm thầm sóng vỗ

Đôi bờ Tương Giang tốt tươi cây cỏ

Nhưng người đẹp đâu rồi, lòng bỗng buồn tênh

Nỗi niềm riêng đanh giấu cho mình

Gượng cầm chơi cây đàn lục ỷ

Điệu cao dây đứt không tri âm tri kỷ

Người đẹp, người đẹp ơi!

Mây sớm mưa chiều nào biết chăng ai

Một đêm nhớ nhau hoa mai nở

Và rạng ngày đến bên song cửa

Chợt nhìn hoa lại ngỡ là nàng

                   Nguyễn Chí Tình dịch

.
.
.