NHA TRANG - KHÁNH HÒA - NGHI LỄ ƯỚC NGUYỆN 1000 NĂM

ÔNG LÊ THANH QUANG

BÍ THƯ TỈNH ỦY TỈNH KHÁNH HÒA

phát biểu:

 

     Kính thưa quý vị quan khách cùng bà con ở thành phố Nha Trang!

     Thưa quý vị trong Ban Lãnh Đạo công ty XQ, các nghệ nhân đã làm một cuộc hành trình từ XQ Sử Quán Đà Lạt về nguồn cội Thăng Long – Hà Nội, và hôm nay đã đến thành phố Nha Trang.

     Xin thay mặt cho Tỉnh Ủy, UBND Tỉnh chúng tôi xin nhiệt liệt chào mừng và cảm ơn công ty cùng những nghệ nhân đã mang một sản phẩm tinh thần rất đặc sắc trên đường về với Thủ Đô Thăng Long vào dịp 1000 năm sắp tới và hôm nay đã đặt trạm dừng chân đầu tiên của đoạn đường. Đề nghị chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh.

     Kính thưa quý vị

     XQ Sử Quán đã quá thân thuộc với thành phố biển Nha Trang và với Việt Nam. Đặc biệt là trong dịp đại lễ này, lần đầu tiên tôi thấy tác phẩm tranh thêu với diện tích tương đối lớn và nội dung rất đặc sắc, sâu sắc, rất xúc động từ các hoa sen cho đến lúc nãy, anh Quân đã nói sơ bộ rồi, tôi nhìn tôi còn tưởng tượng ra nhiều thứ nữa. Tôi cho đây là một tác phẩm biểu thị tấm lòng của những người con Việt Nam ở khắp mọi miền của đất nước đã chắt lọc, chắt chiu cả 2, 3 năm trời mới ra tác phẩm này để về dâng trong dịp 1000 năm sắp tới. Tôi cho đây là một hoạt động cực kỳ hay và cực kỳ có ý nghĩa. Chúng tôi xin kính chúc công ty XQ cùng các nghệ nhân trong lộ trình tiếp tục từ đây ra đến Hà Nội, sắp tới sẽ còn nhiều điểm dừng chân để quảng bá cho nhân dân của các tỉnh trong cả nước của chúng ta biết được tác phẩm này trước khi xuất hiện vào đại lễ 1000 năm Thăng Long sắp tới.

     Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

 

ÔNG LÊ THANH QUANG

BÍ THƯ TỈNH ỦY TỈNH KHÁNH HÒA

đại diện cho nhân dân tỉnh Khánh Hòa thực hiện nghi lễ nhận tác phẩm "Đóa Sen Ước Nguyện Ngàn Năm"

 

.............................................................

 

 

NHA TRANG: "BIỂN CẤM"

 

     Huyền thoại kể rằng: Có một nàng con gái xinh đẹp sống ở thủy cung cùng với người yêu của mình. Họ sống rất sung sướng và hạnh phúc, xung quanh họ là những bức tường khảm xà cừ, những viên ngọc trai và những rặng san hô rực rỡ. Ngày ngày họ vui đùa ca hát và thưởng thức những món ngon vật lạ của biển. Đó là kết quả của một lần, chàng trai đã cứu con rùa biển thoát khỏi bàn tay nghịch ngợm của đám trẻ con. Con rùa biển đó chính là nàng con gái xinh đẹp kia hoá thành để đi rong chơi. Nàng trả ơn bằng cách mời chàng trai xuống thuỷ cung cùng sống với mình.

     Sống hạnh phúc và đầy đủ, nhưng chàng trai vẫn không nguôi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương và chàng quyết định về thăm. Chàng đâu ngờ rằng 3 năm dưới biển là 700 năm trên đất liền. Khi trở về, tất cả đã trôi vào quá khứ, người thân và bạn bè không còn nữa. Cô đơn ngồi trên bãi biển để tìm lại ký ức của 700 năm trước, chàng lấy cái tráp mà người yêu trao trước khi ra đi và có dặn rằng: “Nếu anh còn muốn gặp lại em thì xin anh đừng mở chiếc tráp này”. Nhưng với khát vọng mang ký ức về lại thuỷ cung, chàng trai đã mở chiếc tráp ra. Từ trong tráp bay ra một làn khói mỏng và một chiếc lông hạc, và lập tức chàng đã biến thành một ông già và ngã quỵ xuống.

     Nếu như quý vị thì quý vị có mở chiếc tráp ra không? Còn tôi, nhớ thuở nhỏ, mỗi khi đọc đến đoạn này, bao giờ tôi cũng gập sách lại và suy nghĩ: không biết chàng trai có tội tình gì mà bị trừng phạt như vậy? Và khi tôi lớn lên mới biết rằng đó là một thông điệp: “Nếu trái quy luật của biển thì sự sống ắt bị trả giá”. Ông già ngã xuống bỗng biến thành con hạc, còn dưới biển bò lên một con rùa. Con hạc cắp con rùa bay lên, hạc sống nghìn năm còn rùa vạn tuổi, hạc cắp rùa bay đi tìm sự bất tử và bay vào huyền thoại.

     Phải chăng từ rất xa xưa biển và bờ đã có một mối tương giao kết nối? Và “Biển Cấm” chính là biển của nội tâm mà con người ai cũng muốn thám hiểm để phát hiện ra ý nghĩa bản thân mình và thế giới. Tôi xin tặng đến quý vị bài thơ của “Biển Cấm”:

“Ta không nói vì biển còn sóng vỗ

Nghĩa tương giao vẫn vô lượng đất trời

Học im lặng dẫu xói mòn cát vỗ

Lòng bao giờ không thoát nắng biển khơi”

(Trích những câu chuyện về “Biển Cấm”

của nghệ nhân XQ Nha Trang)

 

MẶT TRỜI VỚI 10 GIÁ TRỊ BIỂU TƯỢNG

1.Quang minh, chính đại (không có gì bị che giấu, khuất lấp dưới ánh sáng mặt trời).

2.Nơi phát sinh mọi nguồn năng lượng.

3.Tính năng soi sáng.

4.Xua vẹt bóng đêm tăm tối.

5.Tự đốt cháy nhiên liệu của chính mình.

6.Trung thành với quỹ đạo của địa cầu.

7.Tạo diệp lục tố cho thảo mộc.

8.Nuôi sự sống, sinh lực cho muôn loài.

9.Sưởi ấm sự lạnh lẽo, xóa mù sương và làm tan băng giá.

10.Nhen sức lửa sáng tạo.

 

10 ĐỨC TÍNH CỦA BIỂN

1. Bao dung: Sẵn sàng dung chứa trăm vạn con sông mà lòng biển vẫn không đầy tràn
2. Nhẫn nại: Hàng trăm, hàng ngàn vật phế thải, dơ uế … người ta đổ xuống … mà lòng biển vẫn an nhiên chịu đựng.
3. Tinh sạch: Biển quăng trả lên bờ những xác chết, những vật dơ uế … để giữ gìn sự tinh sạch cho mình .
4. Thuần nhất: Dù trăm con sông tính chất khác nhau, mùi vị và màu sắc khác nhau – nhưng đều được biển hóa giải để trở nên thuần nhất.
5. Bảo tàng châu báu: Lòng biển chứa giữ đã triệu triệu năm cho con người cả một bảo tàng châu báu như vàng, ngọc, kim cương … mà không bao giờ bị hư mất hay thất thoát, hư mục …
6. Bảo tàng lịch sử: Nhiều nền văn minh của nhân loại dù đã bị hủy diệt – nhưng biển vẫn lưu dữ dấu tích, cổ sử ấy.
7. Nuôi dưỡng: Hàng triệu loài thủy tộc được biển chăm sóc, nuôi dưỡng … mà không bao giờ sợ thiếu thốn vật thực.
8. Phân minh nhân quả: Biển luôn luôn phân minh nhân quả, không thiên vị vì thương, không thiên vị vì ghét. Ai chọc giận, phá hoại biển thì biển sẽ phẫn nộ, bạo tàn. Ai tôn trọng, thương yêu biển thì biển sẽ hiền hòa, thanh bình.
9. Bảo trọng bản sắc: Dù lịch sử thăng trầm, xã hội thịnh suy, biển luôn luôn bảo trọng bản sắc của riêng mình, không thay đổi.
10. Bí ẩn: Con người không bao giờ khám phá hết chiều sâu vô thức của mình như thế nào – thì với biển cũng vậy, không bao giờ khám phá hết sự bí ẩn của đại dương

 

Nghi lễ thêu mũi thêu trước khi mặt trời mọc của nghệ nhân XQ

Với nghệ nhân xưa, vào những thời điểm quan trọng trong năm (Lễ hội tôn giáo hay các sự kiện trong cuộc đời: Dậy thì, đám hỏi, đám cưới, mang thai, sinh nở, …v..v…) họ thường thêu những mẫu hình - phần lớn là hoa, cũng giống hệt các mẫu hình trên các khăn choàng, áo dài, drap giường, gối của họ.

Các bà, các chị thường khoe rằng họ chẳng bao giờ thêu lại lần hai một hoa văn bên bông hoa. Họ đã biến căn phòng thành một dãy phòng tranh nghệ thuật đầy những hoa văn đủ màu sắc. Nhiều người đã hoàn thành mẫu thêu trước mặt trời mọc, nếu chưa xong thì họ phải thêu lại đêm sau. Sau khi hoàn thiện xong, họ thắp hương và hát những âm thanh hơi chói tai (giống như chầu văn). Các bà, các chị gọi hồn thần linh “nhập” vào mẫu thêu và phù hộ cho cả nhà. Khi “sự tiếp xúc” (darshan) giữa các bà, các chị với thần linh đã được thiết lập thì buổi lễ coi như đã đạt được mục đích. Khi mặt trời mọc, họ lại thắp hương cầu khẩn vị thần đó “quy tiên”, và những mẫu thêu cũng mất hết giá trị.

Đối với toàn thể những người phụ nữ làm nghề thêu, những bức mẫu thêu mang tính thờ cúng này là một phương thức cổ truyền thể hiện cá tính của họ, một cách lên tiếng nói của nữ giới trong một nền văn hóa do đàn ông thống trị. Khi nối liền tâm hồn của nữ nghệ nhân với thần linh, những lời cầu nguyện này là một nhân tố cân bằng trong cuộc sống của chị, là cầu nối của chị với những người phụ nữ khác trên thế gian.

Trong nghi lễ, ta thấy được một điều - sự thông cảm với thần linh chỉ thoáng qua, cho nên những tác phẩm nghệ thuật và kinh nghiệm thu được cũng là phù du. Sự kết hợp nghệ thuật thêu với kinh nghiệm tạo ra một khoảnh khắc sủng ái và hài hòa trong một thế giới không ngừng biến đổi, một cuộc sống tôn vinh máy móc và cái hiện đại.
 
 
Nghệ nhân - Nghệ Sĩ XQ “Lễ ơn mừng phì nhiêu của biển"


     Từ “Lễ ơn mừng sự phì nhiêu của biển” được dùng để chỉ một loạt nghi thức và lễ thức khác nhau sinh ra từ nền văn hóa cổ xưa và nền văn hóa thực dân.

     Tất cả những huyền thoại được gợi lên đều trả lời 3 câu hỏi: Ta từ đâu đến? Hiện thời ta là ai? Và ta sẽ đi về đâu?

     Đối với những ngư dân ngày xưa, cái chết mang một ý nghĩa chuyển tiếp và nghi thức. Người ta cho sống và chết là hai mặt của một thực tại. Người chết tồn tại trong một thế giới khác, ở đó với sự phù trợ của các thần linh, đến một ngày nào đó họ sẽ trở lại cuộc sống. Đó là điều toát lên từ các huyền thoại của chu kỳ năm. Con người sống lại có trách nhiệm tạo ra cuộc sống cho chính các thần linh và làm sống lại vũ trụ. Sau khi được tạo ra, con người lại trở thành tạo hóa.

     Thời kỳ thực dân, những huyền thoại bản địa bị phai mờ vì công cuộc thực dân hóa tinh thần khi đạo Thiên Chúa tìm cách thay thế những nghi thức và huyền thoại “ngẫu tượng giáo” bằng những nghi thức của mình. Những huyền thoại mới khẳng định rằng con người được tạo ra để thờ phụng chúa trời và số phận con người sau khi chết đi như thế nào là tùy người đó có hoàn thành được bổn phận ấy hay không và cách ứng xử người đó có tuân theo những đạo lý của giáo hội hay không, tác hại con người bị phán xét về các hành động của mình.

     Trong khi con cháu người phương Tây theo đạo Kitô thì người bản xứ thiết lập một tôn giáo hỗn hợp các hệ huyền thoại dưới sự bảo trợ của những hình ảnh đầy quyền lực như hình ảnh nữ Thánh Đồng Trinh – các Thần Hoàng. v.v…

     Sau ngày thống nhất tổ quốc và đến hôm nay, bắt đầu có một sự đảo lộn triệt để về các huyền thoại của mỗi vùng miền, ngành nghề bắt đầu được phục hồi. Sau khi tổ quốc độc lập và cùng với việc gia nhập WTO, công cuộc đi tìm kiếm bản sắc dân tộc hay còn gọi là “tính Việt Nam” đã thúc đẩy các nhà văn hóa, sử học, các nhà sáng tạo, tri thức ca ngợi một quá khứ vùng miền và ngành nghề. Đó cũng là cuộc “cách mạng văn hóa” mà cũng có thể coi là một “giá trị dân tộc” cần phải phục hồi các huyền thoại.

     Với huyền thoại “Lễ ơn mừng biển Nha Trang phì nhiêu” tạo nên một lực lượng chống lại cái chết, thừa nhận sự yếu ớt của con người trước các thế lực thiên nhiên và cầu đến thần linh. Đó vừa là một hành động chính trị, tôn giáo lẫn huyền thoại được biến thành một lễ hội thể hiện tầm vóc sáng tạo của con người và khả năng của con người gìn giữ lại trong giây phút bước đi của thời gian.
 
 
 
 
12 THUỘC TÍNH CỦA CÁT BIỂN


Người phụ nữ làm nghề thêu bên bờ biển Nha Trang quan niệm: cát ở vùng biển Khánh Hòa – Nha Trang có thể đơn giản dùng làm một yếu tố thị giác, đóng một vai trò quan trọng trong cấu trúc tự sự. Và những trụ cát được lấy tại các vùng biển Khánh Hòa - Nha Trang được triển lãm tại không gian “Nỗi buồn thần chết”.

1.Hai tay chắp lại như đang cầu nguyện giữa một đụn cát với một liều lượng thích hợp giữa nhạo báng và trịnh trọng, khấn vái vùng cát nhỏ đó hãy sinh ra cho mình một con cá nhỏ trong bữa ăn.

2.Hai tay ôm chặt đụn cát nhỏ tượng trưng cho thiên đường bị mất với yêu cầu cấp bách phải giành lại nó.

3.Khuôn mặt và hai tay áp vào cồn cát nhỏ. Thể hiện cát trên bờ biển này làm đậm thêm tình cảm và xúc cảm.

4.Tiền cảnh cát che nửa khuôn mặt và hai tay cầm lại với nhau. Nó thể hiện số phận những con người bờ biển đó luôn đi tìm kiếm bản thân mình.

5.Giữa cát, lổn nhổn đá và biển, một người phụ nữ ngồi cúi đầu. Thể hiện sự kêu gọi được bảo vệ một cách tức cười giữa cái mênh mông đầy hăm dọa của một vùng biển.

6.Giữa mênh mông của biển, trơ trụi và lổn nhổn của đá (liên tưởng đến sự cô đơn - nỗi nguy hiểm, thách thức, chinh phục và chịu đựng) một người phụ nữ ngồi đưa 2 bàn tay úp xuống, thể hiện cho đức tính và hình ảnh đem đến khía cạnh sử thi của vùng biển đó.

7.Nhiều bàn tay úp lên mặt cát sát bờ biển thể hiện quan hệ với cát và biển, trong đó cát hình thành nên các số phận của họ và quyết định các hành động.

8.Hai bàn tay người phụ nữ ôm ngược lưng trần ngồi trên cát. Thể hiện “những con người của sỏi đá” sống đến mức độ cuồng điên ở bờ biển nơi này, và cũng thể hiện cái “tự do làm cho người ta ngây ngất…”

9.Một cô gái nằm dài sấp hai tay úp xuống trên bãi cát, thể hiện cát ở vùng biển đó bào mòn tất cả mọi thứ chỉ toàn có ký ức về đam mê và thể hiện ngôn từ mất đi sức mạnh, nói lên sự sống ở nơi đó đều diễn ra trong im lặng.

10.Bàn tay đổ một cốc nước chè trên cát biển. Nó thể hiện tình yêu chết đi - chỉ còn quyền lực và sự cô đơn đồng hành với nhau.

11.Đôi bàn tay đặt khay trà trên bãi cát. Nó thể hiện bãi biển cát đó hình thành những lối mòn của “cơ man truyện kể của thế giới”.

12.Giấc mơ cuối cùng của người họa sỹ.

Một nhận thức mặt trời - biển – cát – con người đều xoay quanh một trục thống nhất trên biển Nha Trang, cuối cùng một thiên đường của họa sỹ trên biển Nha Trang là đi tìm thấy sự thống nhất, biểu tượng và phi biểu tượng, giữa cái thực tế và trừu tượng, giữa cái vật chất và ánh sáng.
 
 
KHOA HỌC VỀ BIỂN 


1. Biển và con số.
2. Khoáng sản dưới Biển.
3. Từ vựng về Biển.
4. Các vỉa san hô ngầm bị đe dọa.
5. Các hiệp ước quốc tế về Biển.


BIỂN VÀ CON SỐ


· Biển bao phủ 70,8% diện tích trái đất khoảng 361,3 triệu km2 trên tổng số diện tích trái đất 510 triệu km2. Biển và băng giá chiếm 97,957% thể tích nước của hành tinh.
· 60% dân số thế giới (3,6 tỉ người) sống cách bờ biển dưới 60 km. Trong 30 năm nữa, con số sẽ tăng tới 75% (6,4 tỉ người)
· 80% tài nguyên biển tập trung ở thềm lục địa
· Biển chứa 80% các sinh vật khác nhau của trái đất, trong đó một bộ phận lớn chưa khám phá. Trong vùng nước sâu, phần lớn chưa được thăm dò, có khoảng 10 triệu chủng loại sinh vật hoàn toàn chưa được biết tới.
· 12,5 triệu ngư dân (trong đó 10 triệu dùng phương pháp thủ công) làm việc trên 3 triệu tàu thuyền các loại và đánh bắt 90 triệu tấn cá 1 năm. Công nghiệp cá nuôi dưỡng gián tiếp và trực tiếp 200 triệu người
· Độ sâu trung bình của biển là 3800m. điểm sâu nhất nằm trong vùng MARIANAS tại Thái Bình Dương sâu tới 11000 m.
· Biển rộng nhất là Thái Bình Dương, bao phủ 166 triệu km2. Núi ngầm dưới biển cao nhất nằm gần vùng Tonga giữa XAMOA và Newzealand cao tới 8700 m.
· Mực nước biển trên thế giới đã nâng cao 18 cm trong một thế kỷ qua và hiện nay, cứ mỗi năm lại cao thêm từ 0,1 đến 0,3 cm.
· Nhiệt độ trung bình trên mặt biển 16 0C.


---------------------------------------------

KHOÁNG SẢN DƯỚI BIỂN


Đại hội cá và san hô biển

Khoáng sản dưới biển có nhiều dạng:

     Những quặng xốp có 3 nguồn. Nguồn vụn như cát, sỏi cát “placex” chứa thiếc, Titan, vàng, đất hiếm, ZIRCONIUM và kim cương. Các chất khác có nguồn gốc sinh học: vỏ các sinh vật biển đã biến thành vôi cát. Nguồn gốc thứ ba là các nguyên tố lơ lửng trong nước tạo ra sự kết tủa những hóa chất đã sản sinh ra baryte hay các lớp bùn chứa kim loại chẳng hạn.
Những quặng đá mà thực chất là sự kéo dài xuống dưới biển các vỉa mạch than, thiếc, sắt và các khoáng sản khác.
Những chất hòa tan trong nước biển như muối (Clorua Natri), Magiê và iốt…
Nếu việc khai thác này liên quan đến gần 60% tổng số 103 nguyên tố hóa học đã được nhà hóa học người Nga Mendeleyev phân loại năm 1869.

     Khai thác khoáng sản biển có tầm quan trọng đặc biệt, trở thành cần thiết cho công nghệ hiện đại. Nhất là Titan, ZIRCONIUM và đất hiếm (trong đó có hàm lượng chứa 9 khoáng sản nặng, gồm Thorium có tính phóng xạ và 8 khoáng sản nhẹ hơn). Titan được coi là khoáng sản chiến lược cung cấp chất làm trắng giấy và chất dẻo, là một thành tố rất quan trọng đối với ngành hàng không và trong việc sản xuất gậy chơi gofl hay vợt tennis. Nhờ có tính năng chịu lửa, ZIRCONIUM được dùng trong các ống phụt khí của máy bay phản lực. Các đất hiếm chứa Quartz hoặc Rotin (dioxyde titan) đáp ứng nhu cầu công nghệ mũi nhọn như tạo sắc tố đỏ trong các màn hình màu hoặc thúc đẩy quá trình thoát khí từ các động cơ. Rutin có một sức bền phi thường, nó không bị tiêu hao và không thể bị các hóa chất ăn mòn.

     Việc khai thác khoáng sản trên đất liền vẫn không đáp ứng được nhu cầu thế giới nên những thập kỷ tới, ngành công nghiệp đang hướng ra biển.


--------------------------------------------------

TỪ VỰNG VỀ BIỂN


Bình nguyên đáy biển: Khu vực ở sâu từ 4000 – 6000m tương đối phẳng hoặc thoai thoải.
Chu trình của nước: Sự tuần hoàn của nước trong thủy quyển, nước biển bốc lên không khí tạo thành mưa và trở về biển bằng nhiều con đường.
Đá ngầm san hô: Những khối đá to lớn ngầm dưới biển do san hô và một số động vật không có xương sống khác tạo nên.
Đặc khu kinh tế (EEZ): Một số khái niệm pháp lý do công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về biển quy định của các nước được khai thác tài nguyên ở vùng biển rộng 200 hải lý tính từ bờ.
Elnino: Hiện tượng nóng lên theo chu kì của Thái Bình Dương xích đạo do những biến đổi của khí quyển, làm thay đổi trên quy mô lớn các điều kiện khí hậu và đại dương, gây ra hạn hán, lụt lội, bão, lốc, rét được những người đánh cá xứ sở Pêru đặt tên thành là “JESUS con”(ELNINO) vì hiện tượng này thường xảy ra vào khoảng ngày Chúa giáng sinh(NOEL).
Hoàn lưu nhiệt muối: Sự tuần hoàn của nước biển do sự khác biệt về tỷ trọng có liên quan tới nhiệt độ và nồng độ muối. Nó chi phối sự hoàn lưu không khí tại phần lớn các cửa sông và vùng nước sâu của đại dương.
Phú dưỡng hóa: Việc làm giàu các nước thiên nhiên bằng các chất dinh dưỡng do ngành công nghiệp thải ra, qua đó kích thích sự phát triển của các thực vật phù du. Sự phú dưỡng hóa làm cho các khối sinh học tăng lên. Sự phân hủy các khối sinh học này gây nên tình trạng thiếu Oxy và làm các sinh vật chết hàng loạt trong những trường hợp xấu nhất.
Hạch khoáng: Những khối rắn đường kính vài centimet nằm ở đáy đại dương và chứa nhiều kim loại nặng Mangan, Sắt, Kiềm, Coban và Đồng.
Lớp nước trung gian: Khối nước được tạo thành ở các vùng vỹ tuyến cao, giăng ngầm giữa lớp nước trên mặt biển và lớp nước ở sâu đáy biển.
Núi ngầm đáy biển: Vùng đáy biển nhô cao, có kích thước to lớn và đỉnh là hình chóp.
Phù sinh: Các sinh vật sống trong nước biển chúng chuyển động lên, xuống hoặc ngang theo chuyển động của nước biển.
Rừng sú vẹt: Rừng nhiệt đới mọc ở ven biển gồm các cây bụi và các cây thân gỗ có khả năng sống trong nước lợ.
Sóng thần: Sóng cực kỳ lớn cao tới 30m có tốc độ của một máy bay Boeing, gây ra bởi tác động của núi lửa phun, động đất hay lở đất dưới đáy biển.
Thềm lục địa: Vùng đất kéo dài của đất liền ra biển dài thoai thoải dưới nước cho tới bờ vực biển sâu

---------------------------------------------------------

CÁC VỈA SAN HÔ NGẦM BỊ ĐE DỌA


     Lặn sâu xuống biển nóng ấm đầy ánh sáng mặt trời, lửng lờ trên những chiếc cầu vồng rực rỡ, hoa san hô và những con cá của đá ngầm, bạn sẽ thấy ngây ngất vì sự thần kỳ của tính đa dạng sinh học. Người ta mới biết được 90.000 loài sống trong các vỉa san hô ngầm, nhưng trên thực tế có hơn 1.000.000 loài.

    Tại sao lại phong phú như vậy? Địa hình vi mô của một vỉa đá ngầm đang phát triển rất phức tạp. Những diện tích mà hàng tỉ động vật không xương sống bé nhỏ và cá bám vào, những hốc ẩn nấp của chúng nhiều vô kể. Các vỉa san hô ngầm là những môi trường sống có tính chất của đảo điển hình, là nguồn dự trữ các giống loài vi sinh vật đang phát triển vô tận: các ấu trùng con cháu của một loài giống nào đó từ một nơi xa đã ngẫu nhiên trôi dạt đến đó và nhập vào môi trường sống này. Những sinh vật này, tách khỏi quần thể me, đã thích nghi với môi trường mới và đã trở thành một giống con. Thế là ở chỗ trước kia chỉ có một loài nay đã có hai. Và mỗi loài này lại có thể đi chinh phục các vỉa đá ngầm khác. Cứ như vậy, tính đa dạng tăng theo cấp số nhân trải qua những thời kỳ địa chất.

     Cách đánh bắt cá và khai thác du lịch đang đe dọa tính đa dạng phong phú đó.Phá hủy những vỉa đá ngầm đó để lấy đi các tài nguyên mà chúng nuôi dưỡng và một số hành động tai hại khác. Kết quả 10% các vỉa san hô ngầm bị phá hủy. Sự nóng lên của trái đất cũng là một tai họa ngấm ngầm. Các san hô bị mất các rong cộng sinh khi nhiệt độ của nước tăng lên một hay hai độ so với nhiệt độ bình thường. Nó bị mất màu, trắng ra và chết. Càng bị mệt mỏi bao nhiêu bởi nhiệt độ cao hơn mức bình thường thì các san hô càng dễ bị mắc bệnh và tính đa dạng sinh học của chúng giãm đi, bạn sẽ thấy kinh hoàng.

     Trên đất liền, việc biến mất của các loài thú quý hiếm hoặc sự tàn lụi của mảnh rừng nguyên thủy còn sót lại là điều dễ thấy. Trong đại dương, sự mất tính đa dạng sinh học vẫn nằm ngoài tầm mắt chúng ta. Tuy nhiên, việc tác động của các hiện tượng đối với di sản mà chúng ta để lại cho con cháu cũng chẳng kém, thậm chí có khi tệ hại hơn vì việc sửa chữa những tác hại gây ra cho một môi trường sống hoặc xây dựng lại một môi trường sống bị phá hủy trong vùng nước trung bình của chúng ta là một việc khó làm vừa không thể làm được trong vùng nước sâu.

San hô biển


-------------------------------------------------------

CÁC HIỆP ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BIỂN


     Trong khi Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển bàn một cách tổng quát về những loại hình khai thác biển, các hiệp ước khác đề cập đến những vấn đề chuyên biệt. Sau đây là một vài ví dụ:

     Về an toàn trên biển:

     Công ước quốc tế về việc bảo toàn nhân mạng trên biển (SOLAS). Được thông qua năm 1974, bắt đầu có hiệu lực năm 1980, 137 nước đã ký.

     Phiên bản đầu tiên của Công ước này, một công ước quan trọng nhất về an toàn của các tàu buôn, đã được thông qua năm 1914, sau vụ đắm tàu Titanic năm 1912. công ước này định kỳ được cập nhật hóa để thích ứng với những tiến bộ kỹ thuật của công nghiệp hàng hải.

     Về ô nhiễm do tàu bè gây nên:

     Công ước quốc tế về sự can thiệp trong hải phận quốc tế trong trường hợp tai nạn đưa tới hoặc có thể đưa tới sự ô nhiễm dầu lửa. Được thông qua năm 1969, bắt đầu có hiệu lực năm 1975, 72 nước đã ký. Công ước này công nhận quyền của các nước ven biển được thi hành những biện pháp cần thiết trong hải phận quốc tế để ngăn chặn, giảm bớt hoặc loại bỏ nguy cơ ô nhiễm bờ biển của họ sau tai nạn tàu biển.

     Công ước về việc ngăn chặn sự ô nhiễm các biển do việc vứt bỏ các chất thải và các vật thể khác gây ra (Công ước LC ). Được thông qua năm 1972, bắt đầu có hiệu lực năm 1975, 77 nước đã ký. Công ước này ngăn cấm việc đổ xuống biển một số chất nguy hiểm từ các tàu, máy bay, dàn khoan và các cấu trúc do con người xây dựng, và đòi hỏi phải có giấy Công ước quốc tế phòng ngừa ô nhiễm do tàu bè gây ra (MARPOL 73/78). Được thông qua năm 1973. do tính chất phức tạpvề kỹ thuật và phạm vi rộng của công ước, nhiều phần của công ước bắt đầu có hiệu lực vào các thời điểm khác nhau.

     70 nước đã chuẩn y Phụ lục IV về các loại nước thải, nhưng đội thương thuyền của họ chỉ chiếm 41,47% trọng tải thế giới. Phụ lục này sẽ bắt đầu có hiệu lực khi mà các nước có các đội thương thuyền lớn hơn chuẩn y nó, và tỷ lệ trọng tải đội thương thuyền tổng cộng phải đạt ít nhất 50% của toàn thế giới. Đây là Công ước quốc tế quan trọng nhất và mang nhiều tham vọng nhất về ô nhiễm biển, bao hàm mọi khía cạnh kỹ thuật của sự ô nhiễm gắn liền với các tai nạn về việc vận hành của tàu bè, loại trừ sự nhấn chìm các chất thải và sự ô nhiễm do việc thăm dò và khai thác các loại khoáng sản dưới đáy biển gây ra.
 
 
Đền: nơi cứu nạn


     Đối với người thủy thủ mắc vào một chuyến đi biển nguy hiểm đến tính mạng. Anh ta bắt buộc phải có một hành động xin tha thứ và việc này chỉ có thể tiến hành trên đất liền. Trong truyền thuyết về đấng tiên tri Elie mà một số vùng biển dù theo đạo nào cũng bày tỏ sự sùng kính


     “Vị thánh tiên tri này vốn là một thủy thủ. Một ngày kia, chán cảnh đương đầu với mối hiểm nguy của sóng nước. Ông vác một mái chèo trên vai và đi thật sâu vào vùng rừng núi, thật xa biển cả, cho đến khi gặp một người nông dân, chưa hề biết thuyền là gì, cứ ngỡ mái chèo là một cái quạt sảy thóc, thì vị thánh mới dừng chân, ông cắm mái chèo xuống đất, từ mái chèo nảy ra những cành đa xinh tốt và ông lấy đó làm nơi trú ngụ”


     Thường chúng ta thấy trên mõm cao nhất của những hòn đảo thường có một bàn thờ nhỏ màu trắng, do một thủy thủ nào đó biết ơn về việc đã giải thoát khỏi hiểm họa sóng biển dựng lên để cung tiến vị thần bảo hộ mình. Thông thường những nơi thiêng liêng được cung tiến cho biển đều ở trên những điểm cao bên trong đất liền như những nhà thờ Đức Bà phù hộ, và những điện thờ khác cổ kính hoặc mới mẻ. Chúng ta thấy nhu cầu thầm kín của thủy thủ muốn lánh xa chốn hiểm nguy biển cả bằng một cuộc hành hương thật sự mà họ thường đi với đôi chân không, để đến nơi cứu nạn đất liền.


     Chính ở nơi đó bằng một xảo thuật đối lập nước mặn sẽ trở thành nước ngọt của một giếng nước, ở đó kẻ thoát nạn đắm tàu gột rửa sạch nỗi nguy hiểm đắng cay. Tại đó, người ta sẽ đặt đồ cúng – tranh ảnh, nến, những mảnh buồm hoặc thừng chảo – dưới chân hình ảnh được tôn thờ. Nơi đó được coi là khoảng không gian cứu mạng, bên ngoài phạm vi không gian nguy hiểm của cuộc sống hằng ngày. Ở nơi đó, thời gian được coi như vĩnh hằng, thoát ra khỏi thời gian khiếp sợ và của đêm giông bão.
 
 
Khai trương: CON ĐƯỜNG LỬA - BIỂN MIỀN TRUNG - NHA TRANG

Chủ đề: NGHĨA TÌNH TRĂM CON

RÌ RÀO SÓNG VỖ NGƯỜI ƠI

Rì vào sóng vỗ rì rào
Lênh đênh biển nhớ cát xao thì thầm
Thì thầm lữ khách dừng chân
Lắng nghe gió nổi đường trần lá rơi

Rì rào sóng vỗ người ơi
Tình đi muôn bến khơi vơi chẳng về
Non xưa đá vỡ bốn bề
Con chim én trắng lời thề ngàn xuân

Ầm ào nước chảy bên chân
Ầm ào trăng vỡ mấy lần sóng khơi
Bơ ngơ cát lún chân đời
Phố vàng chợ đỏ quên lời mẹ ru

Ầu ơi câu hát vi vu
Nước non tình tự thiên thu nhọc nhằn
Thùy dương tóc gọt lăn tăn
Mẹ ơi mẹ hỡi gió trăng thì thào

Rì rào sóng vỗ non mòn
Suối khe tình tự sắt son đá vàng
Hòn Chồng, hòn Vợ lang thang
Đảo Chim, đảo Yến trăng ngàn còn không?

Thuyền về sóng vỗ long tong
Ngư chài thả vó đục trong miệt mài
Cao cao tháp vọng hải đài
Chiếc đèn cao áp thở dài mù sương

Mẹ ơi địa chấn đại dương
Ầm ào tan nát tai ương ầm ào
Trái tim giọt muối xanh xao
Lắng nghe cát vỡ chiêm bao rã rời

Ngày đêm sóng vỗ ầm ào
Con chim khuyết sử hót chào non xanh
Cá vàng cá ngọc long lanh
Nhởn nhơ bơi quẫy khung tranh đèn màu

Vẽ thêm con mắt đầu tàu
Chiếc thuyền độ thế biển dâu đăng trình
Lỡ mang hồn Việt phiêu linh
Mẹ ơi mẹ hỡi nghĩa tình trăm con
 
 
Nghi lễ khai trương: Đền thờ HAI CHỮ "NƯỚC NHÀ" tại biển Nha Trang
 
 
 
 
 
NGHI LỄ THANH TẨY RỬA TỘI BẰNG RƯỢU VANG


Nghi thức này, ngày xưa được thực hiện thông qua hình thức hiến sinh bằng máu thực hay tượng trưng để chuộc tội lập công.

- Như cuộc hiến sinh này Iphigénie trong thiên anh hùng ca của Homèke bị cho làm vật tế thần Diana để hạm đội Hy Lạp được xuôi buồm thuận gió tiến về thành Troyce.

- Ở một số vùng khác, người ta thường hiến tế một con cừu ở mũi tàu để duy trì mãi nghi lễ cổ và hình thức dùng da cừu để hiến tế hai người, từ tổ phụ Abraham.

- Cho tới nay một số vùng, người ta vẫn làm lễ “rửa tội” cho các con tàu từ chiếc xuồng đến chiếc tàu lớn. Vì lẽ gì vậy? Một người đã trả lời tôi: “con trai anh, anh làm lễ rửa tội và anh đặt cho nó một cái tên chứ? Con tàu nó cũng vậy, đó là một tạo vật...”.

Tất cả đều thể hiện một cách tượng trưng ý tưởng cho rằng một nghi lễ là cần thiết để đem lại cho sự sống, cho một vật vô tri vô giác và thanh tẩy nó cũng như để bảo vệ người ngư dân và những người trong gia đình anh ta.

Con tàu thường được lấy tên một người thân, một vị thánh hoặc một vị Anh hùng đặt cho con tàu của họ để nhấn mạnh rằng con tàu thuộc về một gia đình tinh thần rộng lớn hơn.

Dù bằng cách tưới máu hoặc biến thể hiện đại là rượu vang, người ta luôn thực hiện lễ hiến sinh để đem lại sự sống cho con tàu.

Thưa quý ông, quý bà: cũng như mọi chuyến đi trong cuộc đời này, chuyến đi vẫn chưa hoàn thành, chỉ với điều kiện là đừng vứt bỏ vội vàng tất cả những niềm tin đó bằng ý nghĩ cho nó là ngây thơ, thuộc về quá khứ mông muội và cực khổ thì người ta mới có thể thâm nhập sâu hơn vào thế giới huyền bí của các thủy thủ, những ngư dân. Và như vậy, chúng ta đã thừa nhận nhân cách và lòng dũng cảm trong nghề nghiệp gian khổ của họ - những người con xứ biển.
 
 
Đêm nhạc ghita: Dế Khóc Trăng.
vì trẻ em nghèo, biển Nha Trang
 
 
Câu lạc bộ: con người thợ thêu, biển Nha Trang
 
 
Khung thêu : Hải vọng triều âm
 
 
 
Căn phòng: Thẩm Mỹ Học, nghệ nhân biển Nha Trang
 
 
Điều bí ẩn trong giọt nước biển Nha Trang
 
 
Nghệ nhân: Nguyễn Thị Thùy My
Làm việc tại XQ Nha Trang
Là nghệ nhân thêu tranh Quê Hương xuất sắc đoạt giải bàn tay vàng năm 2009
 


DÒNG SÔNG CỦA NHỮNG ĐỨA BÉ


“Cái cò lặn lội bờ sông
Tháng ngày lận đận dặm đồng nuôi con
Áo tơi chằm vá cũ mòn
Đến nay con cái lớn khôn thành người
Con chừ gánh chữ ngược xuôi
Thương con thương cái thương đời ly tao.”


     Con ơi! Làng quê mình còn nghèo lắm, bão lũ cứ liên miên, khiến cho làng ta còn nghèo mãi, nghèo chi, nghèo rứa mà nghèo. Cái nghèo đã khổ còn đeo trong người, con ơi! Ngủ đi con.
“Cháu ơi! Cháu sắp vào Nam để mưu sinh phải không? Cháu hãy đến đây nghe ông dặn “Con người ta mất nhẫn thì còn ngón tay, mất quần áo thì còn thân thể, mất ảo tưởng thì còn ước mơ, nhưng mất ước mơ, hy vọng là mất tất cả và khi nào cháu không khóc được nữa thì cháu hãy cười lên”.
Đó là lời ông nội tôi dặn trước lúc vào Nam để mưu sinh.

     Làng quê miền Trung của tôi luôn phải đối mặt sống với cát, gió bụi, thiên tai, mất mùa, lũ lụt. Một thực tế như cơm bữa, một sự nhàm chán và đầy nhọc nhằn. Nhưng! Có những câu chuyện đem đến cho thực tế ấy một chất kỳ diệu và huyền ảo. Làng quê tôi cũng có những tấm chiếu cói biết bay như tấm thảm bay trong câu chuyện 1001 đêm. Ở đó không có những bình cổ để mở nắp cho những vị thần bay ra. Mà chỉ có những lon Heneiken, Coca-cola trôi trên dòng sông cũng được những đứa bé làng tôi ước mơ một ngày nào đó ở trong những cái lon đó có những Ông thần bay ra để hỏi: Con ơi! Quê con có ước mơ gì không?

     Và cũng chính miền quê đó có những đứa bé bị mẹ đánh vì nửa đêm không chịu ngủ mà trèo lên cây xem con chim nó ngủ nó co cái chân như thế nào?
Làng quê tôi vẫn thế, sự nhọc nhằn, hy sinh của những con người. Quê tôi vẫn còn những đứa bé nhọc nhằn, không có điều kiện sống tử tế nhưng những đứa bé và những người dân quê tôi vẫn được cứu rỗi bằng những niềm hy vọng và ước mơ. Cũng bởi trên chính dòng sông đó, những đứa bé ngày qua ngày ngồi ngắm cục chì trong một cái đền.
Đó là câu chuyện của một chàng trai đánh cá, nghèo đến mức độ không có cục chì để cho lưới chìm. Bèn mượn cục chì của một cô gái giàu có, và hứa rằng con cá đầu tiên anh đánh được anh sẽ tặng cho cô. Và điều kỳ diệu đã xảy ra khi mổ bụng con cá lại có viên kim cương thật to lớn. Từ đó tình yêu đến, hạnh phúc đến, đời sống dân làng được nâng cao và giàu có hẳn lên. Hỡi ông thần đèn trong những chai lọ trôi sông, hãy hiện ra cho người dân quê tôi những niềm ước mơ và hy vọng.

     Những người Nghệ Nhân Nghệ Sỹ của công ty XQ chúng tôi từ khắp mọi miền đất nước về đây, người thì miền Bắc, miền Nam cũng có, người thì miền Tây, còn tôi – tôi đến từ miền Trung. Hành trang của tôi mang theo là những ký ức liên quan đến sự tồn vong của làng quê mình, đó là tình bạn, tình yêu và tình tri kỷ - tri âm.

     Từ những hành trang đó, đã được chúng tôi đưa vào trong những tác phẩm tranh thêu mà đặc biệt đó là tác phẩm “DÒNG SÔNG CÁI CỦA NHỮNG ĐỨA BÉ” được chúng tôi trưng bày tại căn phòng “Nhật ký ngày trở về quê hương” tại XQ Sử Quán Nha Trang.

     Miền quê tôi cũng có đền cục chì nhưng bây giờ quý khách ở đây hỏi tôi rằng đền cục chì đó còn không? Cô có thể cho địa chỉ để về thăm đền cục chì đó như thế nào được không? Thì tôi cũng xin thú thật với quý khách rằng tôi cũng chỉ nghe nói thôi chứ chưa thấy đền cục chì đó ra làm sao cả.
Nhưng tôi cũng nghe nói rằng đền cục chì đó bị người ta đập bỏ từ lâu vì họ cho là mê tín, nhưng người dân quê tôi lại lén dựng lên một cái chái để thờ Hà Bá. trong đó có ghi những lời của Hà Bá như thế này “Không ai được quyền sở hữu dòng sông, vì dòng sông thuộc về tất cả mọi người, miễn là mỗi người một phần thuộc về dòng sông đó”.

     Dòng sông vẫn êm đềm trôi trong ký ức tuổi thơ của những đứa bé miền quê tôi với đôi quang gánh nhân thường nhọc nhằn trên vai mẹ. Đôi gánh với những mắm, muối, tương, cà và những thành quả đã đạt được trên dòng sông. Đôi gánh mà phải chịu biết bao thiên tai, mất mùa, lũ lụt nhưng nó chẳng hề nặng trĩu, và chính đôi gánh nhân thường đó đã nuôi sống đời tôi.


“Bao năm về thăm mẹ
Thấy mẹ già đi nhiều
Mái tranh nghèo kể lể
Những ngày tháng bồng phiêu

Ít hôm con lại đi
Quê mình còn khó nhọc
Con sông nói chuyện chi
Mà ngàn năm không nghỉ”
 
 
Nghệ nhân: Nguyễn Thị Thùy My

 
 
 
Nghệ nhân: Nguyễn Thị Thùy My
 
 
 
Nghệ thuật trình diễn của nghệ sỹ Thu Ba
Chiều cao “Sự im lặng của biển”

Họa sĩ: NGUYỄN THỊ THU BA
Làm việc tại XQ Nha Trang
Tham gia vào công ty từ năm 2007
 
 
 
 
Nghệ nhân Lâm Thị Mỹ Thùy
Làm việc tại XQ Nha Trang
Là nghệ nhân tranh sen xuất sắc, đoạt giải bàn tay vàng năm 2012 
 
 
NHỮNG BÀI THƠ VỀ VẺ ĐẸP HOA SEN

Sen từ hương thắm bước ra
Trăng hồng khoác áo, kiêu sa điểm vàng
Nếp nhà cốt cách đoan trang
Đa tình trân trọng thế gian chẳng nhiều

Lời hoa ngôn hạnh công dung
Ngọc thêu gấm dệt thuỷ chung hạ vàng
Tình cao sang đức cao sang
Sen ơi! sen hỡi dịu dàng lòng ta

Giữa miền mây nước lao xao
Sen ngồi tự tại hồ ao, mỉm cười
Thiếu sắc hương, chẳng tiếng lời
Trái tim thương một, sự đời cảm hai

Hồ xanh Sen viết bài thơ
Bút hòa sương mực bùn như tục phàm
Tứ văn chương chẳng dính chàm
Tinh anh hồng trắng, dung nhan điểm thiền

Sen hồng sen trắng kết đài
Biết ai tịnh độ, biết ai đồng trần
Chầu quanh cánh ngọc tuyệt ngần
Thế gian phụng hiến chưa lần nhạt hương

Kết đài lá lục vươn lên
Cọng xanh xuyên nước, tụ thiền đầu hoa
Thuyết kinh nhất đóa, nhất tòa
Thơm lừng hương pháp Ta Bà độ sinh

Đình chùa biểu tượng tinh anh
Phù điêu bích họa khắc tranh cát tường
Đóa liên hoa Tuệ Đông Phương
Sống cùng bùn đất thiền hương ngát ngào

Đáy bùn mầm chuyển hóa sinh
Chắt chiu nhựa luyện kết tinh ngọc ngà
Hạ lan dám sánh liên hoa
Sắc hương biến tấu bài ca thoát phàm

Sen hoa tiết hạnh dị thường
Đêm đêm giữ ngọc gìn hương cho đời
Mùi khơi lay động đất trời
Thơm câu kinh Phật, ướp lời ca dao

Tinh anh cao sáng vẹn mười
Giữa miền lửa hạ nụ cười an nhiên
Hồ sen trăng nước ngủ quên
Nắng mai hương tỏa tình thiền nôn nao


(MĐTTA)


 
 
Nghệ nhân Lâm Thị Mỹ Thùy
Làm việc tại XQ Nha Trang
Là nghệ nhân tranh sen xuất sắc, đoạt giải bàn tay vàng năm 2012
 
 
 
Tôi thêu “Chân dung xứ biển Quê Hương tôi”
 
 
 
 
Thời Trang điêu khắc
ĐIỆU THỨC TRỮ TÌNH BIỂN NHA TRANG
 
 
Nhịp Điệu Trầm Hương
 
 
Thời Trang điêu khắc
ĐIỆU THỨC TRỮ TÌNH BIỂN NHA TRANG
 
 
ĐIỆU THỨC THÊU HOA CỦA NGHỆ NHÂN XQ XỨ BIỂN NHA TRANG


     Qua bao thế kỷ – qua gặp gỡ liên tiếp với nhiều nền văn hóa thêu, nghệ thuật thêu xứ biển Nha Trang đã đẹp thêm và nhiều sắc thái hơn. Đường nét cong của thêu đã thắng thế, mặc dù tính kỹ hà vẫn làm nền. Da thịt của sợi chỉ thêu đã căng phồng, uốn cong hoặc đã tròn hẳn. Một số nét thêu trên nhiều loại vải đã hóa thành những vườn tín hiệu làm “Hạnh phúc” khi lướt nhìn giữa những nét thanh và nét đậm, những đường nét thêu được tô điểm bằng những mô tuýp làm cân bằng lại những khoảng trống trên mảnh vải. Nếu tính kỹ hà khiến những đường nét thêu ngày xưa quá khô khan, thì phải bổ sung sự vắng thiếu hình bằng những màu sắc như màu xanh lơ ấm áp hoặc màu ngọc lam của gốm cổ… đến nay con người vẫn còn mê thích.

     Tình hình nghệ thuật thêu bây giờ ra sao? Cái đẹp tuyệt nhiên không phải là một giá trị cố định bất di bất dịch, giống như không gian và thời gian đã thay đổi với một tốc độ chóng mặt. Giữa thế giới những đô thành cổ và những đoàn người hành hương với thời đại truyền thông toàn hành tinh và chinh phục vũ trụ của chúng ta là cả một trời một vực – phạm vi của sáng tạo đã mở rộng. Hình ảnh đã trở về tụ hội cùng những tín hiệu, nhưng với một sự sinh sôi nảy nở vô chính phủ cần phải chế ngự, cũng như cần phải làm chủ được cách sử dụng những màu sắc của những sợi chỉ thêu.

     Trong những điều kiện đó, một nghệ nhân thêu làm sao có thể tự biểu hiện được mà vẫn trung thành với ánh sáng chân lý trong nội tâm với kinh nghiệm sâu sắc dẫn dắt mình và không quên di sản truyền thống mà mình đã kế thừa? Làm sao có thể đổi mới nghệ thuật của mình mà không hề phản lại nó? Vậy thì phải thực hiện hai yêu cầu:
- Điều thứ nhất: Liên quan đến hình ảnh nội dung mà mình thêu,
- Điều thứ hai: chọn nguyên liệu và công cụ để mình thêu (khung, chỉ, vải, không gian làm việc…)
Nội dung và hình thức là không tách rời.

     Theo truyền thống, người thợ thêu dệt bằng một cây kim nhỏ (lớn hơn đầu sợi tóc) một đầu cực nhọn, muốn thực hiện những hoa tự lớn trước hết phải thêu đường viền bằng chỉ, sau đó dùng kim thêu và chỉ phủ kín vào bên trong (khoảng cách thêu không lớn hơn 1 cm) với những kỹ thuật thêu (đâm xô, sa hạt, bó tạt,…) kết hợp nhau lại thì có thể thổi vào những nét chỉ một sinh khí mới.

     Với nghệ thuật thêu của nghệ nhân xứ biển, họ sử dụng rất nhiều những loại kim khác nhau và nền thêu cũng nhiều chất liệu khác nhau, nhiều kỹ thuật khác nhau để phối hợp, như vậy đường nét thêu thay đổi dạng, về cơ bản mà mỗi tác phẩm của nghệ nhân xứ biển ta đều có thể nhận ra.

     Trong nghệ thuật chi phối với những quy luật này, thời gian cần để vạch một nét thêu trên nền vải cũng không thoát khỏi lệ. Người thêu không có quyền tự do cũng không có khả năng kỹ thuật rút ngắn thời gian đường nét thêu đầu tiên. Ngày nay động tác thêu trên vải biến chuyển nhiều gấp mấy mươi lần trước kia. Bàn tay có thể vung như chớp (như một đàn sếu bay lên…) hoặc có khi chậm và uốn lượn như vũ điệu của một loài rắn độc. Lúc ấy không chỉ là bàn tay mà toàn thân người thợ thêu chuyển xoay trong một hành động thêu “rừng – rực” đó, dưới sự phóng mở của vài kỹ thuật tích tụ bao lâu nay, thực hiện một bố cục hình hoa tự đòi hỏi một sự làm chủ tuyệt đối cả động tác lẫn hơi thở.

     Sau khi chọn mẫu vẽ, nền vải, phải dành một ngày để chuẩn bị chọn loại chỉ và màu chỉ, loại kim trước khi bắt đầu. Màu chỉ phải trang nhã tuôn chảy thoải mái làm sáng bừng động tác thêu, độ trong ngần của nó phản ảnh một thế giới mượt mà và đầy nhục cảm, toát ra sự bình yên và thanh thản. Để đạt tới bản lĩnh vững vàng đó phải thuần hóa được chất liệu chỉ màu, kỹ thuật đa dạng… khi đạt được tương quan hài hòa giữa hình và màu chỉ thêu nom thật là sung sướng tràn đầy cảm xúc. Còn về bố cục, nó chỉ là tấm gương phản ảnh tình cảm của nghệ nhân vào đúng lúc thực hiện thêu. Hình thức dù cởi mở hay kín đáo, bao giờ cũng gắn với một thời điểm trải nghiệm, do đó mang cường độ nghiệm sinh. Còn cái đẹp? Nó được sinh ra từ sự ứng hợp giữa cái tôi thêu và bản thể tôi.

     Bên trong bố cục, sống động một thế giới độc lập, một trường năng lượng tuân theo nhịp điệu mà nghệ nhân truyền vào sự vận động của các hoa tự. Đôi khi các nét thêu đi lên tưởng như sắp cất cánh bay, khi khác chúng lại bình thản yên vị như một ngôi biệt thự trong vườn hoa yên tĩnh.

     Nếu hình thức chuẩn, nếu các nét thêu tiến triển chắc chắn và đầy tự tin, người thêu sẽ qua một trạng thái hạnh phúc. Hoa tự trở thành ngôn từ của thân xác, giải thích cái không thể giải thích trỗi dậy từ nơi sâu thẳm của lòng mình – hồi ức về tuổi thơ hay những ấn tượng gần đây làm ta xúc động. Tất cả những hình ảnh chỉ sống động trong mơ – những hạt giống mơ thành cây – giờ đây xum xuê những vòm hoa. Đó là những tia lửa sự sống cần phải dẫn dắt giống như dòng nhựa dâng lên từ cành này sang cành khác. Đó là sinh khí hừng hực của một rừng hoa khiêu vũ dưới đôi bàn tay của một biên đạo múa tài năng. Nghệ nhân muốn là biên đạo múa cho những đóa hoa của mình thêu, làm cho chúng nhảy múa trên nền vải. Nghệ nhân thể hiện xúc cảm của mình bằng động tác và điều mơ mộng của nghệ nhân bỗng trở nên hữu hình, nhưng trước hết phải vượt qua một chặng đường khó khăn như thế nào, phải tập trung cao độ biết bao mới tạo được đà bay bổng đó.

     Nghệ nhân thêu kéo dài một số hình hoa, thu ngắn một số hình hoa khác, uốn mềm những nét thẳng, làm bẹp những đường cong, khi những đóa hoa thêu cất cánh, nghệ nhân bay cùng với chúng và nghệ nhân đậu khi chúng đậu. Đôi lúc những cảm xúc nảy ra bất ngờ giúp họ thấm sâu hơn một số trực giác của mình. Cái đẹp ở nghệ thuật thêu không phải bao giờ cũng tất yếu, là đắc thắng hoặc khoái lạc – nó còn có thể biểu hiện một xung đột, một bi kịch… muốn lặp lại cân bằng động tác lại càng cần phải chính xác. Bây giờ cái đẹp trở thành cứu trợ. Vào những thời điểm sáng tạo, mọi thứ đều chói sáng, mọi thứ đều trở thành hoa tự: thiên nhiên, con người, cả thế giới công nghiệp ngày hôm nay nữa.
Những nghệ nhân xưa chỉ muốn phô cái trác tuyệt ở những nét thêu của mình mà tránh biểu đạt bất kỳ một xung đột nội tại nào dù là nhỏ nhất.

     Ngày nay nghệ nhân XQ Nha Trang có thể diễn tả hết nhưng theo một cách tự do, chín chắn, một “dục vọng” được điều tiết một chút khôn ngoan. Học thì lâu dài, tập dợt lại nguy hiểm nhưng cuối cùng nghệ thuật thêu bao giờ cũng thưởng công cho những ai kiên tâm yêu nó.

     Người thợ thêu được nó chọn để tự dâng hiến cảm thấy một niềm say sưa giống như nỗi hứng khởi của những cặp khiêu vũ quay cuồng cho đến khi kiệt lực. Tất cả những cơn bão tố lồng lộn trong tâm hồn của chị ta chuyển thành động tác thêu. Bao la hơn ngôn ngữ mà chị ta nghe người ta bình về nghệ thuật của mình. Hoa tự của nghệ nhân XQ Nha Trang in bật lên bầu trời hoang vu của sa mạc, lôi mắt nhìn vượt qua mọi vật cản tới vô tận của bóng đêm…


Ban Thẩm Mỹ Học
Phụ trách bộ môn thêu Hoa
Nghệ Nhân Trần Thị Thu Thảo
XQ Nha Trang
 
 
Nghệ nhân XQ Nha Trang Trần Thị Thu Thảo
Sinh năm: 1980
Vào công ty năm 2005. Đoạt giải bàn tay vàng năm 2012.
 
 
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ TRANH HOA VÀ TRANH PHONG CẢNH


     Nghệ thuật trang trí tranh hoa và phong cảnh biểu hiện mối quan hệ của con người sống trong không gian đó với thiên nhiên hoa cỏ, là nỗi hoài nhớ và khát vọng về một thiên đường trên trái đất này.

     Với những tác phẩm tranh thêu hoa và phong cảnh được tạo ra từ những chất liệu thiên nhiên, tơ tằm, lụa, cotton… kết hợp với sự đan quyện lấp lánh của những mũi thêu như suối từ đôi bàn tay sáng tạo và tâm hồn nhạy cảm của nghệ nhân thêu trước môi trường sống xung quanh, đã tạo nên những tác phẩm với những hình ảnh bất ngờ phập phồng đời sống hữu cơ và như cố đua tài với thiên nhiên.
Những tác phẩm tranh thêu hoa và phong cảnh lẫn khuất một thế giới nơi mà con người, loài vật, cây cỏ cùng trò chuyện với nhau, quyện vào nhau, chuyển hình thảo mộc sang hình động vật, làm cây biến thành thiên nga hay thành rắn … rắn biến thành con người, con người lại biến thành ánh lửa….Một thế giới tưởng chừng như đó là thời trước tội tổ tông truyền vậy.

     Với nghệ thuật trang trí tranh hoa và phong cảnh, phát hiện sự phóng khoáng của tính không đối xứng trong không gian, mang lại những ý niệm mới và sự chuyển động trong đó. Tái lập lại những giá trị tinh thần trong cuộc sống vật chất dựa vào sự mộng mị huyễn hoặc của những câu chuyện huyền thoại, đem vào căn phòng chủ nghĩa tượng trưng. Một lần nữa, nó trở lại chiếm lĩnh trí tưởng tượng của một thế giới đang hướng tới sự đơn điệu và buồn tẻ.


Nghệ nhân Trần Thị Thanh Nhã
Phụ trách trang trí nghệ thuật thêu XQ Nha Trang
 
 
Tìm kiếm thẩm mỹ học nghề thêu trong nội thất
 
 
 
 
Nghệ nhân: Nguyễn Thị Thanh Thảo
Làm việc tại XQ Nha Trang
Là nghệ nhân xuất sắc đoạt giải bàn tay vàng năm 2011
 
 
NGHỆ THUẬT THÊU TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TẠI BIỂN NHA TRANG ĐÃ TÌM THẤY ĐẠI DIỆN LỖI LẠC CỦA MÌNH
Nguyễn Thị Thanh Thảo
Và Lê Thị Nữ Duyên Linh


     Hai cô “sốt nhiệt đới” đã bị liệt từ nhỏ phải đi nạng... thông qua những nỗ lực của bản thân, đi vào lĩnh vực nghệ thuật thêu, tìm được cái mới quê hương biển Nha Trang của mình.
Biển Nha Trang với sự tăng tốc không ngừng của nó và những vết thương mà nó gây ra... Bằng thành công xuất sắc là thông qua những tác phẩm tranh thêu của hai cô, đã nói lên tính chất hai mặt thời gian của biển.

     Hai nghệ nhân này có cái gì khác chung với nhau? Hai chị em cảm thấy thời hiện đại thành phố biển này đã đẩy xa cái giới hạn của thiêng liêng, điều mà hai cô hay phàn nàn: Nha trang đã đánh mất đi vầng hào quang, cái quầng sáng tâm linh bay lơ lửng lên trên con người và vật thể, ngày hôm nay dưới sức nặng của vật chất, nó phi nhân tính hóa quan hệ con người.

     Khi còn trẻ, mới bước vào nghề thêu, bằng nghệ thuật này, hai cô mơ đến việc chạy trốn trước sự buồn chán nhân danh cho nghệ thuật và định nghĩa sáng tạo là việc phàm tục hóa tất cả cái hiện đại biển Nha Trang, mà mọi người cho là thiêng liêng. Hai cô đã viết trong nhật ký của mình với những câu thơ:

Ta cúi xuống mênh mông lòng biển động
Nhặt vỏ sò xem trăng mọc trên tay
Thơ lác đác dạo miền hoa cát biển
Gặp lại mình trên mỗi dấu chân xưa


     Đôi lúc họ bị nhập đồng bởi nữ thần của biển... Với hai cô, cái hiện đại hóa biển Nha Trang không phải là khoa học kỹ thuật trong xây dựng mà cái hiện đại chủ yếu là phẩm chất tâm hồn của con người, một thứ tâm linh mà trong ngôn ngữ nghề thêu được gọi là “nghi thức nhập định”.


Cám ơn nhé một đời gió nổi
Cuốn phăng tôi đến một chốn bên trời
Nha Trang nhé! Một lần xin xám tội
Quỳ nơi đây mà ôm xiết con người


     Có lẽ chúng ta không có khả năng đón nhận theo cách đó, vì quá thận trọng trước cuộc sống bất trắc hôm nay không thể hiểu được “ngọn lửa” của họ. Người thợ thêu XQ Nha Trang trong những giây phút hạnh phúc, đi kèm theo sự sáng tạo chân chính, đón nhận cái thiêng liêng quê hương Nha Trang của mình truyền lại cho chúng ta như một LỄ DÂNG.
Gương mặt non trẻ của hai cô vẫn là thiếu nữ, là biểu tượng cho kinh nghiệm này. Bởi vậy khuôn mặt của họ đẹp một cách lạ lùng. Đẹp không thể nào nguôi được.
 
 
Nghệ nhân: Nguyễn Thị Thanh Thảo
Làm việc tại XQ Nha Trang
Là nghệ nhân xuất sắc đoạt giải bàn tay vàng năm 2011
 
 
 
Nghệ nhân: Lê Thị Nữ Duyên Linh
Làm việc tại XQ Nha Trang
Là nghệ nhân xuất sắc đoạt giải bàn tay vàng năm 2009
 
 
 
Nghệ nhân: Lê Thị Nữ Duyên Linh
 
 
Tác phẩm:
NHỮNG ĐÊM TRĂNG

Thêu hai mặt trên lụa tơ tằm
Kích cỡ: 60 x 110 cm
Chất liệu: chỉ tơ tằm, chỉ bóng.
Của tác giả: Lê Thị Nữ Duyên Linh


     Với tác phẩm thêu hai mặt trên vải lụa tơ tằm màu nước biển này của Lê Thị Nữ Duyên Linh – một nghệ nhân sinh sống và làm việc tại XQ – Nha Trang hơn 15 năm, đã tìm cách thể hiện sự sống của loài rùa biển Nha Trang, bằng sự giao hòa giữa màu nước biển pha lẫn ánh trăng, phản chiếu lên sự sống… “Tranh của tôi muốn là thông điệp tình yêu của biển”. Cô đã dùng những kỹ thuật thêu, sự tinh tế và khéo léo một cách điêu luyện của mình tạo nên tác phẩm hai mặt này, với hy vọng “nhắc nhở con người đến sự tồn tại của loài vật (rùa biển). Do đó cần tỏ ra khiêm nhường hơn trước biển”.
Bức tranh hai mặt này nằm trong bộ tranh kể lại những huyền thoại biển Nha Trang.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.
.
.