
ÔNG LÊ THANH QUANG
BÍ THƯ TỈNH ỦY TỈNH KHÁNH HÒA
phát biểu:
Kính thưa quý vị quan khách cùng bà con ở thành phố Nha Trang!
Thưa quý vị trong Ban Lãnh Đạo công ty XQ, các nghệ nhân đã làm một cuộc hành trình từ XQ Sử Quán Đà Lạt về nguồn cội Thăng Long – Hà Nội, và hôm nay đã đến thành phố Nha Trang.
Xin thay mặt cho Tỉnh Ủy, UBND Tỉnh chúng tôi xin nhiệt liệt chào mừng và cảm ơn công ty cùng những nghệ nhân đã mang một sản phẩm tinh thần rất đặc sắc trên đường về với Thủ Đô Thăng Long vào dịp 1000 năm sắp tới và hôm nay đã đặt trạm dừng chân đầu tiên của đoạn đường. Đề nghị chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh.
Kính thưa quý vị
XQ Sử Quán đã quá thân thuộc với thành phố biển Nha Trang và với Việt Nam. Đặc biệt là trong dịp đại lễ này, lần đầu tiên tôi thấy tác phẩm tranh thêu với diện tích tương đối lớn và nội dung rất đặc sắc, sâu sắc, rất xúc động từ các hoa sen cho đến lúc nãy, anh Quân đã nói sơ bộ rồi, tôi nhìn tôi còn tưởng tượng ra nhiều thứ nữa. Tôi cho đây là một tác phẩm biểu thị tấm lòng của những người con Việt Nam ở khắp mọi miền của đất nước đã chắt lọc, chắt chiu cả 2, 3 năm trời mới ra tác phẩm này để về dâng trong dịp 1000 năm sắp tới. Tôi cho đây là một hoạt động cực kỳ hay và cực kỳ có ý nghĩa. Chúng tôi xin kính chúc công ty XQ cùng các nghệ nhân trong lộ trình tiếp tục từ đây ra đến Hà Nội, sắp tới sẽ còn nhiều điểm dừng chân để quảng bá cho nhân dân của các tỉnh trong cả nước của chúng ta biết được tác phẩm này trước khi xuất hiện vào đại lễ 1000 năm Thăng Long sắp tới.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

ÔNG LÊ THANH QUANG
BÍ THƯ TỈNH ỦY TỈNH KHÁNH HÒA
đại diện cho nhân dân tỉnh Khánh Hòa thực hiện nghi lễ nhận tác phẩm "Đóa Sen Ước Nguyện Ngàn Năm"
.............................................................
NHA TRANG: "BIỂN CẤM"
Huyền thoại kể rằng: Có một nàng con gái xinh đẹp sống ở thủy cung cùng với người yêu của mình. Họ sống rất sung sướng và hạnh phúc, xung quanh họ là những bức tường khảm xà cừ, những viên ngọc trai và những rặng san hô rực rỡ. Ngày ngày họ vui đùa ca hát và thưởng thức những món ngon vật lạ của biển. Đó là kết quả của một lần, chàng trai đã cứu con rùa biển thoát khỏi bàn tay nghịch ngợm của đám trẻ con. Con rùa biển đó chính là nàng con gái xinh đẹp kia hoá thành để đi rong chơi. Nàng trả ơn bằng cách mời chàng trai xuống thuỷ cung cùng sống với mình.
Sống hạnh phúc và đầy đủ, nhưng chàng trai vẫn không nguôi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương và chàng quyết định về thăm. Chàng đâu ngờ rằng 3 năm dưới biển là 700 năm trên đất liền. Khi trở về, tất cả đã trôi vào quá khứ, người thân và bạn bè không còn nữa. Cô đơn ngồi trên bãi biển để tìm lại ký ức của 700 năm trước, chàng lấy cái tráp mà người yêu trao trước khi ra đi và có dặn rằng: “Nếu anh còn muốn gặp lại em thì xin anh đừng mở chiếc tráp này”. Nhưng với khát vọng mang ký ức về lại thuỷ cung, chàng trai đã mở chiếc tráp ra. Từ trong tráp bay ra một làn khói mỏng và một chiếc lông hạc, và lập tức chàng đã biến thành một ông già và ngã quỵ xuống.
Nếu như quý vị thì quý vị có mở chiếc tráp ra không? Còn tôi, nhớ thuở nhỏ, mỗi khi đọc đến đoạn này, bao giờ tôi cũng gập sách lại và suy nghĩ: không biết chàng trai có tội tình gì mà bị trừng phạt như vậy? Và khi tôi lớn lên mới biết rằng đó là một thông điệp: “Nếu trái quy luật của biển thì sự sống ắt bị trả giá”. Ông già ngã xuống bỗng biến thành con hạc, còn dưới biển bò lên một con rùa. Con hạc cắp con rùa bay lên, hạc sống nghìn năm còn rùa vạn tuổi, hạc cắp rùa bay đi tìm sự bất tử và bay vào huyền thoại.
Phải chăng từ rất xa xưa biển và bờ đã có một mối tương giao kết nối? Và “Biển Cấm” chính là biển của nội tâm mà con người ai cũng muốn thám hiểm để phát hiện ra ý nghĩa bản thân mình và thế giới. Tôi xin tặng đến quý vị bài thơ của “Biển Cấm”:
“Ta không nói vì biển còn sóng vỗ
Nghĩa tương giao vẫn vô lượng đất trời
Học im lặng dẫu xói mòn cát vỗ
Lòng bao giờ không thoát nắng biển khơi”
(Trích những câu chuyện về “Biển Cấm”
của nghệ nhân XQ Nha Trang)

MẶT TRỜI VỚI 10 GIÁ TRỊ BIỂU TƯỢNG
1.Quang minh, chính đại (không có gì bị che giấu, khuất lấp dưới ánh sáng mặt trời).
2.Nơi phát sinh mọi nguồn năng lượng.
3.Tính năng soi sáng.
4.Xua vẹt bóng đêm tăm tối.
5.Tự đốt cháy nhiên liệu của chính mình.
6.Trung thành với quỹ đạo của địa cầu.
7.Tạo diệp lục tố cho thảo mộc.
8.Nuôi sự sống, sinh lực cho muôn loài.
9.Sưởi ấm sự lạnh lẽo, xóa mù sương và làm tan băng giá.
10.Nhen sức lửa sáng tạo.

10 ĐỨC TÍNH CỦA BIỂN
1. Bao dung: Sẵn sàng dung chứa trăm vạn con sông mà lòng biển vẫn không đầy tràn
2. Nhẫn nại: Hàng trăm, hàng ngàn vật phế thải, dơ uế … người ta đổ xuống … mà lòng biển vẫn an nhiên chịu đựng.
3. Tinh sạch: Biển quăng trả lên bờ những xác chết, những vật dơ uế … để giữ gìn sự tinh sạch cho mình .
4. Thuần nhất: Dù trăm con sông tính chất khác nhau, mùi vị và màu sắc khác nhau – nhưng đều được biển hóa giải để trở nên thuần nhất.
5. Bảo tàng châu báu: Lòng biển chứa giữ đã triệu triệu năm cho con người cả một bảo tàng châu báu như vàng, ngọc, kim cương … mà không bao giờ bị hư mất hay thất thoát, hư mục …
6. Bảo tàng lịch sử: Nhiều nền văn minh của nhân loại dù đã bị hủy diệt – nhưng biển vẫn lưu dữ dấu tích, cổ sử ấy.
7. Nuôi dưỡng: Hàng triệu loài thủy tộc được biển chăm sóc, nuôi dưỡng … mà không bao giờ sợ thiếu thốn vật thực.
8. Phân minh nhân quả: Biển luôn luôn phân minh nhân quả, không thiên vị vì thương, không thiên vị vì ghét. Ai chọc giận, phá hoại biển thì biển sẽ phẫn nộ, bạo tàn. Ai tôn trọng, thương yêu biển thì biển sẽ hiền hòa, thanh bình.
9. Bảo trọng bản sắc: Dù lịch sử thăng trầm, xã hội thịnh suy, biển luôn luôn bảo trọng bản sắc của riêng mình, không thay đổi.
10. Bí ẩn: Con người không bao giờ khám phá hết chiều sâu vô thức của mình như thế nào – thì với biển cũng vậy, không bao giờ khám phá hết sự bí ẩn của đại dương

Nghi lễ thêu mũi thêu trước khi mặt trời mọc của nghệ nhân XQ
Với nghệ nhân xưa, vào những thời điểm quan trọng trong năm (Lễ hội tôn giáo hay các sự kiện trong cuộc đời: Dậy thì, đám hỏi, đám cưới, mang thai, sinh nở, …v..v…) họ thường thêu những mẫu hình - phần lớn là hoa, cũng giống hệt các mẫu hình trên các khăn choàng, áo dài, drap giường, gối của họ.
Các bà, các chị thường khoe rằng họ chẳng bao giờ thêu lại lần hai một hoa văn bên bông hoa. Họ đã biến căn phòng thành một dãy phòng tranh nghệ thuật đầy những hoa văn đủ màu sắc. Nhiều người đã hoàn thành mẫu thêu trước mặt trời mọc, nếu chưa xong thì họ phải thêu lại đêm sau. Sau khi hoàn thiện xong, họ thắp hương và hát những âm thanh hơi chói tai (giống như chầu văn). Các bà, các chị gọi hồn thần linh “nhập” vào mẫu thêu và phù hộ cho cả nhà. Khi “sự tiếp xúc” (darshan) giữa các bà, các chị với thần linh đã được thiết lập thì buổi lễ coi như đã đạt được mục đích. Khi mặt trời mọc, họ lại thắp hương cầu khẩn vị thần đó “quy tiên”, và những mẫu thêu cũng mất hết giá trị.
Đối với toàn thể những người phụ nữ làm nghề thêu, những bức mẫu thêu mang tính thờ cúng này là một phương thức cổ truyền thể hiện cá tính của họ, một cách lên tiếng nói của nữ giới trong một nền văn hóa do đàn ông thống trị. Khi nối liền tâm hồn của nữ nghệ nhân với thần linh, những lời cầu nguyện này là một nhân tố cân bằng trong cuộc sống của chị, là cầu nối của chị với những người phụ nữ khác trên thế gian.
Trong nghi lễ, ta thấy được một điều - sự thông cảm với thần linh chỉ thoáng qua, cho nên những tác phẩm nghệ thuật và kinh nghiệm thu được cũng là phù du. Sự kết hợp nghệ thuật thêu với kinh nghiệm tạo ra một khoảnh khắc sủng ái và hài hòa trong một thế giới không ngừng biến đổi, một cuộc sống tôn vinh máy móc và cái hiện đại.

Nghệ nhân - Nghệ Sĩ XQ “Lễ ơn mừng phì nhiêu của biển"
Từ “Lễ ơn mừng sự phì nhiêu của biển” được dùng để chỉ một loạt nghi thức và lễ thức khác nhau sinh ra từ nền văn hóa cổ xưa và nền văn hóa thực dân.
Tất cả những huyền thoại được gợi lên đều trả lời 3 câu hỏi: Ta từ đâu đến? Hiện thời ta là ai? Và ta sẽ đi về đâu?
Đối với những ngư dân ngày xưa, cái chết mang một ý nghĩa chuyển tiếp và nghi thức. Người ta cho sống và chết là hai mặt của một thực tại. Người chết tồn tại trong một thế giới khác, ở đó với sự phù trợ của các thần linh, đến một ngày nào đó họ sẽ trở lại cuộc sống. Đó là điều toát lên từ các huyền thoại của chu kỳ năm. Con người sống lại có trách nhiệm tạo ra cuộc sống cho chính các thần linh và làm sống lại vũ trụ. Sau khi được tạo ra, con người lại trở thành tạo hóa.
Thời kỳ thực dân, những huyền thoại bản địa bị phai mờ vì công cuộc thực dân hóa tinh thần khi đạo Thiên Chúa tìm cách thay thế những nghi thức và huyền thoại “ngẫu tượng giáo” bằng những nghi thức của mình. Những huyền thoại mới khẳng định rằng con người được tạo ra để thờ phụng chúa trời và số phận con người sau khi chết đi như thế nào là tùy người đó có hoàn thành được bổn phận ấy hay không và cách ứng xử người đó có tuân theo những đạo lý của giáo hội hay không, tác hại con người bị phán xét về các hành động của mình.
Trong khi con cháu người phương Tây theo đạo Kitô thì người bản xứ thiết lập một tôn giáo hỗn hợp các hệ huyền thoại dưới sự bảo trợ của những hình ảnh đầy quyền lực như hình ảnh nữ Thánh Đồng Trinh – các Thần Hoàng. v.v…
Sau ngày thống nhất tổ quốc và đến hôm nay, bắt đầu có một sự đảo lộn triệt để về các huyền thoại của mỗi vùng miền, ngành nghề bắt đầu được phục hồi. Sau khi tổ quốc độc lập và cùng với việc gia nhập WTO, công cuộc đi tìm kiếm bản sắc dân tộc hay còn gọi là “tính Việt Nam” đã thúc đẩy các nhà văn hóa, sử học, các nhà sáng tạo, tri thức ca ngợi một quá khứ vùng miền và ngành nghề. Đó cũng là cuộc “cách mạng văn hóa” mà cũng có thể coi là một “giá trị dân tộc” cần phải phục hồi các huyền thoại.
Với huyền thoại “Lễ ơn mừng biển Nha Trang phì nhiêu” tạo nên một lực lượng chống lại cái chết, thừa nhận sự yếu ớt của con người trước các thế lực thiên nhiên và cầu đến thần linh. Đó vừa là một hành động chính trị, tôn giáo lẫn huyền thoại được biến thành một lễ hội thể hiện tầm vóc sáng tạo của con người và khả năng của con người gìn giữ lại trong giây phút bước đi của thời gian.
12 THUỘC TÍNH CỦA CÁT BIỂN
Người phụ nữ làm nghề thêu bên bờ biển Nha Trang quan niệm: cát ở vùng biển Khánh Hòa – Nha Trang có thể đơn giản dùng làm một yếu tố thị giác, đóng một vai trò quan trọng trong cấu trúc tự sự. Và những trụ cát được lấy tại các vùng biển Khánh Hòa - Nha Trang được triển lãm tại không gian “Nỗi buồn thần chết”.
1.Hai tay chắp lại như đang cầu nguyện giữa một đụn cát với một liều lượng thích hợp giữa nhạo báng và trịnh trọng, khấn vái vùng cát nhỏ đó hãy sinh ra cho mình một con cá nhỏ trong bữa ăn.
2.Hai tay ôm chặt đụn cát nhỏ tượng trưng cho thiên đường bị mất với yêu cầu cấp bách phải giành lại nó.
3.Khuôn mặt và hai tay áp vào cồn cát nhỏ. Thể hiện cát trên bờ biển này làm đậm thêm tình cảm và xúc cảm.
4.Tiền cảnh cát che nửa khuôn mặt và hai tay cầm lại với nhau. Nó thể hiện số phận những con người bờ biển đó luôn đi tìm kiếm bản thân mình.
5.Giữa cát, lổn nhổn đá và biển, một người phụ nữ ngồi cúi đầu. Thể hiện sự kêu gọi được bảo vệ một cách tức cười giữa cái mênh mông đầy hăm dọa của một vùng biển.
6.Giữa mênh mông của biển, trơ trụi và lổn nhổn của đá (liên tưởng đến sự cô đơn - nỗi nguy hiểm, thách thức, chinh phục và chịu đựng) một người phụ nữ ngồi đưa 2 bàn tay úp xuống, thể hiện cho đức tính và hình ảnh đem đến khía cạnh sử thi của vùng biển đó.
7.Nhiều bàn tay úp lên mặt cát sát bờ biển thể hiện quan hệ với cát và biển, trong đó cát hình thành nên các số phận của họ và quyết định các hành động.
8.Hai bàn tay người phụ nữ ôm ngược lưng trần ngồi trên cát. Thể hiện “những con người của sỏi đá” sống đến mức độ cuồng điên ở bờ biển nơi này, và cũng thể hiện cái “tự do làm cho người ta ngây ngất…”
9.Một cô gái nằm dài sấp hai tay úp xuống trên bãi cát, thể hiện cát ở vùng biển đó bào mòn tất cả mọi thứ chỉ toàn có ký ức về đam mê và thể hiện ngôn từ mất đi sức mạnh, nói lên sự sống ở nơi đó đều diễn ra trong im lặng.
10.Bàn tay đổ một cốc nước chè trên cát biển. Nó thể hiện tình yêu chết đi - chỉ còn quyền lực và sự cô đơn đồng hành với nhau.
11.Đôi bàn tay đặt khay trà trên bãi cát. Nó thể hiện bãi biển cát đó hình thành những lối mòn của “cơ man truyện kể của thế giới”.
12.Giấc mơ cuối cùng của người họa sỹ.
Một nhận thức mặt trời - biển – cát – con người đều xoay quanh một trục thống nhất trên biển Nha Trang, cuối cùng một thiên đường của họa sỹ trên biển Nha Trang là đi tìm thấy sự thống nhất, biểu tượng và phi biểu tượng, giữa cái thực tế và trừu tượng, giữa cái vật chất và ánh sáng.

KHOA HỌC VỀ BIỂN
1. Biển và con số.
2. Khoáng sản dưới Biển.
3. Từ vựng về Biển.
4. Các vỉa san hô ngầm bị đe dọa.
5. Các hiệp ước quốc tế về Biển.
BIỂN VÀ CON SỐ
· Biển bao phủ 70,8% diện tích trái đất khoảng 361,3 triệu km2 trên tổng số diện tích trái đất 510 triệu km2. Biển và băng giá chiếm 97,957% thể tích nước của hành tinh.
· 60% dân số thế giới (3,6 tỉ người) sống cách bờ biển dưới 60 km. Trong 30 năm nữa, con số sẽ tăng tới 75% (6,4 tỉ người)
· 80% tài nguyên biển tập trung ở thềm lục địa
· Biển chứa 80% các sinh vật khác nhau của trái đất, trong đó một bộ phận lớn chưa khám phá. Trong vùng nước sâu, phần lớn chưa được thăm dò, có khoảng 10 triệu chủng loại sinh vật hoàn toàn chưa được biết tới.
· 12,5 triệu ngư dân (trong đó 10 triệu dùng phương pháp thủ công) làm việc trên 3 triệu tàu thuyền các loại và đánh bắt 90 triệu tấn cá 1 năm. Công nghiệp cá nuôi dưỡng gián tiếp và trực tiếp 200 triệu người
· Độ sâu trung bình của biển là 3800m. điểm sâu nhất nằm trong vùng MARIANAS tại Thái Bình Dương sâu tới 11000 m.
· Biển rộng nhất là Thái Bình Dương, bao phủ 166 triệu km2. Núi ngầm dưới biển cao nhất nằm gần vùng Tonga giữa XAMOA và Newzealand cao tới 8700 m.
· Mực nước biển trên thế giới đã nâng cao 18 cm trong một thế kỷ qua và hiện nay, cứ mỗi năm lại cao thêm từ 0,1 đến 0,3 cm.
· Nhiệt độ trung bình trên mặt biển 16 0C.
---------------------------------------------
KHOÁNG SẢN DƯỚI BIỂN
Đại hội cá và san hô biển
Khoáng sản dưới biển có nhiều dạng:
Những quặng xốp có 3 nguồn. Nguồn vụn như cát, sỏi cát “placex” chứa thiếc, Titan, vàng, đất hiếm, ZIRCONIUM và kim cương. Các chất khác có nguồn gốc sinh học: vỏ các sinh vật biển đã biến thành vôi cát. Nguồn gốc thứ ba là các nguyên tố lơ lửng trong nước tạo ra sự kết tủa những hóa chất đã sản sinh ra baryte hay các lớp bùn chứa kim loại chẳng hạn.
Những quặng đá mà thực chất là sự kéo dài xuống dưới biển các vỉa mạch than, thiếc, sắt và các khoáng sản khác.
Những chất hòa tan trong nước biển như muối (Clorua Natri), Magiê và iốt…
Nếu việc khai thác này liên quan đến gần 60% tổng số 103 nguyên tố hóa học đã được nhà hóa học người Nga Mendeleyev phân loại năm 1869.
Khai thác khoáng sản biển có tầm quan trọng đặc biệt, trở thành cần thiết cho công nghệ hiện đại. Nhất là Titan, ZIRCONIUM và đất hiếm (trong đó có hàm lượng chứa 9 khoáng sản nặng, gồm Thorium có tính phóng xạ và 8 khoáng sản nhẹ hơn). Titan được coi là khoáng sản chiến lược cung cấp chất làm trắng giấy và chất dẻo, là một thành tố rất quan trọng đối với ngành hàng không và trong việc sản xuất gậy chơi gofl hay vợt tennis. Nhờ có tính năng chịu lửa, ZIRCONIUM được dùng trong các ống phụt khí của máy bay phản lực. Các đất hiếm chứa Quartz hoặc Rotin (dioxyde titan) đáp ứng nhu cầu công nghệ mũi nhọn như tạo sắc tố đỏ trong các màn hình màu hoặc thúc đẩy quá trình thoát khí từ các động cơ. Rutin có một sức bền phi thường, nó không bị tiêu hao và không thể bị các hóa chất ăn mòn.
Việc khai thác khoáng sản trên đất liền vẫn không đáp ứng được nhu cầu thế giới nên những thập kỷ tới, ngành công nghiệp đang hướng ra biển.
--------------------------------------------------
TỪ VỰNG VỀ BIỂN
Bình nguyên đáy biển: Khu vực ở sâu từ 4000 – 6000m tương đối phẳng hoặc thoai thoải.
Chu trình của nước: Sự tuần hoàn của nước trong thủy quyển, nước biển bốc lên không khí tạo thành mưa và trở về biển bằng nhiều con đường.
Đá ngầm san hô: Những khối đá to lớn ngầm dưới biển do san hô và một số động vật không có xương sống khác tạo nên.
Đặc khu kinh tế (EEZ): Một số khái niệm pháp lý do công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về biển quy định của các nước được khai thác tài nguyên ở vùng biển rộng 200 hải lý tính từ bờ.
Elnino: Hiện tượng nóng lên theo chu kì của Thái Bình Dương xích đạo do những biến đổi của khí quyển, làm thay đổi trên quy mô lớn các điều kiện khí hậu và đại dương, gây ra hạn hán, lụt lội, bão, lốc, rét được những người đánh cá xứ sở Pêru đặt tên thành là “JESUS con”(ELNINO) vì hiện tượng này thường xảy ra vào khoảng ngày Chúa giáng sinh(NOEL).
Hoàn lưu nhiệt muối: Sự tuần hoàn của nước biển do sự khác biệt về tỷ trọng có liên quan tới nhiệt độ và nồng độ muối. Nó chi phối sự hoàn lưu không khí tại phần lớn các cửa sông và vùng nước sâu của đại dương.
Phú dưỡng hóa: Việc làm giàu các nước thiên nhiên bằng các chất dinh dưỡng do ngành công nghiệp thải ra, qua đó kích thích sự phát triển của các thực vật phù du. Sự phú dưỡng hóa làm cho các khối sinh học tăng lên. Sự phân hủy các khối sinh học này gây nên tình trạng thiếu Oxy và làm các sinh vật chết hàng loạt trong những trường hợp xấu nhất.
Hạch khoáng: Những khối rắn đường kính vài centimet nằm ở đáy đại dương và chứa nhiều kim loại nặng Mangan, Sắt, Kiềm, Coban và Đồng.
Lớp nước trung gian: Khối nước được tạo thành ở các vùng vỹ tuyến cao, giăng ngầm giữa lớp nước trên mặt biển và lớp nước ở sâu đáy biển.
Núi ngầm đáy biển: Vùng đáy biển nhô cao, có kích thước to lớn và đỉnh là hình chóp.
Phù sinh: Các sinh vật sống trong nước biển chúng chuyển động lên, xuống hoặc ngang theo chuyển động của nước biển.
Rừng sú vẹt: Rừng nhiệt đới mọc ở ven biển gồm các cây bụi và các cây thân gỗ có khả năng sống trong nước lợ.
Sóng thần: Sóng cực kỳ lớn cao tới 30m có tốc độ của một máy bay Boeing, gây ra bởi tác động của núi lửa phun, động đất hay lở đất dưới đáy biển.
Thềm lục địa: Vùng đất kéo dài của đất liền ra biển dài thoai thoải dưới nước cho tới bờ vực biển sâu
---------------------------------------------------------
CÁC VỈA SAN HÔ NGẦM BỊ ĐE DỌA
Lặn sâu xuống biển nóng ấm đầy ánh sáng mặt trời, lửng lờ trên những chiếc cầu vồng rực rỡ, hoa san hô và những con cá của đá ngầm, bạn sẽ thấy ngây ngất vì sự thần kỳ của tính đa dạng sinh học. Người ta mới biết được 90.000 loài sống trong các vỉa san hô ngầm, nhưng trên thực tế có hơn 1.000.000 loài.
Tại sao lại phong phú như vậy? Địa hình vi mô của một vỉa đá ngầm đang phát triển rất phức tạp. Những diện tích mà hàng tỉ động vật không xương sống bé nhỏ và cá bám vào, những hốc ẩn nấp của chúng nhiều vô kể. Các vỉa san hô ngầm là những môi trường sống có tính chất của đảo điển hình, là nguồn dự trữ các giống loài vi sinh vật đang phát triển vô tận: các ấu trùng con cháu của một loài giống nào đó từ một nơi xa đã ngẫu nhiên trôi dạt đến đó và nhập vào môi trường sống này. Những sinh vật này, tách khỏi quần thể me, đã thích nghi với môi trường mới và đã trở thành một giống con. Thế là ở chỗ trước kia chỉ có một loài nay đã có hai. Và mỗi loài này lại có thể đi chinh phục các vỉa đá ngầm khác. Cứ như vậy, tính đa dạng tăng theo cấp số nhân trải qua những thời kỳ địa chất.
Cách đánh bắt cá và khai thác du lịch đang đe dọa tính đa dạng phong phú đó.Phá hủy những vỉa đá ngầm đó để lấy đi các tài nguyên mà chúng nuôi dưỡng và một số hành động tai hại khác. Kết quả 10% các vỉa san hô ngầm bị phá hủy. Sự nóng lên của trái đất cũng là một tai họa ngấm ngầm. Các san hô bị mất các rong cộng sinh khi nhiệt độ của nước tăng lên một hay hai độ so với nhiệt độ bình thường. Nó bị mất màu, trắng ra và chết. Càng bị mệt mỏi bao nhiêu bởi nhiệt độ cao hơn mức bình thường thì các san hô càng dễ bị mắc bệnh và tính đa dạng sinh học của chúng giãm đi, bạn sẽ thấy kinh hoàng.
Trên đất liền, việc biến mất của các loài thú quý hiếm hoặc sự tàn lụi của mảnh rừng nguyên thủy còn sót lại là điều dễ thấy. Trong đại dương, sự mất tính đa dạng sinh học vẫn nằm ngoài tầm mắt chúng ta. Tuy nhiên, việc tác động của các hiện tượng đối với di sản mà chúng ta để lại cho con cháu cũng chẳng kém, thậm chí có khi tệ hại hơn vì việc sửa chữa những tác hại gây ra cho một môi trường sống hoặc xây dựng lại một môi trường sống bị phá hủy trong vùng nước trung bình của chúng ta là một việc khó làm vừa không thể làm được trong vùng nước sâu.
San hô biển
-------------------------------------------------------
CÁC HIỆP ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BIỂN
Trong khi Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển bàn một cách tổng quát về những loại hình khai thác biển, các hiệp ước khác đề cập đến những vấn đề chuyên biệt. Sau đây là một vài ví dụ:
Về an toàn trên biển:
Công ước quốc tế về việc bảo toàn nhân mạng trên biển (SOLAS). Được thông qua năm 1974, bắt đầu có hiệu lực năm 1980, 137 nước đã ký.
Phiên bản đầu tiên của Công ước này, một công ước quan trọng nhất về an toàn của các tàu buôn, đã được thông qua năm 1914, sau vụ đắm tàu Titanic năm 1912. công ước này định kỳ được cập nhật hóa để thích ứng với những tiến bộ kỹ thuật của công nghiệp hàng hải.
Về ô nhiễm do tàu bè gây nên:
Công ước quốc tế về sự can thiệp trong hải phận quốc tế trong trường hợp tai nạn đưa tới hoặc có thể đưa tới sự ô nhiễm dầu lửa. Được thông qua năm 1969, bắt đầu có hiệu lực năm 1975, 72 nước đã ký. Công ước này công nhận quyền của các nước ven biển được thi hành những biện pháp cần thiết trong hải phận quốc tế để ngăn chặn, giảm bớt hoặc loại bỏ nguy cơ ô nhiễm bờ biển của họ sau tai nạn tàu biển.
Công ước về việc ngăn chặn sự ô nhiễm các biển do việc vứt bỏ các chất thải và các vật thể khác gây ra (Công ước LC ). Được thông qua năm 1972, bắt đầu có hiệu lực năm 1975, 77 nước đã ký. Công ước này ngăn cấm việc đổ xuống biển một số chất nguy hiểm từ các tàu, máy bay, dàn khoan và các cấu trúc do con người xây dựng, và đòi hỏi phải có giấy Công ước quốc tế phòng ngừa ô nhiễm do tàu bè gây ra (MARPOL 73/78). Được thông qua năm 1973. do tính chất phức tạpvề kỹ thuật và phạm vi rộng của công ước, nhiều phần của công ước bắt đầu có hiệu lực vào các thời điểm khác nhau.
70 nước đã chuẩn y Phụ lục IV về các loại nước thải, nhưng đội thương thuyền của họ chỉ chiếm 41,47% trọng tải thế giới. Phụ lục này sẽ bắt đầu có hiệu lực khi mà các nước có các đội thương thuyền lớn hơn chuẩn y nó, và tỷ lệ trọng tải đội thương thuyền tổng cộng phải đạt ít nhất 50% của toàn thế giới. Đây là Công ước quốc tế quan trọng nhất và mang nhiều tham vọng nhất về ô nhiễm biển, bao hàm mọi khía cạnh kỹ thuật của sự ô nhiễm gắn liền với các tai nạn về việc vận hành của tàu bè, loại trừ sự nhấn chìm các chất thải và sự ô nhiễm do việc thăm dò và khai thác các loại khoáng sản dưới đáy biển gây ra.

Đền: nơi cứu nạn
Đối với người thủy thủ mắc vào một chuyến đi biển nguy hiểm đến tính mạng. Anh ta bắt buộc phải có một hành động xin tha thứ và việc này chỉ có thể tiến hành trên đất liền. Trong truyền thuyết về đấng tiên tri Elie mà một số vùng biển dù theo đạo nào cũng bày tỏ sự sùng kính
“Vị thánh tiên tri này vốn là một thủy thủ. Một ngày kia, chán cảnh đương đầu với mối hiểm nguy của sóng nước. Ông vác một mái chèo trên vai và đi thật sâu vào vùng rừng núi, thật xa biển cả, cho đến khi gặp một người nông dân, chưa hề biết thuyền là gì, cứ ngỡ mái chèo là một cái quạt sảy thóc, thì vị thánh mới dừng chân, ông cắm mái chèo xuống đất, từ mái chèo nảy ra những cành đa xinh tốt và ông lấy đó làm nơi trú ngụ”
Thường chúng ta thấy trên mõm cao nhất của những hòn đảo thường có một bàn thờ nhỏ màu trắng, do một thủy thủ nào đó biết ơn về việc đã giải thoát khỏi hiểm họa sóng biển dựng lên để cung tiến vị thần bảo hộ mình. Thông thường những nơi thiêng liêng được cung tiến cho biển đều ở trên những điểm cao bên trong đất liền như những nhà thờ Đức Bà phù hộ, và những điện thờ khác cổ kính hoặc mới mẻ. Chúng ta thấy nhu cầu thầm kín của thủy thủ muốn lánh xa chốn hiểm nguy biển cả bằng một cuộc hành hương thật sự mà họ thường đi với đôi chân không, để đến nơi cứu nạn đất liền.
Chính ở nơi đó bằng một xảo thuật đối lập nước mặn sẽ trở thành nước ngọt của một giếng nước, ở đó kẻ thoát nạn đắm tàu gột rửa sạch nỗi nguy hiểm đắng cay. Tại đó, người ta sẽ đặt đồ cúng – tranh ảnh, nến, những mảnh buồm hoặc thừng chảo – dưới chân hình ảnh được tôn thờ. Nơi đó được coi là khoảng không gian cứu mạng, bên ngoài phạm vi không gian nguy hiểm của cuộc sống hằng ngày. Ở nơi đó, thời gian được coi như vĩnh hằng, thoát ra khỏi thời gian khiếp sợ và của đêm giông bão.

Khai trương: CON ĐƯỜNG LỬA - BIỂN MIỀN TRUNG - NHA TRANG
Chủ đề: NGHĨA TÌNH TRĂM CON
RÌ RÀO SÓNG VỖ NGƯỜI ƠI
Rì vào sóng vỗ rì rào
Lênh đênh biển nhớ cát xao thì thầm
Thì thầm lữ khách dừng chân
Lắng nghe gió nổi đường trần lá rơi
Rì rào sóng vỗ người ơi
Tình đi muôn bến khơi vơi chẳng về
Non xưa đá vỡ bốn bề
Con chim én trắng lời thề ngàn xuân
Ầm ào nước chảy bên chân
Ầm ào trăng vỡ mấy lần sóng khơi
Bơ ngơ cát lún chân đời
Phố vàng chợ đỏ quên lời mẹ ru
Ầu ơi câu hát vi vu
Nước non tình tự thiên thu nhọc nhằn
Thùy dương tóc gọt lăn tăn
Mẹ ơi mẹ hỡi gió trăng thì thào
Rì rào sóng vỗ non mòn
Suối khe tình tự sắt son đá vàng
Hòn Chồng, hòn Vợ lang thang
Đảo Chim, đảo Yến trăng ngàn còn không?
Thuyền về sóng vỗ long tong
Ngư chài thả vó đục trong miệt mài
Cao cao tháp vọng hải đài
Chiếc đèn cao áp thở dài mù sương
Mẹ ơi địa chấn đại dương
Ầm ào tan nát tai ương ầm ào
Trái tim giọt muối xanh xao
Lắng nghe cát vỡ chiêm bao rã rời
Ngày đêm sóng vỗ ầm ào
Con chim khuyết sử hót chào non xanh
Cá vàng cá ngọc long lanh
Nhởn nhơ bơi quẫy khung tranh đèn màu
Vẽ thêm con mắt đầu tàu
Chiếc thuyền độ thế biển dâu đăng trình
Lỡ mang hồn Việt phiêu linh
Mẹ ơi mẹ hỡi nghĩa tình trăm con

Nghi lễ khai trương: Đền thờ HAI CHỮ "NƯỚC NHÀ" tại biển Nha Trang


NGHI LỄ THANH TẨY RỬA TỘI BẰNG RƯỢU VANG
Nghi thức này, ngày xưa được thực hiện thông qua hình thức hiến sinh bằng máu thực hay tượng trưng để chuộc tội lập công.
- Như cuộc hiến sinh này Iphigénie trong thiên anh hùng ca của Homèke bị cho làm vật tế thần Diana để hạm đội Hy Lạp được xuôi buồm thuận gió tiến về thành Troyce.
- Ở một số vùng khác, người ta thường hiến tế một con cừu ở mũi tàu để duy trì mãi nghi lễ cổ và hình thức dùng da cừu để hiến tế hai người, từ tổ phụ Abraham.
- Cho tới nay một số vùng, người ta vẫn làm lễ “rửa tội” cho các con tàu từ chiếc xuồng đến chiếc tàu lớn. Vì lẽ gì vậy? Một người đã trả lời tôi: “con trai anh, anh làm lễ rửa tội và anh đặt cho nó một cái tên chứ? Con tàu nó cũng vậy, đó là một tạo vật...”.
Tất cả đều thể hiện một cách tượng trưng ý tưởng cho rằng một nghi lễ là cần thiết để đem lại cho sự sống, cho một vật vô tri vô giác và thanh tẩy nó cũng như để bảo vệ người ngư dân và những người trong gia đình anh ta.
Con tàu thường được lấy tên một người thân, một vị thánh hoặc một vị Anh hùng đặt cho con tàu của họ để nhấn mạnh rằng con tàu thuộc về một gia đình tinh thần rộng lớn hơn.
Dù bằng cách tưới máu hoặc biến thể hiện đại là rượu vang, người ta luôn thực hiện lễ hiến sinh để đem lại sự sống cho con tàu.
Thưa quý ông, quý bà: cũng như mọi chuyến đi trong cuộc đời này, chuyến đi vẫn chưa hoàn thành, chỉ với điều kiện là đừng vứt bỏ vội vàng tất cả những niềm tin đó bằng ý nghĩ cho nó là ngây thơ, thuộc về quá khứ mông muội và cực khổ thì người ta mới có thể thâm nhập sâu hơn vào thế giới huyền bí của các thủy thủ, những ngư dân. Và như vậy, chúng ta đã thừa nhận nhân cách và lòng dũng cảm trong nghề nghiệp gian khổ của họ - những người con xứ biển.

Đêm nhạc ghita: Dế Khóc Trăng.
vì trẻ em nghèo, biển Nha Trang
Câu lạc bộ: con người thợ thêu, biển Nha Trang