RƯỢU TRONG THƠ ĐƯỜNG
Thay lời dẫn
Chẳng phải mãi đến đời Đường thì rượu mới hiện diện và tỏa hương trong thơ ca Trung Quốc. Thực ra ngay từ khi có rượu và thơ trên đời này, thì hai thứ đã đồng hành cùng nhau. Hơn 3000 năm trước, trong Kinh thi, tập thơ cổ nhất của Trung quốc đã có bóng dáng rượu trong thơ. Bài “Quyển Nhĩ” thiên Chu Nam trong kinh thi viết: “Trách bỉ thôi ngôi Ngã mã hủy đồi Ngã cô chước bỉ kim lôi Duy nhĩ bất vĩnh hoài Trắc bỉ cao cương Ngã mã huyền hoàng Ngã cô chước bỉ hủy quăng Duy dĩ bất vĩnh thương”, ý là ta leo lên ngọn núi cao kia, ngựa mệt bủn rủn cả đùi, ta rót rượu đầy chén vàng, mượn rượu tiêu sầu đỡ nhớ nhung; ta leo lên gò cao kia, ngựa mệt biến cả sắc, ta rót rượu đầy chén sừng tê giác, không để cho lòng mãi bi thương. Vào thời tam quốc, Tào Tháo (155-220), kiêu hùng một thời, khi làm tể tướng cuối đời Đông Hán từng có lệnh cấm rượu rất ngặt, nhưng lại có “Đoản ca hành”, một bài thơ nói đến rượu được truyền bá rộng rãi: “Đối tửu đương ca Nhân sinh kỷ hà… Ưu tư nan vong Hà dĩ giải ưu Duy hữu Đỗ Khang…” Tạm dịch là trước rượu phải hát ca, cuộc đời được bao lăm…lo buồn khó quên, lấy gì phải buồn, chỉ có rượu mà thôi. Thời tấn, nhà thơ Đào Uyên Minh (365?-427) không vì năm đấu thóc mà phải khom lưng trong chốn quan trường, đã từ quan về sống cảnh điền viên gần gũi thiên nhiên, ngày ngày “Thái cúc đông ly hạ Du nhiên kiến Nam Sơn” (Hái cúc dưới dậu mé đông Thung dung ngắm nhìn núi Nam Sơn). Trong số 121 bài thơ hiện còn của ông có nhiều bài nói đến rượu, trong đó có cả chùm “Ẩm tửu” (Uống rượu) gồm 20 bài. Chẳng hạn bài số 8 “Cố nhân thưởng ngã thú”:
Cố nhân thưởng ngã thú
Khiết hồ tương dữ chí
Ban kinh tọa tùng hạ
Sổ châm dĩ phục túy
Phụ lão tạp loạn ngôn
Thương chước thất hàng thứ
Bất giác tri hữu ngã
An tri vật vi quý
Du du mê sở lưu
Tửu trung hữu thâm vị
Tạm dịch nghĩa:
Cố nhân có hứng thú giống ta
Mang bình rượu cùng nhau tới
Trải chiếu ngồi dưới bóng thông
Mấy lần rót đã bắt đầu say
Các cụ nói năng tạp loạn
Chén rót rượu ngổn ngang
Bất giác ta biết là mình tồn tại
Biết đâu mọi thứ khác là quý
Đê mê chẳng biết mình ở đâu
Trong rượu có ý vị sâu đậm!
Uống rượu, ca hát để quên sầu; rượu làm ta biết mình có tồn tại trên đời, nhưng đê mê không biết mình ở đâu! Thơ viết về uống rượu như thế cũng đã là tinh tế. Nhưng phải đợi đến thời Đường, một thời đại rực rỡ về thơ ca trong lịch sử Trung Quốc, với những tên tuổi như Lý Kỳ, Vương Duy, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Nguyên Chẩn, Vi Ứng Vật, Bạch Cư Dị, Lý Hạ, Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn và rất nhiều nhà thơ khác nữa thì thơ rượu mới đạt tới đỉnh cao về số lượng lẫn chất lượng.
Có thể nói, ở đây lịch sử đã chứng kiến một “cặp đôi” thật hài hòa, thật ý nghĩa giữa rượu và thơ, giữa một sản phẩm sáng tạo vật chất và một sản phẩm sáng tạo tinh thần của loài người. Rượu có mặt mọi lúc mọi nơi, trong mọi cảnh ngộ cuộc đời, mọi trạng thái cung bậc tình cảm của con người.
Ấy là khi người ta vui. Niềm vui trong một đời người đôi khi không nhiều, nhất là người làm thơ, nhưng có niềm vui nào lại không tìm đến rượu:
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan
Mạc sử kim tôn không đổi nguyệt
Vui thỏa thích khi ta đạt ý
Trước trăng vàng chén quý đừng với
và
Phanh dương tể ngưu thả vi lạc
Hội tu nhất ẩm tam bách bôi
Dê, trâu giết để vui say
Ba trăm ly uống hết bay một lần
Rồi
Trần vương tích thời yến Bình Lạc
Đấu tửu thập thiên tử hoan hước
Trần vương xưa một thời Bình Lạc
Yến tiệc vui bát ngát thâu đêm
Rượu ngon một đấu vạn tiền
Có hề chi, vẫn mua liền để vui
(Lý Bạch “Tương Tiến Tửu”. NBT dịch)
Đối với người xưa khi phương tiện giao thông chưa phát triển mà cảnh chinh chiến loạn ly lại diễn ra thường ngày thì có niềm vui nào lớn hơn là niềm vui lúc cửu biệt trùng phùng, và lúc ấy người ta thả sức nâng chén:
Chủ xưng hội diện nan
Nhất cử lũy thập thương
Thập thương diệc bất túy
Chủ nhân bảo gặp nhau thật khó
Hãy uống đi một bữa thỏa thuê
Một hơi uống cạn mười ly
Mười ly cũng chẳng thấy gì là say
Nhưng hội ngộ rồi lại chia ly, mà giây phút hội ngộ sao mà ngắn ngủi:
Minh nhật cách sơn nhạc
Thế sự lưỡng mang mang
Ngày mai lại cách xa sông suối
Người một phương đôi ngả mênh mang
(Đỗ Phủ. “Tặng Vệ Bát Xử Sỹ”.TVL dịch)
Thế là lại chia tay, lại tiễn đưa. Thơ Đường có rất nhiều bài nói đến tiễn đưa. Nhưng dường như không cuộc tiễn đưa nào trong thơ Đường mà không có rượu:
Túy biệt giang lâu quất hữu dương
Giang phong dẫn vũ nhập chu lương
Tiễn nhau say khước quán ven giang
Mưa bụi, bưởi thơm, gió lộng khoang
(Vương Xương Linh. “Tống Ngụy nhị”.NXD dịch)
Và
Kim nhật tống quân tu tận túy
Minh triêu tương ức lộ man man
Tiễn bác hôm nay say hết cỡ
Mai nhớ thương nhau vạn dặm đường
(Giả Chí. “Tống Lý thị lang phó Thường Châu”. NĐN dịch)
Phút bịn rịn chia tay, người ta cứ muốn lấy chén rượu để níu kéo người thân ở lại lâu thêm chút nữa:
Khuyến quân cách tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân
Cạn thêm chén nữa bạn ơi
Dương Quan ra khỏi còn người quen đâu
(Vương Duy. “Tống Nguyên nhị sứ An Tây”. NND dịch)
Chia tay thương buồn. Nhưng chia tay trong cảnh xa xứ vào dịp lễ tết (như tết Trung dương trong bài thơ dưới đây chẳng hạn) lúc mà lẽ ra người ta phải đoàn tụ lại càng buồn hơn:
Cửu nguyệt cửu nhật Vọng Hương đài
Tha tịch tha hương tống khách bôi
Mùng chín tháng chín lầu Ngóng Quê
Chén rượu tha hương tiễn khách về
(Vương Bột. “Thục trung cửu nhật”. NND dịch)
Khách về còn mình thì ở lại với nỗi cô đơn của thân phận tha hương, cứ ngóng mãi về chốn xa xăm mù khơi mong tìm thấy chút ấm áp của tình quê. Người ở lại đã thế nhưng người đi cũng đâu có nhẹ nhàng, nhất là trong một ngày được gọi là “trong sáng” (thanh minh) nhưng trớ trêu thay lại đầy trời gió mưa sầu thảm:
Thanh minh thời tiết vũ phân vân
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn
Tiết thanh minh mưa phùn rây rứt
Khách đường xa lòng não nuột buồn
Trong tình cảnh một thân một mình nơi lữ thứ ấy chỉ còn cách
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu
Ghé hỏi ở đâu có quán rượu
(Đỗ Mục. “Thanh minh”. NXD dịch)
Để tới đầu ngõ hầu tìm thấy một chút ấm áp và an ủi trong chất men say mà thôi.
Buồn chia tay cũng chỉ là một trong vạn nỗi buồn đau ở cõi đời này. Nhưng giống như khi vui, khi buồn người ta cũng tìm đến rượu.
Khí ngã khứ giả, tạc nhật chi nhật bất khả lưu
Loạn ngã tâm giả, kim nhật chi nhật đa phiền ưu
Trường vong vạn lý tống thu nhạn
Đối thử khả dĩ hàm cao lâu
Ngày hôm qua bỏ ta mà đi, ta không thể níu giữ
Ngày hôm nay làm rối lòng ta, gây bao nỗi ưu phiền
Gió dài vạn dặm tiễn đưa nhạn
Cảnh này lầu cao phải dốc bầu
(Lý Bạch. “Tuyên châu tạ diểu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Van”. NND dịch)
Có biết bao nhiêu thứ khiến người ta đau buồn. Buồn trước cảnh vật đổi sao giời:
Thả khan dục tận hoa kinh nhãn
Mạc yếm thương đa tửu nhập thần
Hãy nhìn trước mắt hoa gần chết
Đừng để buồn nhiều rượu chán nâng
(Đỗ Phủ. “Khúc Giang 1”. NĐN dịch)
Buồn tiếc ngày tháng qua mau, tuổi xuân không trở lại:
Xuân phong dư kỷ nhật
Lưỡng mấn các thành ty
Gió xuân còn mấy ngày thôi
Tóc mai ta đã trắng hết rồi còn đâu
(Lý Bạch. “Tặng Tiền Trưng quân Thiếu Dương”. TVL dịch)
Buồn trước cảnh đời ngang trái bất công. Như Đỗ Phủ diễn tả trong “Túy thời ca”: Kẻ thì “yếm lương nhục” (no xôi chán thịt) người thì “phạn bất túc” (cơm chẳng đủ ăn). Mà đấy đâu có phải người thường: đấy là người “hữu đạo xuất Hy Hoàng” (có đạo bắt nguồn từ Phục Hy), “hữu tài quá Khuất Tống” (có tài vượt Khuất Nguyên, Tống Ngọc). Trớ trêu thay, ở đời người tài giỏi đức độ và kẻ ngu xuẩn gian manh rồi số phận cũng đều như nhau:
Khổng Khâu Đạo Chích câu trần ai
Khổng Khâu, Đạo Chích cũng ra ma
Vậy nên
Bất tu văn thử ý thảm thảng
Sinh tiền tương ngộ thả hàm bôi
Nghe chi chuyện ấy cho sầu não
Còn sống gặp nhau cứ say nhòa
(Đỗ Phủ. “Túy thời ca”. NĐN dịch)
Âu cũng là một cách tự an ủi vậy. Và đấy chính là tác dụng của rượu. Nhưng có lúc rượu cũng trở nên vô dụng:
Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu
Tửu bôi tiêu sầu sầu cánh sầu
Rút dao chém nước nước cùng chảy
Nâng chén tiêu sầu sầu càng thêm
(Lý Bạch. “Tuyên Châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Vân”. TVL dịch)
Và
Đình bôi đầu trợ bất năng ẩm
Bạt kiếm tú cố tâm mang nhiên
Đặt chén quẳng đũa uống không nổi
Tuốt kiếm nhìn quanh lòng bối rối
Vì nỗi đau này quá lớn. Ấy là nỗi đau của kẻ sỹ ưu thời mẫn thế mà không thi thố được tài năng hoài bão của mình. Đường, đặc biệt Thịnh Đường là thời đại thịnh trị trong lịch sử chế độn phong kiến Trung Quốc. Giới trí thức, trong đó có những tên tuổi lớn như Lý Bạch, Đỗ Phủ…, mong muốn được kẻ thống trị trọng dụng để thực hiện lý tưởng định quốc an bang của mình. Nhưng do nhiều nguyên nhân, mà chủ yếu là do sự chèn ép của những kẻ đương quyền, cơ hội đã không tới, con đường tiến thân đầy trắc trở:
Dục độ Hoàng Hà băng tắc xuyên
Tương đăng Thái Hàng tuyết mãn sơn
Muốn vượt Hoàng Hà băng nghẽn sông
Định lên Thái Hàng tuyết đầy núi
(Lý Bạch. “Hành lộ man”. NND dịch)
Lúc này, rượu đã “bó tay”, nên để xoa dịu nỗi đau của mình, chỉ còn một cách: tìm đến thiên nhiên, làm bạn với sơn thủy hữu tình:
Nhân sinh tại thế bất xứng ý
Minh triêu tán phát lộng biên chu
Sống ở trên đời không vừa ý
Sáng mai xõa tóc cưỡi thuyền đi
(Lý Bạch. “Tuyên Châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Vân)
Nhưng điều đặc biệt ở các nhà thơ Đường là thiên nhiên mà họ bị hút hồn cũng phải có rượu thì mới được tôn lên. Chính thiên nhiên tươi đẹp làm người ta phấn khích tìm đến rượu và uống rượu được coi là một cách để đền đáp lại vẻ đẹp hào phóng của thiên nhiên:
Phong quang nhược thử nhân bất túy
Sâm si cô phụ đông viên hoa
Cảnh này mà người không say khướt
Là phụ lòng hoa phía đông nhà
(Trương Vị. “Hồ trung đối tửu tác”. NXD dịch)
Và
Đãn tương mính đính thù giai tiết
Bất đụng đăng lâm hận lạc huy
Say tít để đền thời tiết đẹp
Lên cao chi nữa, hận gì đây
(Đỗ Mục. “Cửu nhật Tề Sơn đăng cao”. TVL dịch)
Rượu làm cho thiên nhiên và con người xích lại gần nhau như những người bạn tri kỷ. Thử hỏi có cảnh nào nên thơ hơn là cảnh sau đây trong bài “Hú đề bàn thạch” của Vương Duy:
Khả liên bàn thạch lâm tuyền thủy
Phục hữu thùy dương phất tửu bôi
Nhược đạo xuân phong bất giải ý
Hà nhân xuy tống lạc hoa lai
Một bàn đá xinh xắn bên bờ con suối trong róc rách chảy, mấy cành dương liễu phất phơ rủ xuống chén rượu đầy, một người thơ ưng dung nhàn nhã ngồi nâng chén trên phiến đá, và gió xuân, gió xuân cứ phơi phới thổi đưa những cánh hoa rụng tới chỗ nhà thơ như biết rằng ngồi đấy là một người rất yêu hoa, yêu cảnh thiên nhiên. Không thể bảo rằng gió xuân không hiểu ý người được.
Và đây nữa, một đêm gió mát trăng thanh:
Thiềm gian thanh phong điệm
Tùng hạ minh nguyệt bôi
Giữa thềm gió mát trải chiếu ngồi
Thông lồng bóng nguyệt rượu đầy vơi
Thật tình cờ, đúng lúc ấy lại có “bạn hiền” tới thăm:
U ý chính như thử
Huống nãi cố nhân lai
Cảnh tình u nhã là như vậy
Huống hồ bạn cũ lại tới chơi
(Bạch Cư Dị. “Hữu nhân dạ phỏng”. NND dịch)
Thật còn gì hơn nữa! Vì nên nhớ rằng, trừ trường hợp bất đắc dĩ phải “Uống rượu một mình”, làm bạn với trăng và bóng trong cảnh cô đơn không cùng như Lý Bạch trong bài “Nguyệt hạ độc chước”:
Hoa gian nhất hồ tửu
Độc chước vô tương thân
Cử bôi yêu minh nguyệt
Đối ảnh thành tam nhân
Trong tay rót một bầu rượu
Mình rót uống dưới hoa
Nâng chén mời trăng sáng
Thêm bóng nữa thành ba
(Lý Bạch. “Nguyệt hạ độc chước”. TVL dịch)
Còn nói chung uống rượu phải có bạn mới vui. Chẳng thể mà Đỗ Phủ trong bài “Túy thời ca” đã nhắc tới trên kia viết “Đắc tiền tức tương mịch Cô tửu bất phục nghi” (có tiền liền tìm nhau Lại rượu có sai đâu – NXD dịch) hay Lục Du, nhà thơ Trung Quốc thời Tống viết “Tửu vô độc ẩm lý Thường hận khiếm giai khách Hốt đắc ngã bối nhân Khởi kế thần dữ tịch” (Rượu không lý uống một mình Hận vì thiếu bạn tâm tình mà thôi Bọn ta nay gặp mặt rồi Kể chi sáng sớm hay trời nhá nhem – NND dịch) còn nhà thơ Nguyễn Khuyến của ta trong bài “Khóc Dương Khuê” thì viết “Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải tiền không mua”.
Vậy là rượu có thể làm tăng thêm niềm vui, làm vơi đi nỗi sầu, làm cho người ta quên đi những mất mát trong đời, quên đi cả cái quy luật khắt khe của tự nhiên là:
Nhật nhật nhân không lão
Niên niên xuân cánh quy
Người ngày ngày già đi
Xuân mỗi năm lại về
Để có thái độ ung dung trước mọi biến đổi, mọi mất mát, vì
Tương hoan hữu tôn tửu
Bất dụng tích hoa phi
Cùng vui đã có rượu
Hoa dẫu rụng tiếc chi
(Vương Duy. “Tống xuân từ”. NND dịch)
Rượu còn có thể góp phần khẳng định, tôn lên cốt cách của người quân tử, củ lẽ sỹ. Đấy là những người không màng công danh phú quý, coi rẻ cả cường quyền, chẳng hạn Mạnh Hạo Nhiên:
Hồng nhan khí hiên miện
Bạch thủ ngọa tùng vân
Túy nguyệt tần trung thánh
Mê hoa bất sự quân
Thời trẻ chẳng thiết chức tước
Về già thì quy ẩn sơn lâm
Dưới trăng nhiều lần say khướt
Mê hoa vua cũng cóc cần
(Lý Bạch. “Tặng Mạnh Hạo Nhiên”. NND dịch)
Hay Lý Bạch:
Lý Bạch đấu tửu thi bách thiên
Trường an thị thượng tửu gia mien
Thiên tử hô lai bất thướng thuyền
Tự xưng thần thị tửu trung tiên
Lý Bạch đấu rượu thơ trăm áng
Ngủ ngay quán rượu phố Trường An
Thiên tử gọi cũng chẳng lên thuyền
Tự xưng làng rượu thần là tiên
(Đỗ Phủ. “Ẩm trung bát tiên ca”. NĐN dịch)
Vua chúa trong chế độ phong kiến là quyền uy tuyệt đối tối thượng, nhưng khi chén rượu đã trên tay thì lệnh vua ý chúa cũng chẳng lọt tai người thơ đang say. Vì khi đó rượu và thơ là trên hết:
Hứng hàm lạc bút dao Ngũ Nhạc
Thi thành tiếu ngạo lăng Thương Châu
Say hứng bút vung mờ Ngũ Nhạc
Thơ thành cười nhạo át Thương Châu
(Lý Bạch. “Giang thượng ngâm”. TVL dịch)
Đến đây thì quyền uy của rượu và thơ, của thứ sức mạnh làm lung lay tất cả, vượt trên tất cả do rượu và thơ mang lại đã được nâng lên tới đỉnh cao tuyệt đối, tót vời!
Đương nhiên lác đác trong thơ Đường nói đến rượu đôi khi ta cũng bắt gặp đôi vầng mang hơi hướng của thứ nhân sinh quan sống gấp, kịp thời hành lạc:
Thân hậu đôi kim trụ Bắc Đẩu
Bất như sinh tiền nhất tôn tửu
Sau khi chết vàng cao như núi
Cũng chẳng bằng chén rượu hôm nay
(Bạch Cư Dị. “Khuyến Tửu”. TVL dịch)
Hay
Khuyến quân chung nhật mính đính túy
Tửu bất đáo Lưu Linh phần thượng thổ
Khuyên bạn cả ngày say ngất ngưỡng
Lúc đã xuống mồ, rượu chắc không
(Lý Hạ. “Tương Tiến Tửu”. NĐN dịch)
Nhưng nhìn bằng con mắt thực tế thì như thế cũng chẳng có gì không ổn.
*
Trên đây chỉ là mấy nét chấm phá về mối lương duyên giữa rượu và thơ trong vườn thơ Đường bao la đầy hương sắc. Hơn một trăm bài thơ rượu được dịch trong cuốn sách hôm nay đến với bạn đọc cũng chỉ là một phần rất nhỏ trong con số khổng lồ những bài thơ mà các thi sỹ thời Đường đã viết về rượu, viết trong rượu và viết nhờ rượu. Những người dịch cũng là những người suốt đời yêu thơ và rượu, và họ đã tìm được ở đây nơi gửi gắm cùng lúc cả hai niềm yêu đó. Họ đã cố gắng rất nhiều, nhưng không dám chắc là đã lột tả được hết qua các vầng thơ dịch sự kết hợp kỳ thú bậc nhất trong lịch sử nhân loại giữa hai sản phẩm văn hóa độc đáo là Rượu và Thơ. Dù sao việc làm của họ cũng giúp ích rất nhiều cho bạn đọc Việt Nam tiếp cận một thứ men say ngạt ngào tỏa hương từ mười mấy thế kỷ trước cho đến tận bây giờ và còn mãi mãi về sau – “Men rượu Đường thi”.
Vậy xin mời bạn đọc cùng thưởng thức.
Xuân Nhâm Thìn 2012
Giáo sư
Vũ Khiêu
___________________________________
Vương Tích (王績)
Vương Tích (585?–644?), tên tự là Vô Công, hiệu Đông Cao Tử, người ở huyện Long Môn, Giáng Châu (nay là Hà Tân; Sơn Tây). Thời đại nghiệp nhà Tùy (605 – 617) trúng khoa hiếu đễ liêm khiết, ra làm huyện thừa ở Lục Hợp. Đầu đời Đường có làm qua một số chức quan nhỏ nhưng chỉ được ít lâu lại treo mũ về quê. Ông hâm mộ Đào Uyên Minh, gửi lòng vào thơ và rượu. Thơ ông phần nhiều viết về đề tài điền viên sơn thủy, phong cách mạnh mẽ, tao nhã, cổ điển. Có Văn tập gồm 5 quyển.
***
TÚY HẬU
Nguyễn Tịch tỉnh thời thiểu
Đào tiềm túy nhật đa
Bách niên hà túc độ
Thừa hứng thả trường ca
Dịch nghĩa:
Nguyễn Tịch1 ít khi tỉnh. Đào tiềm2 nhiều ngày say. Trăm năm có gì đáng tính, thừa hứng ta cứ ca dài.
(1).Nguyễn Tịch (210 – 263), nhà thơ nước Ngụy thời Tam Quốc. Tính thích uống rượu, cùng với Sơn Đào, Kê Khang, Hướng Tú, Lưu Linh, Vương Nhung và Nguyễn Hàm xưng là “Trúc lâm thất hiền (7 người hiền trong rừng trúc)”,suốt ngày uống rượu và bài bác chính sự lúc bấy giờ. Tác phẩm tiêu biểu là “Vịnh hoài thi” gồm 28 bài. Có Nguyễn Bộ binh tập.
(2).Đào Uyên Minh (365 – 427),nhà thơ thời Đông Tấn, tên Tiềm, tự Nguyên Lượng. Làm qua chức quan nhỏ, sau từ quan về làm ruộng tự cung. Thích uống rượu, thưởng hoa cúc. Ông làm nhà thơ tiêu biểu cho phong trào cách mạng thơ điền viên. Có Đào Tính Tiết tập.
Nguyễn Tịch ít khi tỉnh
Đào Tiềm nhiều ngày say
Trăm năm được mấy độ
Thừa hứng cứ ca dài
Nguyễn Như Diệm dịch
Nguyễn Tịch mấy khi tỉnh
Đào Tiềm nhiều ngày say
Trăm năm là mấy chốc
Cao hứng hát suốt ngày
Nguyễn Bình Tuyển dịch
***
Quá tửu gia
Thử nhật trường hôn ẩm
Phi quan dưỡng tính linh
Nhãn khan nhân tận túy
Hà nhẫn độc vi tinh
Dịch nghĩa:
Qua Quán Rượu
Hôm nay ta uống rượu mãi đến người. Điều đó chẳng liên quan gì đến việc nuôi dưỡng tính cách. Nhưng mắt nhìn thấy người đời say cả, sao ta nỡ riêng mình mình tỉnh*!
(1)Gợi nhớ câu thơ Khuất Nguyên: “Chúng nhân giai túy ngã độc tỉnh (Mọi người đều say riêng ta tỉnh)”.
Hôm nay ta uống rượu đến mê người
Chẳng liên quan gì đến việc nuôi tính cách
Nhưng mắt nhìn thiên hạ say hết sạch
Riêng một mình ta tỉnh sao đang!
Nguyễn Như Diệm dịch
Hôm nay ta uống rượu say
Chẳng hề mong muốn đổi thay tính người
Thấy đời say cả mười mươi
Sao ta nỡ tỉnh lẻ loi một mình
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Vào quán rượu uống say mê mệt
Ngại gì đâu đến cái tính cái tâm
Trông ra người đời đều say hết
Riêng mình ta tỉnh có đành chăng?
Nguyễn Chí Tình dịch
____________________________________
Vương Bột (王勃)
Vương Bột (650-676), tự Tử An, người Long Môn, Giáng Châu (nay là Hà Tân, Sơn Tây). Xuất thân vọng tộc, ông nội Vương Thông là bậc đại nho cuối thời Tùy, 15 tuổi đi thi, được phong triều tán lang, được bát vương là Lý Hiền triệu làm thị độc trong vương phủ. Sau làm tham quân Quắc Châu (nay là Linh Báo Hà Nam). Năm 27 tuổi vượt biển theo cha làm Giao Chỉ lệnh, chết đuối trên đường đi.
Ông là một trong “tứ kiệt thời sơ Đường” (Ba người kia là Dương Quýnh, Lô Chiếu Lân, Lạc Tân vương), thơ ca mới mẻ thanh tú, chất phác tự nhiên, phần nhiều bộc lộ tình cảm cá nhân, cũng có những bài đả kích những mặt xấu xa của thời cuộc. Có Lạc Lâm hỉ tập. Trong toàn đường thi có 3 quyển thơ ông.
***
Thục trung cửu nhật
Cửu nguyệt cửu nhật vọng Hương đài
Tha tịch tha hương tống khách bôi
Nhân tình dĩ yếm Nam Trung khổ
Hồng nhạn ná tùng bắc địa lai.
Dịch nghĩa:
Này mồng chín ở đất Thục
Ngày mồng chín tháng chín1 ta lên đài ngóng quê2. Trên chiếu rượu nơi xa xứ cùng nâng chén tiễn khách. Lòng ta đã quá chán với cảnh khổ ở Nam Trung3 rồi, thế mà chim nhạn ở đất bắc còn bay về đây làm gì chứ!
1.Ngày 9 tháng 9: tức tiết trùng dương (hay trùng cửu).Vào ngày này người xưa có lục leo lên cao, giắt nhánh thù du lên đầu và uống rượu cúc. Thù du là một loại cây có mùi hương, người ta cho rằng có thể trừ tà, còn cúc là loài hoa riêng có của mùa thu, làm rượu uống thơm ngon, khoan khoái.
2.Vọng hương đài (Đài ngóng quê): ở phía Bắc Thành Đô.
3.Nam Trung: tức đất Thục.
Mùng chín tháng chín lầu Ngóng Quê
Chén rượu tha hương tiễn khách về
Lòng người đã ngán Nam Trung khổ
Nhạn từ phương Bắc tới đây chi!
Nguyễn Như Diệm dịch
______________________________________
ĐỖ THẨM NGÔN (杜審言)
Đỗ Thấm Ngôn (khoảng 645-708), tự Tất Giản, quê gốc Thương Dương (nay thuộc Tương Phàn, Hồ Bắc), bố ông di cư đến huyện Củng (nay là Củng Nghĩa, Hà Nam). Tiến sĩ đời Hàm Hanh (670-674), làm chức trực học sĩ ở Tu văn quán. Ông là ông nội của Đỗ Phủ, có ảnh hưởng nhất định đến Đỗ Phủ.
Thơ ông chủ yếu thổ lộ nỗi niềm xa xứ, miêu tả cảnh vật núi sông, cấu tứ nghệ thuật tinh tế, cách luật nghiêm chỉnh.
***
Hạ nhật quá Trịnh thất sơn trai
Đỗ Thẩm Ngôn
Cộng hữu tôn trung hảo
Ngôn tầm Cốc Khẩu lai
Bệ la sơn kính nhập
Hạ kỵ thủy đình khai
Nhật khí hàm tàn vũ
Vân âm tống vãn lôi
Lạc Dương chung cổ chí
Xa mã hệ trì hồi.
Dịch nghĩa:
Ngày hè qua sơn trai bảy Trịnh1
Chúng mình cùng thích rượu
Vì thế hôm nay tôi tìm đến sơn trai2 của anh
Bệ lệ, nữ la3 bò lan ra con đường nhỏ trên núi
Hoa sen hoa sung nở quanh thủy đình
Hơi nóng mặt trời thấm trong những hạt mưa rơi rớt lại
Bóng mây vang vọng tiếng sấm buổi chiều tà
Nghe tiếng chiêng trống từ phía Lạc Dương vọng tới
Đã đến lúc phải về rồi nhưng vẫn dùng dằng ghìm ngựa chưa muốn trở về.
(1)Bảy Trịnh: chắc là một bạn thân của tác giả
(2)Sơn trai: nguyên văn là “Cốc Khẩu”, tên một huyện đời Hán, nay ở phía đông huyện Lễ Tuyền tỉnh Thiểm Tây, là nơi đời Hán có cao sĩ là Trịnh Phác ẩn cư. ở đây mượn tích này để chỉ nơi ở của bảy Trịnh.
(3)Bệ lệ, nữ la: các loại cây dây leo thuộc họ địa y)
Cùng là dân thích men say
Nên tôi tìm đến nơi này cùng anh
Đường núi cây cỏ rợp xanh
Hoa sen hoa súng nở quanh ao làng
Mưa tan loang vệt nắng vàng
Mây đen chen tiếng sấm vang ỳ ầm
Lạc Dương chiêng trống nghe gần
Lên xe mà vẫn tần ngần chưa đi
Trần Vân Long dịch
Chúng mình rượu đều ham
Tôi tìm đến Cốc Khẩu
Đường mòn có bò lan
Thủy đình hoa sen nở
Nắng ấm hạt mưa tàn
Mây chiều vang tiếng sấm
Trống Lạc Dương vọng sang
Lên xe đi chẳng dứt
Nguyễn Đình Nhữ dịch
__________________________________
HẠ TRI CHƯƠNG (賀知章)
Hạ Tri Chương (659-khoảng 744), tự Quý Chân, người Vĩnh Hưng Việt Châu (nay là Tiêu Sơn Triết Giang). Tiến sĩ năm Võ Hậu Chững Thánh 1 (695), được phong quốc tử tứ môn bác sỹ, sau chuyển làm thái thường thiếu khanh. Thời Huyền Tông lần lượt làm Lễ bộ thị lang, thái tử tân khách, bí thư giám. Tính cách khoáng đạt tự do, cuối đời càng phóng túng, tự xưng là Tứ Minh Cuồng Khách. Thân với các nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ. Thơ ông phần lớn thất truyền. Có Hạ Bí Giám tập. Toàn Đường thi có 1 quyển thơ ông.
***
Đề Viên thị biệt nghiệp
Hạ Tri Chương
Chủ nhân bất tương thức
Ngẫu tọa vi lâm tuyền
Mạc mạn sầu cô tửu
Nang trung tự hữu tiền.
Dịch nghĩa:
Đề nhà riêng họ Viên
Chủ nhân không quen biết ta, tình cờ ta đến đây ngồi vì thích cảnh rừng suối. Đừng lo phải mua rượu đãi khách. Trong túi ta có tiền ta khắc tự mua.
Dịch thơ:
Chủ nhân nào có biết ta
Thấy rừng suối đẹp ghé qua ta ngồi
Đừng lo tốn rượu đãi người
Túi ta đã sẵn tiền rồi, yên tâm!
Nguyễn Như Diệm dịch
_________________________
TRẦN TỬ NGANG (陳子昂)
Trần Tử Ngang (659-700), tự Bá Ngọc, người Xạ Hồng, Tử Châu (nay thuộc Tứ Xuyên). Tiến sĩ năm Khai Diệu 2 (681), Cao Tông. Thời Võ Hậu làm võ thập di, nói thẳng, giám can gián, từng hai lần tòng quân đến biên giới phương bắc. Năm Thánh Lịch 1 (689), từ quan về quê, sau bị huyện lệnh Đoàn Giản hãm hại, chết trong ngục.
Thơ ông phong cách cao vợi, ý tứ hồn hậu chất phác, không thích gọt giũa chau chuốt. Có Trần Bá Ngọc văn tập. Trong Toàn Đường thi ông có 2 quyển.
Xuân dạ biệt hữu nhân
Trần Tử Ngang
Ngân chúc thổ thanh yên
Kim tôn đối ỷ diên
Ly đường tư cầm sắt
Biệt lộ nhiễu sơn xuyên
Minh nguyệt ẩn cao thụ
Trường hà một hiểu thiên
Du du Lạc Dương đạo
Thử hội tại hà niên.
Dịch nghĩa:
Đêm xuân giã bạn
Nến bạc tỏa khói xanh. Ta nâng chén vàng trước tiệc ngon. Ở lầu chia tay mọi người thèm có tiếng đàn cầm. Con đường ly biệt vòng vèo sông núi. Trăng sáng bị cây cao che khuất. Ngân hà chìm đi lúc trời sáng. Đường tới Lạc Dương vời vời xa. Biết năm nào lại có cuộc hội ngộ như thế này?
Nến bạc nhả khói xanh bay
Chén vàng đưa tiễn khi đầy khi vơi
Đường biệt ly vòng vèo sông núi
Lầu chia tay nhớ tiếng sắt cầm
Cây cao che khuất ánh trăng
Bình minh lên giải sông Ngân nhạt mờ
Lạc Dương xa lắc xa lơ
Hội này biết đến bao giờ diễn ra?
Trần Vân Long dịch
Nến trong cháy tỏa khói xanh
Chén vàng chuốc rượu trong lành tiệc ngon
Chia tay nhớ tiếng đàn cầm
Đường đi uốn lượn xoay vần núi sông
Cây cao che ánh trăng ngần
Bình minh khuất bóng sông Ngân trên trời
Lạc Dương đường ấy xa vời
Biết năm nạo lại được ngồi bên nhau?
Nguyễn Đình Nhữ dịch.
Nến bạc lâng lâng tỏa khói xanh
Chén vàng trước tiệc tiễn đưa anh
Xa nhau nhớ tiếng đàn ai đó
Lối nhỏ chia tay uống khúc quanh
Trăng sáng khuất sau hàng cây lớn
Ngân hà mất bóng trước bình minh
Lạc Dương đường đến xa vời vợi
Biết đến năm nao lại gặp mình?
Nguyễn Chí Tình dịch.
_____________________________
VƯƠNG HÀN (王翰)
Không rõ năm sinh năm mất. Tự là Tử Vũ, người Tịnh Châu, Tấn Dương (nay là Thái Nguyên, Sơn Tây). Tiến sĩ năm Cảnh Vân 1 đời Duệ Tông (710). Được phong chính tự Bí thư sảnh, rồi cát nhắc lên làm thông sự xá nhân, chuyên làm giá bộ ngoại lang. Sau làm trưởng sử Nhữ Châu, chuyển làm biệt giá Tiên Châu rồi bị biếm làm tư mã Đạo Châu. Ông thiên viết về đòi sống biên tái, đặc biệt sở trường về đòi sống tinh thần nhân vật. Trong Toàn Đường thi có 1 quyển thơ ông (13 bài).
***
Lương Châu từ
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
Dịch nghĩa:
Lương Châu từ1
Rượu ngon bồ đào đựng trong chén dạ quang2. Sắp nâng chén thì đội nhạc liền tấu đàn tỳ bà trên lưng ngựa thôi thúc trợ hứng 3. Uống đi nếu có say nắm lăn ra giữa chốn sa trường thì bạn cũng đừng cười. xưa nay chinh chiến có mấy người trở về đâu!
Rượu bồ đào chén dạ quang
Tỳ bà lưng ngựa rộn ràng tấu vui
Uống đi, say bạn đừng cười
Sa trường tự cổ mấy người về đâu
Nguyễn Như Diệm dịch
Chén dạ quang rượu quý bồ đào
Tỳ bà lưng ngựa cổ vũ nhau
Say kềnh giữa trận đừng cười nhé
Sa trường sống sót mấy ai đâu
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Rượu bồ đào chén dạ quang
Nâng ly uống giữa tiếng đàn sục sôi
Say nằm chiến địa đừng cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về
Trần Vân Long dịch
Này rượu bồ đào chén dạ quang
Từ trên lưng ngựa dục cung đàn
Cười chi giữa trận ta say ngã
Chinh chiến xưa nay mấy kẻ còn
Nguyễn Chí Tình dịch
Bồ đào ngon lắm ai ơi
Chén dạ quang rót xin mời nâng ly
Tỳ bà giục hãy xuống đi
Sa trường nằm xỉn có chi đáng cười
Xưa nay hỏi có mấy người
Đánh nhau sống sót rời nơi chiến trường?
Nguyễn Bình Tuyển dịch
_______________________________
VƯƠNG CHI HOÁN (王之渙)
Vương Chi Hoán (688-742), tự Quý Lăng, quê gốc Tấn Dương (Thái Nguyên, Sơn Tây ngày nay), đời thứ 5 di cư đến Giáng Quận (nay là Tân Giáng, Sơn Tây). Đầu thời Khai Nguyên (713-742) làm chủ bạ huyện Hành Thủy, Ký Châu (nay thuộc Hà Bắc), bị vu cáo bèn từ quan. Chu du 15 năm, dấu chân đặt khắp vùng nam bắc Hoàng Hà. Cuối đời làm huyện úy Văn An (nay thuộc Hà Bắc), mất tại nhiệm sở. Ông là một trong những nhà thơ biên tai nổi tiếng thời thịnh Đường. Nhưng thơ ông phần lớn thất truyền. Trong Toàn Đường thi chỉ còn 6 bài tuyệt cú.
***
Cửu nhật tống biệt
Vương Chi Hoán
Kế đình tiêu sắt cố nhân hy
Hà xứ đăng cao thả tống quy
Kim nhật tạm đồng phương cúc tửu
Minh triêu ứng tác đoạn bồng phi.
Dịch nghĩa:
Ngày mồng chín tiễn nhau
Kế đình hưu hắt, bạn cũ thưa thớt. Đâu là chỗ lên cao rồi tiễn nhau đi. Hôm nay ta tạm cùng nhau uống rượu cúc thơm. Sáng mai lại như cỏ bồng đứt gốc bay tan tác vậy.
Kế Đình hiu hắt bạn cũ đây
Nào chốn lên cao để chia tay
Nay tạm cùng say ly rượu cúc
Mai người một ngả cỏ bồng bay
Nguyễn Như Diệm dịch
Hơi thu lạnh lẽo gió heo may
Lưa thưa bạn cũ mấy thày mà thôi
Dắt nhau lên núi ta ngồi
Mượn hương rượu cúc cho vơi nỗi buồn
Sớm mai như đám cỏ bồng
Đứt lìa khỏi gốc thinh không bay vèo
Trần Vân Long dịch
__________________________________________
MẠNH HẠO NHIÊN (孟浩然)
Mạnh Hạo nhiên (689-740), người Tương Dương (Tương Phàn, Hồ Bắc ngày nay). Lúc trẻ ấn cư ở núi Lộc Môn. Thời Khai Nguyên du ngoạn Trường An, thi tiến sĩ không đỗ, bèn chu du vùng Giang Hoài, Ngô Việt, Tương Cám, rồi quay về Tương Dương, suốt đời không làm quan. Phần lớn cuộc đời ông sống ở Tương Dương.
Phong cách thơ ông thanh đạm, thường phản ánh đời sống của ngưới ẩn dật và miêu tả thiên nhiên. Ông sở trường về ngũ ngôn luật thi. Thi nhân đời Đường ngoài Lý Bạch phải kể đến Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên. Đó là do hai ông đã có những thành tựu đặc sắc về miêu tả sơn thủy, điền viên. Ông có Mạnh Hạo Nhiên tập. Trong Toàn Đường thi có 2 quyển thơ ông.
***
Yến Mai đạo sĩ sơn phòng
Mạnh Hạo Nhiên
Lâm ngọa sầu xuân tận
Khiên duy lãm vật hoa
Hốt phung thanh điểu sứ
Yêu nhập xích tùng gia
Kim táo sơ khai hỏa
Tiên đào chính phát hoa
Đồng nhan nhược khả trú
Hà tích túy Lưu Hà.
Dịch nghĩa:
Dự tiệc tại sơn phòng của đạo sĩ Mai
Nằm trong chốn sơn lâm buồn vì ngày xuân sắp hết. Vén mành cửa sổ nhìn cảnh sắc rực rơ bên ngoài. Bỗng có vị sứ của tiên nhân 1 tới mời ta vào nhà của Xích Tùng 2. Bếp vàng 3 vừa nhóm lửa, đào tiên 4 đang đúng lúc nở hoa. Ôi, nếu giữ mãi được vẻ mặt trẻ thơ thì ta chẳng tiếc suốt ngày say với rượu Lưu Hà 5!
(1)Thanh điểu sứ: sứ giả của tiên nhân. Ở đây chỉ người đạo sĩ Mai cử đến mời Mạnh Hạo Nhiên.
(2)Xích Tùng gia: nhà của Xích Tùng tử, ở đây chỉ đạo sĩ Mai
(3)Kim táo (lò vàng): chỉ lò luyện đan của Đạo gia
(4)Tiên đào (đào tiên)chỉ cây đào bên ngoài nhà
(5)Lưu Hà: tên loại rượu tiên. Sách Bão Phác tử của Cát Hồng ghi: “Hạng Man Tư vào núi học tiên, mười năm không trở về. Người nhà hỏi lý do, ông ta nói: Có tiên nhân một chén Lưu Hà, uống vào không cảm thấy đói khát nữa”
Nằm dài thương tiếc xuân qua
Vén rèm ngắm cảnh có hoa bên ngoài
Chợt thấy Thanh điểu đến mời
Ta liền cất bước chơi nơi Xích Tùng
Bếp vàng nhen nhóm lửa nồng
Đào tiên đang lúc rực hồng nở hoa
Nếu được trẻ mãi không già
Tiếc chi chẳng uống Lưu Hà cho say
Trần Vân Long dịch
Nằm dài trong chốn sơn Lâm
Lòng buồn bởi nghĩ ngày xuân sắp tàn
Vén mành bỗng thấy bàng hoàng
Vì chưng cảnh sắc huy hoàng quanh ta
Chợt kia sứ giả tới nhà
Ấy là người của bạn ta đến mời
Sang nhà của đạo sỹ Mai
Cùng là tri kỷ ở nơi núi rừng
Bếp vàng nổi lửa bập bùng
Ngoài sân đào đã tưng bừng nở hoa
Sao cho chẳng biết tuổi già
Để ta mãi mãi vẫn là trẻ thơ
Thì bao chuyện khác đều thừa
Ta ôm vò rượu say sưa suốt ngày
Nguyễn Chí Tình dịch
***
Thu đăng Lan Sơn Ký Trương Ngũ
Mạnh Hạo Nhiên
Bắc sơn bạch vân lý
Ẩn giả tự di duyệt
Tương vọng thí đăng cao
Tâm tùy nhạn phi diệt
Sầu nhân bạc mộ khởi
Hứng thị thanh phu phát
Thời kiến quy thôn nhân
Sa hành độ đầu yết
Thiên biên thụ nhược tề
Giang bạn châu như nguyệt
Hà đương tải tửu lai
Cộng túy trùng dương tiết.
Dịch nghĩa:
Mùa thu lên Lan Sơn Gửi năm Trương
Trong mây trắng trên bắc sơn kẻ ở ẩn tự vui thú với mình. Ta thư lên cao trông về phía bạn. Lòng theo cánh nhạn bay tới nơi xa tít. Nỗi buồn nhân buổi chiều mong manh dấy lên, niềm hứng do mùa thu trong trẻo khơi dậy. Phóng tầm mắt nhìn ra xa thấy người về làng ngồi nghỉ trên bãi cát đầu bến. Cây cối bên trời nhỏ như cây rau tề, bãi cồn ven sông nhỏ như vầng trăng. Lúc nào bạn có thể chở rượu đến để cùng nhau uống say vào tiết trùng dương?
Bác sơn mây trắng phủ
Ẩn giả lòng thảnh thơi
Thử lên cao trông vời
Lòng hút theo cánh nhạn
Chiều mỏng gây sầu cảm
Thu trong gợi hứng hồn
Người lác đác về thôn
Dừng chân đầu bến nghỉ
Cây bên trời bé tý
Bãi sông tựa trăng soi
Lúc nào rượu tới nơi
Cùng say ngày trùng cửu?
Nguyễn Như Diệm dịch
Núi Bắc giữa ngàn mây
Ẩn sỹ tự vui vầy
Thử lên cao ngóng bạn
Lòng theo cánh nhạn bay
Sắc chiều gieo sầu muộn
Tiếng thu gọi hứng say
Dân quê đang về bản
Nghỉ chân bến cát ngoài
Chân trời cây giống cỏ
Cồn cát tựa trăng gầy
Lúc nào thì rượu tới
Để trùng dương cùng say?
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Núi Bắc mây trắng dày
Ẩn sỹ thanh thoát bay
Lên đỉnh cao chót vót
Hồn theo cánh nhạn bay
Khí thu cực trong trẻo
Chiều về buồn dâng đầy
Bãi sông cát phẳng thay
Người về thôn ngồi nghỉ
Bên trời cây nhỏ tý
Đảo bé tựa bàn tay
Bao giờ rượu đến nhỉ
Trùng cửu uống cho say
Trần Vân Long dịch
***
Quá cố nhân trang
Mạnh Hạo Nhiên
Cố nhân cụ kê thử
Yêu ngã chí điền gia
Lục thụ thôn biên hợp
Thanh sơn quách ngoại tà
Khai hiên diện trường phố
Bả tửu thoại tang ma
Đãi đáo trùng dương nhật
Hoàn lai tựu cúc hoa.
Dịch nghĩa:
Qua trang viên bạn cũ
Bạn cũ làm sẵn gà và xôi nếp mời ta đến điền gia. Cây xanh vây bọc xung quanh thôn, núi biếc chênh chếch bên ngoại thôn. Cửa số nhìn thẳng ra sân đập lúa và vườn ra quả. Bạn mang rượu ra cùng uống vừa nói chuyện dâu đay. Đợi đến ngày trùng dương ta lại về đây tề tựu bên hoa cúc.
Bạn cũ có xôi, gà
Rủ mình đến điền gia
Thôn xanh hoa lá rợp
Núi biếc chếch ngoài xa
Mở cửa ngắm vườn tược
Uống rượu, chuyện dưa cà
Trùng dương lại đến nhé
Cùng ngắm cúc nở hoa
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Bạn cũ có xôi, gà
Lại có ý mời ta
Một làng cây xanh biếc
Mờ mờ rặng núi xa
Bạn cùng ta uống rượu
Nói rặt chuyện nông gia
Đợi đến ngày trùng cửu
Lại về cùng cúc hoa
Trần Vân Long dịch
Xôi, gà đã sắp sẵn
Bạn mời ta đến nhà
Quanh thôn cây xanh ngắt
Núi tím biếc xa xa
Qua cửa sổ ta thấy
Sân đạp lúa, vườn cà
Rượu rót ta cùng bạn
Hàn huyên say la đà
Hẹn ngày trùng dương tới
Lại tề tựu bên hoa
Lê Sơn dịch
Bạn cũ sẵn xôi gà
Mời ta đến nhà chơi
Cây xanh vây quanh xóm
Núi biếc chếch ngoài trời
Mở cửa nhìn vườn tược
Uống rượu bàn dâu đay
Đợi đến ngày trùng cửu
Cúc nở, lại về đây
Nguyễn Bình Tuyển dịch
______________________________________
LÝ KỲ (李頎)
Lý Kỳ (690-751), người Dĩnh Dương (vùng tây nam Đăng Phong, Hà Nam ngày nay). Tiến sĩ thời Khai Nguyên, làm huyện úy Tân Hương, sau bỏ chức về ở ẩn ở Đông Xuyên.
Thơ ông nội dung rộng rãi, đề cập đến biên tái, âm nhạc, du hiệp, núi rừng, huyền học…, đặc biệt nổi về thơ biên tái. Thơ biên tái của ông phong cách hào phóng, đặc sắc nhất là thơ thất ngôn ca hành. Có Lý Kỳ thi. Trong Toàn Đường thi ông có 3 quyển.
***
Cầm ca
Lý Kỳ
Chủ nhân hữu tửu hoan kim tịch
Thỉnh tấu minh cầm Quảng Lăng khách
Nguyệt chiếu thành đầu ô bán phi
Sương thê vạn mộc phong nhập y
Đồng lô hoa chúc chúc tăng huy
Sơ đàn lục thủy hậu sở phi
Nhất thanh dĩ động vật giai tĩnh
Tứ tọa vô ngôn tinh dục hy
Thanh Hoài phụng sứ thiên dư lý
Cảm cáo vân sơn tòng thử thủy.
Dịch nghĩa:
Đàn ca
Chủ nhân có rượu vui đêm nay, lại mời khách Quảng Lăng 1 tấu đàn cầm. Trăng chiếu đầu thành quạ bay xao xác. Sương rơi lạnh cây cối gió luồn vào trong áo. Hỏa lò bằng đồng đèn đuốc sáng rực. Trước đàn lục thủy sau đàn sở phi 2. Một tiếng đàn ngân lên mọi vật đều lặng ngắt. Bốn bên cử toạ im phăng phắc, sao trời cùng muốn thưa đi. Ta phụng mệnh công cán Thanh Hoài2 ngoài nghìn dặm. Giám xin báo với núi mây bắt đầu xuất phát từ đây4.
(1)Khách Quảng Lăng: chỉ những người khách sành về đàn nhạc. Thời Tam Quốc, Kê Khang (223-262) giỏi đàn cầm, Quảng Lăng tán là khúc nhạc ông thành thạo nhất. Đời sau gọi những người có ngón đàn cao siêu là khách Quảng Lăng.
(2)Lục thủy, sở phi: là tên các bản đàn
(3)Thanh Hoài: tức Hoài Hà, lúc này Lý Kỳ làm Tân Hương úy, gần Hoài Hà, cách kinh thành trên nghìn dặm
(4)câu này có hai cách hiểu: có người hiểu là buổi bắt đầu đi nhậm chức, có người lại hiểu là bỏ chức về ở ẩn cùng núi mây.
Chủ nhân mở tiệc liên hoan
Lại mời ban nhạc tấu đàn đêm nay
Trăng rọi thành quạ bay xao xác
Gió luồn mành lạnh buốt xương da
Lư đồng rực rỡ nến hoa
Trước chơi “lục thủy” sau là “sở phi”
Tiếng đàn vút, bặt đi vạn vật
Bốn bề im vắng ngắt sao trời
Làm quan ngàn dặm xứ người
Sao bằng về ngắm mây trời quê hương
Trần Vân Long dịch
Chủ nhân có rượu vui đêm nay
Mời khách Quảng Lăng tấu nhạc khúc
Trăng chiếu đầu thành quạ loạn bay
Gió luồn trong áo, sương lạnh cây
Lư đồng hoa nến thêm rặng rỡ
“Lục thủy”, “Sở phi” luyến liền tay
Một tiếng đàn ngân đêm lạnh ngắt
Sao dường thưa, cử tọa im ngay
Thanh Hoài phụng mệnh ngoài nghìn dặm
Dám cáo từ nay bạn núi mây
Nguyễn Bình Tuyển dịch
***
Tống Trần Chương Phủ
Lý Kỳ
Tứ nguyệt nam phong đại mạch hoàng
Táo hoa vị lạc đồng diệp trường
Thanh sơn triêu biệt mộ hoàn kiến
Tê mã xuất môn tư cựu hương
Trần hầu lập thân hà thản đãng
Cầu tu hổ mi nhưng đại tảng
Phúc trung trữ thư nhất vạn quyển
Bất khẳng đê đầu tại thảo mãng
Đông môn cô tửu ẩm ngã tào
Tâm khinh vạn sự như hồng mao
Túy ngọa bất tri bạch nhật mộ
Hữu thời không vọng cô vân cao
Trường hà lãng đầu liên thiên hắc
Tân khẩu đình chu độ bất đắc
Trịnh quốc du nhân vị cập gia
Lạc Dương hành tử không than tức
Văn đạo cố lâm tương thức đa
Bãi quan tạc nhật kim như hà.
Dịch nghĩa:
Tiễn Trần Chương Phủ 1
Tháng tư gió nam thổi đại mạch chín vàng. Hoa táo chưa rụng lá ngô đồng mọc dài. Rặng núi xanh sáng giã biệt chiều lại nhìn thấy. Ngựa hý vang ra khỏi cửa nhớ về quê cũ.
Trần Hầu2 tính cách sao mà rộng rãi cởi mở. Râu quăn mày xếch lại thêm trán rộng. Trong bụng chứa sách một vạn quyển. Chẳng chịu cúi đầu ở trong chốn thảo dã. Mua rượu đãi bọn chúng tôi ở cửa phía đông 3. Lòng xem mọi chuyện nhẹ như long hồng. Uống rượu say nằm chẳng biết là ngày đã về chiều. Có lúc lại bang quơ đám mây cô đơn trên trời cao.
Sông dài đầu sóng đen kịt tới chân trời. Dừng tuyền ở bến sông không qua được. Khách lãng du nước Trịnh 4 chưa về tới nhà. Người lữ hành đát Lạc Dương5 chỉ ta thán suông.
Nghe nói ở quê cũ có nhiều người quen biết. Hôm qua ông bãi quan không biết hôm nay như thế nào ?
(1)Trần Chương Phủ: bạn thơ của tác giả, người Giang Lăng quê gốc Trịnh Châu, cư trú lâu dài ở Hà Nam. Ông là người tài kiêm văn võ, chí hướng phi thường, nhưng có tài mà không được dùng vào vị trí xứng đáng. Sauk hi bãi quan quay về Lạc Dương. Nhà thơ làm bài này để tặng lúc chia tay. Bút điệu nhẹ nhõm phong cách hào sảng, không vì thất ý mà lời lẽ thê thiết, không vig li biệt mà từ ngữ bi lụy, là một phong cách mới trong thể lọi thơ tiễn biệt.
(2)Trần Hầu: cách gọi tôn kính đói với Trần Chương Phủ.
(3)Cửa đông thành Lạc Dương
(4)Khách lãng du nước Trịnh: tác giả tự chỉ mình, lúc này đang làm huyện úy Tân Hương thuộc nước Trịnh
(5)Người lữ hành đất Lạc Dương: Chỉ Trần Chương Phủ lúc này ở Lạc Dương, Hà Nam.
Tháng tư đại mạch chín vàng
Hoa táo chưa rụng gió nam thổi hoài
Ngô đồng lá nhỏ rũ dài
Nhớ quê tiếng ngựa cửa ngoài hý ran
Núi xanh xanh biết đại ngàn
Sáng chia tay lại chiều tàn thấy ngay
Trần Hầu dáng vẻ oai thay
Thân cao trang rộng mày dày râu quăn
Trong đầu sách chứa nghìn trăm
Chẳng cam chịu cảnh tối tăm mịt mùng
Cửa đông ngày ấy tưng bừng
Anh em uống cạn muôn chum rượu đào
Sự đời coi tựa hồng mao
Rượu say chẳng biết khi nao tối ngày
Ngẩn đầu ngắm áng mây bay
Xoay lưng thấy cảnh sông dài sóng xô
Neo thuyền đậu lại bên bờ
Chẳng sang ta lại nằm chờ đến mai
Khách chơi nước Trịnh kìa ai
Lạc Dương bác biết có vui vẻ gì
Bạn thân kẻ ở người đi
Từ quan bữa trước nay thì ra sao?
Trần Vân Long dịch
***
Tống thiếu phủ Đông Khê phiếm chu
Lý Kỳ
Đăng ngạn hoàn nhập chu
Thủy cầm kinh tiếu ngữ
Vãn diệp đê chúng sắc
Thấp vân đới tàn thự
Lạc nhật thừa túy quy
Khê lưu phục kỷ hứa.
Dịch nghĩa:
Thiếu phủ họ Tống bơi thuyền ở Đông khê
Mọi người lên bờ rồi lại quay vào thuyền. Tiếng nói cười râm ran làm kinh động bầy thủy cầm. Mưa làm cho lá cây nhiều màu sắc rủ xuống. Mây ẩm ướt còn mang chút hơi nóng sót lại. Ngày tàn say khướt trở về. Khe suối cứ chảy dài chẳng biết tới đâu.
Lên bờ rồi lại xuống thuyền
Nói cười kinh động lũ chim sâm cầm
Mưa chiều sắc lá âm âm
Lọt mây chút ánh nắng vàng nhạt đi
Ngày tàn say khướt trở về
Suối tuôn róc rách tỷ tê đêm trường
Trần Vân Long dịch
Lên bờ rồi lại xuống thuyền
Thủy cầm kinh sợ huyên thuyên tiếng cười
Mưa rơi cành lá tả tơi
Không gian mang chút nóng trời trong mây
Ra về đêm xuống người say
Dưới khe nước vẫn đêm ngày mãi trôi
Nguyễn Đình Nhữ dịch
_______________________________________
VƯƠNG XƯƠNG LINH (王昌齡)
Mất khoảng 756. Tự Thiếu Bá, người Trường An, Kinh Triệu (Tây An, Thiểm Tây ngày nay). Tiến sĩ năm Khai Nguyên 15 (727). Được phong hiệu thư lang Bí thư sảnh. Năm Khai Nguyên 22 (734) lại trúng bác học hoăng từ khoa, được phong Tỷ Thủy úy (Tỷ Thủy gần huyện Củng, Hà Nam ngày nay). Sau đó liên tục bị biếm trích. Cuối đời bị biếm làm Long Tiêu úy (Long Tiêu ở Kiểm Dương, Hồ Nam ngày nay). Trong cuộc dấy loạn An-Sử, bị thứ sử Hào Châu là Lư Khẩu Hiểu sát hại.
Vương Xương Linh thiên về đề tài biên tái, cung oán, giỏi khắc họa tâm lý nhân vật. Có Vương Xương Linh tập. Trong Toàn Đường thi, ông có 4 quyển.
***
Tống Ngụy Nhị
Vương Xương Linh
Túy biệt giang lâu quất dữu hương
Giang phong dẫn vũ nhập chu lương
Ức quân dao tại Tiêu Tương nguyệt
Sầu thính thanh viên mộng lý trường.
Dịch nghĩa:
Tiễn hai Ngụy
Rượu say rồi chia tay ở lầu bên sông hương quất bưởi thơm lừng. Gió sông đưa hơi mưa vào thuyền mát rượi. Giờ nhớ bạn đang ở xa tít mãi vùng Tiêu Tương đầy ánh trăng. Trong mơ buồn nghe tiếng vượn kêu lảnh lót kéo dài.
Lầu bên sông ngát hương cúc bưởi
Gió đưa mưa mát rượi vào thuyền
Chia tay khi ấy say mềm
Nhớ anh giờ ở xa miền Tiêu Dương
Mênh mang trăng dọi đêm trường
Sầu nghe tiếng vượn vấn vương mộng hồn
Nguyễn Như Diệm dịch
Tiễn nhau say khướt quán ven giang
Mưa bụi, bưởi thơm, gió lộng khoang
Giờ ở Tiêu Dương đầy trăng sáng
Bạn buồn nghe vượn hú mênh manh
Nguyễn Xuân Dũng dịch
__________________________________
VƯƠNG DUY (王維)
Vương Duy (701-761), tự Ma Cật, quê đất Kỳ, Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, Sơn Tây), theo cha di cư đến Bồ Châu (nay là Vĩnh Tế, Sơn Tây). Tiến sĩ năm Khai Nguyên 9 (721), làm quan đến chức cấp sự trung. Trong thời kỳ loạn An-Sử, bị quân phản loạn bắt, sau loạn bị giáng làm thái tử trung doãn. Về sau làm quan đến thượng thư hữu thừa, nên được gọi là Vương Hữu Thừa. Cuối đời ở Vòng Xuyên, Lam Điền, sống cuộc đời nhàn nhã dở quan dở ẩn.
Vương Duy đa tài nghệ, thi thư họa nhạc thứ gì cũng tinh thông. Về thơ ông làm nhiều thể loại, đặc biệt nổi về ngũ ngôn luật thi và ngũ ngôn tuyệt cú, sánh ngang Mạnh Hạo Nhiên, đều là những nhà thơ tiêu biểu cho trường phái sơn thủy điền viên thời thịnh Đường. Phong cách thơ ông trang nhã trong sáng, mang chất thiền. Có Vương hữu thừa tập. Trong Toàn Đường thi ông có 4 quyển.
***
Tống biệt
Vương Duy
Hạ mã ẩm quân tửu
Vẫn quân hà sở chi
Quân ngôn bất đắc ý
Quy ngọa Nam Sơn thùy
Đã khứ mạc phục vấn
Bạch vân vô tận thì.
Dịch nghĩa:
Tiễn biệt
Xuống ngựa mời bạn uống rượu để tiễn biệt. Hỏi bạn bây giờ này đi đâu. Bạn nói mình bất đắc ý, về nằm cạnh núi Nam Sơn. Bạn đi, tôi không hỏi lại nữa. Ấy là lúc mây trắng nhàn nhã trôi vô tận.
Xuống ngựa uống rượi cùng anh
Hỏi anh giờ định xuất hành nơi nao
Anh rằng đời chẳng ra sao
Nam Sơn núi ấy ta vào nằm chơi
Anh đi tôi chẳng nhiều lời
Mênh mang mây trắng bên trời mãi bay
Nguyễn Như Diệm dịch
Xuống ngựa tiệc rượu bày
Hỏi anh chuyện dở hay
Anh rằng chẳng như ý
Về núi Nam nằm say
Đã đi, không hỏi nữa
Mây trắng vô tận bay
Trần Vân Long dịch
Xuống ngựa mời bác rượu
Hỏi bác đi đâu ta
Bác nói cực chẳng đã
Về Nam Sơn nằm nhà
Bác đi, không hỏi nữa
Mây nhàn trôi trùng xa
Nguyễn Bình Tuyển dịch
***
Hán Giang lâm phiếm
Vương Duy
Sở tái tam tương tiếp
Kinh Môn cửu phái thông
Giang lưu thiên địa ngoại
Sơn sắc hữu vô trung
Quận ấp phù tiền phố
Ba lan động viễn không
Tương Dương hảo phong nhật
Lưu túy dữ sơn ông.
Dịch nghĩa:
Đi thuyền trên sông Hán Giang 1
Vùng biên tái nước Sở2 tiếp liền với Tam Tương3. Dưới núi Kinh Môn 4 chín nhánh Trường Giang nối liền nhau. Sông nước như chảy bên ngoài trời đất, màu núi dường có lại dường không. Châu thành5 nổi lên trước bến sông. Sóng nước trấn động chân trời xa. Vùng Tương Dương6 phong cảnh đẹp quá! Ta muốn ở lại cùng say với ông lão miền núi7
(1)Hán Giang: còn gọi là sông Hán Thủy, nhánh lớn nhất của sông Trường Giang, bắt nguồn từ huyện Ninh Cường tỉnh Thiểm Tây, đổ vào Trường Giang ở thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc
(2)chỉ vùng lưu vực sông Hán Thủy
(3)Tam Tương: Ly Tương, Chưng Tương và Tiêu Tương.
(4)Kinh Môn: ngọn núi ở phía tây Hán Giang, phía nam Kinh Môn (Hồ Bắc ngày nay)
(5)ở đây chỉ Tương Dương
(6)Vùng Tương Dương nay thuộc Hồ Bắc
(7)Nguyên văn “sơn ông” chỉ Sơn Giản đời Tấn, con Sơn Đào, một trong “Trúc Lâm thất hiền”. Từng là chinh nam tướng quân, trấn thủ Tương Dương, thường say rượu.
Qua sở đến Tam Tương
Kinh Môn nối chín luồng
Sông chảy ngoài trời đất
Sắc núi cõi vô thường
Làng mạc nổi trước bến
Sóng vang động thiên đường
Tương Dương phong cảnh tuyệt
Dừng say với già mường
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Nước sở liền Tam Tương
Kinh Môn chín nhánh thông
Sông chảy ngoài trời đất
Sắc núi có dường không
Châu Thành nhô trên sông
Sóng xao động tầng không
Tương Dương phong cảnh đẹp
Dừng say cùng Sơn Ông
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Tống nguyên nhị sứ An Tây
Vương Duy
Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.
Dịch nghĩa:
Tiễn hai Nguyên 1 công cán An Tây 2
Con mưa sáng ở Vị Thành3 làm ướt đám bụi nhẹ. Nơi quán khách mầu liễu xanh xanh như lới lại. Sắp chia tay rồi hãy cạn thêm với tôi chén rượu nữa kẻo ra khỏi Dương Quan 4 đi về phía Tây là không còn bạn cũ nữa đâu.
(1)Hai Nguyên: bạn của tác giả
(2)An Tây: tức là An Tây đô hộ phủ (Viết Nam lúc bấy giờ là An Nam đô hộ phủ). Trị sở tai Khổ Xa, Tân Cương ngày nay.
(3)Vị Thành: tại vờ Bắc sông Vị Thủy, phía tây bắc Tây An ngày nay.
(4)Dương Quan: tại phía tây nam Đôn Hoàng ngày nay.
Sáng ra mưa ướt Vị Thành
Liễu nơi quán khách xanh xanh ngời
Cạn thêm chén nữa bạn ơi
Dương quan ra khỏi còn người quen đâu!
Nguyễn Như Diệm dịch
Quán bên sắc liễu xanh xanh
Sáng nay bụi ướt Vị Thành mưa rơi
Khuyên anh uống cạn chén mời
Dương Quan biết có ai người cố tri
Trần Vân Long dịch
***
Lâm hồ đình
Vương Duy
Khinh chu nghinh thượng khách
Du du hồ thượng lai
Đương hiên đối tôn tửu
Tứ diện phù dung khai.
Dịch nghĩa:
Lầu nhỏ bên hồ
Thuyền nhẹ đón thượng khách ung dung từ trên hồ tới. Lên bờ ngồi uống rượu giữa hiên lầu. Hoa sen nở đầy bốn xung quanh.
Thuyền nhẹ đón thượng khách
Ung dung từ hồ lên
Giữa đêm ngồi nâng chén
Sen nở đầy bốn bên.
Nguyễn Như Diệm dịch\
Thuyền nhẹ ta cùng bạn
Trên mặt hồ lang thang
Tâm nhàn ta nâng chén
Ngào ngạt bốn bề sen
Trần Vân Long dịch
***
Tống xuân từ
Nhật nhật nhân không lão,
Niên niên xuân cánh quy.
Tương hoan tại tôn tửu,
Bất dụng tích hoa phi.
Dịch nghĩa
Lời tiễn xuân
Ngày lại người cứ già đi, còn xuân thì hàng năm đều trở về. Vui cùng nhau đã có chén rượu. Vậy nên chẳng phải buồn tiếc chuyện hoa rụng làm gì (vì đó là lẽ tự nhiên)!
Người ngày ngày già đi
Xuân mỗi năm lại về
Cùng vui đã có rượu
Hoa dẫu rụng tiếc chi
Nguyễn Như Diệm dịch
***
Hý đề bàn thạch
Vương Duy
Khả liên bàn thạch lâm tuyền thủy
Phục hữu thùy dương phất tửu bôi
Nhược đạo xuân phong bất giải ý
Hà nhân xuy tống lạc hoa lai.
Dịch nghĩa:
Đùa đề bàn đá
Đáng yêu thay bàn đá bên bờ suối. Trên đó lại có cây liễu rũ phất phơ bên chén rượu. Nếu gió nói xuân không hiểu ý người thì tại sao nó lại thổi đưa hoa rụng đến chỗ ta ngồi?
Yêu thay bàn đá bên bờ suối
Phất phơ liễu rũ chén rượu đầy
Nếu bảo gió xuân không hiểu ý
Thôi chi hoa lại chỗ ta đây?
Trần Vân Long dịch
Yêu sao bàn đá cạnh bờ khe
Chén rượu bâng khuâng liễu rũ che
Nếu gió xuân kia không hiểu ý
Sao đưa hoa rụng đến nhiều ghê
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Lòng suối trong veo chảy lững lờ
Bên bờ bàn đá đẹp như mơ
Trên bàn chén rượu chờ ta đó
Cây liễu buôn mành rũ phất phơ
Nếu bảo gió xuân chẳng hiểu người
Bởi chung là gió của trời thôi
Cớ sao gió thổi đưa hoa rụng
Tới tận nơi ta vẫn thường ngồi
Nguyễn Chí Tình dịch
***
Chước tửu dữ Bùi Địch
Vương Duy
Chước tửu dữ quân quân tự khoan
Nhân tình phiên phúc tự ba lan
Bạch thủ tương tri do án kiếm
Chu môn tiên đạt tiếu đàn quan
Thảo sắc toàn kinh tế vũ thấp
Hoa chi dục động xuân phong hàn
Thế sự phù vân hà túc vấn
Bất như cao ngọa thả gia san.
Dịch nghĩa:
Uống rượu cùng Bùi Địch
Rót rượu uống rượu với anh, anh cảm thấy trong lòng thu thái. Lúc này đây nhân tình lật lọng tựa sóng nước. Biết nhau đến lúc bạc đầu mà khi gặp còn định rút gươm 1. Chốn cửa son kẻ thành đạt trước vẫn cười người “phủi mũ”2 để hy vọng được làm quan theo. Sắc cỏ đầm đìa ướt vì mưa bụi. Cành hoa muốn lay động thì gió xuân lại lạnh. Sự đời như mây nổi chẳng có gì đáng băn khoăn. Chẳng bằng nắm khểnh lại có thêm cơm ăn.
Uống rượu với nhau để bác vui
Thói đời đen bạc đến thế rồi
Quen đến bạc đầu còn giữ miếng
Cửa quan kẻ đắc nhạo người xui
Cỏ muốn xanh tươi mưa nước ngập
Hoa toan khoe sắc gió lạnh vùi
Thế sự phù vân đâu đáng hỏi
Chi bằng nhàn tản uống rượu vui
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Rót mời chén rượu để anh vui
Lật lọng thói đời sóng biển khơi
Đầu bạc quen nhau còn nắm kiếm
Cửa son đến trước đã chê người
Đầm đìa sắc cỏ vì mưa bụi
Run rẩy mầu hoa bởi gió phơi
Thế sự phù vân không đáng hỏi
Chi bằng nằm khểnh có cơm xơi
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Đáp Trương ngũ đệ
Vương Duy
Chung Nam hữu mao ốc
Tiền đối Chung Nam san
Chung niên vô khách trường bế quan
Chung nhật vô tâm trường tự nhàn
Bất phương ẩm tửu phục kỳ điếu
Quân đãn năng lai tương vãng hoàn.
Dịch nghĩa:
Đáp chú năm Trương
Ở Chung Nam tôi có căn nhà tranh. Phía trước nhìn ra núi Chung Nam. Quanh năm không có khách, cửa luôn đóng. Cả ngày chẳng bận tâm chuyên gì, người nhàn nhã hoài. Chẳng có gì ngăn ta uống và buông câu. Chú nên năng quan lại vui chơi.
Ở Chung Nam tôi có căn nhà lá
Quay mặt nhìn ra núi Chung Nam
Quanh năm vắng khách cửa luôn đóng
Cả ngày vô tâm người luôn nhàn
Uống rượu buông câu chẳng ai cản
Vui cùng nhau chú nên năng sang
Nguyễn Như Diệm dịch
Chung Nam ta có lều tranh
Nhìn ra phía trước núi xanh xanh rờn
Quanh năm cửa đóng luôn luôn
Cả ngày chẳng bận chẳng buồn chẳng vui
Chú năng qua chỗ tôi chơi
Nếu không uống rượu thì ngồi buông câu
Trần Vân Long dịch
***
Tống Mạnh Lục Quy Tương Dương
Vương Duy
Đỗ môn bất phục xuất
Cửu dữ thế tình sơ
Dĩ thử vi trường sách
Khuyến quân quy cựu lư
Túy châm điền xá tửu
Tiếu độc cổ nhân thư
Hảo thị nhất sinh sự
Vô lao hiến “Tử Hư”.
Dịch nghĩa:
Tiễn Sáu Mạnh về Tương Dương
Đã lâu tôi đóng cửa không ra ngoài, xa cách với mọi sự trên đời, coi đó là kế sách lâu dài. Tôi khuyên bạn hãy trở về căn nhà cũ của mình. Ở đó muốn say thì rót rượu quê uống, muốn vui thì đọc sách người xưa. Một đời như thế là hay, chẳng phải nhọc lòng dâng bài phú “Tử hư”1 làm gì.
(1)Bài phú “Tử hư”: bài phú của Tư Mã Tương Như (179-118 trước công nguyên). Nhà văn thời Tây Hán. Nhờ bài phú này Tương Như được Hán Vũ đế trọng dụng, phong làm trung lang tướng. Ý câu thơ là : chẳng phải nhọc lòng lo việc tiến thân trên con đường quan chức làm gì.
Đóng cửa lâu chẳng ra ngoài
Tâm ta dần tĩnh sự đời dần xa
Đó là kế sách của ta
Khuyên anh hãy trở về nhà thử xem
Rượu quê rót uống say mèm
Khi vui đọc sách, khi buồn ngắm hoa
Một đời như thế mới là
“Tử hư” phú ấy thiết tha làm gì
Trần Vân Long dịch
Đóng cửa từ lâu tôi chẳng ra
Trên đời mọi sự cũng rời xa
Đây là kế sách lâu dài đó
Khuyên anh nên hãy trở về nhà
Muốn say uống chén rượu quê mùa
Muốn cười đọc sách của người xưa
Đời mà như thế vui biết mấy
Chẳng phải nhọc lòng hiến “Tử hư”
Nguyễn Đình Nhữ dịch
___________________________________
CAO THÍCH (高適)
Cao Thích (700-765), tự Đạt Phu, Trọng Vũ. Người đất Điều, Bột Hải (nay là huyện Cảnh, Hà Bắc). Thời trẻ cùng khổ, từng cùng Lý Bạch, Đỗ Phủ chơi vùng đất Lương, Tống, sau vào làm chưởng thư ký dưới trướng Ca Thư Hàn, tiết độ sứ Lúng Hữu, Hà Tây. Sau loạn An –Sử lần lượt làm tiết độ sứ Hoài Nam, Tây Xuyên, tả tán kỵ, , thường thị, được phong tước hầu huyện Bột Hải, người đời gọi là Cao Thường Thị, Cao Bột Hải.
Ông nổi danh về thơ biên tái, phong cách hùng hồn, cứng cỏi, sánh ngang với Sầm Tham lúc bấy giờ. Có Cao Thường Thị tập. Trong Toàn Đường thi ông có 4 quyển.
***
Dạ biệt Vi tư sỹ
Cao Thích
Cao quán trương đăng tửu phục thanh
Hiểu chung tàn nguyệt nhạn quy thanh
Chỉ ngôn đề điểu kham cầu lữ
Vô ná xuân phong dục tống hành
Hoàng hà khúc lý sa vi ngạn
Bạch mã tân biên liễu hướng thành
Mạc oán tha hương tạm ly biệt
Tri quân đáo xứ hữu phùng nghênh.
Dịch nghĩa:
Đêm chia tay tư sỹ họ Vi
Nơi quán cao giăng đèn rượu lại trong. Chuông sớm ngân, trăng tàn tiếng nhạn bay về. Chỉ nói rằng chim kêu là để tìm bạn. Thế mà ta lại phải tiễn bạn vào lúc gió xuân đang thổi. Trên khúc sông Hoàng Hà bờ toàn cát. Bên bến Bạch Mã liễu hướng về phía thành. Bạn đừng oán than rằng chúng mình phải tạm xa nhau nơi quê người, vì tôi biết rằng nơi bạn đến sẽ có người đón tiếp bạn linh đình.
Quán cao đèn sáng rượu ngần trong
Trăng tà, chuông sớm, nhạn kêu không
Vẫn bảo chim kêu chim tìm bạn
Mà ta tiễn biệt lúc xuân nồng
Bờ nước Hoàng Hà loang dạm cát
Bến thành Bạch Mã liễu ngã dòng
Đừng oán cha tay nơi đất lạ
Tôi tin người đón bác rất đông
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Trong quán treo đèn, chén rượu say
Trăng tàn, chuông sớm, nhạn về bay
Chim bay cất tiếng kêu bầy đó
Xuân gió chia tay giục bạn đây
Mấy khúc Hoàng Hà bờ cát nổi
Một bờ Bạch Mã liễu thành xây
Biệt ly đất khách xin đường oán
Nơi đến người quen đón bạn ngay
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Quán cao, đèn sáng, rượu trong
Trăng tàn, chuông sớm, chim vòng vèo bay
Tiếng chim ríu rít kêu bầy
Mà xuân nay phải chia tay bạn rồi
Hoàng Hà mấy khúc cát bồi
Liễu bờ Bạch Mã hướng nơi lũy phường
Xin đừng oán giận ly hương
Ở nơi bạn đến người đương đón mời
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Túy hậu tặng Trương Cửu Húc
Cao Thích
Thế thượng mạn tương thức
Thử ông thù bất nhiên
Hứng lai thư tự thánh
Túy hậu ngữ do điên
Bạch phát lão nhàn sự
Thanh vân tại mục tiền
Sàng đầu nhất hồ tửu
Năng canh kỷ hồi miên.
Dịch nghĩa:
Sau khi say tặng Trương Cửu Húc 1
Người đời giao du với nhau một cách tùy tiện, riêng ông già này2 không thế. Khi hứng lên thì thư pháp tự nhiên thần kỳ, rượu say rồi thì nói năng càng điên3. Đầu bạc phơ bằng lòng với cuộc sống an nhàn thư thái, có mây xanh lừng lờ trôi trước mắt. Đầu giường luôn có một bình rượu, không biết có thể đổi được mấy giấc ngủ say?
(1)Trương Cửu Húc: nhà thư pháp đời Đường nổi tiếng với thể chữ cuồng thảo, được người đời gọi là “thảo thánh” (thánh về chữ thảo)
(2)Ông già này: tức Trương Húc
(3)Trương Húc còn được gọi là Trương Điên
Người quen nhau tùy tiện
Ông già này thì không
Hứng lên chữ như thánh
Rượu say lời càng điên
Tóc trắng tìm nhàn vậy
Mây xanh trước mắt bay
Đầu giường rượu một hũ
Đổi được mấy giấc say?
Trần Vân Long dịch
Người đời tụy tiện giao du
Riêng ông ổng chẳng giống như người đời
Hứng lên thư pháp tuyệt vời
Rượu say nói nói cười cười như điên
Bạc đầu thư thái cảnh tiên
Ngắm mây xanh lượn ở trên đầu mình
Đầu giường rượu có một bình
Đổi thành mấy giấc cho mình ngủ say?
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Đời quen nhau dễ dãi
Riêng ông chẳng thể nào
Hứng lên viết như thánh
Say rồi nói tào lao
Già bạc đầu nhàn sự
Đưa mắt ngắm mây cao
Đầu giường một vò rượu
Đổi mấy giấc say nào?
Nguyễn Bình Tuyển dịch
______________________________________
Lý Bạch (李白)
Lý Bạch (701-762), tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê gốc ở Thành Kỷ Lũng Tây (Cam Túc ngày nay), sinh ở Toái Diệp (nay thuộc Kyrgystan). Năm 5 tuổi theo cha di cư đến Thanh Liên Hương, Xương Long, Miễn Châu(nay là huyện Giang Du, Tứ Xuyên). Năm 25 tuổi dời Thục đi chu du thiên hạ 10 năm. Năm Thiên Báo thứ nhất (742) được triệu vào kinh làm hàn lâm. Sau vì miệt thị quyền quý, bị đám thân tín của Đường Huyền Tông dèm pha, phẫn chí từ quan dời kinh đô, tiếp tục chu du thiên hạ, gót chân đặt khắp vùng nam bắc Trướng Giang. Năm Thiên Bảo thứ 3 (744) gặp Đỗ Phủ tại Lạc Dương, kết giao tình bạn sâu sắc. An-Sử giấy loạn, ông tham gia mạc phủ của Vĩnh Vương Lý Lân. Lý Lân bại trận bị giết, ông bị liên lụy, bị giam tại nhà ngục Tầm Dương, sau lưu đầy Dạ Lang, năm sau trên đường Vu Sơn được xá tội trở về miền đông, phiêu bạt tới các vùng Vũ Xương, Lạc Dương, Kim Lăng. Mất tại Đương Đồ.
Lý Bạch là nhà thơ vĩ đại đời Đường, thích rượu, được người đời gọi là “trích tiên”. Thơ ông hào sảng phóng khoáng, tưởng tượng phong phú mới lạ, ngôn ngữ tự do bay bổng, âm vận hài hòa đa biến, đưa nghệ thuật thơ Đường tới đỉnh cao, được người đời sau gọi là “thi tiên”. Ông giỏi về tất cả các thể laoị thơ, đặc biệt sở trường về thất ngôn tuyệt cú và thất ngôn ca hành. Có Lý Thái Bạch tập. Trong Toàn Đường thi ông có 25 quyển.
***
Hành lộ man
Lý Bạch
Kim tôn thanh tửu đấu thập thiên
Ngọc bàn trân tu trị vạn tiền
Đình bôi đầu trợ bất năng ẩm
Bạt kiếm tú cố tâm mang nhiên
Dục độ Hoàng Hà băng tắc xuyên
Tương đăng Thái hàng tuyết mãn sơn
Nhàn lại thùy điếu bịch khê thượng
Hốt phục thừa chu mộng nhật biên
Hành lộ nan hành lộ nan
Đa kỳ lộ kim an tại
Trướng phong phá lãng hội hữu thì
Trực quải vân phàm tế thương hải.
Dịch nghĩa:
Đường khó đi 1
(Bài 1)
Chén vàng rượu trong mỗi đấu2 mười nghìn tiền. Các món trân quý trên bàn ngọc đáng giá vạn tiền. Thế mà ta phải dừng chén quẳng đũa không uống được. Ta rút gươm nhìn xung quanh lòng rối bời.
Ta muốn vượt Hoàng Hà nhưng băng nghẽn sông, định lên Thái Hàng3 thì tuyết đầy núi. Lúc rỗi rãi ta ngồi buông câu trên ngòi biếc, bỗng lại mơ thấy cưỡi thuyền đến bên mặt trời 4.
Đường khó đi, đường khó đi! Nhiều ngã rẽ giờ đâu là đường ta cần đi?
Ta tin rằng sẽ có lúc ta cưỡi gió lớn phá sóng, giương thẳng buồm mây vượt biển xanh5.
(1)Hành lộ nan thuộc “Tạp khúc ca từ” trong nhạc phủ, thường được dùng để thể hiện đường đời gian nan và tình cảm ly biệt đau xót. Bài thơ này viết vào khoảng năm Thiên Bảo 3 (744) khi Lý Bạch rời Trường An. Lý Bạch vốn dĩ tới kinh thành với chí lớn kinh bang trị quốc, đã tiếp cận hoàng đế nhưng vì nịnh thần cản đường mà không được trọng dụng phải trở về. Đòn nặng nề đó khiến nhà thơ uất ức. Bài thơ này thể hiện khúc chiết tinh tế biến đổi dữ dội trong tâm trạng nhà thơ uất ức, theo đuổi, thất vọng, hy vọng…đen xen xung đột nhau. Cuối cùng kết thúc với cảm xúc lạc quan hào hùng.
(2)Đơn vị dung tích xưa, bằng 10 lít.
(3)Ngọn núi nằm giữa ba tỉnh: Sơn Tây, Hà Bắc và Hà Nam của Trung Quốc ngày nay.
(4)Theo truyền thuyết, Khương Thái Công Lã Thượng từng ngồi câu trên Bàn Khê, tuổi rất cao mới được Chu Văn Vương trọng dụng; còn Y Doãn trước khi được vua nhà Thương là Thành Thang trọng dụng từng mộng thấy mình ngồi thuyền đi ngang qua mặt trời, mặt trăng. Ở đây nhà thơ dùng hai điển cố này để nói mình còn tràn đầy hy vọng sẽ được trọng dụng để thi thố tài năng hoài bão.
(5)Thời Tống Nam Triều, khi Tông Xác còn nhỏ, thúc phụ hỏi chí hướng của ông là gì, ông trả lời: “Nguyện thừa trường phong phá vạn lý lãng” (nguyện cưỡi gió lớn phá vạn dặm sóng).
Đường khó đi
Chén vàng, rượu trong, đấu mười nghìn
Bàn ngọc, món ngon đáng vạn tiền
Đặt chén quẳng đũa uống không nổi
Tuốt kiếm nhìn quanh lòng bối rối
Muốn vượt Hoàng Hà băng nghẽn sông
Định lên Thái Hàng tuyết đầy núi
Bên khe buông câu lúc thảnh thơi
Bỗng mơ cưỡi thuyền quanh mặt trời
Đường khó đi, đường khó đi!
Nhiều ngã rẽ, giờ đâu nơi?
Cưỡi gió phá sóng ắt có lúc
Dương thẳng buồm mây vượt biển khơi
Nguyễn Như Diệm dịch
***
Tương tiến tửu
Lý Bạch
Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát
Triêu như thanh ty mộ thành tuyết
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt
Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng
Thiên kim tán tận hoàn phục lai
Phanh dương tể ngưu thả vi lạc
Hội tu nhất ẩm tam bách bôi
Sầm phu tử Đan Khâu sinh
Tương tiến tửu bôi mạc đình
Dữ quân ca nhất khúc
Thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thính
Chung cổ soạn ngọc bất túc quý
Đản nguyện trường túy bất phục tỉnh
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
Trần vương tích thời yến Bình Lạc
Đấu tửu thập thiên tứ hoan hước
Chủ nhân hà vị ngôn thiếu tiền
Kính tu cô thủ đối quân chước
Ngũ hoa mã thiên kim cừu
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.
Dịch nghĩa:
Sắp mời rượu 1
Anh há chẳng thấy Hoàng Hà từ trên trời đổ xuống rồi mải miết chảy ra biển không trở lại? Anh há chẳng thấy có người soi gương trên nhà cao buồn vì tóc bạc, sáng như tơ xanh chiều đã thành tuyết trắng? Cho nên đời người khi đắc ý nên vui hết mình, đừng để chén vàng rỗng không trước trăng sáng. Trời sinh ra ta có tài tất sẽ được dùng. Nghìn vàng mất hết rồi lại có trở lại. Vậy nên hãy nấu dê mổ trâu thả sức vui. Một lần uống phải ba trăm chén.
Sầm phu tử, Đan Khâu sinh2! Đã nâng chén uống thì đừng có dừng! Tôi sẽ ca cho các bạn một khúc! Xin các bạn vì tôi lắng tai nghe:
Chuông trống 3 món ăn lạ không đáng quý. Ta chỉ muốn say dài không tỉnh lại. Xưa nay các vị thánh hiền đều chìm vào cõi lặng im, chỉ có dân rượu để lại tên tuổi mà thôi. Trần vương 4 xưa kia mở tiệc ở Bình Lạc 5, một đấu6 rượu giá mười nghìn tiền thả sức vui. Cớ sao chủ nhân lại nói thiếu tiền? Hãy mua ngay rượu về để chúng ta cùng rót cho nhau! Ngựa ngũ sắc, áo lông nghìn vàng, hãy bảo bọn trẻ đem ra đổi lấy rượu ngon để ta cùng các bạn xóa tan mối sầu vạn cổ!
(1)Tương tiến tửu, một đề cũ trong nhạc phủ, thường viết về yến tiệc vui vẻ. Bài thơ này làm vào khoảng năm Thiên Bảo 11 (752), sau khi nhà thơ từ Trường An trở về. Băng ngôn ngữ hào sảng khoáng đạt và thủ pháp khoa trương, bài thơ thể hiện tinh thần phóng túng không câu thúc, lạc quan tự tin, tình cực bi phẫn nhưng lại cuồng phóng, lời cực phóng túng nhưng lại trầm tĩnh, có khí thế và sức mạnh lay động lòng người.
(2)Hai người bạn của nhà thơ là Sầm Huân và Nguyên Đan Khâu
(3)Chỉ các nhạc khí dùng trong yến tiệc của các gia đình quyền quý
(4)Chỉ Trần Tư vương Tào Thực của nước Ngụy thời Tam Quốc
(5)Bình Lạc quán, tên cung khuyết thời Hán, tại Lạc Dương. Danh đô thiên của Tào Thực có câu « Quy lai yến Bình Lạc, Mỹ tửu đấu thập thiên » (Trở về mở tiệc tại Bình Lạc, Rượu ngon một đấu giá nghìn tiền.
(6)Đơn vị đo dung tích cũ, bằng 10 lít.
Sắp mời rượu
Anh chẳng thấy từ trời cao nước Hoàng Hà ào ào đổ xuống
Ra biển đông cuồn cuộn thẳng một đường
Anh chẳng thấy nỗi buồn tóc bạc trước đài gương
Sớm như tơ xanh chiều đã thành tuyết trắng
Đời khi vui, vui cho thỏa chí mình
Đừng để chén vàng không trước ánh trăng
Trời sinh ta tài sắt sẽ có lúc dùng
Bạc vạn mớ tiêu đi rồi lại có
Giết dê mổ trâu vui hết cỡ
Cuộc uống này phải cạn mấy trăm ly
Sầm Phu tử, Đan Khâu sinh
Đã nâng ly xin chớ có dừng
Ta sẽ vì bạn ca một khúc
Vì ta bạn hãy lắng tai nghe
Chiêng tống bạc vàng nào có quý gì
Xin nguyện được một lần say mãi mãi
Thánh hiền cũng chẳng gì lưu lại
Có chăng là dân rượu được lưu danh
Trần Vương xưa mở tiệc vui hết mình
Tại Bình Lạc, rượu mười nghìn một đấu
Chủ nhân sao nói lời tiền thiếu
Hãy mua rượu ngay để ta rót cho nhau
Áo gấm nghìn vàng, ngựa quý năm màu
Hãy hô trẻ đổi rượu ngon đãi khách
Để mối sầu muôn xưa ta cùng nhau xóa sạch!
Trần Vân Long dịch
Anh thấy chăng
Nước Hoàng Hà lưng trời tuông chảy
Ra biển rồi nào thấy về đâu
Anh thấy chăng
Lầu cao gương sáng tóc sầu
Sáng soi còn biếc chiều màu tuyết pha
Vui thỏa thích khi ta đạt ý
Trước trăng vàng chén quý đừng vơi
Có tài phải được dùng thôi
Nghìn vàng hết sạch ắt rồi có ngay
Dê, trâu giết để vui say
Ba trăm ly uống hết bay một lần
Sầm, Khâu hai bạn chí thân
Rượu mời xin chớ lần chần ngừng ly
Cùng nhau hãy hát đi một khúc
Lại vì nhau hãy dốc tai nghe
Ngọc ngà chiên trống ra gì
Ta đây chỉ muốn li bì mãi say
Thánh hiền xưa cũng như nay
Đâu bằng dân rượu tiếng hay để đời
Trần Vương xưa một thời Bình lạc
Yến tiệc vui bát ngát thâu đêm
Rượu ngon một đấu vạn tiền
Có hề chi, vẫn mua liền để vui
Chủ nhân sao nói lời tiền ít
Hãy mua ngay vui tít cùng nhau
Áo vàng ngựa quý mặc dầu
Gọi con đem đổi rượu mau mang về
Cùng nhau ta uống thỏa thuê
Mối sầu vạn cổ ắt thì tiêu tan
Nguyễn Bình Tuyển dịch
***
Nghĩ cổ
(kỳ tam)
Lý Bạch
Trường thằng nan hệ nhật
Tự cổ cộng bi tân
Hoàng kim cao Bắc Đẩu
Bất tich mãi dương xuân
Thạch hỏa vô lưu quang
Hoàn như thế trung nhân
Tức sự dĩ như mộng
Hậu lại ngã thùy thân
Đề hồ mạc từ bần
Thủ tửu hội tứ lân
Tiên nhân thù hoảng hốt
Vị nhược tửu trung chân
Dịch nghĩa:
Phỏng xưa
(Bài 3)
Dây thừng dài cũng khó cột mặt trời. Từ xưa kiếp người đã buồn khổ đắng cay. Tuổi xuân nếu có thể mua được thì vàng dù chất cao đến tận sao bắc đẩu cũng chẳng tiếc. Lửa trong đá không để lại ánh sáng. Ta quay về như người trong đời. Ngẫm mọi chuyện chỉ như một giấc mơ. Kẻ đến sau ta sẽ là ai? Đã nâng bình rượu thì đừng vì nghèo mà không uống. Lấy rượu ra tụ họp mọi người. Người tiên là chuyện rất lờ mờ, chi bằng đi tìm cái thật trong rượu.
Phỏng xưa
Thừng sao cột được mặt trời
Từ xưa buồn khổ đời người đắng cay
Nếu giữ được tuổi xuân này
Vàng cao như núi cho bat tiếc gì
Trong đá lửa có sáng chi
Hãy vui làm một dân quê yêu đời
Trăm năm giấc mộng mà thôi
Đến sau ta, biết là người nào đây
Lấy rượu đãi bạn uống say
Cảnh nghèo cũng có cái hay cảnh nghèo
Người tiên là chuyện khó theo
Vui trong rượu ấy là điều chân tiên
Trần Vân Long dịch
Thừng dài không buộc được mặt trời
Xưa nay ta khổ đã bao đời
Nếu có vàng cao bằng Bắc Đẩu
Tiếc chi mua lấy tuổi xuân tươi
Đá lửa không lưu chút ánh quang
Ta đến như người trong thế gian
Ngẫm lại sự đời như giấc mộng
Sau ta ai sẽ đến trần gian
Nâng ly chấp nhận phận thanh bần
Lấy rượu quây quần chúng bạn thân
Người tiên là chuyện trong hư ảo
Chi bằng trong rượu thấy điều “chân”
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Dây kia dài đến mấy mươi
Làm sao cột được mặt trời lên cao
Sinh ra từ những thuở nào
Kiếp người chất chứa biết bao hận đời
Dẫu cho vàng bạc ngất trời
Cũng không mua lại được thời thanh xuân
Đá kia mang mạch lửa ngầm
Không hề để lại đôi vầng hào quang
Ta về đứng giữa nhân gian
Ngẫm ra mọi chuyện chỉ toàn là mơ
Tới khi sắp sửa xuống mồ
Vẫn còn chưa biết ai chờ thế chân
Bây giờ bình rượu tay nâng
Ấy là xin nhận cái thân bần hàn
Cũng nhờ bình rượu trên bàn
Bọn ta mới được họp đàn bên nhau
Người tiên là chuyện đâu đâu
Sự đời chân thực ở bầu rượu đây
Nguyễn Chí Tình dịch
Mặt trời thừng khôn cột
Kiếp người vốn đắng cay
Vàng chất ngang Bắt Đẩu
Chẳng tiếc mua xuân ngay
Lửa trong đá không sáng
Về dân thường lại hay
Ngẫm đời như giấc mộng
Sau ta là ai đây
Chấp nhận nghèo nâng hũ
Rượu tụ láng giềng đầy
Người tiên là ảo tưởng
Nhờ rượu tìm thực, ngay
Nguyễn Bình Tuyển dịch
***
Nghĩ cổ
(kỳ ngũ)
Lý Bạch
Nguyệt sắc bất khả tảo
Khách sầu bất khả đạo
Ngọc lộ sinh thu y
Lưu huỳnh phi bách thảo
Nhật nguyệt chung tiêu hủy
Thiên địa đồng khô cảo
Huệ cô đề thanh tùng
An kiến thử thụ lão
Kim đan ninh ngộ tục
Muội giả nan tinh thảo
Nhĩ phi thiên tuế ông
Đa hận khứ tuế tảo
ẩm tửu nhập ngọc hồ
tàng thân dĩ vi bảo.
Dịch nghĩa:
Phỏng xưa
(Bài 5)
Ánh trăng không thể quét đi được. Nỗi buồn của khách thật khó nói ra. Sương ngọc là chiếc áo của mùa thu. Đom đóm lập lòe trong trăm thứ cỏ. Mặt trăng mặt trời cuối cùng cũng tiêu hủy. Trời đất sẽ cùng khô xác. Ve sầu kêu ở cây thông xanh, nào biết cây ấy đã già rồi. Thuốc tiên làm người trần lầm lẫn. Người dốt khó bàn chuyện hay. Không nghe nói ai sống đến nghìn tuổi, mà phần nhiều đều hận vì chết sớm. Uống rượu rồi nhập thân vào bình ngọc, dấu mình đi trong rượu mới là quý.
Phỏng xưa
(Bài 5)
Ánh trăng không thể xóa
Lòng khách buồn khó tả
Sương ngọc dệt áo thu
Đom đóm soi hoa lá
Nhật nguyệt rồi chẳng còn
Đất trời cũng tàn tạ
Ve cứ hát tùng xanh
Biết đâu tùng già quá
Thuốc tiên mê hoặc người
Ngu khó bàn ý lạ
Chưa thấy ai trường sinh
Đời toàn than đoản thọ
Uống rượu nhập ngọc bình
Ẩn trong rượu mới đã!
Nguyễn Xuân Dũng dịch
***
Tặng Tiền Trưng quân Thiếu Dương
Lý Bạch
Bạch ngọc nhất bôi tửu
Lục dương tam nguyệt thì
Xuân phong dư kỷ nhật
Lưỡng mấn các thành ty
Bỉnh chúc duy tu ẩm
Đầu can dã vị trì
Như phùng Vị Xuyên liệp
Do khả đế vương sư.
Dịch nghĩa:
Tặng bác Tiền Trưng Thiếu Dương
Một chén bạch ngọc rượu, ngồi uống giữa tháng ba dương liễu xanh rờn. Gió xuân chỉ còn thổi mấy ngày nữa thôi. Hai bên tóc mai ta đã thành tơ trắng cả rồi. Phải chong đuốc lên mà uống rượu thôi 1. Buông câu 2 cũng đừng để muộn. Nếu gặp cuộc đi săn ở Vị Xuyên 3 ta vẫn có thể làm thầy các bậc đế vương.
(1)Người xưa thường nói “Bỉnh chúc dạ du” (cầm đuốc chơi đêm), ý nói phải kịp thời hành lạc kẻo thời gian trôi qua mất. Câu thơ này cũng có ý thế.
(2)Nhắc lại điển Lã Vọng (Khương Tử Nha) buông câu trên sông Vị Thủy để chờ thời.
(3)Nhắc đến chuyện Chu Văn Vương đi săn ở Vị Xuyên gặp Lã Vọng ngồi câu cá, hỏi chuyện biết là người tài, bèn mời về làm quốc sư.\
Tặng bác Tiền Trưng Thiếu Dương
Bạch ngọc một chén rượu thanh
Tháng ba dương liễu sắc xanh ngời ngời
Gió xuân còn mấy ngày thôi
Tóc mai đã trắng cả rồi còn chi
Chong đèn lên uống rượu đi
Buông câu sông Vị thích thì vẫn nên
Đế Vương săn ở Vị Xuyên
Nếu ta gặp, vẫn làm nên được thầy
Trần Vân Long dịch
Rượu bạch ngọc một chén
Liễu xanh tiết tháng ba
Gió xuân còn mấy bữa
Tóc mai đã trắng ngà
Cần uống thì đốt nến
Buông câu muộn đâu mà
Đi Vị Xuyên săn thú
Thầy Đế Vương là ta
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Đối tửu
Lý Bạch
Khuyến quân mạc cự bôi
Xuân phong tiếu nhân lại
Đào lý như cựu thức
Khuynh hoa hướng ngã khai
Lưu oanh đề bích thụ
Minh nguyệt khuy kim lôi
Tạc nhật chu nhan tử
Kim nhật bạch phát thôi
Cức sinh Thạch Hổ điện
Lộc tẩu Cô Tô đài
Tự cổ đế vương trạch
Thành khuyết bế hoàng ai
Quân nhược bất ẩm tửu
Tích nhân an tại tai.
Dịch nghĩa:
Trước rượu
Khuyên anh đừng từ chối rượu. Gió xuân đang tươi cười đến với người. Đào mận như người quen biết cũ cứ nghiêng hoa về phía ta mà nở hoa. Chim oanh hót trên cây biếc. Trăng sáng rọi vào trong chén vàng. Hôm qua còn là gã trai mặt hồng, hôm nay tóc trắng đã giục giã rồi. Gai góc đã mọc dưới điện Thạch Hổ1, hươu nai chạy trên đài Cô Tô2, dinh thự, thành quách của các bậc đế vương xưa bụi vàng đã che phủ hết. Nếu anh không uống rượu thì sao biết người xưa nay ở đâu ?
(1)Thạch Hổ điện : điện của Thạch Hổ. Thời hậu Triệu, Thạch Hổ bày tiệc tại điện Thái Vũ, Phật Đồ Trừng lên điện, vừa đi vừa ngâm rằng : « Điện ơi, điện ơi, cây gai sẽ mọc thành rừng làm nát áo người ». Thạch Hổ cho đào đá nát nền lên, quả nhiên ở dưới có những cây gai đang mọc.
(2)Ngô vương Phù Sai say đắm Tây Thi, bỏ bễ triều chính, Ngũ Tử Tư can không được, bèn nói : «Ngày nay thần đã trông thấy hươu nai nhởn nhơ trên đài Cô Tô».
Đừng từ chối rượu bạn ơi
Gió xuân hây hẩy tươi cười đưa duyên
Đào mận như người quen biết cũ
Nghiên cánh hoa niềm nở cùng ta
Cành xuân ríu rít oanh ca
Lung linh trăng sáng rọi qua chén vàng
Hôm qua còn là chàng trai tráng
Mà hôm nay tóc trắng giục rồi
Điện Thạch Hổ gai sinh sôi
Đài Cô Tô hoẵng dạo chơi từng đàn
Lầu đế vương tự ngàn xưa cũ
Thành quách nay bao phủ bụi đầy
Nếu không uống rượu cho say
Người xưa bạn biết giờ này chốn nao?
Nguyễn Như Diệm dịch
Anh đừng thôi uống rượu
Gió xuân chở vui qua
Đào mận như bạn cũ
Hướng vào mình trỗ hoa
Oanh reo trong khóm biếc
Chén ngọc trăng sáng lòa
Hôm qua mặt hồng phấn
Hôm nay tóc sương pha
Điện thạch Hổ gai mọc
Đài Cô Tô hươu dùa
Thành vách xưa vương giả
Giờ cát bụi phôi pha
Nếu anh không uống rượu
Biết giờ đâu người xưa?
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Xin đừng từ rượu bạn ơi
Gió xuân mừng bạn đang cười đón đưa
Mận đào như bạn hữu xưa
Nghiên về ta nở, đúng đưa lá cành
Oanh ca trong rặng cây xanh
Trăng thanh soi sáng long lanh chén vàng
Hôm qua trai tráng mặt hồng
Mà nay tóc đã như bông mất rồi
Điện Thạch Hổ gai khắp nơi
Hươu nai đi dạo trên đài Cô Tô
Đế vương dinh thự ngày xưa
Bụi vàng vương phủ sương mờ khói bay
Nếu không uống rượu cho say
Người xưa bạn biết hôm nay chốn nào?
Này rượu đây đừng chối từ chi nữa
Kìa gió xuân đang hớn hở cùng ta
Đào mận như người quen biết cũ
Nghiêng về ta mà cùng loạt ra hoa
Trên cây biếc oanh líu lo vui thế
Trong chén vàng lóng lánh ánh trăng soi
Gương mặt hôm qua còn hồng lên sắc trẻ
Mà hôm nay tóc bạc đã giục giã ta rồi
Dưới nền điện kia rừng gai đã mọc
Lũ nai rừng dào bước giữa đài sang
Thành vách đế vương lầu vàng gác ngọc
Đã ngập chìm trong lớp bụi thời gian
Dấu vết người xưa còn ai biết nữa chăng
Nên hôm nay không cùng nâng chén rượu?
Nguyễn Chí Tình dịch
***
Nguyệt hạ độc chước
(kỳ nhất)
Lý Bạch
Hoa gian nhất hồ tửu
Độc chước vô tương thân
Cử bôi yêu minh nguyệt
Đối ảnh thành tam nhân
Nguyệt ký bất giải ẩm
Ảnh đồ tùy ngã thân
Tạm bạn nguyệt tương ảnh
Hành lạc tu cập xuân
Ngã ca nguyệt bồi hồi
Ngã vũ ảnh linh loạn
Tỉnh thời đồng giao hoan
Túy hậu các phân tán
Vĩnh kết vô tình du
Tương kỳ diểu vân hán.
Dịch nghĩa:
Dưới trăng uống rượu một mình
(Bài 1)
Bên hoa một bình rượu, một mình rót uống không người thân. Nâng chén mời trăng sáng, cùng bóng mình nữa thanh ba người. Trăng vốn không biết uống rượu, bóng thì cứ quân theo ta. Thôi tạm bạn với trăng và bóng, hành lạc phải kịp lúc còn xuân. Ta hát trăng luẩn quẩn, ta múa bóng tán loạn. Lúc tỉnh cùng giao hoan, say rồi mỗi người đi một ngả. Mãi mãi kết mối giao du phi nhân thế, cùng hẹn nhau ở chốn mây trời xa xôi.
Bên hoa một bình rượu
Cuộc rượu có mình ta
Nâng chén mời trăng sáng
Cùng bóng thành ba
Trăng thì không sành rượu
Bóng vốn tùy vào ta
Tạm chơi cùng hai gã
Vui cốt kịp lúc mà
Ta hát trăng xao xuyến
Ta múa bóng la đà
Lúc tỉnh cùng vui thú
Say rồi tạm chia ba
Mối kết giao khác tục
Hẹn gặp cuối trời xa
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Trong tau một bầu rượu
Mình ta rót dưới hoa
Nâng chén mời trăng sáng
Thêm bóng nữa thành ba
Trăng đã chẳng biết uống
Bóng lại quẩn theo ta
Bạn cùng trăng với bóng
Vui đi kẻo xuân qua
Ta ca nguyệt bồi hồi
Ta múa bóng nghiên ngả
Lúc tỉnh cùng giao hoan
Say, mỗi bên một ngả
Giao kết tình duyên lạ
Hẹn gặp phía trời xa
Trần Vân Long dịch
Bên hoa uống rượu một mình
Người thân chẳng có, thấu tình ta chăng?
Ta nâng chén với chị Hằng
Nhìn trăng nhìn bóng nỗi lòng vấn vương
Trăng không uống rượu thông thường
Ta đây bóng đấy mà thương thân mình
Giờ hành lạc đã điểm canh
Xin tạm biệt cả bóng hình lẫn trăng
Trong khi trời vẫn còn xuân
Ta ca, trăng cứ tần ngần dõi theo
Ta múa, bóng đổ liêu xiêu
Lúc tỉnh cùng bóng trăng treo bên thềm
Khi say kết mối giao duyên
Mỗi người một ngả, ai đường nấy đi
Phù du tình bạn một khi
Hẹn nhau ở chốn mây trời xa xăm
Lê Sơn dịch
Trăng treo lồng lộng trời xanh
Ta nâng bình rượu một mình bên hoa
Bạn bè thân thích đều xa
Ai người đồng ẩm cho ta rót mời
Ngẩn lên chỉ có trăng thôi
Trăng thêm bóng nữa là người thứ ba
Này trăng này bóng này ta
Bên bình rượu ngọt nay là tri âm
Ta nâng chén rượu mời trăng
Dẫu trăng vốn chẳng một lần say men
Bóng thì luôn ở kề bên
Cùng đi cùng đứng như liền một thân
Tạm khi cô độc cõi trần
Cùng trăng cùng bóng kết thân bạn bầy
Bạn ơi nếu có vui say
Thì vui say giữa những ngày đang xuân
Này ta đang hát cùng trăng
Thấy trăng như cũng lâng lâng bồng bềnh
Ta múa bóng cũng động tình
Theo ta nghiêng ngả lượn mình múa theo
Tỉnh thì vui thú thật nhiều
Say thì mỗi kẻ tìm theo lối mình
Dẫu không thân thế nhân tình
Mà trong cõi thực kết thành thâm giao
Hòa cùng đất rộng trời cao
Những lời hò hẹn gửi vào gió mây
Nguyễn Chí Tình dịch
***
Nguyệt hạ độc chước
(Bài 2)
Thiên nhược bất ái tửu,
Tửu tinh bất tại thiên.
Địa nhược bất ái tửu,
Địa ưng vô tửu tuyền.
Thiên địa ký ái tửu,
Ái tửu bất quý thiên.
Dĩ văn thanh tỷ thánh,
Phục đạo trọc như hiền.
Hiền thánh ký dĩ ẩm,
Hà tất cầu thần tiên.
Tam bôi thông đại đạo,
Nhất đấu hợp tự nhiên.
Đản đắc túy trung thú,
Vật vi tỉnh giả truyền.
Dịch nghĩa:
Nếu trời mà không thích rượu trên trời đã chẳng có Sao Rượu; nếu đất không thích rượu thì trên mặt đất đã chẳng có suối rượu. Trời đất kia đã thích rượu thì ta thích rượu là không hổ thẹn với trời. Ta đã nghe nói rằng rượu trong sánh với bậc thánh nhân, lại nghe nói rượu đục thì giống như bậc hiền nhân. Nếu đã uống Thánh Hiền, thì cần gì phải cầu thần tiên nữa? Uống ba chén thì thông hiểu đạo lớn, uống một đấu thì hợp với tự nhiên. Chỉ mong có được cái thú trong lúc say, chứ không muốn để lại tiếng tăm là người tỉnh.
Nếu trời không thích rượu
Sao trời có Tửu Tinh
Nếu đất không thích rượu
Sao đất có Tửu Tuyền
Trời đất đã thích rượu
Ham rượu là tự nhiên
Rượu trong – rằng là thánh
Rượu đục - ấy là hiền
Thánh, hiền đều đã uống
Còn cần gì thần tiên
Ba chén thông đại đạo
Một đấu hợp tự nhiên
Trong say tìm được hứng
Hơn tiếng “tỉnh” lưu truyền
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Nếu trời không thích rượu
Sao Rượu không trên trời
Nếu đất không thích rượu
Suối Rượi không khắp nơi
Trời đất đã thích rượu
Uống rượu sao thẹn trời
Nghe rượu trong là thánh
Rượu đục là hiền nhân
Thánh, Hiền đều đã uống
Còn cần gì thần tiên
Ba chén thông đại đạo
Một đấu hợp tự nhiên
Mong được vui trong say
Đừng là người đương tỉnh
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Nếu trời không thích rượu
Sao Sao Rượu ở trời
Nếu đất không thích rượu
Sao Suối Rượu chẳng vơi
Trời đất đà thích rượu
Mê rượu sao ngại trời
Rượu trong bì bới Thánh
Rượu đục – Hiền nhân thôi
Đã uống rồi Hiền Thánh
Thần tiên chi phải mời
Ba chén thông đại đạo
Một đấu hợp lẽ trời
Mong được vui khi xỉn
Tiếng “người tỉnh” bỏ thôi
Nguyễn Bình Tuyển dịch
***
Nguyệt hạ độc chước
(Bài 3)
Tam nguyệt Hàm Dương thành
Thiên hoa trú như cẩm
Thùy năng xuân độc sầu
Đối thử kính tu ẩm
Cùng thông dữ tu đoản
Tạo hóa túc sở bẩm
Nhất tôn tề tử sinh
Vạn sự cố nan thẩm
Túy hậu nhất thiên địa
Ngột nhiên tựu cô chẩm
Bất tri hữu cô thân
Thử lạc tối vi thậm.
Dịch nghĩa:
Một mình uống rượu dưới trăng
( Bài 3)
Thành Hàm Dương tháng ba. Ban ngày nghìn hoa nở như gấm. Ai có thể một mình buồn được trong mùa xuân? Trước cảnh đẹp này không thể không uống rượu. Cuộc đời người cùng hay thông dài hay ngắn ông trời đã định sẵn. Một chén rượu uống vào sống chết cũng như nhau. Mọi việc khó xét đoán cho rõ ràng. Say rồi trời đất như nhau cả, ngất ngây đến bên chiếc gối lẻ. Không biết đến cả cái thân ta nữa. Niềm vui ấy mới thật là cùng cực.
Thành Hàm Dương tháng ba rực rỡ
Cả ngàn hoa đua nở gấm thêu
Với Xuân sao có thể sầu
Cảnh này nhất định phải cầu Lưu Linh
Đời rủi may, dữ lành, thọ yểu
Đều đã do Tạo hóa định rồi
Một say, sinh tử chẳng mùi
Sự đời vốn khó rạch ròi đúng sai
Lúc đã say đất trời chẳng có
Tấm thân ta cũng hóa hư không
Ngất ngây trên chiếc gối bông
Niềm vui ngày mới tột cùng vô biên
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Thành Hàm Dương tháng Ba
Đẹp tựa gấm muôn hoa
Với Xuân sầu ai nỡ
Phải uống, cảnh đẹp mà
Rủi may với vắn dài
Tạo hóa định sẵn rồi
Sống chết cùng một chén
Vạn sự khó xét hoài
Say xỉn quên đất trời
Ngất ngây ôm gối ngơi
Có mình không, chẳng biết
Vui thế mới tuyệt vời
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Nguyệt hạ độc chước
(Bài 4)
Cùng sầu thiên vạn đoan,
Mỹ tửu bách tam bôi.
Sầu đa tửu tuy thiểu,
Tửu khuynh sầu bất lai.
Sở dĩ tri tửu thánh,
Tửu hàm tâm tự khai.
Từ túc ngọa Thú Dương,
Lũ không cơ Nhan Hồi.
Đương đại bất lạc ẩm,
Hư danh an dụng tai.
Giải ngao tức kim dịch,
Tao khâu thị Bồng Lai.
Thả tu ẩm mỹ tửu,
Thừa nguyệt túy cao đài.
Dịch nghĩa:
Một mình uống rượu dưới trăng (Bài 4)
Sầu cùng cực nghìn vạn mối. Rượu ngon ba trăm chén. Sầu nhiều rượu tuy ít, nhưng dốc rượu uống sầu sẽ không tới. Vì thế biết rượu là thánh1. Rượu say lòng rộng mở. Bá Di Thúc Tề từ chối thóc nhà Chu nằm tại núi Thú Dương2. Nhan Hồi3 bụng thường đói. Khi còn sống mà không vui uống rượu. lúc chết đi hư danh dùng được vào việc gì chứ! Ta có cua và rượu. Gò rượu này chính là cõi Bồng lai3. Chúng ta nên uống rượu ngon. Nhân lúc trăng say trên lầu cao.
(1)Xưa một thời từng có lệnh cấm rượu rất nghiêm, dân rượu phải dùng tiếng lóng để gọi rượu: rượu trong là thánh nhân, rượu đục là hiền nhân (xem chú thích các bài trước)
(2)Thú Dương: tên ngọn núi nơi Bá Di, Thúc Tề ở ẩn, không ăn gạo nhà Chu, thà chịu chết đói.
(3)Nhan Hồi: một học trò nổi tiếng của Khổng Tử, nổi tiếng là người nghèo mà vẫn vui.
(4Bồng Lai: vùng núi đảo trong biển Bột Hải nơi tương truyền có thần tiên ở.
Buồn thảm ngàn vạn mối
Rượu ngon trăm chén thôi
Rượu tuy rằng ít ỏi
Cũng đủ giải buồn rồi
Bởi vậy rượu là Thánh
Rượu vào tâm sảng khai
Bá, Thúc xưa chê gạo
Nhan Hồi chịu đói hoài
Lúc sống không vui uống
Hư danh giúp gì ai
Ta có cua và rượu
Khác gì cảnh Bồng Lai
Rượu ngon thực đáng uống
Trăng lầu cao say dài
Nguyễn Xuân Dũng dịch
***
Xuân nhật độc chước
Lý Bạch
Xuân phong phiến thục khí
Thủy mộc vinh xuân huy
Bạch nhật chiêu lục thảo
Lạc hoa tản thả phi
Cô vân hoàn không sơn
Chúng điểu các dĩ quy
Bỉ vật giai hữu thác
Ngô sinh độc vô y
Đối thử thạch thượng nguyệt
Trường túy ca phương phi.
Dịch nghĩa:
Ngày xuân uống rượu một mình
Gió xuân thổi đưa không khí êm dịu tới. Nước cây tươi tốt trong ánh xuân. Mặt trời chiếu trên cỏ xanh. Hoa rụng bay tản mạn khắp nơi. Đám mây lẻ bay về núi vắng. Chim chóc đều đã về tổ. Mọi vật kia đều có chốn nương thân. Riêng ta không biết nương tựa vào đâu. Trước ánh trăng soi trên mặt đá này ta say dài, hát về các loài hoa thơm.
Gió xuân trời trong dịu
Cây, nước rạng xuân thời
Nắng trắng soi cỏ biếc
Hoa thả cánh nơi nơi
Mây lẻ theo núi vắng
Chim muông về tổ rồi
Vạn vật đều có chốn
Trơ thân ta không nơi
Trước gò đá trăng dọi
Say dài hát vang trời
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Gió xuân dịu mát thổi về
Nước, cây xanh tốt đê mê xuân đời
Nắng vàng trên cỏ xanh tươi
Khắp nơi lả tả hoa rơi từng làn
Lẻ loi mây trở về ngàn
Chim bầy đều đã theo đàn về xanh
Muôn loài có chỗ nương mình
Mà riêng ta vẫn một mình nơi đây
Dưới trăng trên phiến đá này
Hoa thơm ta hát trong say dài dài
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Gió xuân dìu dịu thổi qua
Nắng xuân tô sắc muôn hoa tươi mầu
Cỏ xanh rụng mấy hoa ngâu
Mấy kia đơn lẻ khuất đầu núi xa
Chim chiều vỗ cánh về nhà
Vạn vật đều có chỗ mà dung thân
Riêng ta ở giữa cõi trần
Một mình nào biết xoay vần ra sao
Đêm nay dưới ánh trăng sao
Ta say, ta hát nghêu ngao một bài
Vì hoa tỏa ngát muôn loài
Đặng lòng bớt chút u hoài mênh mông
Lê Sơn dịch
***
Xuân nhật túy khởi ngôn chí
Lý Bạch
Xử thế nhược đại mộng
Hồ vi lao kỳ sinh
Sở dĩ chung nhật túy
Đồi nhiên ngọa tiền doanh
Giác lai miện đình tiền
Nhất điểu hoa gian minh
Tá vấn thử hà nhật
Xuân phong ngữ lưu oanh
Cảm chi dục than tức
Đối tửu hoàn tự khuynh
Hạo ca đãi minh nguyệt
Khúc tận dĩ vong tình.
Dịch nghĩa:
Ngày xuân tỉnh rượu nói chí mình
Sống ở đời như giấc mộng lớn, làm gì cho vất vả đời mình. Cho nên suốt ngày ta say khướt, nằm lăn dưới cột trước nhà. Tỉnh dậy liếc nhìn ra trước sân thấy một con chim hót trong lùm hoa. Ta ướm hỏi hôm nay là ngày gì mà con oanh bay hót trong gió xuân. Xúc động trước cảnh ấy ta muốn than lên, nhưng rồi thấy rượu sẵn ta lại nghiêng chén. Ta hát vang chờ trăng sáng. Hát xong quên hết mọi nỗi niềm.
Nhân sinh giấc mộng mà thôi
Cớ sao cực nhọc một đời làm chi
Cả ngày uống rượu tì tì
Say rồi nằm ngủ li bì trước hiên
Tỉnh rượu nhìn ra mé sân
Một con chim hót rất gần trong hoa
Hôm nay ngày mấy vậy ta
Gió xuân thổi, tiếng oanh ca rập rình
Tự dưng cảm thấy buồn tênh
Sẵn bình rượu rót một mình lại say
Chờ trăng ta hát khúc này
Hát xong phút chốc quên bay sự đời
Trần Vân Long dịch
Đời người như giấc mộng dài
Làm chi vất vả đọa đầy thân ta
Cả ngày uống rượu say nhòa
Nằm dài dưới cột trước nhà ngủ lăn
Tỉnh dậy ngó ra trước sân
Có con chim hót trong ngần bên hoa
Hôm nay ngày mấy vậy ta
Mà con oanh hát khúc ca xuân đời?
Rưng rưng muốn thốt nên lời
Sẵn bình rượu lại rốt rồi nhắp ngay
Hát chờ trăng sáng đêm nay
Hát xong ta bỗng quên bay sự đời
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Đề Đông Khê công u cư
Lý Bạch
Đỗ Lăng hiền nhân thanh thả liêm
Đông Khê bốc trúc tuế thời yêm
Trạch cận thanh khê đồng Tạ Diểu
Môn thùy bích liễu tự Đào Tiềm
Hảo điểu nghênh xuân ca hậu viện
Phi hoa tống tửu vũ tiền thiềm
Khách đáo đãn tri lưu nhất túy
Bàn trung chỉ hữu thủy tinh diêm
Dịch nghĩa:
Đề nơi ở ẩn của Đông Khê
Một người hiền ở Đỗ Lăng1 trong sạch và liêm khiết, chọn Đông Khê làm đất dựng nhà ở quanh năm. Nhà gần khe xanh giống Tạ Diểu2 . Cửa rủ liễu biếc tựa Đào Tiềm3. Chim đẹp đón xuân hót ở sân sau. Hoa bay đưa rượu múa nơi thềm trước. Khách đến ông chỉ biết giữ lại uống cho say. Trong mâm chỉ có muối trắng.
(1)Đỗ Lăng : địa danh ở phía nam thành Trường An
(2)Tạ Diểu: nhà thơ nước Tề thời Nam Triều
(3)Đào Tiềm: tức Đào Uyên Minh nhà thơ điền viên thời Đông Tấn.
Đỗ Lăng thanh bạch một người hiền
Chọn Đông Khê cư ngụ chung niên
Nhà cành ngòi xanh như Tạ Diểu
Cửa buông liễu biếc tự Đào Tiềm
Chim quý mừng xuân ca sau bếp
Hoa bay mời rượu múa trước thềm
Khách đến chỉ hay lưu uống rượu
Trong mâm ngoài muối chẳng gì thêm!
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Người hiễn Đỗ Lăng tiếng thanh liêm\
Ở ẩn Đông Khê cảnh êm đềm
Nhà cạnh ngòi xanh như Tạ Diểu
Cửa bênh liễu biếc tựa Đào Tiềm
Đón xuân chim đẹp ca sâu hận
Đưa rượu hoa tươi múa trước thềm
Khách đến chỉ mời ngồi uống rượu
Mâm toàn muối trắng vẫn say mềm
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Há Chung Nam son quá Hộc Tư
sơn nhân túc trí tửu
Lý Bạch
Mộ tùng Bích Sơn há
Sơn nguyệt tùy nhân quy
Khước cố sở lai kính
Thương thương hoành thúy vi
Tương huề cập điền gia
Đồng trĩ khai tinh phi
Lục trúc nhập u kính
Thanh la phất hành y
Hoan ngôn đắc sở khế
Mỹ tửu liêu cộng huy
Trường ca ngâm tùng phong
Khúc tận hà tinh hy
Ngã túy quân phục lạc
Đào nhiên cộng vong ky.
Dịch nghĩa:
Xuống núi Chung Nam1 ngang qua nhà sơn nhân Hộc Tư, ở lại, chủ nhân đặt rượu mời
Chiều ta từ núi biếc2 xuống. Trăng núi theo người về. Quay lại nhìn chặng đường vừa đi qua thấy bóng chiều mênh mang vắt ngang dốc núi xanh biếc. Cùng Hộc Tư dắt tay nhau về đến điền gia, trẻ nhỏ đã ra mở cửa rào. Trúc xanh dẫn vào ngõ tối, thanh la3 phất áo người đi qua. Ta vui mừng có được lư trú nghỉ ngơi. Chủ mang rượu ngon ra cùng nhau nâng chén, rồi hát mãi khúc “gió thổi cây tùng”4. Hát xong sao trời đã thưa thớt. Ta say bạn lại vui. Thảnh thơi cùng quên những toan tính trong cuộc đời.
(1)Núi Chung Nam: một trong những ngọn chính của dãy Tần Lĩnh, các văn sĩ đời Đường thường ẩn cư ở đây đợi được tiến cử, do đó mới có thành ngữ “Chung Nam tiệp kính” (con đường tắt Chung Nam).
(2)Bích sơn (núi biếc) ở đây chỉ ngọn Chung Nam
(3)Thanh La: còn có các tên gọi khác như nữ la, tùng la, là một loại tầm gửi thường từ trên cây mẹ buông rủ xuống
(4)Gió thổi cây tùng (tùng phong): tên một khúc nhạc cổ.
Chiều từ núi biếc xuống
Trăng theo núi người về
Ngoảnh nhìn đường vừa đi
Xanh mênh mang một giải
Dắt tay nhau về nhà
Trẻ mở cửa đón ta
Ngõ trúc xanh thăm thẳm
Áo vương nhành thanh la
Mừng được chốn nghỉ ngơi
Rượu ngon cùng nhau mời
Ngâm khúc “Tùng Lộng Gió”
Đến lúc thưa sao trời
Ta say bạn lại vui
Thảnh thơi quên sự đời
Nguyễn Như Diệm dịch
Chiều từ núi biếc xuống
Trăng núi theo người về
Ngoảnh trông vời lối cũ
Chiều loang biếc sơn khê
Cùng nhau đến điền chủ
Trẻ nhỏ mở cổng tre
Trúc xanh rợp ngõ thẳm
Hoa dây bám người đi
Mừng nơi nghỉ tuyệt hảo
Rượu ngon nốc tì tì
Nghêu ngao bài hát cổ
Vui tới lặn sao khuya
Tay say, bác khoái chí
Chuyện đời bỗng quên đi
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Chiều buông bóng núi tà tà
Ánh trăng dường cũng theo ta về nhà
Ngoảnh đầu nhìn lại phía xa
Lẫn trong sương khói còn màu xanh lam
Sơn thôn qua mấy khúc quanh
Trẻ con mau mắn mở nhanh cửa ngoài
Thanh la vấn vít áo người
Trúc xanh rợp bóng ở nơi ngõ nhà
Mừng rằng bác hiểu ý ta
Rượu ngon bày cuộc la đà say sưa
Cao giọng hát gió thông đưa
Khúc ca tận cũng vừa thưa sao trời
Bác vui tôi cũng say rồi
Thảnh thơi quên hết cảnh đời rối ren
Trần Vân Long dịch
***
Tuyên châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt
Hiệu thư thúc Vân
Khí ngã khứ giả, tạc nhật chi nhật bất khả lưu
Loạn ngã tâm giả, kim nhật chi nhật đa phiền ưu
Trường phong vạn lý tống thu nhạn
Đối thử khả dĩ hàm cao lâu
Bồng Lai văn chương Kiến An cốt
Trung gian Tiểu Tạ hự thanh phát
Câu hoài dật hứng tán tứ phi
Dục thướng thanh thiên lãm minh nguyệt
Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu
Tửu bôi tiêu sầu sầu cánh sầu
Nhân sinh tại thế bất xứng ý
Minh triêu tán phát lộng thiên chu
Dịch nghĩa:
Tại lầu Tạ Diểu ở Tuyên Châu1, tiễn biệt chú họ Lý Vân hiệu thư lang ở Bí thư sảnh
Ngày hôm qua bỏ ta mà đi ta không thể níu giữ. Ngày hôm nay làm rối lòng ta gây nhiều ưu phiền. Gió dài vạn dặm đang tiễn những cánh nhạn mùa thu bay đi. Trước cảnh này ta có thể uống say trên lầu cao.
Văn chương Bông Lai2 mang cốt cách Kiến An3. Trong đó văn chương Tiểu Tạ4 lại càng thanh tân phấn phát. Hoài bão lớn, hứng thú trang nhã, ý tứ hùng tráng bay bổng. Muốn lên trời xanh xem trăng sáng. Rút gươm chém nước nước cứ chảy dài. Nâng chén tiêu sầu sầu càng sầu. Người sống trên đời không vừa ý, sớm mai xõa tóc5 bơi thuyền nhỏ ra đi.
(1)Tuyên Châu: tức Tuyên Thành, nay thuộc An Huy. Nhà thơ TQ thời Nam Triều là Tạ Diểu từng làm Thái thú Tuyên Thành, cho xây trên núi Lăng Dương tòa Bắc Lâu. Người đời gọi đây là Lầu Tạ Diểu.
(2)Bồng Lai: ngọn núi thần trên biển trong truyền thuyết. Trong văn chương thường mượn để nói tiên cảnh. Thời Đông Hán học giả gọi Đông Quán (nơi tàng trữ sách quốc gia) là núi Bồng Lai. Người thời Đường để chỉ Bí thư sảnh. Lý Vân là hiệu thư lang ở Bí thư sảnh, nên ở đay dùng “văn chương bồng lai” để chỉ văn chương của Lý Vân. (bản dịch thơ dùng Bồng Các).
(3)Kiến An là niên hiệu của Hán Hiến Đế. Lúc đó thơ văn của cha con Tào Tháo và những người trong nhóm “Kiến An thất tử” (Khổng Dung, Trần Lâm, Vương Xán, Hứa Càn, Nguyên Vũ, Ứng Dương và Lưu Trình) có phong cách rất mạnh mẽ rắn rỏi. Ở đây muốn ví văn chương Lý Vân mang cốt cách Kiến An.
(4)Tiểu Tạ; chỉ Tạ Diểu. Người thời Đường gọi Tạ Linh Vận (385-433), nhà thơ thời Tống Nam Triều là Đại Tạ, Tạ Diểu là Tiểu Tạ.(bản dịch thơ vẫn dùng Tiểu Tạ để chỉ văn chương của Tạ Diểu).
(5)Xõa tóc: ý nói cởi mũ áo từ quan về với đời thường giao du ẩn dật
Bỏ ta mà đi ngày của ngày qua không thể giữ
Làm rối lòng ta ngày của ngày nay lắm ưu phiền
Ta ngồi thưởng rượu tại lầu cao
Gió vạn dặm tiễn đưa cánh nhạn
Văn Bồng Lai cốt cách Kiến An
Thơ Tiểu Tạ càng thêm thanh phát
Hoài bão lớn tứ thơ bát ngát
Thẳng trời cao bạn với trăng thanh
Rút dao chém nước, nước càng xiết
Nâng chén tiêu sầu sầu càng sầu
Sống ở trên đời không vừa ý
Sáng mai xõa tóc cưỡi thuyền đi
Trần Vân Long dịch
***
Bả tửu vấn nguyệt
Lý Bạch
Thanh thiên hữu nguyệt lai ký thời
Ngã kim đình bôi nhất vấn chi
Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc
Nguyệt hành khước dữ nhân tương tùy
Kiểu như phi kính lâm đan khuyết
Lục yên diệt tận thanh huy phát
Đãn kiến tương tùng hải thượng lai
Ninh tri hiểu hướng vân gian một
Bạch thố đảo dược thu phục xuân
Thường nga cô thê dữ thùy lân
Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân
Cổ nhân kim nhân nhược lưu thủy
Cộng khan minh nguyệt giai như thử
Duy nguyện đương ca đối tửu thời
Nguyệt quang trường chiếu kim tôn lý.
Dịch nghĩa:
Nâng chén hỏi trăng
Trời xanh có trăng tự thuở nào? Nay ta dừng chén hỏi trăng xem. Người không leo lên được trăng sáng, còn trăng lại luôn đi theo người. Sáng long lánh như gương bay xuống cung điện mầu đỏ. Khói xanh tan hết ánh sáng trong tỏa ra. Chỉ thấy về đem trăng từ trên biển tới và sáng ra liền chìm vào trong mây. Thỏ trắng1 giã thuốc hết thu lại xuân. Thường Nga2 sống cô đơn biết làm làng giềng cùng ai. Người thời nay không thấy trăng thời cưa nhưng trăng thời nay từng chiếu người thời xưa. Người xưa người nay như nước chảy, cùng thấy trăng sang sáng như thế này cả. Ta chỉ mong khi ca hát trước rượu3, ánh trăng mãi mãi rọi vào trong chén vàng.
(1)Thỏ trắng: theo truyền thuyết trên mặt trăng có con thỏ trắng quanh năm giã thuốc. Vì thế “ngọc thỏ” là chỉ mặt trăng.
(2)Thường Nga: là vợ Hậu Nghệ. Tương truyền Hậu Nghệ lấy được thuốc bất tử từ chỗ Tây Vương Mẫu, chưa kịp ăn, Thường Nga lấy trộm ăn trước rồi bay lên cung trăng.
(3)Bài “đoản ca hành” của Tào Tháo có câu: “Đối tửu tương ca, Nhân sinh kỷ hà” (Trước rượu phải ca hát, Cuộc đời được bao lăm).
Trời cao có nguyệt khi nào
Nay ta dừng chén hỏi vào trăng thanh
Muốn kéo trăng xuống mình chẳng được
Trăng vẫn từng theo bước ta đi
Sáng như một tấm gương phi
Khói xanh tan hết thanh huy vẫn còn
Khi đêm đến trăng tàn trên biển
Lúc ngày về tan biến vào mây
Thỏ trắng giã thuốc đêm ngày
Hằng Nga cô độc có ai bạn cùng
Người nay chẳng biết trăng ngày trước
Trăng ngày nay lại biết người xưa
Ngắm trăng vẫn rượu vẫn thơ
Tình người nay với người xưa khác gì
Chỉ mong được mỗi khi uống rượu
Trong chén vàng mãi đượm ánh trăng
Trần Vân Long dịch
***
Tặng Mạnh Hạo Nhiên
Ngô ái Mạnh Phu tử
Phong lưu thiên hạ văn
Hồng nhan khí hiên miện
Bạch thủ ngọa tùng vân
Túy nguyệt tần trung thánh
Mê hoa bất sự quân
Cao sơn an khả ngưỡng
Đồ thử ấp thanh vân.
Dịch nghĩa:
Tặng Mạnh Hạo Nhiên
Ta yêu Mạnh Phu tử, phong lưu nổi tiếng khắp thiên hạ. Lúc trẻ tuổi chẳng thích gì xe mũ miện1, khi về già thì ẩn cư trong chốn sơn lâm. Từng nhiều lần say trăng và rượu trong2, mê hoa ông chẳng phụng sự nhà vua. Ông như núi cao ta làm sao với tới được3. Ta chỉ có thể kính vái phẩm chất cao khiết của Phu tử mà thôi.
1.Hiên (xe đẹp) miện (mũ miện) những thứ thể hiện quan chức. ở đay nói lúc trẻ tuổi Mạnh Phu tử chẳng thiết tha gì với đường quan tước.
2.Thánh: rượu trong (hiền: rượu đục)
3.Lấy ý từ câu trong Kinh thi: “Cao sơn ngưỡng chỉ, Cảnh hành hành chỉ” (Trông vời núi cao, đi theo đường lớn). Ý là ngưỡng mộ làm theo những người có phẩm hạnh, đức độ cao thượng. Ở đây thể hiện lòng kính ngưỡng đối với Mạnh Hạo Nhiên.
Ta yêu quý Mạnh Phu tử
Phong lưu nức tiếng xa gần
Thời trẻ chẳng thiết chức tước
Về già vui chốn sơn lâm
Dưới trăng nhiều lần say khướt
Mê hoa vua cũng cóc cần
Núi cao ta sao sánh được
Chỉ biết kính phục muôn phần
Nguyễn Như Diệm dịch
Ta yêu Mạnh Phu tử thay
Phong lưu thiên hạ mấy ai sánh tày
Công dung gác bỏ ngoài tai
Ung dung tự tại vui nơi núi rừng
Dưới trăng say tít bao lần
Thờ vua cũng chẳng thể bằng yêu hoa
Tinh thần cao khiết thực là
Núi kia cũng phải ở xa kính người
Trần Vân Long dịch
***
Khách trung tác
Lý Bạch
Lan Lăng mỹ tửu úc kim hương
Ngọc uyển thịnh lai hổ phách quang
Đãn sử chủ nhân năng túy khách
Bất tri hà xứ thị tha hương.
Dịch nghĩa:
Làm thơ nơi đất khách
Rượu ngon đất Lan Lăng1 sực nức mùi uất kim hương. Đem đựng trong bát ngọc rượu ánh lên mầu hổ phách. Chỉ cần chủ nhân có thể chuốc khách say thì ta chẳng còn biết đâu là đất khách quê người nữa!2
1.Lan lăng : Thương Sơn Sơn Đông ngày nay
2.Ý nói đâu cũng là quê hương.
Lan Lăng rượu quý ngạt ngào hương
Đựng trong bát ngọc sánh lạ thường
Ví thử chủ nhân say cùng khách
Còn biết nơi nào chốn tha phương!
Nguyễn Như Diệm dịch
Lan Lăng rượu quý uất kim hương
Rót tràn đầy trong chén dạ quang
May được chủ nhân yêu đãi khách
Cũng vơi dần cái nỗi tha phương
Trần Vân Long dịch
***
Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân chí du Động Đình
(Kỳ nhị)
Nam hồ thu thủy dạ vô yên
Nại khả thừa lưu trực thướng thiên
Thả tựu Động Đình xa nguyệt sắc
Tương thuyền mãi tửu bạch vân biên.
Dịch nghĩa:
Bồi tộc thúc Hình bộ thị lang Diệp cập trung thư Giả xá nhân chí du Động Đình1
Nước mùa thu ở Nam Hồ2 về đêm trong suốt không gợn khói. Làm sao có thể đi thuyền theo dòng nước đi thẳng lên trời được nhỉ? Thôi hãy tạm mua chịu hồ Động Đình một chút ánh trăng rồi đem thuyền đi mua rượu ở phía bên mây trắng kia.
1.Động đình: hồ lớn thứ hai Trung Quốc ở phía Bắc tỉnh Hồ Nam
2.cũng là hồ Động Đình, vì nằm ở phía tây nam Nhạc Châu nên còn có tên gọi Nam Hồ.
Nam Hồ đêm thu chẳng khói bay
Chẳng thể lên trời theo lối này
Về tạm Động Đình vay ánh nguyệt
Đưa thuyền mua rượu phía chân mây
Nguyễn Xuân Dũng dịch
***
Đề Đái lão tửu điếm
Lý Bạch
Đái lão hoàng tuyền hạ
Hoàn ừng nhưỡng đại xuân
Dạ đài vô Lý Bạch
Cô tửu dữ hà nhân ?
Dịch nghĩa:
Ông Đới1 ở dưới suối vàng vẫn nấu rượu Đại Xuân2 ,nhưng chốn dạ đài không có Lý Bạch, vậy ông bán rượu cho ai?
1.Ông Đới: tên ông chủ quán rượu mà Lý Bạch thường đến uống. Tương truyền sau khi ông Đới mất, Lý Bạch đề bài thơ này tại quán rượu của ông.
2.Đại xuân: tên loại rượu mà ông Đới thường nấu
Cụ Đới rời cõi trần
Vẫn nấu rượu Đại Xuân
Dạ đài vắng Lý Bạch
Rượu nấu, biết ai cẩn?
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Ông đới dưới suối vàng
Vẫn nấu rượu Đại Xuân
Dạ đài vắng Lý Bạch
Ai người mua rượu ông?
Trần Đình Hiến dịch
Lão Đới ở dưới hoàng tuyền
Đại xuân vẫn nấu ngày đêm miệt mài
Rượu ngon lão bán cho ai
Lý Bạch đâu ở dạ đài mà mua
Trần Vân Long dịch
Ông Đới ở dưới âm cung
Đại Xuân vẫn nấu thơm lừng mùi men
Nhưng Lý Bạch – một khách quen
Đâu ở chốn đó để khen rượu nồng
Bán cho ai hở lão ông?
Lê Sơn dịch
Dưới suối vàng ông Đới
Không quên nghiệp trần gian
Lại nấu rượu Đại Xuân
Vẫn thơm ngon biết mấy
Nhưng dạ đài chốn ấy
Không có Lý Bạch ta
Thì rượu quý nấu ra
Bán cho ai, ông Đới?
Nguyễn Chí Tình dịch
***
Tặng nội
Lý Bạch
Tam bách lục thập nhật
Nhật nhật túy như nê
Tuy vi Lý Bạch phụ
Hà dị thái thường thê.
Dịch nghĩa:
Tặng vợ
Một năm ba trăm sáu mươi ngày, ngày nào ta cũng say bét như bùn. Nàng tuy là vợ Lý Bạch ta nhưng cũng chẳng khác gì làm vợ quan thái thường1
1.Quan thái thường: Chu Hoạch làm chức quan thái thường đời Hậu Hán, vì coi sóc tôn miếu nên quanh năm trai giói nghiêm cẩn thường không về nhà với vợ, để vợ đằng đẵng buồng không một mình.
Một năm ba trăm sáu mươi ngày
Ngày nào tôi cũng bét be say
Mình tiếng là vợ tôi – Lý Bạch
Có khác chi vợ thái thường đây!
Nguyễn Như Diệm dịch
Tròn ba trăm sáu mươi ngày
Ngày nào tôi cũng rượu say như bùn
Nàng là Lý Bạch phu nhân
Với vợ Chu Trạch cũng gần, khác chi
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Giang thượng ngâm
Lý Bạch
Mộc lan chi duệ sa đường chu
Ngũ tiêu kim quản sinh lưỡng đầu
Mỹ tửu tôn trung trí thiên hộc
Tái kỹ tùy ba nhiệm khứ lưu
Tiên nhân hữu đãi thừa hoàng hạc
Hải khách vô tâm tùy bạch âu
Khuất bình từ phú huyền nhật minh
Sở vương đài tạ không sơn khâu
Hứng hàm lạc bút dao ngũ nhạc
Thi thành túy ngạo lăng thương châu
Công danh phú quý nhược trường tại
Hán thủy diệc ưng tây bắc lưu.
Dịch nghĩa:
Ngâm trên sông
Chèo gỗ mộc lan thuyền gỗ sa đường. Nhạc công thổi sáo ngọc kèn vàng ngồi ở hai đầu. Rượu ngon trong vò cả ngàn hộc1. Mang theo kỹ nữ theo sáng đi dừng tùy thích. Người tiên còn chờ cưỡi hạc vàng. Khách chơi biển vô tâm theo cánh hải âu trắng. Từ phú của Khuất Bình2 vẫn vằng vặc trên cao như mặt trăng mặt trời còn lâu đài của Sở vương đã thành núi gò trơ trụi. Hứng lên trong lúc say hạ bút là lung lay cả Ngũ Nhạc3. Thơ viết xong cười ngạo nghễ át cả Thương Châu4. Nếu công danh phú quý tồn tại được mãi thì Hán Thủy có mà chảy ngược lên tây bắc!
1.Hộc: đơn vị đo dung tích xưa bên TQ=10 đấu=100 thăng=100 lít
2.Khuất Bình: tên của Khuất Nguyên
3.Ngũ nhạc: 5 ngọn núi nổi tiếng ở TQ: Thái Sơn ở Sơn Đông (phía đông), Hành Sơn ở Hồ Nam (phía nam), Hoa Sơn ở Thiểm Tây (phía Tây), Hằng Sơn ở Sơn Tây (phía bắc), Tùng Sơn ờ Hà Nam (trung tâm)
4.Thương Châu: tương truyền là chỗ ở của tiên.
Ngồi hai đầu tiêu vàng sáo ngọc
Chèo gỗ lan thuyền bọc gỗ sa
Rượu ngon chất cả ngàn vò
Yêu kiều tha thước gái tơ trên thuyền
Bóng hạc vàng người tiên chờ cưỡi
Cánh hải âu đắm đuối khách du
Khuất Bình vằng vặc ý thơ
Lâu đài Vua Sở còn trơ một gò
Say hứng bút vung mờ Ngũ Nhạc
Thơ thành cười nhạo át Thương Châu
Công danh phú quý bền lâu
Có mà Hán Thủy quay đầu về tây!
Trần Vân Long dịch
Thuyền gỗ sa đường, chèo mộc lan
Hai đầu – sáo ngọc với kèn vàng
Rượu ngon trong chóe chứa ngàn hộc
Theo sóng thuyền trôi, chở mấy nàng
Hạc vàng tiên đợi cưỡi từ lâu
Vô tâm khách biển dõi chim âu
Từ phú Khất Bình – ngời trăng sáng
Lâu đài Vua Sở - trụi gò khâu
Hứng bút khi say chuyển núi đồi
Tiếng thơ ngạo át chỗ tiên chơi
Công danh phú quý mà còn mãi
Cầm bằng Hán Thủy ngược dòng trôi!
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Sơn trung dữ u nhân đối chước
Lý Bạch
Lưỡng nhân đối chước sơn hoa khai
Nhất bôi nhất bôi hựu nhất bôi
Ngã túy dục mien khanh thả khứ
Minh triêu hữu ý bão cầm lai.
Dịch nghĩa:
Uống rượu cùng người lánh đời trong núi
Hai người gật gù uống rượu với nhau còn xung quanh thì hoa núi nở. Một chén một chén rồi lại một chén. Tôi say muốn ngủ rồi ông hãy tạm về đi. Sáng mai đến nhớ mang theo cây đàn nhé.
Hai người uống rượu hoa rừng nở
Một chén một chén cứ rót tràn
Tôi say muốn ngủ ông về nhé
Mai đến nhớ mang theo cây đàn
Nguyễn Như Diệm dịch
Hoa rừng nở, rượu hai người
Chén thì chén tạc chén vơi chén đầy
Bác về nhé, tôi đã say
Mai sang bác nhớ mang cây đàn cầm
Trần Vân Long dịch
***
Tự khiển
Lý Bạch
Đối tửu bất giác mính
Lạc hoa doanh ngã y
Tửu khởi bộ khê nguyệt
Điểu hoàn nhân diệc hy.
Dịch nghĩa:
Giải khuây
Ngồi uống rượu trời tối lúc nào không hay. Hoa rụng đầy trên áo. Tỉnh dậy đi dọc the bờ suối đầy trăng sáng. Chim đã về tổ người đi cũng thưa thớt.
Rượu say chẳng biết thối ngày
Tỉnh ra hoa rụng vương đầy áo ta
Dạo khe lóng lánh trăng ngà
Chim về tổ ngủ người đà vắng tanh
Nguyễn Như Diệm dịch
Say nằm chẳng buồn dậy
Áo, hoa rụng vương đầy
Suối, trăng vàng sóng sánh
Chim về người vắng tanh
Trần Vân Long dịch
_______________________________________
ĐỖ PHỦ (杜甫)
Đỗ Phủ (712- 770), tự Tử Mỹ, tự xưng là Đỗ Lăng Bố Y (người áo vải Đỗ Lăng), Thiếu Lăng Dã Lão (ông lão nhà quê Thiếu Lăng). Quê gốc Tương Dương, (nay là Tương Phàn, Hồ Bắc), sinh ở huyện Củng (nay thuộc Hà Nam), cháu nhà thơ Đỗ Thẩm Ngôn. Nhiều lần đi thi tiến sĩ không đỗ, lãng du khắp nơi, kết thân với Lý Bạch, về sau cư trú Trường An. An-Sử dấy loạn ông bị bắt ở Trường An, về sau trốn tới Phượng Tường, yết kiến Túc Tông, được phong làm tả thập di, vì dâng sở cứu Phòng Quản, đắc tội với Túc Tông, ít lâu sau qua Tần Châu vào đất Thục, tới Thành Đô dựng thảo đường bên ngòi Cán Hoa. Sau làm tham mưu dưới trướng của tiết độ sứ Kiếm Nam là Nghiêm Vũ, rồi được tiến cử làm kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Cuối đời đưa gia đình rời đất Thục, mất trên đường đi.
Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại đời Đường của Trung Quốc, thơ ông phản ánh quá trình lịch sử từ thịnh chuyển suy của triều Đường, được tôn là “thi sử”, có ảnh hưởng rất sâu xa tới đời sau. Ông nếm đủ đau buồn trong cuộc đời, gần gũi, am hiểu đời sống nhân dân, công kích những mặt đen tối của xã hội. Phong cách thơ dồn nén, trầm uất, niêm luật nghiêm chỉnh, quy chuẩn hó thơ cách luật cổ điển, trở thành mẫu mực cho thơ đời sau. Vì vậy ông được tôn vinh là “thi thánh”. Ông có Đỗ Công bộ tập. Trong Toàn Đường thi có 19 quyển thơ ông.
***
Tặng Vệ bát xử sĩ
Đỗ Phủ
Nhân sinh bất tương kiến
Động như Sâm dữ Thương
Kim tịch phục hà tịch
Cộng thử đăng chúc quang
Thiếu tráng năng kỷ thời
Mấn phát các dĩ thương
Phỏng cựu bán vi quỷ
Kinh hô nhiệt trung trường
Yên tri nhị thập tải
Trùng thướng quân tử đường
Tích biệt quân vị hôn
Nhi nữ hốt thành hàng
Di nhiên kính phụ chấp
Vấn ngã lai hà phương
Vấn đáp nãi vị dĩ
Khu nhi la tửu tương
Dạ vũ tiễn xuân cửu
Tân xuy gián hoàng lương
Chủ xưng hội diện nan
Nhất cử lũy thập thương
Thập thương diệc bất túy
Cảm tử cố ý trường
Minh nhật cách sơn nhạc
Thế sự lưỡng mang mang.
Dịch nghĩa:
Tặng ẩn sĩ tám Vệ1
Ở đời không gặp nhau, mỗi người thường như sao Hôm và sao Mai. Đêm nay là đêm gì2 mà ta lại cùng ngồi dưới ánh đèn nến này. Tuổi trẻ trai tráng được mấy lúc, người nào giờ tóc cũng bạc rồi. Hỏi chuyện bạn cũ thì phần nữa đã là ma. Thảng thốt lòng ta như lửa đốt.
Nào biết hai mươi năm sau ta lại lần nữa lên nhà bạn. Trước kia khi chia tay bạn còn chưa kết hôn mà giờ con cái đã thành hàng. Chúng vui mừng kính chào bạn của cha, hỏi ta từ đâu tới. Hỏi đáp còn chưa dứt thì bạn đã sai con bày rượu và món ăn ra. Đêm mưa cắt rau hẹ mùa xuân, cơm mới nấu trộn với kê vàng. Chủ nói gặp nhau khó, uống liền một lúc mười chén rượu. Mười chén cũng chẳng say. Ta vô cùng xúc động trước tình cũ sâu đậm của bạn.
Ngày mai chia tay nhau, núi đồi cách trở, sự đời đôi ngả mênh mang!
1.Ẩn sĩ tám Vệ : bạn thời trẻ của tác giả. Mùa xuân năm Càn Nguyên 2 (759), Đỗ Phủ từ Lạc Dương về Hoa Châu, dọc đường ghé qua Bồ Châu (Vĩnh Tế Sơn Tây ngày nay) thăm người bạn này.
2.Người xưa thường dùng « Kim tịch thị hà tịch » (cái đêm hôm ấy đêm gì) để diễn ta một đêm khó quên.
Sống trên đời gặp nhau khó thật
Như sao Hôm khó gặp sao Mai
Đêm nay tôi bác cùng vui
Dưới đèn hoa cúc mai rồi chia xa
Thời trai trẻ được là mấy chốc
Giờ thì đều bạc tóc cả rồi
Hỏi thăm bạn cũ trên đời
Số thành ma chiếm nửa rồi còn đâu
Tai nghe chuyện lòng đau lửa đốt
Hai mươi năm thảng thốt qua mau
Nào ngờ nay lại gặp nhau
Chia tay ngày ấy bạn đâu gia đình
Thế mà giờ đình huỳnh con cái
Đứng thành hàng kính vái bạn cha
Hỏi ta tự chốn nào qua
Chuyện trò chưa dứt lại đà mời ăn
Sai con bày rượu ra mâm
Nào canh rau hẹ nào cơm kê vàng
Chủ nhân bảo gặp nhau thật khó
Hãy uống đi một bữa thở thuê
Một hơi uống cạn mười ly
Mười ly cũng chẳng thấy gì là say
Không say mà vẫn ngất ngây
Ngất ngây vì cái tình đầy bạn ta
Ngày mai lại cách xa sống núi
Người một phương đôi ngả mênh mang!
Trần Vân Long dịch
***
Khách chí
Đỗ Phủ
Xá nam xá bắc giai xuân thủy
Đãn kiến quần âu nhật nhật lai
Hoa kính bất tằng duyên khách tảo
Bồng môn kim thủy vị quân khai
Bàn xan thị viễn vô kiêm vị
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi
Khẳng dữ lân ông tương đối ẩm
Cách ly hô thủ tận dư bôi.
Dịch nghĩa:
Khách đến chơi nhà
Phía nam phía bắc nhà mênh mang nước mùa xuân. Chỉ thấy từng đàn chim sâm cầm ngày ngày bay tới. Đường đầy hoa rụng chưa từng vì có khách đến chơi mà phải quét. Cửa sài hôm nay mới lần đầu mở ra đón bác. Trên bàn ăn vì chợ xa nên chẳng có nhiều món. Nhà nghèo chỉ có chén rượu lâu năm chưa lọc. Nếu bác muốn ngồi uống với ông hàng xóm thì tôi sẽ gọi qua hàng rào mời sang để ta cùng cạn chén.
Lũ Xuân vây bọc trước sau nhà
Chỉ mỗi hải âu tới thăm ta
Đường hoa vắng khách nên không quét
Cổng rào bác đến mới mở ra
Chợ xa nhà túng cơm đạm bạc
Chén rượu đưa mời cũng rượu xưa
Đối ẩm có một ông hàng xóm
Nếu bắc vui lòng ta gọi qua
Trần Đình Hiến dịch
Bắc nam nhà, nước xuân đầy
Ngáy ngày bay tới mấy bầy thiên nga
Chưa duyên chưa quét đường hoa
Cửa sài nay mới mở ra đón mời
Chợ xa cơm nước sơ sài
Cảnh nghèo chỉ có mấy chai rượu nhà
Hôm nay bác đến chơi ta
Thêm ông hàng xóm nữa là đủ vui
Trần Vân Long dịch
Bốn bề nước ngập mênh mông
Họa may chỉ có sâm cầm bay qua
Đường đầy hoa rụng trước nhà
Vì không có khách, quét ta chẳng cần
Bác là vị khách đầu xuân
Ghé thăm, cửa mới một lần mở ra
Hiềm một nỗi chợ thì xa
Thức ăn chẳng sẵn trong nhà như xưa
Đãi nhau chỉ có rau dưa
Vài ba ly rượu cất vừa ba năm
Nếu ưng, mời bác uống cùng
Với lão hàng xóm vẫn từng sang chơi
Để tôi nhắn lão đôi lời
Ta cùng cạn chén cho vơi nỗi buồn
Lê Sơn dịch
***
Ẩm trung bát tiên ca
Đỗ Phủ
Tri Chương kỵ mã tự thừa thuyền
Nhãn hoa lạ tỉnh thủy để mien
Nhữ Dương tam đầu thủy triều thiên
Đạo phùng khúc xa khẩu lưu diên
Hận bất di phong hướng Tửu Tuyền
Tả tướng nhật hứng phế vạn tiền
Ẩm như trường kình hấp bách xuyên
Hàm bôi lạc lạc xưng tỵ hiền
Tông Chi Tiêu sái mỹ thiếu niên
Cử thương bạch nhãn vọng thanh thiên
Kiểu như ngọc thụ lâm phong tiền
Tô Tấn trường trai tú tú phất tiền
Tửu trung vãng vãng ái đào thiền
Lý Bạch đấu tửu thi bách thiên
Trường an thị thượng tửu gia mien
Thiên tử hô lai bất thướng thuyền
Tự xưng thần thị tửu trung tiên
Trương Húc tam bôi thảo thánh truyền
Thoát mạo lộ đỉnh vương công tiền
Huy hào lạc chỉ như vân yên
Tiêu Toại ngũ đấu phương trác nhiên
Cao đàm hùng biện kinh tứ diên.
Dịch nghĩa:
Bài ca tám vị tiên trong rượu
Tri Chương1 cưỡi ngựa tựa đi thuyền, mắt hoa, rơi xuống giếng, nằm ngủ dưới đáy nước. Nhữ Dương2 uống ba đấu rượu mới hướng lên trời, trên đường gặp xe chở rượu miệng chảy dãi, giận không thể chuyển đất được phong đến Suối Rượu3. Tả thừa tướng4 một ngày hứng lên tiêu hết vạn tiền, uống rượu như cá voi hút nước trăm sông, ngậm chén rượu khoái chí xưng là lẩn tránh người hiền5. Tông Chi6 tiêu sái tuổi thiếu niên đẹp, nâng chén mắt trắng dã nhìn trời xanh, rạng ngời như cây ngọc trước gió. Tô Tấn7 ăn chay dài mặc áo thêu trước Phật, khi say thường thích lẩn vào cửa thiền. Lý Bạch uống một đấu rượu làm trăm bài thơ. Say nằm ngủ ngay tại quán rượu trên phố Trường An, thiên tử gọi cung chẳng thèm lên thuyền, tự xưng thần là tiên trong làng rượu. Trương Húc8 uống ba chén chữ thảo thánh để đời, bỏ mũ để đầu trần trước vương công, vung bút xuống giấy như khói mây. Tiêu Toại9 uống năm đấu rượu mới nổi bật, cao giọng hùng biện làm kinh ngạc bốn bên cử tọa.
(1)Tri Chương: tức Hạ Tri Chương
(2)Nhữ Dương: tức Lý Tiến, thuộc tôn thất nhà Đường, con Lý Hiến (không rõ năm sinh năm mất). Thời Huyền Tông được phong Như Dương vương, từng làm chức thái bốc khanh. Tính thích uống rượu và nấu rượu. Tự xưng là Nhương (nấu rượu) vương kiêm khúc bộ thượng thư”
(3)Tửu Tuyền: tên một quận thời Hán, ở phía đông bắc huyện Tửu Tuyền tỉnh Cam Túc ngày nay.
(4)Tả thừa tướng: tức Lý Thích Chi, thuộc tôn thất nhà Đường, cháu của Hằng Sơn Mẫn vương. Làm quan qua chức Thông Châu thứ sử, hình bộ thượng thư. Năm Thiên Bảo 1 (742) làm tả thừa tướng “thích khách khứa, uống rượu trên một đấu không rối trí” (Tân Đường thư, Lý Thích Chi truyện)
(5)Xưng là lẩn tránh người hiền: tức là kiêng rượu. Sách Tửu điên của Hạ Thụ Phương ghi: “Thích Chi làm chức quan thái tử thiếu bảo, bị Lý Lâm Phủ dèm pha mất chức, uống rượu vui với bạn cũ, làm thơ rằng “Tỵ hiền sơ bãi tướng, Lạc thánh thả hàm bôi” (Tránh hiền nhân vừa mới bị bãi tướng, vui vói thánh nhân ta hãy cứ ngậm chén). Câu này có ý hài hước: hiền nhân và thánh nhân đều là tiếng lóng chỉ rượu, hiền nhân là rượu đục, thánh nhân là rượu trong.
(6)Thôi Tông Chi, nhà thơ đời Đường, làm quan đến chức tả ty lang trung thị ngự sử. Tính thích uống rượu
(7)Tô Tấn, người Lan Điền thời Đường. Con Tô Hướng. Thời Huyền Tông làm Lại bộ thị lang. Tính phóng đãng, thích rượu mà lại thích bàn về Thiền.
(8)Trương Húc: nhà thư pháp nổi tiếng đời Đường. Tự Bá Cao, không rõ năm sinh năm mất. Người đất Ngô nay là vùng phụ cận Tô Châu, Giang Tô. Giỏi về chữ thảo
(9)Tiêu Toại: người thời Đường Huyền Tông. Không rõ năm sinh năm mất.
Tri Chương cưỡi ngựa tựa đi thuyền
Hoa mắt dáy giếng đánh giấc tiên
Nhữ Dương ba đấu mặt hướng thiên
Gặp xe chở rượu, chảy dãi liền
Muốn chuyển phong ấp về Suối Rượu
Tả Tướng ngày hứng tiêu vạn tiền
Uống như cá voi hút trăm sông
Ngậm chén khoái lên xưng tránh Hiền
Tông Chi xinh đẹp tuổi thiếu niên
Nâng ly mắt trắng ngắm thanh niên
Trước gió, sáng ngời như cây ngọc
Tô Tấn ăn chay, mặc áo thêu
Khi say chỉ thích Trốn vào Thiền
Lý Bạch đấu rượu thơ trăm áng
Ngủ ngay quán rượu phố trường an
Thiên tử gọi cũng chẳng lên thuyền
Tự xưng làng rượu thần là tiên
Trương Húc ba chén, chữ để đời
Trước Vương Công, bỏ mũ đầu phơi
Bút vung xuống giấy như mây khói
Tiêu Toại năm đấu mới tuyệt vời
Tọa đàm hùng biện khắp muôn nơi
Khiến cử tọa bốn bên kinh ngạc
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Bất kiến
Đỗ Phủ
Bất kiến Lý sinh cửu
Dương cuồng chân ngã ai
Thế nhân giai dục sát
Ngô ý độc liên tài
Mẫn tiệp thi thiên thủ
Phiêu linh tửu nhất bôi
Khuông Sơn độc thư xứ
Đầu bạch hảo quy lai.
Dịch nghĩa:
Lâu chẳng gặp
Đã lâu chẳng gặp anh lý1. Anh phải giả điên thật đáng thương. Người đời ai cũng muốn giết anh, riêng ta thật thương tài. Đầu óc nhạy bén viết nghìn bài thơ; cuộc sống lênh đênh vui cùng chén rượu. Nơi đọc sách ở Khuông Sơn còn đó, đầu bạc anh về đi thôi.
(1)Lý sinh cửu: tức Lý Bạch. Bài thơ này làm năm Thượng Nguyên 2 (761), khi Đỗ Phủ ở đất Thục, là bài thơ cuối cùng Đỗ Phủ viết về Lý Bạch. Lý Bạch và Đỗ Phủ gặp nhau lần cuối năm 745 ở Sơn Đông. Từ đó về sau không gặp lại nhau nữa.
Lâu không gặp anh Lý
Giả cuồng đáng thương thay
Người đời đều muốn giết
Riêng ta rất mến tài
Phiêu linh rượu một chén
Mẫn tiệp thơ nghìn bài
Khuông Sơn nơi đọc sách
Đầu bạc rồi, về thôi!
Nguyễn Như Diệm dịch
***
Túy thời ca
Đỗ Phủ
Chư công cổn cổn đăng đài sảnh
Quảng Văn tiên sinh quan độc lãnh
Giáp đệ phân phân điếm lương nhục
Quảng văn tiên sinh phạn bất túc
Tiên sinh hữu đạo xuất Hy Hoàng
Tiên sinh hữu tài quá Khuất Tống
Đức tôn nhất đại thường khảm kha
Danh lưu vạn cổ tri hà dụng
Đỗ Lăng dã khách nhân cánh xuy
Bị hạt đoản trách mấn như ty
Nhật địch thái thương ngũ thăng mễ
Thời phó Trịnh lão đồng khâm kỳ
Đắc tiền tức tương mịch
Cô tửu bất phục nghi
Vong hình đáo nhĩ nhữ
Thống ẩm chân ngô sư
Thanh dạ trầm trầm động xuân chước
Đăng tiền tế vú thiềm hoa lạc
Đãn giác cao ca hữu quỷ thần
Yên tri ngã tử điền khâu hác
Tương Như dật tài thân địch khí
Tử Vân thức tự vân đầu các
Tiên sinh tảo phú “Quy khứ lai”
Thạch điền mao ốc hoang thương đài
Nho thuật hà hữu ư ngã tai
Khổng Khâu đạo trích câu trần ai
Bất tu văn thử ý thảm thảng
Sinh tiền tương ngộ thả hàm bôi.
Dịch nghĩa:
Nghêu ngao lúc say
Các ngài ngất ngưởng lên đài sảnh, riêng thày Quảng Văn một chức quan lạnh1. Dinh các ngài thì tấp nập no xôi chán thịt, riêng thày Quảng Văn thì không đủ cơm ăn. Đạo của thày bắt nguồn từ Hy Hoàng2, tài của thày vượt Khuất Nguyên, Tống Ngọc3. Đạo đức nhất đời mà luôn lận đận! Danh lưu vạn cổ để làm gì chứ?
Ông nhà quê Đỗ Lăng4 mới càng buồn cười. Áo vải vừa ngắn vừa hẹp tóc như tơ. Hàng ngày được đong năm thưng gạo ở kho nhà nước. Ông thường hay đến chỗ cụ Trịnh5 là bạn tâm giao. Hễ có tiền là họ liền tìm nhau, chẳng nghi ngờ gì là để đi mua rượu. Bỏ hết câu thúc lễ tiết, gọi nhau mày tao. Họ uống hết mình thực đáng bậc thầy của tôi. Đêm thanh lặng lẽ cảm xuân mà chuốc chén. Trước đèn mưa nhỏ ngoài thềm hoa rụng. Cứ biết cao giọng hát ca cho quỷ thần hay, đâu biết có thể chết đói thân lấp ngoài ngòi rãnh, kỳ tài như Tương Như6 mà phải đích thân rửa bát. Học thức sâu rộng như Tử Vân7 mà cuối cùng phải nhảy lầu.
Thày sớm ngâm bài “Về đi thôi”8. Ruộng đá nhà tranh rêu xanh hoang phế. Nho học có ích gì cho ta đâu. Khổng Khâu9, Đạo Chích10 đều trở thành cát bụi. Chẳng nên nghe chi chuyện ấy cho đau lòng. Thôi lúc sống gặp nhau hãy cứ nhắp chén.
(1)Thầy Quảng Văn: ở đây chỉ Trịnh Kiển, bạn vong nên của Đỗ Phủ, hay thơ, giỏi vẽ, năm Thiệu Bảo thứ 9 (750) được bổ làm bác sĩ Quảng Văn quán ở Quốc Tử giám.
(2)Hy Hoàng: tức Phục Hy, theo truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, là người dạy cho dân chúng đan lưới, đánh cá, săn bắt, chăn nuôi.
(3)Tống Ngọc: nhà từ phú nước Sở thời Chiến Quốc, có thuyết nói là học trò của Khuất Nguyên. Tác phẩm có : Cửu biện, Phong phú , Đăng đồ tử hiếu sắc phú.
(4)Ông nhà quê Đỗ Lăng (Đỗ Lăng dã lão): tác giả tự chỉ mình (tức Đỗ Phủ)
(5)cụ Trịnh : tức Trịnh Kiền (thầy Quảng văn) là bạn tâm giao với Đỗ Phủ, hai người thường đến nhau uống rượu thân mật gần gủi như trong bài thơ này nói rõ ở những câu tiếp
(6)Tư Mã Tương Như (179-118 tcn), nhà văn học thời Tây Hán. Tự Tử Khanh. Người Thành Đô, Thục Quận. Phú của ông dung hợp đặc điểm các nhà, là điển hình của phú thời Hán, hậu thế lấy làm mẫu mực. Có Tử Hư phú, Thượng lâm phú…Tương Như và vợ là Trác Văn Quân từng mở quán rượu. Văn Quân đứng bán, Tường Như giúp việc vặt, rửa bát chén.
(7)Tử Vân: tức Dương Hùng (53-18tcn), một nhà phú thời Hán. Thời Vương Mãng, học trò của ông bị tội, liên lụy tới ông, ông đứng trên lầu nhảy xuống xuýt chết.
(8)Bài “về đi thôi” tức Quy khứ lai từ của Đào Tiềm.
(9)Khổng Tử, Khổng Khâu tự Trọng Ni
(10)Đạo Chích: theo truyền thuyết, là lãnh tụ khởi nghĩa nông dân dưới thời Xuân Thu. Thiên “Bất cẩu” sách Tuân Tử nói ông thanh danh hiển hách, như mặt trăng mặt trời, được lưu truyền không dứt cùng với Thuấn, Vũ. Thiên “Đạo Chích, sách Trang Tử nói ông lãnh đạo 9.000 quân khởi nghĩa, ngang dọc trong thiên hạ, đi đến đâu cũng làm cho quan lại bạt vía kinh hồn. Quan niệm chính thống thời phong kiến vẫn gọi ông là giặc, còn trong dân gian ông bị coi là kẻ trộm cắp. (Phần vì tên ông có chữ “đạo” có nghĩa là “ăn trộm”).
Các ngài ngất nghểu lên đài sảnh
Riêng thầy Quảng Văn – chức quan hàn
Phủ đệ các ngài đầy rượu thịt
Thầy Quảng Văn thường thiếu cơm ăn
Trong lòng thầy vốn ôm đạo thánh
Tài năng dư vượt bậc tiền nhân
Đạo đức trùm đời khổ hạnh
Danh lưu vạn thế có ai cần
Thảo dân Đỗ Lăng buồn cười chưa
Áo vải hở lưng tóc như tơ
Gạo vua mỗi ngày mua năm lẻ
Cùng Lão Trịnh là chỗ bạn bè
Có tiền liền tìm nhau
Lại rượu có sai đâu
Bỏ qua lời sao lễ
Gọi nhau bằng mày tao
Uống rượu thật hết mình
Đáng bậc thầy ta lắm
Đêm thanh, cảm khí xuân, liền uống
Trước hiên đen, mưa bụi, hoa rơi
Cứ hát ca với đất với trời
Chẳng sợ đói vùi thây nơi ngòi rãnh
Tương Như tài cao đành rửa bát
Tử Vân học rộng phải nhảy lầu
Thầy ơi mau hát bài “Quy khứ”
Ruộng đá, nhà rêu, hoang đã lâu
Đạo Nho nào có ích gì chứ
Khổng Khâu, Đạo Chích khác gì nhau
Nghe chi chuyện đó cho buồn chán
Còn sống gặp nhau cứ dốc bầu
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Các ngàu ngất ngưởng bước lên đài
Thầy Quảng Văn quan ghẻ bằng ai
Nơi các ngài nhiều xôi lắm thịt
Thầy Quảng Văn cơm chẳng đủ xài
Đạo thầy nguồn có tự Phục Hy
Tài trên Khuất, Tống mãi còn ghi
Đạo đức nhất đời mà lận đận
Lưu danh muôn thuở để làm gì
Ông già Đỗ Lăng buồn cười chưa
Áo quần cũn cỡn, tóc lưa thưa
Ngày đến kho mua năm đấu gạo
Rồi đi lão Trịnh, chỗ bạn bè
Có tiền, tìm nhau ngay
Hẳn là mua rượu đây
Mày tao, không lễ tiết
Nốc rượu, đáng bậc thầy!
Đêm thanh lặng lẽ rượu xuân mời
Trước đèn mưa bụi, cửa hoa rơi
Có quỷ thần đây, cao giọng hát
Biết đâu đói chết, lấp sông ngòi
Tài giỏi Tương Như mà rửa bát
Học rộng Từ Vân phải nhảy lầu
“Về đi thôi”, thầy sớm ngâm khúc
Ruộng đá, nhà tranh hoang đã lâu
Nho học chẳng giúp được gì ta
Khổng Khâu, Đạo Chích cũng ra ma
Nghe chi chuyện ấy cho sầu não
Còn sống gặp nhau cứ say nhòa
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Các ngài ngồi ngất ngưởng
Đài sảnh cao mấy tầng
Riêng một chức quan lạnh
Dành cho thầy Quảng Văn
Dinh các ngài tấp nập
Xôi thịt chất đầy mâm
Nhưng miếng cơm chẳng đủ
Ấy phận thầy Quảng Văn
Đạo của thầy sáng chói
Bắt nguồn từ Hy Hoàng
Tài của thầy xuất chúng
Khuất, Tống khó sánh ngang
Kẻ nhất thời đạo đức
Sao cả kiếp long đong
Danh này lưu muôn thuở
Có để làm gì không?
Ông Đỗ Lăng quê kệch
Nghĩ đã buồn cười chưa
Áo vừa ngắn vừa chật
Sợi tóc như sợi tơ
Mỗi ngày năm thưng gạo
Lĩnh từ kho triều đình
Rồi tìm sang lão Trịnh
Là chỗ bạn thâm tình
Có chút tiền trong túi
Là họ tìm đến nhau
Dĩ nhiên đem mua rượu
Chuyện này có lạ đâu!
Gọi mày tao chi tớ
Mọi nghi lễ bỏ qua
Rượu uống không biết mệt
Đáng bậc thầy của ta
Vì xuân mà chuốc chén
Giữa thanh vắng trời đêm
Đèn soi cơn mưa nhỏ
Cánh hoa rụng ngoài thềm
Chỉ biết cao giọng hát
Cho quỷ thần biết thôi
Ai hay rồi chết đói
Thân lấp vào rãnh ngòi
Tương Như tài đến thế
Phải rửa bát kiếm ăn
Người nhảy lầu suýt chết
Là Tử Vân uyên thâm
Nhưng thầy sớm đã cao ngâm
Bài thơ trả áo bỏ khăn ra về
Nơi này thanh bạch đất quê
Nhà tranh ruộng đá bốn bề rêu xanh
Bao năm Nho thuật học hành
Hỏi còn để lại cho mình gì đâu
Này Đạo Chính này Khổng Khâu
Đều thành cát bụi một màu hư không
Nghe chi chuyện ấy đau lòng
Chi bằng nâng chén vui trong cõi trần
Nguyễn Chí Tình dịch
***
Khúc giang (kỳ nhất)
Đỗ Phủ
Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân
Phong phiêu vạn điểm chính sầu nhân
Thả khan dục tận hoa kinh nhãn
Mạc yếm thương đa tửu nhập thần
Giang thượng tiểu đường sào phỉ thúy
Uyển biên cao trủng ngọa kỳ lân
Tế suy vật lý tu hành lạc
Hà dụng phù vinh bạn thử thân
Dịch nghĩa:
Khúc Giang1
(Bài 1)
Một cánh hoa rơi là vẻ xuân giảm bớt. Gió thổi làm muôn cánh hoa rơi chình là lúc người ta buồn. Hãy xem trước mắt hoa đã rụng gần hết. Nhưng đừng vì buồn nhiều mà chán rượu. Căn nhà nhỏ ven sông chim trả làm tổ2; Ngôi mộ cao bên vườn tượng kỳ lân đổ nằm3. Suy xét kỹ cái lẽ biến đổi của sự vật thì nên hành lạc. Việc gì phải để cho thứ vinh hoa phù phiếm buộc tấm thân này chứ!
1.Khúc Giang: còn có tên là Hồ Khúc Giang, chốn cũ nằm cách thành Tây An ngày nay chừng 5 km về phía nam. Hán Vũ đế nhân vường Nghi Xuân đời Tần cho đào rộng ra, nước chảy quanh co nên có tên là Khúc Giang. Thời Khai Nguyên nhà Đường tu sửa thêm, bên hồ có các danh thắng như lầu Tử Vân, vườn Phù Dung, vườn Hạnh, chùa Từa Ân, vườn Lạc Du…hoa cỏ vây quanh, khói nướctrong sạch. Những ngày đẹp trời mùa xuân mùa thud u khách nườm nượp.
2.…chim trả làm tổ: ý nói nhà hoang phế, không người ở
3.…kỳ lân đổ nằm: ý nói không được tu bổ chăm sóc, tượng đá kỳ lân đổ kềnh càng.
Hoa rơi một cánh giảm xuân
Hoa rơi muôn cánh càng nhân nỗi sầu
Thấy hoa rụng hết mà đau
Thương tâm nhờ rượu về sau vơi dần
Xa xa kìa mộ kỳ lân
Trên sông một bóng chim xanh xây nhà
Hai chi cái bả phù hoa
Suy đi xét lại vui là vẫn hơn
Trần Vân Long dịch
Một cánh hoa bat bớt vẻ xuân
Hoa rơi vạn đóa nỗi sầu dâng
Hãy nhìn trước mắt hoa gần hết
Đừng để buồn nhiều rượu chán nâng
Nhà nhỏ bên sông chim làm tổ
Mồ cao trên bãi tượng đổ nằm
Xét lẽ tự nhiên cần vui vẻ
Đừng để phù hoa trói buộc chân
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Khúc Giang (Kỳ nhị)
Đỗ Phủ
Triều hồi nhật nhật điển xuân y
Mỗi nhật giang đầu tận túy quy
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Xuyên hoa kiệp điệp thâm thâm kiến
Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.
Dịch nghĩa:
Khúc Giang
(Bài 2)
Ngày ngày tan chầu về là ta cầm đợ áo mùa xuân để đổi rượu uống. Mỗi ngày đều say khướt bên Khúc Giang mới trở về. Thường thường nơi nào ta cũng có nợ rượu. Đời người sống được 70 xưa nay hiếm lắm. Hãy xem: bươm bướm luồn hoa lúc ẩn lúc hiện; Chuồn chuồn chấm nước lơ lửng bay lên bay xuống. Ta muốn nhắn lời rằng cảnh vật luôn luôn thay đổi, do đó hãy cùng thưởng thức đừng để lỡ dịp
Ngày ngày sau buổi chầu tan
Áo xuân đổi rượu Khúc Giang say mềm
Chẳng lo tiền nợ nhiều lên
Chỉ buồn cuộc sống nhân gian chóng già
Kìa xem bươm bướm luồn hoa
Chuồn chuồn giỡn nước bay ra bay vào
Cuộc đời tựa giấc chiêm bao
Hãy vui chớ để tiêu hao tháng ngày
Trần Vân Long dịch
Ngày ngày chầu vãn áo cầm ngay
Mỗi buổi ra về lướt khướt say
Nợ rượu thường xuyên găm khắp chốn
Người già bảy chục hiếm xưa nay
Vườn hoa bươm bướng vòng quanh lượn
Chấm nước chuồn chuồn thấp thoáng bay
Nhắn lời cảnh vật cùng thay đổi
Vui đi đừng để lỡ cơ may
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Khúc giang đối tửu
Đỗ Phủ
Uyển ngoại giang đầu tọa bất quy
Thủy tinh xuân điện chuyển phi vi
Đào hoa tế trục lê hoa lạc
Hoàng điểu thời kiêm bạch điểu phi
Túng ẩm cửu phan nhân cộng khí
Lãn triều chân dữ thế tương vi
Lại tình tiếu giác Thương Châu viễn
Lão đại bi thương vị phất y.
Dịch nghĩa:
Uống rượu bên Khúc Giang
Ngoài vườn ngự1 bên Khúc Giang ngồi lỳ chẳng về. Cung điện mùa xuân lòng bóng nước trở nên lấp lánh. Hoa đào nhỏ rụng theo hoa lê; Chim vàng thỉnh thoảng bay cùng chim trắng. Uống thả cửa lâu ngày bị mọi người ruồng bỏ; Lười đi chầu thật trái ngược với người đời. Dính líu vào chuyện quan chức buồn cười cảm thấy Thương Châu2 xa vời. Già cả buồn thương vì chưa phủi áo được3.
Ngồi lỳ vườn ngự Khúc Giang đây
Lâu đài chiếu nước bóng lung lay
Hoa đào hoa lê theo nhau rụng
Chim vàng chim trắng nối nhịp bay
Uống phứa nên đời nhiều kẻ tránh
Lười chầu thật khác nói thường thay
Việc quan thấy đất nhàn xa mãi
Già rồi phủi áo thế nào đây!
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Ngoài vườn, trên bến, mải mê ngồi
Cung điện lung linh ánh nước soi
Đào, liễu hoa rơi, cành rã rượi
Trắng, vàng chim lượn cánh chơi vơi
Ngồi lâu nát rượu, xa nhân thế
Lười trễ chầy vua, trái lẽ đời
Tiên cảnh Thương Châu ta vốn biết
Áo chưa rũ được, tóc sương phơi
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Ngoài vườn, trên bến, ngồi dai
Gương soi mặt nước lâu đài lung linh
Đào, lê hoa rụng bên mình
Trắng, vàng chim lượn bóng mình bên nhau
Người chê nát rượu ngồi lâu
Thường hay đi trễ, lười chầu khó coi
Thương Châu tiên cảnh xa vời
Áo chưa rũ được già rồi còn đâu
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Cửu nhật lam điền Thôi thị trang
Đỗ Phủ
Lão khứ bi thu cưỡng tự khoan
Hững lai kim nhật tận quân hoan
Tu tương đoản phát hoàn xuy mạo
Tiếu thiến bang nhân vị chỉnh quan
Lam thủy viễn tùng thiên giản lạc
Ngọc sơn cao tịnh lưỡng phong hàn
Minh niên thử hội tri thùy kiện
Túy bả thù du tử tế khan.
Dịch nghĩa:
Ngày mồng 9 tại trang viên họ Thôi ở Lam Điền1
Về già buồn thu gượng tự khuây khỏa. Hôm nay hứng đến cùng các bác vui hết mình. Thẹn vì tóc ngắn lại bị gió thổi bay mũ. Phải cười nhờ người bên cạnh sửa lại mũ cho2. Dòng Lam Thủy3 từ nghìn suối xa đổ xuống; Ngọn Ngọc Sơn cao vời cũng lạnh như hai ngọn núi kia4. Sang năm trong cuộc gặp này biết ai còn mạnh. Ta hãy uống say rồi cầm cành thù du5 nhìn kỹ xem.
1.Lam Điền: một huyện thuộc phủ Kinh Triệu đời Đường
2.Mạnh Gia đời Tần nhân tiết trùng dương đi chơi núi Long Sơn bị gió thổi bay mũ phải nhờ người bên cạnh là Long Ôn sửa lại mũ cho. Việc này thành đề tài để cho Tôn Thịnh làm bài văn trào lộng
3.Lam Thủy Ngọc Sơn là con sông và ngọn núi trước trang viên họ Thôi
4.Hai ngọn núi kia: chỉ Hoa Sơn và Thái Sơn.
5.Thù du: ảnh minh họa là một loại sơn thù du quả mọng.
Thu buồn già lão gượng cho khuây
Hết mình cùng bác vui hôm nay
Ngại quá mũ nghiêng trơ tóc cộc
Cười trừ nhờ bạn sửa cho ngay
Lạc Thủy xa ngàn khe đổ xuống
Ngọc Sơn cao hai núi sánh tày
Năm sau gặp lại ai yếu khỏe
Uống say bói thử nhánh du này
Nguyễn Xuân Dũng dịch
***
Lạc nhật
Đỗ phủ
Lạc nhật tại liêm câu
Khê biên xuân sự u
Phương phi duyên ngạn phố
Tiều thoán ỷ than chu
Trác tước tranh chi trụy
Phi trùng mãn viện du
Trọc dao thùy tạo nhữ
Nhất trước tán thiên ưu.
Dịch nghĩa:
Mặt trời lặn
Mặt trời lặn trước mành. Bên suối cảnh xuân mờ tối, cỏ trong vườn ven suối thơm ngát. Người kiếm củi nấu ăn trên thuyền bên bãi. Chim gõ kiến tranh nhau cành đậu. Côn trùng bay đầy nhà. Rượu đục kia ai làm ra mày mà cứ rót uống là tan ngìn mỗi lo?
Mặt trời đang xuống trước mành
Vẻ xuân bên suối hóa thành âm sâm
Vườn trên bờ cỏ ngát thơm
Tiều phu hái củi nấu cơm trong thuyền
Đầy nhà bướm muỗi huyên thuyên từng bày
Rượu kia ai tạo mà ra
Uống vào tức khắc tan ngay nghìn sầu?
Nguyễn Như Diệm dịch
_____________________________________
SẦM THAM (岑參)
Sầm Tham (715-770), quê gốc Nam Dương (Hà Nam ngày nay), sau di cư đến Giang Lăng (nay thuộc Hồ Bắc). Phụ thân là Sầm Thực, từng hai lần là thứ sử mất sớm. Nhà thơ theo anh cần mẫn khắc khổ học tập. Năm Thiên Bảo 3 (744) đỗ tiến sĩ, làm chức quan nhỏ, sau vào An Tây, làm cácchức tiết độ chưởng thư ký và phán quan An Tây, rồi làm thứ sử Gia Châu, sau khi bãi quan mất ở Thành Đô.
Sầm Tham là nhà thơ biên tái nổi tiếng thời thịnh Đường, giỏi về thơ thất ngôn ca hành, phong cách bi tráng, ngôn ngữ trong sáng, biến hóa tự nhiên. Có Sầm Gia Châu thi tập. Trong Toàn Đường thi ông có 4 quyển.
***
Hành quân cửu nhật tư Trường An cố viên
Sầm Tham
Cưỡng dục đăng cao xứ
Vô nhân tống tửu lai
Dao liên cố viên cúc
Ứng bạng chiến trường khai.
Dịch nghĩa:
Ngày mồng chín hành quân Nhớ vườn cũ ở Trường An
Muốn gượng lên chỗ cao ngóng trông nhưng chẳng có ai đưa rượu tới. Ở xa nhớ thương vườn cúc xưa phải nở cạnh chiến trường.
Muốn gượng lên chỗ cao
Không người đưa rượu tới
Thương vườn xưa vời vợi
Cúc nở cạnh chiến trường
Nguyễn Như Diệm dịch
***
Bạch Tuyết ca tống Vũ phán quan quy kinh
Sầm Tham
Bắc phong quyển địa bạch thảo chiết
Hồ thiên bát nguyệt tức phi tuyết
Hốt như nhất dạ xuân phong lai
Thiên thụ vạn thụ lê hoa khai
Tán nhập châu liêm thấp la mạc
Hồ cừu bất noãn cẩm khâm bạc
Tướng quân giác cung bất đắc khống
Đô hộ thiết y lãnh nan trước
Hãn hải lan can bách trượng băng
Sầu vân thảm đạm vạn lý ngưng
Trung quân trí tửu ẩm quy khách
Hồ cầm tỳ bà dữ Khương địch
Phân phân mộ tuyết há viên môn
Phong xế hồng kỳ đống bất phiên
Luân đài đông môn tống quân khứ
Khứ thời tuyết mãn thiên sơn lộ
Sơn hồi lộ chuyển bất kiến quân
Tuyết thượng không lưu mã hành xứ.
Dịch nghĩa:
Khúc ca tuyết trắng tiễn phán quan họ Vũ về kinh
Gió bấc cuồn cuộn khắp mặt đất, cỏ trắng gẫy gập. Vùng trời Hồ tháng tám tuyết bay khắp nơi. Cảnh tượng giống như một đêm gió xuân thổi đến khiến cho hàng nghìn hàng vạn cây lê đều nở hoa. Gió bay vào rèm châu làm ướt màn là, áo da cáo không ấm chăn gấm mỏng. Cây cung trang sức bằng sừng thú của tướng quân không kéo được vì tay cóng. Áo giáp sắt của đô hộ lạnh khó mặc. Vùng đại sa mạc ngổn ngang trăm trượng băng. Mây buồn ảm đạm đọng lại vạn dặm. Trong doanh trại của chủ soái bày tiếc tiến người về. Đàn tỳ bà của Hồ và sáo của người Khương cùng tấu. Tuyết chiều rơi lả tả xuống cửa lớn doanh trại. Cờ đỏ lạnh cúng gió thổi không bay được. Tại cửa phía đông Luân đài ta tiễn bác đi. Khi bác đi tuyết đầy đường Thiên Sơn. Đường núi vòng vèo trông chẳng thấy bác. Chỉ trơ lại dấu ngựa đi trên tuyết.
Gió bắc ào qua cỏ bạch gãy
Xứ Hồ tháng tám tuyết rơi nhanh
Khác nào một đem gió xuân lại
Hoa lê nở trắng ức vạn cành
Tuyết lọt màn thưa ướt rèm lụa
Áo lông chẳng ấm chăn mỏng manh
Cung sừng tướng quân khôn dương thẳng
Giáp sắt đô đầu khó mặc nhanh
Đại mạc hàng hàng băng như núi
Thảm đạm mây buồn mấy dặm quanh
Tiệc quân rượu tiễn người về xứ
Sáo Khương đàn Hồ cũng hòa thanh
Tuyết rơi lả đả cửa doanh trại
Cờ hồng đông cứng, gió cũng đành
Cửa đông Luân Đài dã biệt bác
Giờ này Thiên Sơn tuyết ngập ghềnh
Đường núi quanh co không thấy bác
Vó ngựa còn in tuyết rành rành
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Gió bấc mù mịt, cỏ trắng tàn
Trời Hồ tháng tám tuyết bay sang
Như bỗng một đêm gió xuân tới
Muôn đóa hoa lê nở trắng ngàn
Tuyết hoa bay bám rèm châu ướt
Áo da không ấm, mỏng chăn màn
Tướng không giương nổi cung sừng thú
Áo giáp quan đô lạnh khó mang
Mây buồn vạn dặm thảm thê giăng
Trong trại rượu bày đưa tiễn khách
Đàn Hồ sáo Khương tấu hòa vang
Tuyết chiều lả tả ngoài doanh trại
Cờ hồng đông cứng gió tràn sang
Cửa đông Luân Đài đưa tiễn bác
Bác đi Thiên Sơn tuyết ngập tràn
Đường núi quanh co không thấy bác
Dấu ngựa còn in tuyết mênh mang
Nguyễn Đình Nhữ dịch
_______________________________________
THÔI MẪN ĐỒNG (崔敏童)
Thôi Mẫn Đông, quê Bác Châu, (phía tây bắc Liêu Thành, tỉnh Sơn Đông), làm chức phó mã đô úy đời vua Đường Huyền Tông (712-756).
***
Yến Đông Thành trang
Thôi Mẫn Đồng
Nhất niên hựu quá nhất niên xuân
Bách tuế tằng vô bách tuế nhân
Năng hướng hoa trung kỷ thời túy
Thập thiên cô tửu mạc từ bần.
Dịch nghĩa:
Dự tiệc tại trang viên Đông Thành
Một năm lại qua đi một mùa xuân. Trăm năm chưa từng thấy có người sống được trăm tuổi. Hồ để được mấy lúc say trước hoa. Vậy nên một vạn đồng mua rượu cũng đừng lấy cớ nghèo mà từ chối.
Năm nọ năm kia nối tiếp nhau
Trăm năm trăm tuổi có ai đâu
Say khướt bên hoa được mấy lúc
Tiếc tiền mua rượu cũng chẳng giàu
Nguyễn Như Diệm dịch
Năm đi, xuân lại qua rồi
Xưa nay ai sống tuổi đời một trăm
Trước hoa say được bao lần
Vạn đồng mua rượu chẳng bần cùng đâu
Nguyễn Đình Nhữ dịch
________________________________________
THÔI HUỆ ĐỒNG (崔惠童)
Thôi Huệ Đồng người Bác Châu (phía tây bắc Liêu Thành tỉnh Sơn Đông). Em họ Thôi Mẫn Đồng. Con trai khiêu vệ tướng quân thứ sử Ký Châu Thôi Đình Ngọc. Lấy công chúa Tấn Quốc, con gái Đường Huyền Tông.
***
Yến Đông Thành trang
Thôi Huệ Đồng
Nhất nguyệt chủ nhân tiếu kỷ hồi
Tương phùng tương trị thả hàm bôi
Nhãn khan xuân sắc như lưu thủy
Kim nhật tàn hoa tạc nhật khai.
Dịch nghĩa:
Dự tiệc tại trang viên Đông Thành
Một tháng chủ nhân vui cười được mấy lần. Gặp nhau đúng lúc nên nhắp chén. Mắt nhìn vẻ xuân trôi qua như nước chảy. Ngày hôm nay đã tàn những bông hoa nở ngày hôm qua.
Một tháng chủ nhân mấy lúc cười
Gặp nhau uống rượu để tìm vui
Xuân như nước chảy treo trước mắt
Hoa tàn mới nở một ngày thôi
Trần Vân Long dịch
Một tháng chủ nhân mấy trận cười
Gặp được nhau đây nhắp chén thôi
Kìa trông xuân sắc như nước chảy
Hoa nở hôm qua, nay héo rồi
Nguyễn Đình Nhữ dịch
________________________________
NGUYÊN KẾT (元結)
Nguyên Kết (719-772), tự Thứ Sơn, người Lỗ Sơn (nay thuộc Hà Nam). Tiến sĩ năm Thiên Bảo 12 (753). Từng tham gia đánh Sử Tư Minh, lập chiến công, sau làm các chức thứ sử Đạo Châu…Chủ trương nhân chính, am hiểu dân tình, làm việc thiết thực, tương đối có tiếng về chính sự.
Thơ ông phản ánh nỗi thống khổ của nhân dân, thiết thực chân chất, không câu nệ niêm luật, có ý nghĩa xã hội tương đối mạnh. Ông có Khiếp trung tập. Trong Toàn Đường thi có 2 quyển thơ ông.
***
Thạch ngư hồ thượng túy ca
Thạch Ngư hồ tự Động Đình
Hạ thủy dục mãn Quân Sơn thanh
Sơn vi tôn thủy vi chiểu
Tửu đồ lịch lịch tọa châu đảo
Trường phong liên nhật tác đại lãng
Bất năng phế nhân vận tửu phảng
Ngã trì trường biều tọa Ba Khâu
Chước ẩm tứ tọa dĩ tán sầu.
Dịch nghĩa:
Say hát trên hồ Thạch Ngư
Hồ Thạch Ngư (cá đá)1 giống như hồ Động Đình. Nước Hạ Thủy2 sắp đầy, núi Quân Sơn3 xanh xanh. Núi là chén rượu, nước là ao rượu. Tửu đồ ngồi lần lượt trên cồn nổi giữa hồ. Gió lớn cả ngày gây sóng to, cũng không thể ngăn thuyền vận chuyển rượu. Ta cầm bầu rượu dài ngồi tại Ba Khâu4. Rót mới bốn bên uống để tiêu sầu.
1.Hồ Thạc Ngư : phía đông huyện Đạo, tỉnh Hồ Nam ngày nay, do trong hồ có nhưng hòn đá to hình con cá nên có tên như vậy.
2.Sông Hạ Thủy : con sông ở phía đông nam Giang Lăng, Hồ Bắc ngày nay. Cũng có thể hiểu là nước mùa hè cho thi vị.
3.Núi Quân Sơn : còn có tên là núi Tương Sơn, ở trong hồ Động Đình, tương truyền phi tử của vua Thuấn là Tương Quân từng chơi ở đây.
4.Ba Khâu : tức là Ba Lăng, ngọn núi bên hồ Động Đình.
Thạch Ngư giống Động Đình hồ
Quân Sơn xanh, nước mùa hè dâng nhanh
Núi là chén, nước – ao thanh
Tửu đồ lần lược ngồi quanh đảo gò
Suốt ngày gió giấy sóng to
Ngăn được thuyền chở những võ rượu đâu
Ta ngồi chính giữa Ba Khâu
Rót mời khắp lượt tiêu sầu bốn bên
Trần Vân Long dịch
_____________________________________
GIẢ CHÍ (賈至)
Giả Chí (?-772), tự Âu Lân, người Lạc Dương (nay là Hà Nam). Đầu thời Thiên Bảo, Huyền Tông làm đơn phụ úy, làm quan qua 3 triều Huyền Tông, Túc Tông, Đại Tông, giữ các chức trung thư xá nhân…làm chức quan tán kỵ thường thị. Phong cách thơ sang trọng cao nhã.
***
Tống Lý thị lang phó Thường Châu
Giả Chí
Tuyết tình vân tán bắc phong hàn
Sở thủy Ngô sơn đạo lộ nan
Kim nhật tống quân tu tận túy
Minh triêu tương ức lộ man man
Dịch nghĩa:
Tiễn thị lang họ Lý đi Thường Châu
Tuyết tạnh mây tan gió bấc lạnh. Sông nước Sở núi nước Ngô đường đi khó khăn. Hôm nay tiễn anh ta nên uống hết mình. Sáng mai nhớ nhau đường xa vời vợi
Tuyết tan mây tản gió bắc tràn
Núi Ngô sông Sở đường gian nan
Tôi bác bữa nay say một trận
Mai rồi xa cách nhớ mênh mang
Trần Vân Long dịch
Tuyết tạnh, mây tan, gió Bắc tràn
Nước Sở, non Ngô, khó lôi sang
Tiễn bạn hôm nay say hết cỡ
Mai nhớ thương xa vạn dặm đàng
Nguyễn Đình Nhữ dịch
________________________________________
TRƯƠNG VỊ (張謂)
Trương Vị (?-khoảng 778), tự Chính Ngôn, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Thẩm Dương, Hà Nam). Tiến sĩ năm Thiên Bảo 2 (743) làm thượng thư lang. Năm Đại Lịch 2, 3 đời Đại Tông (767,768) làm thứ sử Đàm Châu. Sau vào triều làm thái tử tả thứ tử. Mùa đông năm Đại Lịch 6 (771) làm thị lang bộ Lễ.
Thơ ông cách luật nghiêm chỉnh, thi tứ tinh thâm.
***
Hồ trung đối tửu tác
Trương Vị
Dạ tọa bất yếm hồ thượng nguyệt
Trú hành bất yếm hồ thượng sơn
Nhãn tiền nhất tôn hựu thường mãn
Tâm trung vạn sự như đẳng nhàn
Chủ nhân hữu thử bách dư thạch
Trọc dao sổ đầu ưng bất tích
Tức kim tương đối bất tận hoan
Biệt hậu tương tư phục hà ích
Thù du loan đầu quy lộ xa
Nguyện quân thả túc Hoàng công gia
Phong quang nhược thử nhân bất túy
Sâm si cô phụ đông viên hoa.
Dịch nghĩa:
Thơ làm khi uống rượu trong hồ
Đêm ngồi ngắm không chán trăng trên hồ, ngay đi nhìn không chán núi trên hồ. Trước mặt chén rượu lại thường đầy, trong lòng mọi chuyện dường thảnh thơi. Chủ nhân có nếp trên trăm thạch1, rượu đục mấy đấu2 hẳn chẳng tiếc. Giờ gặp mặt không vui hết mình, sau chia tay nhớ nhau phỏng có ích gì. Đầu vịnh Thù Du3 đường về còn xa, mong bác hãy trú lại nhà ông Hoàng4. Phong cảnh thế này mà người không say thì há chẳng phụ lòng những bông hoa nhấp nhô ở vườn phía đông sao!
1.Thạch: bằng 60 kg
2.đấu: bằng 10 lít
3.vịnh Thù Du: tại Dương Châu
4.Hoàng công gia: nhà chủ lò rượu, nơi trước đây Tấn vương Tuất, Kê Khang, Nguyễn Tịch uống rượu. Ở đây chỉ có nghĩa là một quán rượu nào đấy.
Hồ đêm nay trăng sáng ngồi không chán
Ngày đi chẳng mỏi ven núi hồ
Trước mặt chén rượu thường đầy ắp
Trong lòng vạn sự dường hư vô
Chủ nhà gạo nếp có trăm thúng
Rượu đục tiếc gì vài bốn vò
Gặp nhau nếu không vui hết mức
Xa rồi nhớ nhau cũng bằng thừa
Từ vịnh ra đường còn rất xa
Bác hãy nghỉ tạm Hoàng công gia
Cảnh này mà người không say khướt
Là phụ lòng hoa phía đông nhà
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Đêm ngồi ngắm nguyệt rạng trên hồ
Ngày dạo ngắm hoài núi nhấp nhô
Chén rượu thường đầy ngay trước mặt
Lòng không vương vấn chuyện tầm phơ
Chủ nhân có nếp dư ngàn thạch
Rượu mạnh mấy thùng chẳng tiếc chi
Giờ gặp nhau đây vui thở thích
Xa rồi nhung nhớ có ích gì
Đường tới Thù Du còn xa vời
Đây quán ông Hoàng bác nghỉ chơi
Cảnh đẹp thế này người cứ tỉnh
Là phu lòng hoa phía đông rồi
Nguyễn Đình Nhữ dịch
____________________________________
TƯ KHÔNG THỰ (司空曙)
Tư Không Thự (720-790), tự Văn Minh (có bản ghi là Văn Sơ?), người Quảng Bình (phía đông Vĩnh Niên, Hà Bắc ngày nay). Lúc trẻ tới Trường An thi, không đỗ. Thời Trinh Nguyên, Đức Tông, làm kiếm hiệu thủy bộ lang trung. Ông là một trong 10 tài tử thời Đại Lịch.
Thơ ông phần nhiều viết về cảnh tiễn biệt, cuộc sống lênh đênh phiêu dạt. Ông khéo dùng từ ngữ chân thật thẳng thắn để biểu hiện nỗi niềm lưu lạc tha hương, tình cảm buồn rầu thất ý. Trong Toàn Đường thi ông co 2 quyển.
***
Ngoạn hoa dữ vệ tượng đồng túy
Tư Không Thự
Suy mấn thiên hành tuyết
Tha hương nhất thụ hoa
Kim triêu dữ quân túy
Vong khước tại Trường Sa.
Dịch nghĩa:
Ngắm hoa cùng say với Vệ Tượng
Tóc ta cắn nghìn sợi trắng như tuyết. Chốn quê người cùng ngắm một cây hoa. Sáng nay cùng bạn say khiến tôi quên rằng mình đang ở Trường Sa*.
*Trường Sa: thuộc Hồ Nam, cách Động Đình 150 km về phía nam, nơi trước kia khí hậu rất độc, làm quan nơi này coi như bị đi đày.
Tóc cằn nghìn sợi tuyết
Quê người một nhành hoa
Sáng nay say cùng bạn
Quên mình ở Trường Sa
Nguyễn Như Diệm dịch
***
Vân Dương quan dữ Hàn Thân túc biệt
Cố nhân giang hải biệt
Ký độ cách sơn xuyên
Sạ kiến phiên nghi mộng
Tương bi các vấn niên
Cô đăng hàn chiếu vũ
Thấp trúc ám phù yên
Cánh hữu minh triêu hận
Ly bôi tích cộng truyền.
Dịch nghĩa:
Chia tay Hàn Thân sau khi cùng nhau trọ tại quán Vân Dương*
Bạn cũ mối người một ngả bôn ba sông biển, bao lần cách trở núi sông. Nay bỗng gặp lại thoạt nhìn nhau lại ngỡ trong mơ. Sau một hồi đau buồn liền hỏi tuổi nhau. Ánh đèn lẻ loi lạnh lẽo soi rọi làn mưa bên ngoài; Khóm trúc ướt bị lớp khói nổi lên làm mờ khuất. Giận nỗi sáng mai lại phải chia tay nhau rồi. Chén rượu tiễn biệt mà lòng dùng dằng không dứt.
*Vân dương: tên huyện phía tây bắc huyện Kinh Dương Thiểm Tây ngày nay.
Cố nhân phiêu bạt cả
Mấy độ cách giang hà
Bỗng gặp tưởng như mộng
Mừng tủi hỏi chuyện qua
Đèn lẻ chiếu mưa lạnh
Trúc ướt phủ khói xanh
Mai đã chia tay nhỉ
Nâng chén, dừng chẳng đành
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Xa nhau biền biệt biển sông
Bao lần cách trở núi sông mịt mờ
Gặp nhau ngỡ trong mơ
Chợt buồn hỏi tuổi bây giờ là bao
Mưa rơi đèn lạnh soi vào
Trúc mai ẩm ướt khói bao phủ dày
Buồn vì mai phải chia tay
Nâng ly từ biệt mà day dứt hoài
Nguyễn Đình Nhữ dịch
______________________________________
TIỀN KHỞI (錢起)
Tiền khởi (khoảng 720-782), tự Trọng Văn, người Ngô Hưng (Hồ Chây, Triết Giang ngày nay). Tiến sĩ năm Thiên Bảo 10 (751) đời Huyền Tông, làm hiệu thư lang ở Bí thư sảnh. Khoảng năm Càn Nguyên 1 (758) làm huyện úy Lam Điền. Thời Đại Lịch (766-780) làm tư huân viên ngoại lang, tư phong lang trung, rồi đến khảo công lang trung.
Thơ ông phong cách mới lạ hoa mỹ, ngôn ngữ trong sángtinh luyện. Có Tiền Khảo công tập. Trong Toàn Đường thi ông có 4 quyển.
***
Đề Thôi dật nhân sơn đình
Tiền Khởi
Dược kính thâm hồng tiển
Sơn song mãn thúy vi
Tiện quân hoa hạ túy
Hồ điệp mộng trung phi.
Dịch nghĩa:
Đề nhà trong núi của ẩn sĩ Thôi
Đương hoa thược dược đỏ mọc dày. Cửa sổ nhà trong núi cây cối xanh um. Thật hâm mộ bác say nằm dưới hoa, trong giấc mơ bươm bướm bay chập chờn.
Đường núi hoa nở đầy
Trước cửa xanh ngàn cây
Dưới hoa rượu say ngủ
Mộng rợp cánh bướm bay
Trần Vân Long dịch
Đường hoa thược dược nở đầy
Nhà trong xóm núi bóng cây xanh rờn
Dưới hoa say rượu bác nằm
Trong mơ bướm bướm chập chờn cánh bay
Trần Vân Long dịch
Đường hoa rêu đỏ dày
Ngoài cửa thẫm lá cây
Dưới hoa say. Phục bác
Mơ, chập chờn bướm bay
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Đường hoa thuộc dược dày rêu đỏ
Cửa nhà nép kín vạn cây xanh
Dưới hoa phục bác nằm say khướt
Trong mộng chờn vờn bướm lượn bay
Nguyễn Chí Tình dịch
_________________________________________
ĐỚI THÚC LUÂN (戴叔倫)
Đới Thúc Luân (732-789), tự Âu Công, người Kim Đản, Nhuận Châu (nay thuộc Giang Tô). Từng làm Đông Dương lệnh, sau làm thứ sử Phủ Châu. Năm Trinh Nguyên 4 (788), đổi làm thứ sử Dung Châu, kinh lược sứ Dung Quản, năm sau qua đời.
Thơ ông trữ tình chân thật, tả cảnh sinh động. Trong Toàn Đường thi có 2 quyển thơ ông.
***
Giang hương cố nhân ngẫu tập khách xá
Đới Thúc Luân
Thiên thu nguyệt hựu mãn
Thành khuyết dạ thiên trùng
Hoàn tác Giang Nam hội
Thiên nghi mộng lý phùng
Phong chi kinh ám thước
Lộ thảo khấp hàn trùng
Cơ lữ trường kham túy
Tương lưu úy hiểu chung.
Dịch nghĩa:
Bạn cũ quê Giang Nam Tình cờ họp mặt tại quán khách.
Trời đã sang thu, trăng tròn đầy, chiếu trên nghìn trùng lâu đài thành quách chốn kinh thành. Đâu ngờ lại gặp bạn cũ quê Giang Nam ở đây. Cứ ngỡ như gặp ở trong mộng vậy. Gió lay cành làm kinh động đám chim khách đang đậu trên đó. Trong đám cỏ ngậm sương tiếng côn trùng kêu như than khóc. Phiêu dạt chốn quê người chỉ còn biết cùng nhau say dài. Muốn giữ nhau lại như lại sợ tiếng chuông báo sán.
Giang Nam trăng thu tròn
Thành ốc phơi bát ngát
Chợt bạn bè gặp đông
Cứ ngỡ là trong mộng!
Gió lay chim dáo dác
Cỏ sương dế kêu than
Tha hương muốn say mãi
Chuông canh báo đêm tàn
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Đêm thu trăng tròn đầy
Chiếu muôn trùng thành quách
Giang Nam bạn về đây
Gặp nhau ngỡ trong mộng
Gió động chim trên cây
Trùng kêu trong sương cỏ
Đời phiêu dạt cùng say
Giữ nhau, lo chuông sáng
Nguyễn Đình Nhữ dịch
___________________________________________
VI ỨNG VẬT (韋應物)
Vị Ứng Vật (737-khoảng 792), người Van Niên, Kinh Triệu (nay là Tây An, Thiểm Tây. Thiếu thời làm tam vệ lang, hầu cận Huyền Tông. Sau vào học thái học, lần lượt giữ các chức Lạc Dương thừa, Giang Châu thứ sử, tả ty lang trung, Tô Châu thứ sử, nên người đời gọi Vi Giang Châu, Vi Tả Ty, Vi Tô Châu.
Thơ ngũ ngôn của Vi Ứng Vật cao nhã, thơ sơn thủy điền viên học Đào Uyên Minh, thanh nhã điềm đạm. Cũng có một số thơ phản ánh nỗi thống khổ của nhân dân, đả kích nền chính trị đương thời. Có Vi Tô Châu tập. Trong Toàn Đường thi có 10 quyển thơ ông.
***
Ký toàn Tiêu Sơn Trung đạo sĩ
Vi Ứng Vật
Kim triêu quận trai lãnh
Hốt niệm sơn trung khách
Giản để thúc kinh tân
Quy lai chử bạch thạch
Dục trì nhất biều tửu
Viễn úy phong vũ tịch
Lạc diệp mãn không sơn
Hà xứ tầm hành tích.
Dịch nghĩa:
Gửi đạo sĩ trong núi Toàn Tiêu1
Sáng nay dinh quận2 vắng vẻ lạnh lẽo, ta bỗng nhớ người bạn trong núi3 vẫn kiếm củi đáy khe đem về nấu bạch thạch4. Ta muốn mang một bầu rượu đến thăm bạn, nhưng xa ngại chiều mưa gió nhưng lá rụng đầy núi. Biết tìm hành tích bạn nơi đâu bây giờ?
1.Toàn Tiêu: tên một huyện ở phía đông tỉnh An Huy
2.Dinh quận: lúc này Vi Ứng Vật đang làm thứ sử Tô Châu
3.Người bạn trong núi: chỉ đạo sĩ trong núi Thần Sơn phía tây huyện Toàn Tiêu
4.Theo sách Thần Tiên truyện, nấu bạch thạch làm lương thực. Còn theo sách Vân cấp thất thiêm, đạo gia có 5 cách nấu thạch anh vào ngày trùng dương, sau khi trai giới, người ta nấu thiêm bạch (?), thạch anh trắng, mật trắng (?), vừng đen và nước suối để uống.
Dinh quang nay buổi lạnh trời
Bâng khuâng tấc dạ nhớ người Thần Sơn
Lòng khe kiếm củi sớm hôm
Về nấu bạch thạch luyện đan tháng ngày
Muốn đem một hũ rượu đầy
Tới thăm bạn hữu giữa ngày gió mưa
Hoang sơn lá rụng bộn bừa
Biết tìm hành tích bạn xưa chốn nào
Trần Vân Long dịch
***
Hoài thượng hỉ hội Lương Châu cố nhân
Vi Ứng Vật
Giang Hán từng vi khách
Tương phùng mỗi túy hoàn
Phù vân nhất biệt hậu
Lưu thủy thập niên gian
Hoan tiếu tình như cựu
Tiêu sơ mấn dĩ hoàn
Hà nhân bất quy khứ
Hoài thượng hữu thu san.
Dịch nghĩa:
Ven sông Hoài2 mừng Gặp bạn cũ ở Lương Châu2
Vùng lưu vực Hán Thủy3 ta từng làm khách ở đó. Mỗi lần gặp nhau là lại say khướt mới trở về. Cuộc đời lang thang như mấy nổi, sau lần gặp ấy thế mà thời gian qua mau như nước chảy, thoáng chốc đã mười năm. Giờ gặp nhau lại nhau vui cười, tình vẫn như xưa, nhưng mái tóc lưa thưa vì đã lốm đốm bạc. Vì cớ gì mà bạn không trở về? Trên bờ sông Hoài vẫn có dãy núi mùa thu, là nơi ta có thể ngắm cảnh tiêu sầu.
1.Sông Hoài: chỉ vùng Hoài Âm, Giang Tô ngày nay
2.Lương Châu: phía đông huyện Nam Trịnh, Thiểm Tây ngày nay
3.Giang Hán: trong nguyên văn là chỉ sông Hán Thủy, phần phía bắc sông thuộc địa phận Lương Châu.
Từng là khách rượu Giang Hán
Mỗi chầu say tít cung thang đã đời
Kiếp người nước chảy mây trôi
Mới chia tay đó đã mười tiết xuân
Tình xưa xa vẫn như gần
Dẫu rằng mái tóc có phần điểm sương
Sông Hoài cảnh đẹp Thu Sơn
Sau mê đến mấy cũng nên quay về
Trần Đình Hiến dịch
Đất Giang Hán ta từng làm khách
Gặp nhau thường say khướt mới về
Nước mây cách trở sơn khê
Mới chia tay đó ai dè mười năm
Vui gặp lại tình thâm như cũ
Có khác chăng tóc đã bạc rồi
Cớ sao còn chửa về thôi
Núi mùa Thu với sông Hoài gọi ta
Trần Vân Long dịch
Vùng Hán Thủy ta từng làm khách
Mỗi lần gặp nhau một cuộc say
Mà đời phiêu dạt như mây nổi
Mười năm phút chốc đã vèo bay
Hội ngộ – tình xưa nay vẫn thắm
Quản chi tóc bạc theo tháng ngày
Hãy trở về thôi người bạn cũ
Hoài Hà còn đó, núi giăng mây
Lê Sơn dịch
Ta vẫn nhớ đất xưa Hán Thủy
Đời lãng du từng có lúc dừng chân
Mỗi buổi tương phùng cạn chén tri âm
Say mê mệt mới trở về quán trọ
Từ buổi chia tay dặm dài sương gió
Như đám mây lang thang cuối đất cùng trời
Vun vút thời gian – thoắt đã chục năm rồi
Trên đất khách lại tình cờ gặp mặt
Lại cạn chén tri âm, lại câu cười tiếng hát
Tấm tình xưa vẫn giữ trọn cho nhau
Nhưng trông kìa: trên mỗi mái đầu
Thời gian nhuốm lưa thưa từng sợi bạc
Thì cớ gì mà gót chân phiêu bạt
Chưa trở về cùng chốn cũ quê xưa
Trên bờ sông Hoài có rặng núi mùa Thu
Cảnh trí đẹp cho lòng ta ngây ngất
Nguyễn Chí Tình dịch
***
Hiệu Đào Bành Trạch
Vi Ứng Vật
Sương lạc tụy bách thảo
Thời cúc độc nghiên hoa
Vật tính hữu như thử
Hàn thủ kỳ nại hà
Xuyết anh phiếm trọc lao
Nhật nhập hội điền gia
Tận túy mao thiềm hạ
Nhất sinh khởi tại gia.
Dịch nghĩa:
Bắt chước Đào Bành Trạch
Sương xuống làm trăm thứ cây cỏ khô cằn, riêng hoa cúc vẫn xinh tươi. Bản tính của vạn vật là như thế, nóng lạnh có làm sao. Ta ngắt hoa ngâm vào rượu đục, đợi lúc mặt trời lặn cùng họp nhau tại điền gia, cùng mọi người say hết mình dưới thềm tranh. Cuộc đời cần gì nhiều hơn thế nữa đâu!
Sương roi cây cỏ tiêu điều
Mà riêng cúc vẫn yêu kiều dáng hoa
Tự nhiên là vậy đó mà
Dẫu rằng nóng lạnh có là làm sao
Ngắt cánh hoa ngâm vào rượu đục
Hẹn gặp nhau vào lúc chiều tà
Thềm tranh nâng chén la đà
Cuộc đời như thế với ta đã nhiều!
Nguyễn Như Diệm dịch
Sương sa lạnh cây cỏ héo khô
Riêng cúc hoa rực rỡ cánh vàng
Bản tính sự vật lạ thường
Trời kia nóng lạnh biết chừng làm sao
Ngắt cánh hoa ngâm vào rượu đục
Lúc chiều tà ta gặp mặt nhau
Uống ca vui suốt đêm thâu
Cuộc đời nghĩ vậy cũng âu đủ rồi
Trần Vân Long dịch
Cỏ cằn khô, sương sa
Riêng mình cúc nở hoa
Vạn vật là như thế
Nóng lạnh cách bao xa
Ngắt nhụy hoa ngâm rượu
Tối họp tại điền gia
Dưới thềm tranh say khướt
Còn gì hơn đâu mà
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Thính giang địch tống Lục thị ngự
Vi Ứng Vật
Viễn thính giang thượng địch
Lâm thương nhất tống quân
Hoàn sầu độc túc dạ
Cánh hướng cộng trai văn.
Dịch nghĩa:
Nghe sáo trên sông tiễn thị ngự họ Lục
Nghe tiếng sáo xa xa trên sông. Nâng chén tiễn bạn đi rồi, còn một mình buồn rầu trong đêm. Ta lại hướng về phía thư phòng lắng nghe tiếng sáo.
Xa nghe tiếng sáo trên sông
Rượu đưa tiễn người xong
Trở về đêm sầu lẻ
Sáo vẫn vẳng trong phòng
Nguyễn Như Diệm dịch
Xa nghe tiếng sáo trên sông
Bữa nay nâng chén rượu nồng tiễn anh
Trở về đêm bắng buồn tênh
Lại nghe văng vẳng bên mình sáo ngâm
Trần Vân Long dịch
***
Thù liễu lang trung xuân nhật quy Dương Châu nam quách kiến chi tác
Vi Ứng Vật
Quảng Lăng tam nguyệt chính hoa khai
Hoa lý phùng quân túy nhất hồi
Nam bắc tương qua thù bất viễn
Mộ triều quy khứ tảo triều lai.
Dịch nghĩa:
Đáp bài thơ Ngày xuân về ngoài thành phía nam Dương Châu gặp bạn rồi chia tay của lang trung họ Nguyễn.
Tháng ba ở Quảng Lăng1 đúng lúc hoa nở. Gặp bạn giữa mùa hoa ta phải say một chầu. Nam bắc2 qua lại thật ra chẳng xa là mấy. Buổi chiều thủy triều rút rồi buổi sáng thủy triều lại tới thôi mà.
1.Quảng Lăng: tức Dương Châu
2.Nam bắc: chỉ đôi bờ nam bắc sông Dương Tử
Quảng Lăng hoa nở rộ tháng ba
Giữa hoa gặp bạn rượu say nhòa
Buổi sáng triều lên chiều triều xuống
Nam bắc đôi bờ đâu cách xa
Nguyễn Như Diệm dịch
___________________________________________
HÀN DŨ (韩愈)
Hàn Dũ (768-824), tự Thoái Chi, người Hà Dương (phía đông Mạnh Châu, Hà Nam ngày nay). Còn được người đời gọi là Hàn Xương Lê. Tiến sĩ năm Đức Tông Trinh Nguyên (792).Từng giữ các chức quốc tử bác sĩ, Hình bộ thị lang, giám sát ngự sử. Vì dâng sớ can gián vua bị biếm làm Thứ sử Triều Châu. Không lâu quay về triều, lần lượt làm quốc tử tế tửu, Binh bộ thị lang, kinh triệu doãn. Tính cách chính trực, nói thẳng, là người khởi xướng phong trào cổ văn đời Đường. Lý luận và sáng tác thơ ca của ông đều có những thành tựu quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới hậu thế. Tản văn của ông được xếp đứng đầu “Bát đại gia Đường, Tống”.
Thơ ông khí phách hùng vĩ, tưởng tượng ới lạ, ý cảnh tráng khoat, không rơi vào lối mòn quen thuộc, thích dùng chữ mới, vần hiểm, tạo ra một phong cách mói, nhưng cũng có lúc rơi vào bí hiểm. Ông có ảnh hưởng tương đối lớn tới thơ Tống. Có Xương Lê tiên sinh tập. Trong Toàn Đường thi có 10 quyển của ông.
***
Bát nguyệt thập ngũ dạ tặng Trương Công Tào
Hàn Dũ
Tiêm vân tứ quyển thiên vô hà
Thanh phong thư không nguyệt thư ba
Sa bình thủy tức thanh ảnh tuyệt
Nhất bôi tương thuộc quân đương ca
Quân ca thanh toan từ chính khổ
Bất năng thính chung lệ như vũ
Động Đình liên thiên Cửu Nghi cao
Giao long xuất một tinh ngô hiệu
Thập tinh cửu tử đáo quan sở
U cư mặc mặc như tàng đào
Hạ sàng úy xà thực úy dược
Hải khí thấp chập huân tinh tao
Tạc giả châu tiền chúy đại cổ
Tự hoàng kế thánh đăng Quý Cao
Xá thư nhất nhật hành thiên lý
Tội tùng đại bích giai trừ tử
Thiên giả truy hồi lưu giả hoàn
Địch hà đãng cấu thanh triều ban
Châu gia thân danh sứ gia ức
Khám kha chỉ đắc di kinh man
Phán ty tỳ quan bất kham thuyết
Vị miễn chúy sở trần ai gian
Đồng thời lưu bối đa thương đạo
Thiên lộ u hiểm nan truy phan
Quân ca thả hưu thính ngã ca
Ngã ca kim dữ quân thù khoa
Nhất nguyên minh nguyệt kim tiêu đa
Nhân sinh do mệnh phi do tha
Hữu tửu bất ẩm nại minh hà?
Dịch nghĩa:
Đêm rằm tháng tám tặng công tào họ Trương1
Mây tơ cuồn cuộn bốn bên trời không có sao. Gió trong thổi trên không ánh trăng như sóng nước tràn ra xung quanh. Bờ cát bằng phẳng, nước sông êm ru, xung quanh không một tiếng động. Mời nhau một chén để nghe bác hát. Bác hát tiếng chua xót, lởi đắng cay. Tôi không thể nghe hết nước mắt như mưa:
“Hồ Động Đình như liền với trời, Cửu nghi2 cao vời. Giao long ẩn hiện, tinh tinh và loài chuột bay khổng lồ gầm gào. Một sống mười chết mới đến được nhiệm sở nơi bị biếm3. Sống âm thầm lặng lẽ như lẩn trốn. Xuống giường sợ rắn, ăn sợ thuốc độc. Rắn rết ẩn nấp chỗ ẩm ướt bốc mùi tanh tao.
Hôm qua trước nha môn châu4 nổi trống lớn5. Vua nối ngôi6 trọng dụng Quỳ Cao7. Quan lại đưa lệnh ân xá 8 một ngày đi nghìn dặm. Tội từ tử hình đều miễn chết. Những người bị giáng chức được phục hồi, những người bị lưu phóng được trở về. Thanh trừ tệ nạ chỉnh đốn triều cương.
Nhà Châu9 áo tên ta lên trên, nhà sứ10 ghìm lại. Thất vọng ta đành chịu điều về vùng kinh man11 này. Là phán ty12 chức quan thấp, ta có nói cũng vô ích. Không những thế mà còn không tránh được bị nọc ra đánh đòn roi. Những người cùng bị lưu phóng với ta phần lớn đã lên đường trở về kinh thành. Con đường tiến thân nhập triều u hiểm ta khó leo lên”.
Bác tạm ngừng ca nghe tôi ca. Tôi ca lúc này khác với bác ca:
“Cả năm đêm nay trăng sáng nhất. Đời người do số mệnh không phải do gì khác. Có rượu ngon không uống làm sao xứng với trăng sáng?”
(1)Công tào họ Trương: tức Trương Thự, nhà thơ và Trương Thự cùng là giám sát ngự sử, cùng vì thẳng thắn can gián mà bị biếm xuống phương nam, lại cùng hy vọng nhân Hiến Tông đại xá mà được triệu hồi, nhưng rồi hy vọng tan vỡ, buồn chán cùng nâng chén ca ngâm động viên lẫn nhau vào đêm trung thu trăng sáng.
(2)Cửu Nghi: tên ngọn núi tại Ninh Viễn, tỉnh Hồ Nam
(3)nhiệm sở nơi bị biếm: Lâm vũ, nay thuộc Hồ Nam
(4)Nha môn châu: chỉ Châu Xâm này thuộc vùng đông nam tỉnh Hồ Nam
(5)Thời Đường khi ban bố lệnh ân xá phải đánh trống để triệu tập quan lại và dân chúng
(6)Vua nối ngôi: chỉ Đường Hiến Tông
(7)Quỳ, Cao: hai hiền thần đời Nghiêu Thuấn. Ở đây chỉ những người hiền tài
(8)Lệnh ân xá: do Hiến Tông ban ngày 5 tháng 8 năm Vĩnh Trinh thứ 1 (805)
(9)Nhà châu: chỉ thứ sử châu quận
(10)Nhà sứ: chỉ Dương Bằng, quan sát sứ do trung ương đặc phái, người gây trở ngại cho Hàn Dũ và Trương Thự
(11)Kinh man này: chỉ việc bị điều về Giang Lăng
(12)Phán ty: gọi chung các tào tham quân
Mây tuyết bốn bề, tinh tú vắng
Gió lay sóng sánh ánh trăng ngà
Cát bằng, nước lặng, thanh bình quá
Một chén đưa mời bác ngâm nga
Bác ngâm giọng thảm lời chua xót
Chẳng thể nghe xong lệ ứa nhòa
Cái kiếp quan trường là thế thế
Giữa đường ngõ hẹp lắm oan gia
Nào bẩn, nào gian, nào hung ác
Trời cao luôn điếc đặc đó mà
Bác đã ca rồi, để tôi ca
Bài ca tôi biết khác bác xa
Cả năm đêm nay trăng sáng nhất
Đời người tại số chẳng tại ta
Trong tay có rượu mà không uống
Làm sao xứng đáng với trăng ngà
Nguyễn Xuân Dũng lược dịch
Bốn bề cuồn cuộn mây tơ
Trời xanh thăm thẳm lặng tờ không sao
Gió trong hun hút trên cao
Trăng như sóng nước đổ trào xung quanh
Êm ru sổng chẳng cựa mình
Bên bờ cát phẳng, lặng thinh đất trời
Tay nâng chén rượu cùng mời
Lắng nghe bác hát những lời đắng cay
Nghe sao hết được lời này
Xót lòng nước mắt rơi đầy như mưa:
“Hồ Động Đình tiếp với trời
Núi Cửu Nghi cao thăm thẳm
Giao long khi hiện khi ẩn
Tinh tinh rình rập đó đây
Lại thêm những bầy chuột bay
Mình khổng lồ tiếng gầm rú
Đường lưu đầy muôn gian khó
Tới nơi sống một chết mười
Chốn này mảnh đất kinh người
Sống âm thầm như lẩn trốn
Rời khỏi giường sợ rắn cắn
Ăn sợ thuốc độc vào thân
Một màn ẩm ướt bao trùm
Làm nơi ẩn mình rắn rết
Một mùi tanh tao khủng khiếp
Thay cho khí thở ngày đêm
Mới hôm qua nổi lên trống lớn
Trước nha môn chào đón tin vui
Minh quân vừa đó nối ngôi
Chăm lo việc nước trọng người tài cao
Lệnh ân xá ngựa lao nghìn dặm
Đưa ý vua đến tận mọi nhà
Tội tử hình cũng được tha
Những người giáng chức lại ra quan trường
Người lưu phóng hồi hương lập nghiệp
Xứ sở này giải hết nỗi oan
Trừ lại những loại tham quan
Quang minh chính sự rỡ ràng triều cương
Lòng ta khấp khởi mừng
Nghĩ cửa đời đang mở
Công văn quan thứ sử
Đưa tên ta lên trên
Ngờ đâu gặp vận đen
Là bàn tay sát sứ
Sao bỗng nhiên vô cớ
Chặng lại đường ta đi
Một chức quan thấp kém
Ví bằng ta cất tiếng
Liệu có ai nghe ta
Chưa kể bị lôi ra
Ăn đòn roi vùi dập
Bao người đã cùng ta qua những ngày bi đát
Đều hân hoan về lại kinh thành
Đường tiến thân của ta trăm nối gập ghềnh
Nguy hiểm đủ bề ta làm sao leo được”.
Bác tạm ngừng ca nghe tôi ca
Nhưng tôi ca giờ khác bác xa
Bởi lời tôi hát chan hòa niềm vui
Hẳn rằng bác thấy như tôi
Ánh trăng tỏa sáng nhất đời đêm nay
Trăm ngàn khổ sướng rủi may
Cũng do số mệnh đời này mà thôi
Nếu không nâng chén cùng vui
Làm sao xứng được với trời đầy trăng?
Nguyễn Chí Tình dịch
________________________________________
LƯU VŨ TÍCH (劉禹錫)
Lưu Vũ Tích (772-842), tự Mộng Đắc, người Lạc Dương (nay thuộc Hà Nam). Tiến sĩ năm Trình Nguyên 9 (793), được trao chức thái tử hiệu thư, giám sát ngự sử. Sauk hi Đường Thuận Tông kế vị, giữ chức đồn điền viên ngoại lang. Tham gia vào cuộc cách tân Vĩnh Trinh (805). Sauk hi cuộc cách tân thất bại, bị biếm làm tư mã Lang Châu. Sau lần lướt làm thứ sử các châu Bá, Liêu, Quỳ, Hòa, Tô Nhữ, Đồng rồi vào triều đình làm thái tử tân khách. Thời Vũ Tông được phòng hàm Kiểm hiệu Lễ bộ thượng thư. Người đời gọi là Lưu Tân Khách, Lưu Thượng Thư.
Thơ ông gồm đủ thể loại, phong cách trầm tĩnh, vững trãi, mới mẻ, tự nhiên. Những bài thơ ông làm phỏng theo dân ca, như “Trúc chi từ” mở ra một diện mạo mới trong thơ Đường, có ảnh hưởng sâu xa đến đời sau. Có Lưu Tân Khách thi tập. Toàn Đường thi có 12 quyển thơ ông.
***
Ẩm tửu khan mẫu đơn
Lưu Vũ Tích
Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm túy sổ bôi
Đãn sầu hoa hữu ngữ
Bất vị lão nhân khai.
Dịch nghĩa:
Uống rượu ngắm hoa mẫu đơn
Hôm nay uống rượu trước hoa. Những mong uống mấy chén cho say. Nhưng lại buồn vì hoa như muốn nói: Chẳng phải hoa nở cho người già đâu.
Hôm nay uống rượu trước hoa
Những mong mấy chén la đà cho vui
Buồn vì hoa muốn nhắn lời:
Em đây không nở cho người già đâu!
Nguyễn Như Diệm dịch
Hôm nay uống rượu dưới hoa
Say sưa một chút gọi là cho vui
Chỉ e hoa sẽ mỉm cười
Hoa đâu có nở vì người già nua!
Trần Vân Long dịch
***
Thù Lạc Thiên Dương Châu Sơ phùng tịch thượng kiến tặng
Lưu Vũ Tích
Ba sơn Sở thủy thê lương địa
Nhị thập tam niên khí trí thân
Hoài cựu không ngâm văn địch phú
Đáo hương phiên tự Lạn Kha nhân
Trầm chu trắc bạn thiên phàm quá
Bệnh thụ tiền đầu vạn mộc xuân
Kim nhật thính quân ca nhất khúc
Tạm bằng bôi tửu trưởng tinh thần.
Dịch nghĩa:
Đáp bài thơ Lạc Thiên1 tặng Tại chiếu rượu khi mới gặp nhau ở Dương Châu2
Non núi xứ Ba sông nước xứ Sở3 vùng đất thê lương. Hai mươi ba năm tấm thân bị biếm trích4. Nhớ bạn cũ ngâm suông bài phú “Nghe tiếng sáo”5. Về đến quê hương mà như người dưng vậy6. Bên cạnh chiếc thuyền bị chìm nghìn cánh buồm lướt qua; Trước cây bị bệnh vạn cây tươi tốt vẻ xuân. Hôm nay nghe bác ca một khúc, tôi tạm nhờ chén rượu làm cho tinh thần phấn chấn.
(1)Lạc Thiên: tự của Bạch Cư Dị
(2)Bài thơ làm vào năm Bảo Lịch 2 (826). Lúc này Lưu Vũ Tích bãi chức thứ sử Hòa Châu trở về kinh đô, ngang qua Dương Châu, gặp Bạch Cư Dị từ Tô Châu về Lạc Dương. Bạch cư dị làm bài “túy tặng Lưu nhị thập bát sứ quân” tặng Lưu Vũ Tích. Đây là bài Lưu Vũ Tích đáp lại Bạch Cư Dị. Nhà thơ khúc triết biểu hiện tâm trạng phức tạp khi lâu ngày bị biếm trích: trầm uất, buồn chán những vẫn có cái gì đó hào phóng, khoáng đạt. Riêng hai câu 5 và 6 có những cách hiểu khác nhau. Có người cho đó là niềm lạc quan trước sự thay cũ đổi mới, có người lại hiểu đó Lf sự ngậm ngùi của người thất thế và sự vênh vang của những kẻ hãnh tiến đắc thế.
(3)Nhà thơ bị biếm trích đến các vùng Lãng Châu, Hòa Châu, Quỳ Châu, Quý Châu xưa thuộc nước Ba, Lãng Châu xưa thuộc đất Sở, nên mới nói là núi non xứ Ba, sông nước xứ Sở.
(4)chỉ thời gian nhà thơ bị biếm rời kinh đo năm Vĩnh Trinh thứ nhất (805) đến năm trở về kinh đo năm Bảo Lịch thứ 2 (826)
(5)chỉ bài “ Tư cựu phú” ( Nhớ bạn cũ) của Hướng Tú, một trong “Trúc lâm thất hiền” đời Tấn. Có lần Hướng Tú đi qua chỗ ở cũ của các bạn bị hại là Kê Khang và Lữ An, nghe người láng giềng của hai ông thổi sáo, tiếng sáo bi thiết khiến ông xúc động làm nên bài phú này.
(6)Nguyên văn là “Lạn Kha nhân” tức là người có cái cán rìu mục nát. Theo sách Thuật dị ký có ghi một người đời Tấn tên là Vương Chất vào núi đốn củi, thấy hai cậu bé đánh cờ, liền dừng lại xem. Đến cuối cuộc cờ Vương phát hiện ra cán rìu đã mục. Trở về nhà mới biết thời gian đã trôi qua một trăm năm. Người cùng trang lứa đã chết gần hết. Nhà thơ bị biếm trích 23 năm, khi trở về Giang Nam thấy người và vật đều hoàn toàn đổi khác, cảm thấy mình lạc long, không nén nổi xót xa nên dùng tích này để bộc lộ nối thương cảm của mình trước cảnh vật đổi sao rời.
Núi Ba sông Sở xứ thê lương
Hai mươi ba năm bị rẫy ruồng
Nhớ bạn ngân suông bài “Nghe sáo”
Về quê mà ngẫm giống người dưng
Buồm mới lướt qua con thuyền đắm
Gốc mục cây non mọc thành rừng
Hôm nay nghe bác ca một khúc
Tinh thần nhờ chén rượu tưng bừng
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Non Ba, nước Sở, thảm thê buồn
Hai chục năm dư, biếm trích luôn
Nhớ bạn ngâm suông bài “Nghe sáo”
Về quê tuổi phận chẳng người thân
Một con thuyền đắm nhìn buồm lướt
Mấy nhánh cây tàn, vạn búp xuân
Hôm nay nghe bác ca một khúc
Tinh thần phấn chấn, chén cùng nâng
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Núi Ba sông Sở đất thê lương
Hai ba năm lận đận cùng đường
Nhớ bạn ngâm suông bài “Nghe sáo”
Về quê mà như chốn tha hương
Bên cạnh thuyền chìm nghìn buồm lướt
Trước cây bị bệnh vạn cây cường
Hôm nay nghe bác ca một khúc
Mượn rượu để lòng đỡ bi thương
Nguyễn Bình Tuyển dịch
____________________________________________
BẠCH CƯ DỊ (白居易)
Bạch Cư Dị (772-846), tự Lạc Thiên, hiệu Hương Sơn cư sĩ, quê gốc Hạ Khuê (nay là vùng phụ cận huyện Vị Nam, Thiểm Tây), sinh ở Tân Trịnh, Hà Nam. Tiến sĩ năm Trinh Nguyên 16 (800). Từng giữ các chức hiệu thư lang, tán thiện đại phu, sau làm thái tử thiếu phó. Tận mắt chứng kiến triều chính đổ nát, lý tưởng kiêm tế thiên hạ đổ vỡ, ông lui về cư trú tại Lạc Dương, độc thiện kỳ thân, vui thú rượu thơ.
Bạch Cư Dị trải qua 8 triều vua, sống 75 tuổi, làm gần 3000 bài thơ. Đây là điều ít thấy trong các nhà thơ Đường. Ông là người khởi xướng phong trào nhạc phủ mới, bản thân có quan điểm văn học hoàn chỉnh, và thông qua sáng tác để nghiệm chứng lý luận của mình. Ông là bậc cao thủ về thơ tự sự. “Trường hận ca”, “Tỳ bà hành” thể hiện tài năng về mặt này của ông. Một điều đáng nêu là, đối với người phụ nữ ở địa vị hèn yếu khuất nhục, ông tỏ ra thông cảm và bằng quan điểm nhân đạo, ông đã vì họ cất lên tiếng kêu đau thương. Ông có Bạch thi Trường Khánh tập. Toàn Đường thi có 39 quyển thơ ông.
***
TỰ KHUYẾN
Ức tích cơ hàn ứng cử niên
Thoát y điển tửu Khúc Giang biên
Thập thiên nhất đấu do xa ẩm
Hà huống quan cung bất trị tiền.
Dịch nghĩa:
TỰ KHÍCH LỆ MÌNH
Nhớ năm xưa đang lúc đói rét ta đi thi. Cởi áo đợ rượu bên bờ Khúc Giang, mười ngàn đồng một đấu hoang phí ta vẫn uống, huống giờ đây đã có chút tiền lương còm.
Nhớ xưa tuổi trẻ thuở cơ hàn
Áo đem đổi rượu tại Khúc Giang
Mười ngàn một đấu uống thỏa thích
Huống chi nay đã có tiền quan
Trần Vân Long dịch
***
ĐỒNG LÝ THẬP NHẤT TÚY ỨC NGUYÊN CỬU
Bạch Cư Dị
Hoa thời đồng túy phá xuân sầu
Túy chiết hoa chi đương tửu trù
Hốt ức cố nhân thiên tế khứ
Kế trình kim nhật đáo Lương Châu.
Dịch nghĩa:
Cùng Lý Thập Nhất say nhớ Chín Nguyên1
Vào lúc hoa nở cùng uống rượu say để giải mối sầu mùa xuân. Say rồi bẻ hoa làm thẻ rượu2. Bỗng nhớ bạn cũ đang đi về phía chân trời, tính lịch trình thì hôm nay đến Lương Châu3
1.Nguyên Cửu: tức nhà thơ Nguyên Chẩn, bạn thân của tác giả
2.Tửu trù (thẻ rượu): thẻ để tính số rượu đã uống
3.Lương Châu: nay là vùng Nam Trịnh, Thiểm Tây. Năm Nguyên Hòa thứ 4 (809), với tư cách giám sát ngự sử, Nguyên Chẩn đến Đông Xuyên (nay là Tam Đài, Tứ Xuyên) xem xét vụ án. Ông đi chưa bao lâu, Bạch Cư Dị cùng Lý Thập Nhất (tên Kiến) và Bạch Hành Giản (em Bạch Cư Dị) đi chơi chùa Từ Ân bên bờ Khúc Giang. Lúc uống rượu nhà thơ nhớ tới Nguyên Chẩn, tính quãng đường ông đi và viết bài thơ này. Ít lâu sau Nguyên Cẩn gửi cho Bạch Cư Dị bài thơ “Lương Châu mộng” ông mới làm quả nhiên hôm ấy ông đến Lương Châu và mơ thấy Bạch Cư Dị chơi Khúc Giang. Đây tuy là sự trùng hợp ngẫu nhiên, song đã thành một giai thoại trên văn đàn. Toàn văn bài thơ của Nguyên Chẩn như sau: “Mộng quân đồng nhiễu Khúc Giang đầu, Dã hường Từ Ân viện viện du. Đình lại hô nhân bãi khứ mã, Hốt kinh thân tại cổ Lương Châu” (mơ thấy cùng bác vòng quanh đầu Khúc Giang, rồi đến chơi viện Từ Ân. Viên chức dịch của chùa hô người dắt ngựa đi. Sực tỉnh dậy hóa ra đang ở đất Lương Châu xưa).
Dưới hoa say rượu giải xuân sầu
Bẻ hoa làm thẻ rượu rút mau
Chợt nhớ bạn thân đang rong ruổi
Tính ra nay đã đến Lương Châu
Trần Vân Long dịch
***
VẤN LƯU THẬP CỬU
Bạch Cư Dị
Lục nghị tân phôi tửu
Hồng nê tiểu hỏa lô
Vãn lại thiên dục tuyết
Năng ẩm nhất bôi vô.
Dịch nghĩa:
Hỏi Lưu Thập Cửu1
Rượu “Kiến xanh”2 mới nấu chưa lọc. Lò lửa nhỏ bằng đất đỏ để hâm rượu đã có sẵn. Chiều về trời sắp có tuyết rơi. Này ông Lưu, có thể uống với nhau một chén chứ?
1.Lưu Thập Cửu: tức Lưu Kha ẩn cư trong núi Lư Sơn. Bạch Cư Dị kết giao với ông khi ở Giang Châu.
2.Rượu “Kiến xanh” (Lục nghĩ): loại rượu gạo mới nấu chưa lọc, có váng mầu xanh, ly ty như kiến, nên gọi như vậy.
“Lục nghị” chưa kịp lắng
Lò nhỏ, đất gan gà
Chiều về tuyết sắp sa
Uống cùng ta một chén?
Trần Đình Hiến dịch
Rượu mới nấu chưa lắng
Lò lửa nhỏ đất hồng
Chiều về tuyết sắp xuống
Có làm một chén không?
Trần Vân Long dịch
***
KHUYẾN TỬU
Bạch Cư Dị
Khuyến quân nhất bôi quân mạc từ
Khuyến quân lưỡng bôi quân mạc nghi
Khuyến quân tam bôi quân thủy tri
Diện thượng kim nhật lão tạc nhật
Tâm trung túy thời thắng tỉnh thời
Thiên địa thiều thiều tự trường cửu
Bạch thỏ xích ô tương sấn tẩu
Thân hậu đôi kim trụ Bắc Đẩu
Bất như sinh tiền nhất tôn tửu
Quân bất kiến
Xuân Minh môn ngoại thiên dục minh
Huyên huyên ca khốc bán tử sinh
Du nhân trú mã xuất bất đắc
Bạch du tử xa tranh lộ hành
Quy khư lai đầu dĩ bạch
Điển tiền tương dụng mãi tửu khiết.
Dịch nghĩa :
KHUYẾN TỬU
Mời anh một chén anh đừng từ chối. Mời anh hai chén anh đừng nghi ngờ. Mời anh ba chén anh mới biết, nét mặt hôm nay già hơn hôm qua. Trong lòng khi say hay hơn khi tỉnh. Trời đất mênh mang dài lâu vô tận. Thỏ trắng quạ đỏ1 tranh nhau đi. Khi chết đi, vàng chất cao tới Bắc Đẩu cũng chẳng bằng một chén rượu khi còn sống. Anh chẳng thấy nên ngoài cửa Xuân Minh2 trời sắp sáng, tiếng ca tiếng khóc huyên náo nửa sống nửa chết, khách chơi ghìm ngựa không ra được, xe trắng xe tía tranh đường đi. Về đi thôi3 đầu đã bạc rồi. Cầm đồ lấy tiền mua rượu uống.
1.Thỏ trắng quạ đỏ: mặt trăng, mặt trời, ngày tháng trôi mau
2.Cửa Xuân Minh: Cổng giữa trong ba cổng phía đông của thành Trường An, thủ đô thời nhà Đường TQ
3.Về đi thôi: mượn chữ trong Quy khư lai từ của Đào Tiềm.
Mời nah một ly mong anh đừng chối
Mời hai ly chớ vội nghi ngờ
Ba ly anh sẽ hiểu ra
Sáng nay trên mặt đã già thêm lên
Tâm khi say sáng hơn khi tỉnh
Đất trời còn thăm thẳm bền lâu
Quạ vàng thỏ trắng đuổi nhau
Chẳng bao lâu nữa mái đầu bạc phơ
Sau khi chết vàng cao như núi
Cũng chẳng bằng chén rượu hôm nay
Anh chẳng thấy
Ngoài Xuân Minh mặt trời sắp ló
Tiếng khóc ca nửa tử, nửa sinh
Kẻ chơi dừng ngựa không len
Xe vàng xe tía bon chen đường đời
Về đi thôi tóc thời đã bạc
Cởi áo ta đổi rượu uống chơi
Trần Vân Long dịch
***
TÚY HẬU
Bạch Cư Dị
Túy hậu cao ca thả phóng cuồng
Môn tiền nhàn sự mạc tư lường
Do hiềm tiểu hộ trường tiên tỉnh
Bất đắc đa thời trú túy hương.
Dịch nghĩa:
SAU KHI SAY
Sau khi uống rượu ta cao giọng hát và vui thả cửa như điên. Những chuyện linh tinh trước cửa chẳng bận tâm suy nghĩ làm gì. Chỉ hiềm nhà nhỏ tỉnh dậy quá sớm, không thể ở lại lâu trong xứ sở của say sưa.
Rượu say nghêu ngao hát tựa điên
Chuyện người ngoài cửa chẳng ưu phiền
Chỉ hiềm nhà nhỏ, tỉnh quá sớm
Không thể lưu lâu trong xứ nghiền
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Rượu vào, ta hát, ta ca
Vui chơi thỏa thích như là phát điên
Kệ đời mọi chuyện ưu phiền
Ta say sưa ở trong miền ngất ngây
Chỉ e tỉnh giấc lúc này
Không thể ở rốn đôi ngày cõi tiên
Lê Sơn dịch
***
Khúc Giang hữu cảm
Bạch Cư Dị
Khúc Giang tây ngạn hựu xuân phong
Vạn thụ hoa tiền nhất lão ông
Ngộ tửu phùng hoa hoàn thả túy
Nhược luận trù trương sự hà cùng.
Dịch nghĩa:
Cảm xúc bên dòng Khúc Giang
Bờ tây sông Khúc Giang gió xuân lại thổi. Có một ông già ngồi trước hàng nghìn cây hoa nở. Gặp rượu gặp hoa hãy cứ say đi, còn cứ ngồi bàn về những nỗi đau buồn thì biết bao giờ cho hết.
Bờ tây hồ Khúc gió xuân ra
Muôn cây hoa nở một cụ già
Hoa đấy rượu đây say cho đã
Chuyện buồn bàn mãi ích chi mà
Nguyễn Như Diệm dịch
Lại gió xuân về tây Khúc Giang
Ông lão trước hoa nở trắng ngàn
Gặp hoa, gặp rượu, nên say khướt
Bàn chuyện buồn đau chẳng thể tàn
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Khúc Giang túy hậu
Bạch Cư Dị
Quách đông khâu mộ hà niên khách
Giang bạn phong quang kỷ nhật xuân
Chỉ hợp ân cần trục bôi tửu
Bất tu sơ sách hướng giao thân
Trung thiên hoặc hữu trường sinh dược
Hạ giới ưng vô bất tử nhân
Trừ khước khứ lai khai khẩu tiếu
Thế gian hà sự cánh quan thân.
Dịch nghĩa:
Sau khi say bên Khúc Giang
Mộ ai phía đông thành không biết mất năm nào. Phong cảnh bên sông được mấy ngày xuân. Chỉ nên ân cần vui với chén rượu. Chẳng nên lơ là việc kết giao bạn thân. Trong trời đất có thể có thuốc trường sinh mà hạ giới không có người nào là không chết. Trừ có lúc say mới hé miệng cười. Trên đời này có việc gì liên quan đến ta đâu!
Cầu Đông mộ khách táng bao giờ
Bãi hoang mấy độ đón xuân qua
Chỉ cốt cùng ta vui với rượu
Ngại gì người chết vẫn giao hòa
Nếu thuốc trường sinh trời mà có
Trần gian chẳng thiếu bất tử gia
Hễ có rượu vui là cười được
Thế gian sao cứ phải quan gia?
Nguyễn Xuân Dũng dịch
***
Trùng dương tịch thượng phú bạch cúc
Bạch Cư Dị
Mãn viên hoa cúc uất kim hoàng
Trung hữu cô tùng sắc tự sương
Hoàn tự kim triêu ca tửu tịch
Bạch đầu ông nhập thiếu niên trường.
Dịch nghĩa:
Trên chiếu rượu tiết trùng dương vịnh hoa cúc trắng
Đầy vườn hoa cúc nở sum suê vàng ươm, trong đó có một khóm riêng biệt trắng như sương. Giống hệt như sáng hôm nay trên chiếu rượu vui ca, một ông đầu bạc lạc lõng giữa đám tuổi trẻ.
Đầy vườn hoa cúc vàng ươm
Có lùm sắc trắng như sương lạc loài
Như trên chiếu rượu sáng nay
Một ông đầu bạc giữa bầy trẻ trai
Nguyễn như Diệm dịch
Giữa vườn hoa cúc rực vàng
Nổi lên một khóm rỡ ràng như sương
Cũng giống vậy sáng nay tiệc rượu
Lão bạc đầu giữa chiếu thanh niên
Trần Vân Long dịch
***
Thu giang tống khách
Bạch Cư Dị
Thu hồng thứ đệ quá
Ai viên triêu tịch văn
Thị nhật cô chu khách
Thử địa diệc ly quần
Mông mông nhuận y vũ
Mạc mạc mạo phàm vân
Bất túy Tầm Dương tửu
Yên ba sầu sát nhân.
Dịch nghĩa:
Sông thu đưa khách
Mùa thu chim nhạn lần lượt bay qua. Sáng chiều tiếng vượn kêu thảm thiết. Hôm nay một người khách lẻ loi rời đàn ở chính nơi đây. Mưa mờ mịt ướt áo, mây man mác che lấp cánh buồm mây. Rượu Tầm Dương uống chẳng thấy say. Khói sóng làm lòng người buồn chết đi được!
Mùa thu chim nhạn bay đi
Sáng chiều tiếng vượn não nề bên tai
Thuyền đơn côi, khách một người
Ngày này đây cũng là nơi lìa bầy
Mịt mờ ướt áo mưa bay
Cánh buồm man mác bóng mây che mờ
Rượu Tầm Dương chẳng say cho
Trên sông khói sóng buồn se sắt lòng!
Nguyễn Như Diệm dịch
Thu vàng cánh nhạn xiêu xiêu
Non xanh tiếng vượn sớm chiều bi ai
Khách trên thuyền nhoe lẻ loi
Nơi đây chính cũng là nơi chia lìa
Mưa rơi mờ mịt đầm đìa
Mây trời một cánh buồm kia chở đầy
Rượu Tầm Dương uống chẳng say
Trên sông khói sóng sầu này giết ta
Trần Vân Long dịch
Mùa thu chim nhạn bay đi
Vượn kêu ai oán thảm thê sớm chiều
Thuyền côi chở khách phiêu diêu
Nơi đây mảnh đất tiêu điều lìa tan
Đầm đìa áo ướt như chan
Mây trôi man mác che ngang buồm này
Rượu Tầm Dương uống chẳng say
Khói sông mờ mịt sầu đây chết người
Nguyễn Đình Nhữ dịch
***
Hữu nhân dạ phỏng
Bạch Cư Dị
Thiềm gian thanh phong điệm
Tùng hạ minh nguyệt bôi
U ý chính như thử
Huống nãi cố nhân lai.
Dịch nghĩa:
Bạn tới thăm đêm
Giữa hiên gió mát trải chiếu ngồi nâng chén dưới bóng tùng trong trăng sáng. Ý tình đã u nhã như vậy, thế mà lại có thêm bạn cũ tới thăm vào chính lúc này mới tuyệt chứ!
Giữa đêm gió mát trải chiếu ngồi
Thông lồng bóng nguyệt rượu đầy vơi
Cảnh tình u nhã là như vậy
Huống hồ bạn cũ lại tới chơi!
Nguyễn Như Diệm dịch
Giữa hiên gió mát ta ngồi
Thông xanh trăng sáng chén vơi chén đầy
Ý tình thực u nhã thay
Huống chi bạn đến lúc này thăm ta
Trần Vân Long dịch
______________________________________
LIỄU TÔNG NGUYÊN (柳宗元)
Liễu Tông Nguyên (773-819), tự Tử Hậu, người hà Đông (nay là Vĩnh Tế, Sơn Tây), người đời gọi là Liễu Hà Đông hay Liễu Liễu Châu. Tiến sĩ năm Trình Nguyên 9 (793), làm quan đến viên ngoại lang Bộ Lễ, tham gia vào cuộc cách tân của Vương Thúc Văn. Hiến Tông lên ngôi, cuộc cách tân thất bại, bị biếm làm thứ sử Thiệu Châu, rồi tư mã Vĩnh Châu, thứ sử Liễu Châu. Mất tại Liễu Châu.
Cùng với Hàn Dũ đề xướng phong trào cổ văn, cùng được liệt vào “Tám đại gia Đường Tống”, có cống hiến trác việt cho sự phát triển của tản văn. Thơ ông cấu tứ tinh diệu, ý cảnh cao nhã, phong cách thanh tân chất phác. Có Liễu Hà Đông tập. Toàn Đường thi có 4 quyển thơ ông.
***
BÁN TÚY
Thủy hướng đông lưu cánh bất hồi
Hồng nhan bạch phát đệ tương thôi
Tráng tâm cánh trục cao ca tận
Vãng sự không thành bán túy lai
Vân hộ nhạn sương lung đạm nguyệt
Vũ liên oanh hiểu lạc tàn mai
Tây lâu trướng vọng phương phi tiết
Xứ xứ tà dương thảo tự đài.
Dịch nghĩa:
Ngà ngà say
Nước chảy về đông không quay trở lại. Mặt hồng (tuổi trẻ) tóc trắng (tuổi già) dồn đuổi nhau. Tráng chí cạn dần theo khúc cao ca. Chuyện cũ cứ trở về vào lúc ngà ngà say. Mây che sương cho nhạn nhưng lại che khuất ánh trăng nhạt. Mưa làm đẹp long chim oanh sáng nhưng lại làm rụng hoa mai. Ở lầu tây ngậm ngùi ngắm hoa cỏ thơm. Khắp nơi là ánh tà dương cỏ như rêu.
Nước chảy về đông không trở lại
Đầu xanh đầu bạc vốn liền kề
Tâm tráng giọng cao rồi cũng cạn
Nửa say chuyện cũ lại hiện về
Mây dẫu che sương, làm tối nguyệt
Mưa làm tươi sắc, lại rụng huê
Lầu tây buồn ngắm mùa hoa ngát
Mà cỏ thành rêu lúc ánh tà
Nguyễn Xuân Dũng dịch
__________________________________________
LÝ HẠ (李賀)
Lý hạ (790-816), tự Trường Cát, người Phúc Xương (nay là miền tây Nghi Dương, Hà Nam). Nhánh xa của hoàng thất đời Đường nhưng gia thế sớm sa sút. Chỉ làm quan chức quan mọn là phụng lễ lang. Một đời khốn đốn bất đắc chí, mất lúc mới 27 tuổi.
Thơ Lý Hạ là đóa hoa lạ trong thi đàn trung Đường, tưởng tượng phong phú, từ ngữ mới lạ, giàu sắc thái lãng mạn. Lý Hạ quan tâm đời sống hiện thực, không ít bài thơ của ông đả kích vào tình trạng cát cứ phiên trấn, hoạn quan chuyên quyền, đế vương cầu tiên và sự hoang dâm, kiêu sa của đám hào môn quyền quý, ở mức độ nhất định phản ánh hiện thực xã hội đương thời, thể hiện sự đồng tình với nỗi thống khổ của nhân dân. Mặt khác do đời sống cô độc khổ muộn, tính cách lạnh lung cao ngạo, không ít bài thơ của ông mang sắc điệu tối tăm trầm lắng rõ rệt, có tác phẩm chồng chất từ ngữ khó hiểu.
***
Tương tiến tửu
Lý Hạ
Lưu ly chung hổ phách nồng
Tiểu tao tửu trích chân châu hồng
Phanh long bào phượng ngọc chỉ khấp
La vi tú mạc vi hương phong
Xuy long địch kích đà cổ
Hạo xỉ ca tế yêu vũ
Huống thị thanh xuân nhật tương mộ
Đào hoa loạn lạc như hồng vũ
Khuyến quân chung nhật mính đính túy
Tửu bất đáo Lưu Linh phần thượng thổ.
Dịch nghĩa:
Sắp mời rượu
Chén lưu ly rượu nồng mầu hổ phách. Máng nhỏ rượu nhỏ giọt hồng như chân châu. Xào rồng rán phượng mỡ sôi xèo xèo. Mành ngà màn gấm vây quanh thơm nức. Thổi sáo rồng đánh trống da cá sấu1. Răng trắng ca lưng thon2 múa. Huống hồ ngày xuân sắp về chiều. Hoa đào rơi tan tác như mưa hồng. Khuyên bạn hãy suốt ngày ngất ngưởng say. Rượu chẳng đến được đất trên mộ Lưu Linh3.
1.Lưu ly, hổ phách, chân châu, rồng phượng, sáo rồng, trống cá sấu…đều là những từ tượng trưng để chỉ những thứ quý giá.
2.răng trắng lưng thon: chỉ những ca nữ, vũ nữ đều xinh đẹp kiều diễm cả
3.Lưu Linh, tự Bá Luân, văn nhân đời Tấn, nổi tiếng vì thích rượu, có tác phẩm Tửu đức tụng. Câu này có ý khuyên hãy kịp thời hành lạc kẻo chết rồi thì hết, có thích rượu đến như Lưu Linh cũng không thể được hưởng một cuộc say nào nữa.
Chén lưu ly, rượu hổ phách nồng
Từ máng nhỏ, từng giọt châu hồng
Rồng xào, phượng ráng, xèo xèo mỡ
Trướng gấm, màn là, sực nức hương
Thổi kèn rồng, đánh trống da cá sấu
Gái đẹp ca, uốn éo thon lưng
Huống nay xuân sắc đang tàn tạ
Hoa đào rơi rụng tựa mưa hồng
Bạn hãy cả ngày say ngất ngưởng
Lúc đã xuống mồ rượu chắc không
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Chén lưu ly rượu nồng màu hổ phách
Máng nhỏ rượu rỏ giọt ngọc hồng
Xèo xèo ráng phượng xào rồng
Mành là màn gấm thơm nồng gần xa
Thổi sáo rồng, đánh trống da cá sấu
Răng trắng ca, lưng thon thả uống eo
Huống hồ xuân sắp về chiều
Hoa đào tan tác như gieo mưa hồng
Anh nên hưởng say nồng sớm tối
Mộ Lưu Linh rượu tới được đâu?
Nguyễn Bình Tuyển dịch
__________________________________________
ĐỖ MỤC (杜牧)
Đỗ Mục (803-852), tự Mục Chi, người Vạn Niên, Kinh Triệu (nay là Tây An, Thiểm Tây). Cháu tể tướng Đỗ Hựu. Tiến sĩ năm Đại Hòa 2 (828), được chức hiệu thư lang ở Hoằng văn quán. Sau lần lượt làm giám sát ngự sử, tả bổ khuyết, thứ sử Hoàng Châu, thú sử Hồ Châu, cuối cùng là trung thư xá nhân. Người đời gọi là “Đỗ Phàn Châu”, “Đỗ Tử Vi”.
Giỏi thơ phú và cổ văn. Cao nhất là thành tựu về thơ, đặc biệt sở trường về thất ngôn luật thi và tuyệt cú. Thơ ông trong sáng thanh nhã, nêu một phong cách riêng trong thi đàn vãn Đường. Nhưng cũng có một số bài tiêm nhiễm lạc thú thanh sắc, rơi vào đồi phế khinh bạc. Có Phàn Xuyên văn tập, Toàn Đường thi có 8 quyển thơ ông.
***
KHIỂN HOÀI
Đỗ Mục
Lạc phách giang hồ tải tửu hành
Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh
Thập niên nhất giác Dương Châu mộng
Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.
Dịch nghĩa:
Tâm sự
Phiêu bạt giang hồ chở rượu theo. Con gái lưng ong1 nhẹ nhàng thon thả tưởng có thể múa trên bàn tay được2. Mười năm vui chơi bỗng sự tỉnh giấc mộng Dương Châu3. Mới biết ta chỉ kiếm được cái tiếng bạc tình chốn lầu xanh.
Giang hồ mang rượu đi theo
Gái tơ thon thả lưng eo dập dình
Mười năm tỉnh mộng giật mình
Còn chăng cái tiếng bạc tình lầu xanh!
Nguyễn Như Diệm dịch
Giang hồ phiêu dạt, rượu đồng hành
Gái Sở lưng ong, bế nhẹ tênh
Mười năm sực tỉnh Dương Châu mộng
Nổi tiếng lầu xanh kẻ bạc tình
Trần Đình Hiến dịch
Giang hồ rượu tải trên vai
Gái tơ say đắm ngày dài đêm thâu
Mười năm tỉnh giấc Dương Châu
Chỉ lưu được tiếng thanh lâu bạc tình!
Trần Vân Long dịch
***
Cửu nhật tề sơn đăng cao
Đỗ Mục
Giang hàm thu ảnh nhạn sơ phi
Dữ khách huề hồ thướng thúy vi
Trần thế nan phùng khai khẩu tiếu
Cúc hoa tu sáp mãn đầu quy
Đãn tương mính đính thù giai tiết
Bất dụng đăng lâm hận lạc huy
Cổ vãng kim lai chỉ như thử
Ngưu sơn hà tất độc triêm y.
Dịch nghĩa:
Ngày mồng chín lên núi Tề Sơn1
Sông mang mầu thu nhạn bắt đầu bay đi. Ta cùng khách mang bầu rượu lên núi xanh. Ở đời khó gặp lúc mở miệng cười. Hoa cúc nên dắt đầy đầu lúc trở về. Hãy say ngất ngưởng để đáp lại thời tiết đẹp. Cần gì lên cao để hận chiều tà. Xưa qua nay đến chỉ như vậy mà thôi, hà tất phải một mình rơi lệ trên núi Ngưu Sơn2.
1.Tề Sơn: ngọn núi ở phía đông nam thành Trì Châu
2.Ngưu Sơn: theo Hàn thi ngoại truyện, thời Xuân Thu, Tề Cảnh Công lên núi Ngưu Sơn chơi, trông vời về nước Tề ở phía bắc. Ông nói nước này mới tươi đẹp làm sao! Giá như từ trước người ta có thể không chết thì ta sẽ bỏ đây để đi đến đâu nhỉ! Nói rồi vô cùng xót xa rơi lệ.
Sông đượm vẻ thu nhạn sớm bay
Cùng anh mang rượu tới nơi này
Ở đời gặp gỡ nên vui vẻ
Hoa dắt đầy đầu dáng ngất ngây
Say tít để đền thời tiết đẹp
Lên cao chi nữa, hận gì đây
Xưa qua nay tới là như vậy
Rơi chi lệ ở núi ngưu này
Trần Vân Long dịch
***
THANH MINH
Đỗ Mục
Thanh minh thời tiết vũ phân phân
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu
Mục đồng dao chỉ hạnh hoa thôn.
Dịch nghĩa:
Thanh minh
Tiết thanh minh, mưa phùn lất phất dây dưa. Trên đường lữ khách buồn não ruột. Ghé hỏi ở đâu có quán rượu, trẻ chăn trâu chỉ thôn Hoa Hạnh* ở phía xa xa.
(*)Thôn Hoa Hạnh: có thuyết cho rằng thôn này ở phía Tây huyện Quý Trì, nổi tiếng về sản xuất rượu. Đỗ Mục từng làm thứ sử Trì Châu.
Thanh minh mưa rắc lòng ròng
Đường xa cất bước não lòng người qua
Hỏi thăm quán rượu đâu là?
Trẻ chăn trâu chỉ Hạnh Hoa thôn ngoài
Nguyễn Như Diệm dịch
Tiết thanh minh mưa phùn rây rất
Khách đường xa lòng não nuột buồn
Ghé hỏi ở đâu có quán rượu
Trẻ chăn trâu chỉ Hạnh Hoa thôn
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Tiết thanh minh mưa phùn lất phất
Dặm đường xa lữ khách thêm rầu
Hỏi thăm lũ trẻ chăn trâu
Nói rằng quán rượu thôn đầu Hạnh Hoa
Trần Vân Long dịch
____________________________________
HỨA HỒN (許渾)
Hứa Hồn (788?-858), tự Dụng Hối, Trọng Hối, người Đan Dương, Nhuận Châu (nay thuộc Giang Tô). Làm qua các chức Đương Đồ úy, huyện lệnh Thái Bình, giám sát ngự sử, ngu bộ viên ngoại lang, cuối cùng làm thứ sử Dĩnh Châu. Cả đời không làm cổ thi, chuyên làm luật thể, đề tài phần lớn là sơn thủy điền viên. Thơ hoài cổ thương thời của ông tương đối đặc sắc. Có Đinh Mão tập. Trong Toàn Đường thi ông có 11 quyển.
***
Tạ đình tống biệt
Hứa Hồn
Lao ca nhất khúc giải hành chu
Hồng diệp thanh sơn thủy cấp lưu
Nhật mộ tửu tinh nhân dĩ viễn
Mãn thiên phong vũ hạ tây lâu
Dịch nghĩa:
Tiễn biệt ở Tạ Đình1
Hát xong khúc hát tiễn biệt2 người cởi dây neo thuyền chèo đi. Lá đỏ núi xanh nước sông chảy xiết. Về chiều tỉnh rượu thì người đã đi xa. Đầy trời mưa gió một mình ta từ lầu tây đi xuống.
1.Tạ Đình: tức Tạ Công đình hay Tạ Diểu lâu, ở phía bắc Tuyên Thành (An Huy ngày nay) do nhà thơ thời Nam Tề là Tạ Diểu cho xây khi ông làm thái thú Tuyên Thành.
2.Khúc hát tiễn biệt: nguyên văn là “lao ca” vốn chỉ khúc hát hát lên khi tiễn nhau ở Lao Lao đình. Lao Lao đình ở phía tây nam thành phố Nam Kinh ngày nay, được xây trong thời Tam Quốc, là nơi người ta thường đưa tiễn nhau thời xưa.
Ca khúc biệt ly bước xuống tàu
Núi xanh lá đỏ nước xiết mau
Chiều về rượu tỉnh người xa vắng
Đầy trời mưa gió xuống tây lầu
Trần Vân Long dịch
Nghe xong khúc hát, bạn lên thuyền
Núi xanh, lá đỏ, nước xiết rền
Chiều về tỉnh rượu, người xa vắng
Xuống lầu, mưa đổ, gió triền miên
Nguyễn Đình Nhữ dịch
_________________________________________
Lý Thương Ẩn (李商隐)
Lý Thương Ẩn (813-858), tự Nghĩa Sơn, hiệu Ngọc Khê Sinh, Phàn Nam Sinh, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Thẩm Dương Hà Nam). Tiến sĩ năm Khai Thành 2 (837). Từng làm hiệu thư lang Bí thư sảnh, Huyện ủy Hoằng Nông. Vì bị chèn ép, đành đến những miền xa làm mạc lieu (phụ tá dưới trường các tướng soái hoặc quan viên). Từ năm Đại Trung 1 (847) tới Đại Trung 9 (855) ông lần lượt tói Quế Châu (nay là Quế Lâm Quảng Tây), Từ Châu và Tử Châu (nay là Tam Đài Tứ Xuyên) làm mạc lieu. Năm Đại Trung 12 (858) trở về Trịnh Châu nhàn cư, khoảng cuối năm thì mất.
Lý Thương Ẩn thạo về biền văn và cận thể thi (tức luật thi và tuyệt cú), đặc biệt sở trường về thất ngôn luật thi. Thơ ông cấu tứ tinh xảo mới mẻ, tưởng tượng độc đáo, âm luật hài hòa, văn từ tinh mỹ, nhưng có lúc dùng quá nhiều điển cố, gây khó hiểu. Có Lý Nghĩa Sơn thi văn tập, Toàn Đường thi có 3 quyển thơ ông.
***
Phong vũ
Thê lương bảo kiếm thiên
Ky bạc dục cùng niên
Hoàng diệp nhưng phong vũ
Thanh lâu tự quản huyền
Tân tri tao bạc tục
Cựu hảo cách lương duyên
Tâm đoạn Tân Phong tửu
Tiêu sầu đẩu kỷ thiên.
Dịch nghĩa:
Gió mưa
Thê lương thay bào thơ “Bảo Kiếm”1. Ta phiêu dạt gần hết tuổi thanh xuân. Hôm nay đây ngoài trời lá vàng lại mưa gió. Trên lầu cao ta tự mình tấu nhạc giải sầu. Bạn mới kết giao thì gặp thế tình đen bạc, chỗ giao du cũ thì cách trở lương duyên. Buồn nẫu ruột một mình ngồi uống rượu Tân Phong2. Để tiêu sầu, một đấu giá mấy nghìn tiền.
Bài thơ “Bảo kiếm” buồn thê thiết
Phiêu bạt một thân quá nửa đời
Lá vàng rơi tả trời mưa gió
Lầu cao tự gẩy khúc đàn chơi
Khách mới gặp qua tình đen bạc
Bạn xưa cách trở lỡ duyên rồi
Rứt lòng uống rượu Tân Phong vậy
Bao tiền một đấu để sầu vơi?
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Thê lương thay bài thơ “Bảo kiếm”
Phiêu bạt hầu hết tuổi thanh xuân
Lầu cao ta gảy khúc đàn
Lá vàng mưa gió sầu càng sầu thêm
Bạn tân giao – thế tình đen bạc
Chốn cựu du – cách trở lương duyên
Mình ngồi uống rượu Tân Phong
Nỗi buồn đứt ruột càng đong càng đầy
Trần Vân Long dịch
_____________________________________
ÔN ĐÌNH QUÂN (溫庭筠)
Ôn Đình Quân (?-866), vốn tên Kỳ, tự Phi Khanh, người đất Kỳ, Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, Sơn Tây). Lúc trẻ tài trí nhạy bén, nhưng nhiều lần thi tiến sĩ không đậu. Tính cách cao ngạo thường châm biếm đám quyền quý. Lại không chịu câu thúc, uống rượu bạt mạng, do đó không được thời tục nể trọng. Suốt đời lận đận chỉ làm những chức quan nhỏ như tùy Huyện úy, Phương Thành úy và quốc tử trợ giáo.
Ôn Đình Quân làm thơ và từ, giỏi cả biền văn. Thơ nhạc phủ của ông chịu ảnh hưởng của thể loại cung đình thời Lục Triều, phong cách ngôn ngữ tương đối đậm đà. Thơ vịnh sử, ai điếu, cổ tích của ông u uất, cảm khái sâu xa. Về thể thơ ông sở trường về cận thể (Luật thi và tuyệt cú), âm điệu thanh tú khác thường.Có Ôn Phi Khanh tập, Toàn Dường thi có 2 quyển thơ ông.
***
Tống nhân đông du
Ôn Đình Quân
Hoang thú lạc hoàng diệp
Hạo nhiên ly cố quan
Cao phong Hán Dương độ
Sơ nhật Dĩnh Môn sơn
Giang thượng kỷ nhân tại
Thiên nhai cô trạo hoàn
Hà đương trùng tương kiến
Tôn tửu úy ly nhan.
Dịch nghĩa:
Tiễn bạn về đông
Đồn biên phòng hoang phế là vàng rụng đầy. Bạn hiên ngang rời cửa ải cũ. Gió cao thổi trên bến Hán Dương1. Mặt trời mới lên chiếu rọi núi Dĩnh Sơn2. Trên sông còn lại mấy người. Phía chân trời một chiếc thuyền đơn côi trở về. Biết lúc nào ta lại gặp lại nhau để nâng chén rượu an ủi gương mặt buồn vì lâu ngày xa cách.
1.Bến Hán Dương: tại Hán Dương Hồ Bắc ngày nay
2.Dĩnh Sơn: tại Nghi Đô, Hồ Bắc ngày nay.
Lũy hoang lá vàng rụng
Ung dung rời ải ngoài
Hán Dương đầy gió lộng
Dĩnh Sơn nhòa nắng mai
Trên sông còn ai nữa
Một mái chèo chân mây
Bao giờ cùng gặp lại
Nâng chén mừng nhau đây?
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Đồn biên rụng ngập lá vàng
Ải xưa bạn cũ hiên ngang ngày nào
Bến Hán Dương ào ào gió thổi
Núi Dĩnh Sơn rọi rọi nắng soi
Trên sông còn lại mấy người
Chân trời thuyền nhỏ đơn côi trở về
Bao giờ được đề huề gặp gỡ
Cùng nâng ly úy lạo dung nhan?
Trần Vân Long dịch
***
TẶNG THIẾU NIÊN
Ôn Đình Quân
Giang hải tương phùng khách hận đa
Thu phong diệp há Ðộng Ðình ba
Tửu hàm dạ biệt Hoài Âm thị
Nguyệt chiếu cao lâu nhất khúc ca.
Dịch nghĩa
Trên sông biển gặp nhau, khách mang nhiều mối hận. Gió thu thổi lá rụng trên sóng nước Động Đình. Ban đêm rượu say rồi chia tay nhau ở chợ Hoài Âm. Trăng chiếu lầu cao, vẳng đưa một khúc hát.
Giang hồ gặp khách nhiều tâm sự
Gió thu, lá rụng, sóng Động Đình
Đêm say, chợ Hoài Âm giã biệt
Trăng chiếu lầu cao khúc hát tình
Nguyễn Xuân Dũng dịch
Giang hồ tủi phận gặp nhau đây
Động Đình sóng gợn lá thu bay
Phố chợ Hoài Âm say tiễn biệt
Lầu cao trăng sáng, khúc chia tay
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Gặp nhau trên sông biển
Sầu hận nặng tâm tình
Gió thu đưa lá rụng
Trên sóng nước Động Đình
Đêm chìm trong men rượu
Chia tay chợ Hoài Âm
Mình ta trên lầu vắng
Trắng chiếu, khúc hát ngân
Nguyễn Chí Tình dịch
Sông biển gặp nhau khách hận nhiều
Gió thu lá rụng Động Đình gieo
Hoài Âm say xỉn chia tay vậy
Lầu cao trăng chiếu, khúc hát reo
Nguyễn Bình Tuyển dịch
____________________________________
THÔI LỖ (崔魯)
Người Dương Châu, Giang Tô. Tiến sĩ năm Đại Trung (847-860) đời vua Tuyên Tông. Từ quan. có Vô cơ thi tập 4 quyển.
***
Tam nguyệt hối nhật tống khách
Thôi Lỗ
Dã chước loạn vô tuần
Tống quân kiêm tống xuân
Minh niên xuân sắc chí
Mạc tác vị quy nhân
Dịch nghĩa:
Ngày cuối tháng 3 tiến khách
Rượu rót tràn lan không biết mấy tuần. Tiễn bạn ta tiễn luôn cả mùa xuân đi. Sang năm khi mùa xuân tươi đẹp đến, bạn đừng làm người chưa về đấy nhé!
Rượu rót tràn lan biết mấy tuần
Tiễn bạn tiễn luôn cả mùa xuân
Sang năm lúc mùa xuân trở lại
Bạn nhớ quay về chớ lần khân
Nguyễn Như Diệm dịch
Rượu ngon rót đã nhiều tuần
Tiến anh tiễn cả mùa xuân đi rồi
Năm tới khi xuân đến nơi
Chẳng hay có đón được người bạn quê?
Trần Vân Long dịch
___________________________________
TRỊNH CỐC (鄭谷)
Trịnh Cốc, tự Thủ Ngu, người Nghi Xuân (nay thuộc Giang Tây), không rõ năm sinh, mất khoảng thời Càn Ninh Chiêu Tông (894-898). Từ nhỏ thông minh, 7 tuổi có thể làm thơ. Tiến sĩ năm Quang Khải Hỷ Tông 3 (887), làm quan đô quan lang trung. Thơ Trịnh Cốc trong sags mềm mại thanh thoát, là phong cách lưu hành thời Vãn đường, được người đương thời đề cao.
***
Độc Lý Bạch tập
Trịnh Cốc
Hà sự văn tinh dữ tửu tinh
Nhất thời chung tại Lý tiên sinh
Cao ngâm đại túy tam thiên thủ
Lưu trước nhân gian bạn nguyệt minh.
Dịch nghĩa:
Đọc tập thơ Lý Bạch
Chẳng biết vì sao mà sao văn và sao rượu lại cùng lúc quy tụ lại ở ông Lý. Say khướt ông ngâm vang ba nghìn bài thơ, để lại cùng sáng với trăng chốn nhân gian.
Cớ chi Sao Rượu với Sao Văn
Cùng nhau tụ ở Lý tiên sinh
Say khướt ngâm vãng ba ngàn khúc
Lưu lại nhân gian sáng cùng trăng
Trần Vân Long dịch
Cớ sao rượu và văn
Tù về nơi ông Lý
Suốt ngày say bí tỉ
Ngâm vang ba nghìn bài
Để lại thế gian này
Mãi ngời cùng trăng sáng
Nguyễn Chí Tình dịch
_________________________________________
VI TRANG (韋莊)
Vi trang (816-910), tự Đoan Kỷ, người Đỗ Lăng, Kinh Triệu (nay là đông bắc Trường An, Thiểm Tây). Tiến sĩ năm Càn Ninh (894-898), được phong hiệu thư lang. Sau vào đất Thục nương tựa Vương Kiến, khuyên Vương Kiến xừng đế.
Phong cách thơ ông thanh lệ , phiêu dật, nỗi ly biệt nhớ quê hương. Có Cán hoa tập. Toàn Đường thi có 6 quyển thơ ông.
***
Đông Dương tửu gia tặng biệt
Vi Trang
Thiên nhai phương than dị hương thân
Hựu hướng thiên nhai biệt cố nhân
Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt
Túy tinh hà xứ các triêm cân.
Dịch nghĩa:
Thơ lưu biệt tại quán rượu Đông Dương
Ta vừa than thân phận xa xứ nơi chân trời lại phải tiễn bạn đi về phía chân trời! Ngày mai năm canh dưới ánh trăng nơi quán lẻ, say tỉnh ở chốn nào, cũng đều nhỏ lệ ướt khăn.
Chân trời vừa than phận tha hương
Lại hướng chân trời biệt người thương
Mai mốt năm canh trăng quán quạnh
Tỉnh say nào chốn lệ sầu vương
Nguyễn Như Diệm dịch
Thương thân làm khách quê người
Lại còn tiễn bạn phương trời xa hơn
Mai ngày trăng lạnh cô đơn
Tỉnh say xứ lạ lệ tràn thấm khăn
Trần Vân Long dịch
Chân trời xa xứ xót thương thân
Nay lại chân trời tiễn bạn thân
Mai trắng năm canh trăng quán vắng
Tỉnh say ai cũng lệ đầm khăn
Nguyễn Đình Nhữ dịch
Vừa ở chân trời than thân mình xa xứ
Nay lại tiễn bạn đi về phía chân trời
Để rồi năm canh quán vắng ngày mai
Dưới ánh trăng soi một mình cô quạnh
Chốn nào xa xăm dầu say dầu tỉnh
Lệ vẫn thấm đầy khăn bạn khăn tôi
Nguyễn Chí Tình dịch
____________________________________
LÔ ĐỒNG (盧仝)
Lô Đồng, hiệu Ngọc Xuyên Tử, người Phạm Dương, Hà Nam, ẩn cư ở núi Thiếu Thất. Có Ngọc Xuyên Tử thi tập.
***
HỮU SỞ TƯ
Lô Đồng
Đương thời ngã túy mỹ nhân gia
Mỹ nhân nhan sắc kiều như hoa
Kim nhật mỹ nhân khí ngã khứ
Thanh lâu châu bạc thiên chi nha
Quyên quyên Thường Nga nguyệt
Tam ngũ nhị bát doanh hựu khuyết
Thúy mi thiền phát sinh biệt ly
Nhất vọng bất kiến tâm đoạn tuyệt
Tâm đoạn tuyệt kỷ thiên lý
Mộng trung túy ngọa Vu Sơn vân
Giác lai lệ trích Tương Giang thủy
Tương Giang lưỡng ngạn hoa mộc thâm
Mỹ nhân bất kiến sầu nhân tâm
Hàm sầu cánh tấu lục ỷ cầm
Điệu cao huyền tuyệt vô tri âm
Mỹ nhân hề mỹ nhân
Bất tri vi mộ vũ hề vi triêu vân
Tương tư nhất dạ mai hoa phát
Hốt đáo song tiền nghi thị quân.
Dịch nghĩa:
Nỗi nhớ
Lúc bấy giờ ta say ở nhà người đẹp. Người đẹp nhan sắc kiều diễm như hoa. Hôm nay người đẹp bỏ ta mà đi. Lầu xanh rèm ngọc cách xa tận chân trời. Vầng trăng xinh đẹp đáng yêu đầy rồi lại khuyết. Đang lúc mày biếc tóc mây mà xa nhau. Nhìn không thấy nhau lòng đứt đoạn. Lòng đứt đoạn mấy nghìn dặm. Trong mơ say nằm bên mây núi Vu Sơn1. Tỉnh ra lệ rơi trên sông Tương giang2. Đôi bờ Tương Giang hoa cỏ tươi tốt. Không thấy người đẹp lòng ta buồn rầu. Ngậm sầu gượng chơi đàn lục ỷ3. Điệu cao dây đứt không có tri âm. Người đẹp ơi người đẹp! Chẳng biết là mưa chiều hay mây sớm. Nhớ nhau một đêm hoa mai nở. Bỗng đến trước song nhìn hoa lại ngỡ là nàng.
1.Vu Sơn: theo truyền thuyết Sở Tương vương thăm núi Vu Sơn, mơ thấy thần nữ làm mây mưa xuống ân ái với mình.
2.Sông Tương Giang: con sông lớn nhất tình Hồ Nam. Tương truyền vua Thuấn tuần du Thương Ngô bị chết, hai phi tử của ông trông ngóng núi Thương Ngô mà khóc trên Tương thủy, nước mát rơi trên thân cây trúc khiến trúc có vết lấm chấm, gọi là trúc Tương phi.
3.đàn lục ỷ: tên cây đàn của Tư Mã Tương Như, nhà văn thời Tây Hán.
Tại nhà người đẹp ta say
Người đẹp nhan sắc sánh tày với hoa
Hôm nay người đẹp bỏ ta
Lầu xanh rèm ngọc cách xa chân trời
Lờ mờ nhìn nguyệt nhớ người
Ba năm đôi tám khi vơi khi đầy
Đâu rồi mày biếc tóc mây
Những trông chẳng thấy lòng này xót xa
Nỗi đau cắt ruột bào da
Bây giờ người đẹp cách xa ngàn trùng
Rượu say nằm mộng Vu Sơn
Tỉnh hai hàng lệ chảy tràn Tương Giang
Tương Giang hoa cỏ hai hàng
Mỹ nhân không thấy sầu càng sầu thêm
Ngậm sầu gảy khúc đàn cầm
Điệu cao dây đứt tri âm đâu rồi
Mỹ nhân ơi! Mỹ nhân ơi!
Mưa chiều mây sớm nỡ rời xa ta
Đêm dài thao thức. Sáng ra
Thấy hoa mai nở ngỡ là mỹ nhân
Trần Vân Long dịch
Ngày ấy ta say tại nhà người đẹp
Người đẹp tuyệt trần ví tựa đóa hoa
Nay người đẹp ra đi bỏ lại mình ta
Rèm ngọc lầu xanh chân trời xa tít
Vầng trăng đáng yêu tròn rồi lại khuyết
Sao phải xa nhau khi mày biếc tóc mây
Nhìn chẳng thấy nhau đức đoạn lòng này
Lòng đứt đoạn qua ngàn vạn dặm
Ta lại về với con say chìm đắm
Mơ thấy mình nằm giữa mây núi Vu Sơn
Chợt tỉnh ra giọt lệ sầu tuôn
Trên dòng Tương Giang âm thầm sóng vỗ
Đôi bờ Tương Giang tốt tươi cây cỏ
Nhưng người đẹp đâu rồi, lòng bỗng buồn tênh
Nỗi niềm riêng đanh giấu cho mình
Gượng cầm chơi cây đàn lục ỷ
Điệu cao dây đứt không tri âm tri kỷ
Người đẹp, người đẹp ơi!
Mây sớm mưa chiều nào biết chăng ai
Một đêm nhớ nhau hoa mai nở
Và rạng ngày đến bên song cửa
Chợt nhìn hoa lại ngỡ là nàng
Nguyễn Chí Tình dịch