A. VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THỢ THÊU
CHƯƠNG I: HOÀI NHỚ QUÊ HƯƠNG

Văn hóa của người thợ thêu.
--------------------------------------------

Nơi gặp gỡ của những giấc mơ.
"Cánh cửa niêm phong giấc mơ của người thợ thêu" tại nhà truyền thống XQ Sử Quán có tác dụng đến cách ứng xử trong cộng đồng nghề thêu với nhau và cách ứng xử của họ đến môi trường xung quanh.
---------------------------------------------

Nhà thờ truyền thống XQ Sử Quán tại thành phố Đà Lạt.
"Mỗi nền văn hóa bằng văn bản, truyền khẩu, hay khảo cổ học kể cho dân tộc đó nghe về nguồn gốc, nơi chốn
của mình trên trái đất này và làm sao sống cho xứng đáng với nơi chốn đó". (Lời người xưa)
---------------------------------------------

Đền "Hạt lúa thần" tại XQ Sử Quán.
"Một dân tộc muốn tồn tại và phát triển cái giá phải trả là luôn luôn tìm kiếm mãi bản sắc của mình..." (Thần Nông Đại Việt)
---------------------------------------------
Nghi lễ thăm "Căn nhà ca dao của Mẹ" tại XQ Sử Quán.
TÌM MẸ
Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng nước suối đi tìm Mẹ ơi!
Ca dao lạc giọng giữa đời
Đêm sâu kẽo kẹt tao nôi giật mình...
---------------------------------------------
Thiêng liêng hồn đá tụng tâm kinh.
------------------------------------------

"Núi Gươm Đàn thờ Cha" tại XQ Sử Quán.
“Chờ mãi chờ ai giữa bể dâu,
Chờ tâm ngọc trắng tuyết thêm màu.
Chờ chàng lãng tử quăng hồ nậm,
Chờ khách phong trần cởi dép lau.
Chờ tay kiếm mã tung yên giáp,
Chờ chí anh hùng buộc vó câu
Chờ gió tri âm xao vạn thuở
Chờ hương tri kỷ tỏa nghìn thâu
Thế gian bấy kẻ lòng muôn trượng
Khóc với hư không đá gục đầu!”
---------------------------------------------

Đức Tổ nghề thêu - Ngài LÊ CÔNG HÀNH (1606-1661)
VĂN TẾ ĐỨC TỔ LÊ CÔNG HÀNH
Tiên sư tài cao xuất chúng, trí vượt tiên tri, là vầng trăng sáng Nam Triều, là ngôi sao lành đất Bắc. Lòng tựa gấm, miệng như thêu, đã lấy văn chương soi sáng đời thịnh trị, mũi kim sợi chỉ tải truyền tinh xảo đến phương Nam. Tài khéo sáng tỏ như ngắm sao Bắc Đẩu Thái Sơn. Có công thì thờ tự, dù dâu biển cũng chẳng hề quên. Gặp lúc xuân tiết kính dâng lễ mọn nguyện soi xét lòng son ban cho ơn phước.
Kính mong thương hưởng.
---------------------------------------------

Đền thờ những bậc tiền nhân.
"Hãy nghe tiếng nói trong nước
Hãy nghe tiếng nói trong lửa
Và nghe trong gió
Tiếng ai oán của lùm cây...
Đó là tiền nhân của chúng ta
Họ không chết
Và họ không bao giờ chết".
---------------------------------------------

Hành hương về phòng thờ những bậc tiền nhân của nghề thêu.
-----------------------------------------
LỊCH SỬ NGHỀ THÊU

Đền thờ Đức Tổ nghề thêu.
Ở Việt Nam, nghề thêu là một ngành nghề thủ công truyền thống đã có tự lâu đời. Lịch sử của ngành nghề truyền thống này vốn gắn liền với lịch sử tâm linh của người phụ nữ Việt Nam trong quá khứ.
Ngay từ thế kỷ thứ I, bên cạnh lá cờ thêu “Đền nợ nước trả thù nhà” của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, phụ nữ Việt Nam còn biết dùng công việc thêu thùa để trang hoàng nhà cửa, hơn nữa là để bày tỏ tâm sự, tình cảm và để làm đẹp cho chính mình.
Tuy nhiên, cho đến nay không ai biết được, nghề thêu Việt Nam hình thành từ bao giờ? Ai là người đầu tiên có ý tưởng biến công việc may vá, thêu thùa thành một ngành nghề nghệ thuật ?
Tương truyền rằng, đầu thế kỷ XVII, nghề thêu Việt Nam được đánh dấu một bước ngoặc phát triển mới. Thời đó ngài Lê Công Hành (sinh ngày 18/01/1606 – mất ngày 12/06/1661, tại làng Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) đã đúc kết kinh nghiệm và kỹ thuật thêu dân gian Việt Nam để phổ biến rộng rãi một nghệ thuật thủ công mang đậm nét nghệ thuật.
Cho đến thời phong kiến, nghề thêu là một trong những nghề phục vụ cho vua chúa và giới quý tộc. Sản phẩm thêu được hoàn thành bởi những chất liệu chỉ vải do công sức sáng tạo của những người nghệ nhân Việt Nam. Những sợi chỉ lúc đó được nhuộm bằng công thức thủ công với chất liệu hoàn toàn thiên nhiên như củ nâu, cây chàm, vỏ bàng, nước điệp, lá vông, đá mài, hoa hòe…khiến cho người nước ngoài phải cảm phục để nhận định rằng: "Nhìn những màu nước nhuộm của các cô thợ thấy rất dơ dáy, không ngờ đến khi nhuộm xong đều đủ hết một bảng màu vô cùng lạ lùng tưởng như phù phép mới có được”.
Trong thời kỳ đó nghề thêu thường là do người phụ nữ Việt Nam đảm trách. Theo quan niệm của Nho giáo, người con gái phải hoàn thiện được tứ đức: "Công, Dung, Ngôn, Hạnh" như người xưa từng nói:
“Trai thì đọc sách ngâm thơ
Gái thì kim chỉ thêu thùa vá may.”
Đại đa số phụ nữ cả nước đều biết thêu, tuy nhiên tập trung và có tính chuyên nghiệp từ lâu đời là ở Huế. Khi triều đại nhà Nguyễn xây dựng ở Cố Đô Huế, bà Hoàng Thị Cúc - mẹ vua Bảo Đại, cùng với Nam Phương hoàng hậu đã kết hợp những ưu điểm của kỹ thuật thêu Châu Âu với những tinh hoa của nghệ thuật thêu Châu Á để biến nó trở thành nghệ thuật thêu của cung đình, gắn liền với những đặc điểm thùy mị, tinh tế, tỉ mỉ của người con gái xứ Huế.
Trải qua hàng thế kỷ thăng trầm, nghề thêu có khi lên xuống nhưng nó vẫn giữ được bản sắc văn hóa lâu đời của dân tộc. Đầu thập niên 90, thế kỷ XX, tranh thêu lụa VN dần dần vươn đến đỉnh cao nghệ thuật thêu.
Khi công ty XQ bắt đầu thành lập, hai vợ chồng nghệ sĩ, nghệ nhân Võ Văn Quân và Hoàng Thị Xuân đã vạch một hướng đi mới cho ngành nghề bằng cách kết hợp các đặc điểm của nghệ thuật hội họa với những tinh hoa của kỹ thuật thêu cổ truyền mà chị Hoàng Thị Xuân - xuất thân từ một gia đình gốc Huế - đã thừa hưởng và sáng tạo.
Ngày nay, tranh thêu tay trên lụa XQ Việt Nam đang xích gần các loại hình nghệ thuật âm nhạc, thi ca, hội hoạ. Thông qua các chủ đề về sự sống - cái chết - niềm hy vọng - những xác tín ẩn dấu và cả những thuộc tính thân phận con người, nghệ thuật thêu đã đem lại một cái gì thuộc về cách nhìn của thế giới chúng ta, bằng hình ảnh của một cõi âm nhạc và cái đó có thể biểu đạt bằng nghệ thuật cổ truyền dân tộc.

Đoàn rước lễ vật trong ngày giỗ Đức Tổ nghề thêu.
--------------------------------------------
Du khách ở nền văn hóa khác tham gia vào ngày giỗ Tổ nghề thêu.
"...Nhiều nơi đã truyền lại cho con cháu những ngành nghề lạ lùng là vẽ hình bằng chỉ làm cho bông sen, bông tử nở trên lụa, làm cho bươm bướm lượn trên mặt nước trong xanh, người thợ thêu An Nam khéo léo hơn người thợ thêu Trung Quốc về đường kim mũi chỉ và cách pha màu sắc..."
(Gabrielle - Chuyên nghiên cứu văn hóa Á Đông thời thuộc địa Việt Nam.)
"…Người thợ thêu Việt Nam tỏ ra rất khéo léo trong việc phân bổ màu sắc trên lụa, để có những bức tranh thêu hòa hợp không chát chúa"
(Hocquard - Soạn giả )
--------------------------------------------
Bảng viết tay của bà Hoàng Lệ Mai.
“ … Điều đó đã thực sự xảy ra trước mắt hai chị em, chị bàng hoàng, hoảng hốt và lo lắng về số phận đáng thương và đáng buồn của mình.
Xung quanh chị, những cây cột gãy của mái nhà bị sụp, những tiếng chân người chạy thình thịch… Máu đỏ loang trên vách tường, đổ xuống khung thêu của mẹ, máu nhuộm với nước mắt chảy như một màu phẩm có vị mặn, … hai chị em đấm vào vách tường đổ…
Di sản của những người mẹ là gì? Chị và Xuân nấp sau vách tường đổ trông được sự che chở, nhưng em ơi! Vách tường đó chẳng bao giờ che chở nổi sự cô đơn…”
---------------------------------------------

"Nghi lễ buộc Sợi Chỉ Ước Nguyện" của nghệ nhân XQ tại nhà truyền thống nghề thêu.
Sự suy nghĩ của những người thợ thêu XQ hôm nay về bản sắc và số phận của mình luôn kèm theo một quyết tâm bền bỉ, gìn giữ ký ức về những sự kiện lớn lao có liên quan đến ngành nghề để cứu lịch sử của chúng tôi khỏi bị quên lãng. Vách Buộc Chỉ Ước Nguyện là một cuộc hành hương tâm linh sâu thẳm về với những khía cạnh thiêng liêng huyền thoại của nghề thêu nhằm phục hồi lại một cách kiên quyết và bền bỉ nhất những năng lực còn tiềm ẩn bên trong người phụ nữ Việt Nam: tình yêu quê hương, sự sáng tạo, bí ẩn nội tâm…
--------------------------------------------
Nghi lễ rước "Áo Sống- Áo Chết" tại XQ Sử Quán.
----------------------------------------------

Căn nhà "Áo Sống- Áo Chết" tại XQ Sử Quán.
---------------------------------------------

Nghi lễ thay "Áo Sống- Áo Chết" tại XQ Sử Quán.
---------------------------------------------

Hội thiếu nữ rước phấn về cho hoa.
----------------------------------

Quan khách cùng tham gia hội "Thiếu nữ rước phấn về cho hoa".
---------------------------------------
Tôi là người phụ trách Vườn Cấm XQ Sử Quán. Khi tôi ngồi vẽ bức chân dung của mình, có một anh thanh niên đến và hỏi chuyện tôi: “Này cô ơi, Vườn Cấm – nơi mà cô bước ra có gì trong đó mà phải cấm?” Anh ta nhìn tôi từ đầu đến chân có vẻ rất tinh nghịch. Tôi mỉm cười và đáp lại rằng: “Vườn Cấm là nơi vứt bỏ những chiếc mặt nạ không tình yêu, nơi cất giữ nỗi lo của ong bướm, nơi mà cứ mỗi độ thu về chúng tôi lại rủ nhau đi xem Thượng Đế và con người cùng bò lổm ngổm để nhổ cỏ dại và xây dựng giấc mơ tròn trịa của con người”.
Kính thưa quý khách! “Vườn Cấm” tại XQ Sử Quán – là nơi tinh thần nghệ nhân, nghệ sỹ XQ tìm được chỗ trú ngụ trong trái tim mình, nơi chúng tôi tìm thấy được ánh hào quang của lòng bác ái, lòng trắc ẩn, lòng từ tâm và kể cả sự hài hước. Chính lúc đó tôi phát hiện ra mình có một năng lực kỳ lạ.
Và trong chương trình “Đêm Hội Nỗi Lo Của Ong Bướm” hôm nay có những vị khách quý và có các anh chị nghệ nhân, nghệ sỹ ở đây, nhất là các anh chị nghệ nhân, nghệ sỹ đến từ các khu vực Nam, Trung, Bắc, tôi xin kể lại những suy tưởng của mình khi vẽ tác phẩm chân dung của tôi tại Vườn Cấm.
Như các anh chị đã biết: Đà Lạt là thành phố của huyền thoại, của mỗi chuyện tình trên mỗi địa danh. Khi tôi nhập cư đến thành phố này, tôi được biết mỗi người đàn ông lẫn đàn bà đều tôn thờ những chuyện tình đó, và bản thân tôi cũng thế. Trong cuộc sống gia đình hằng ngày nhạt nhẽo, chúng tôi mơ tưởng đến sự tôn sùng từ đêm này đến đêm khác, mơ tưởng đến cái thế giới lãng mạn mà thành phố chúng tôi đang có.
Đó là vì ngày hôm nay, người phụ nữ chúng tôi nhân cách luôn luôn bị tách làm đôi. Chúng tôi không sinh ra từ một cái gì cả, chúng tôi tự tạo ra bản thân của mình, những con người mới, ở một thế giới mới.
Chúng tôi phải dè xẻn từng xu một, mua đi bán lại, xây dựng những tượng đài nho nhỏ, nhưng như thế vẫn chưa bao giờ là đủ. Chúng tôi cần một người nào đó, một thần tượng nào đó trú ngụ trong bản thân mình, cái phần từ chối giấc mơ thành công vật chất ở một thế giới mới của ngày hôm nay.
Năm nay tôi 25 tuổi, tôi đã gặp những người đàn ông, hắn rất trẻ và rất đẹp trai. Hắn buôn bán tất cả. Hắn không hẳn là độc ác. Hắn có một cách nhìn nhận đầy lãng mạn về tiền bạc và tiền bạc là mối tình lớn của đời hắn.
Tôi cũng đã gặp những người vẫn có khả năng cười, có một phong cách hiệp sỹ, lầm lì, ít nói, lúc nào anh ta cũng suy tưởng đi tìm linh hồn vô thức của mình. Tuy rằng anh ta có bạn gái là một diễn viên, nhưng anh ta là một nhân vật cô độc và không có tình yêu như bản thân vật chất mà anh ta đang sở hữu.
Tình yêu dù có mạnh mẽ, hung tàn, bạo lực hay yếu đuối đến đâu, tôi vẫn có cảm giác đói như một con ma men đói thuốc.
Tôi và những người phụ nữ đã thừa hưởng những gì của ngày hôm nay? Trong cuộc sống này, đôi lúc chúng tôi như bị gây mê đi tìm bản thân mình. Thần tượng của chúng tôi hiện giờ đang ở đâu, hay vẫn chỉ là những chuyện tình trên mỗi địa danh ở thành phố Đà Lạt này ? Những thần tượng vừa gần gũi, vừa biết bao xa cách. Liệu rằng một ngày nào đó, chúng tôi có dũng cảm nhìn vào khoảng không đó để nhận ra cái lõi trống rỗng trong văn hóa của mình hay không? Để nhận thấy điệu nhảy đi đến cái chết của nó, và xác định lại chúng tôi thật sự là ai? Hay chúng tôi sẽ tiếp tục là những con người mang một thứ mặt nạ không có tình yêu cho tới vĩnh cửu?
Trong kiếp phù du này, thần linh và những con người trần thế chúng ta có được chất nhạc và chất thơ trong cuộc sống hằng ngày đó là nhờ vẻ đẹp vĩnh hằng và cứu rỗi của chiến công tình yêu.
Tôi đã suy nghĩ như vậy khi ngồi tại Vườn Cấm XQ Sử Quán để vẽ chân dung mình. Có người sau khi nhìn tác phẩm này đã hỏi tôi: “Tại sao cô gái trong bức tranh có giọt nước mắt chảy?”. Tôi đã trả lời rằng: “Đây là chân dung của tôi, giọt nước mắt tôi khóc cho sự trống rỗng trong văn hóa của mình, khóc cho những chiếc mặt nạ không tình yêu”.
Trong chương trình “Đêm Hội Nỗi Lo Của Ong Bướm” hôm nay, tôi cùng các chị em Nghệ nhân làm việc tại “Vườn Cấm” đã viết những giấc mơ của mình trong mỗi bài thơ trên những chiếc lá, cất vào những góc không vật chất để xin gởi tặng cho quý khách nào tìm thấy.
Khi vẽ xong tác phẩm, tôi cảm thấy rất buồn và hụt hẫng, tôi đã ra ngoài nhờ các anh họa sỹ hát cùng tôi, bởi lúc này tôi cảm thấy rất cô đơn...”
---------------------------------------
Nghi lễ "Rước phấn về cho hoa trên Vườn Cấm" tại XQ Sử Quán- Thành phố Đà Lạt.
---------------------------------------------

Tác phẩm: "Tự do- Tình yêu và Thi ca" tại Vườn Cấm.
---------------------------------

Tác phẩm: Chân dung "Vị thần Ái tình".
------------------------------------
![]()

----------------------------------

Đoàn thiếu nữ với trang phục "Đi tìm thời gian đã mất" trong chương trình "Rước Sợi Chỉ Ước Nguyện về Hòn Chồng".
-------------------------------------

Đoàn thiếu nữ trong trang phục áo dài truyền thống "Rước Sợi Chỉ Ước Nguyện về Hòn Chồng".
---------------------------------------

Nghệ thuật rao bán hoa của nghệ nhân XQ.
--------------------------------

Quan khách cùng nghệ nhân "Đi tìm bài thơ trên lá".
…Nhớ thuở ấy về miền sóng vỗ
Ghềnh đá cao nghe biển hát bên tai
Tôi ngất ngây như cốc rượu thuở thời trai
Khi gặp lại trái tim hồng nguyên vẹn…
---------------------------------
CON CHIM TỪ BIỂN ĐẾN
Có một lần người hoạ sỹ đi vào một làng chài nơi có xác của những con thuyền. Anh đã bắt gặp một ông già gầy guộc đang ngồi, kẹp một miếng gỗ giữa hai đầu gối khẳng khiu, khô đét, trên tay cầm cái đục và đục vào miếng gỗ ấy. Người hoạ sỹ đi lại gần và nghe từ phía ông già vang lên một khúc bi ca, giọng cổ, lúc mạnh lúc yếu tùy theo từng nhát đục. Anh đã lặng im xem ông già thực hiện lễ nghi đó, còn ông lão như không quan tâm đến xung quanh và tấm gỗ trên tay ông dần hiện ra hình đầu một con chim mỏ quặm. Ông đứng lên đi ra phía biển, bàn tay khẳng khiu mân mê những góc cạnh của đầu con chim, đôi mắt nhìn ra biển xa xăm như chờ đợi điều gì.
Người hoạ sỹ hỏi ông già :“Bác ơi, bác vừa hát bài gì vậy?”
Và ông già trả lời: “Bác đang kêu con chim từ trong mảnh gỗ không có gì này, sẽ chẳng ai hiểu gì nếu chẳng ai kêu con chim từ biển, đặc biệt là khi đứng trước biển”.
Nói rồi ông già gắn đầu con chim lên mũi thuyền và gắn thêm cái chong chóng gió lên đầu con chim để báo hướng gió cho người đi biển.
Ngay lúc đó, người hoạ sỹ rút ra một chân lý: “Suy tưởng và triết lý về biển chỉ là một, và khi đứng trước biển không nên nói nhiều mà hãy im lặng để nghe con chim từ biển đến”.
Sau vài tháng trở lại làng chài, người hoạ sỹ đã không còn gặp ông già nữa và được người ta nói rằng: Trong một lần ra biển, ông đã mãi mãi không trở về. Và chuyến đi đó đã giúp người họa sỹ sáng tác nên những tác phẩm về biển.
Còn riêng tôi, một nghệ nhân, khi đứng trước biển, thấy biển xô vào đất liền của những người sống và những người chết như một quy luật bất di bất dịch của thủy triều. Nhưng khi rút đi, biển không mang theo tất cả, đã để lại giữa cát sóng và tảo biển chết những phiến đoạn, những mảnh vỡ, mẫu vụn, vật trôi dạt, để từ nay những con nước triều lên không còn quyền hành gì với chúng nữa. Những phiến đá và bãi cát ven biển đã giữ chúng lại.
Và như có một phép bùa chú không gì phân tích nổi, tôi đã lượm đám bèo bọt lều bều trong dòng thời gian ấy. Và tôi thấy có con chim từ biển đến kể với tôi về thân phận và bản sắc của người dân xứ biển. Trong phút giây ấy, tôi thốt lên rằng: “Cô đơn và Tôi đến nỗi dường như sinh ra từ một bào thai”.
( Theo lời kể của nghệ nhân XQ Nha Trang)

Đền "Nghi lễ trên Biển Cấm".
----------------------------------
BIỂN CẤM
Huyền thoại kể rằng: Có một nàng con gái xinh đẹp sống ở thủy cung cùng với người yêu của mình. Họ sống rất sung sướng và hạnh phúc, xung quanh họ là những bức tường khảm xà cừ, những viên ngọc trai và những rặng san hô rực rỡ. Ngày ngày họ vui đùa ca hát và thưởng thức những món ngon vật lạ của biển. Đó là kết quả của một lần, chàng trai đã cứu con rùa biển thoát khỏi bàn tay nghịch ngợm của đám trẻ con. Con rùa biển đó chính là nàng con gái xinh đẹp kia hoá thành để đi rong chơi. Nàng trả ơn bằng cách mời chàng trai xuống thuỷ cung cùng sống với mình.
Sống hạnh phúc và đầy đủ, nhưng chàng trai vẫn không nguôi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương và chàng quyết định về thăm. Chàng đâu ngờ rằng 3 năm dưới biển là 700 năm trên đất liền. Khi trở về, tất cả đã trôi vào quá khứ, người thân và bạn bè không còn nữa. Cô đơn ngồi trên bãi biển để tìm lại ký ức của 700 năm trước, chàng lấy cái tráp mà người yêu trao trước khi ra đi và có dặn rằng: “Nếu anh còn muốn gặp lại em thì xin anh đừng mở chiếc tráp này”. Nhưng với khát vọng mang ký ức về lại thuỷ cung, chàng trai đã mở chiếc tráp ra. Từ trong tráp bay ra một làn khói mỏng và một chiếc lông hạc, và lập tức chàng đã biến thành một ông già và ngã quỵ xuống.
Nếu như quý vị thì quý vị có mở chiếc tráp ra không? Còn tôi, nhớ thuở nhỏ, mỗi khi đọc đến đoạn này, bao giờ tôi cũng gập sách lại và suy nghĩ: không biết chàng trai có tội tình gì mà bị trừng phạt như vậy? Và khi tôi lớn lên mới biết rằng đó là một thông điệp: “Nếu trái quy luật của biển thì sự sống ắt bị trả giá”. Ông già ngã xuống bỗng biến thành con hạc, còn dưới biển bò lên một con rùa. Con hạc cắp con rùa bay lên, hạc sống nghìn năm còn rùa vạn tuổi, hạc cắp rùa bay đi tìm sự bất tử và bay vào huyền thoại.
Phải chăng từ rất xa xưa biển và bờ đã có một mối tương giao kết nối? Và “Biển Cấm” chính là biển của nội tâm mà con người ai cũng muốn thám hiểm để phát hiện ra ý nghĩa bản thân mình và thế giới. Tôi xin tặng đến quý vị bài thơ của “Biển Cấm”:
“Ta không nói vì biển còn sóng vỗ
Nghĩa tương giao vẫn vô lượng đất trời
Học im lặng dẫu xói mòn cát vỗ
Lòng bao giờ không thoát nắng biển khơi”
(Trích những câu chuyện về “Biển Cấm”
của nghệ nhân XQ Nha Trang)
----------------------------------

Nghi lễ lấy nước biển vào lúc bình minh của nghệ nhân XQ Nha Trang.
-----------------------------------
LỄ HỘI XQ HỒN BIỂN
Mời bạn đi thăm
CUỘC ĐỜI VÀ NỖI ĐAM MÊ
CỦA “NGƯỜI THỢ THÊU CÓ BẦU CHỜ TRĂNG MỌC”.
Chuyện kể về một người nghệ nhân làm việc tại Nha Trang – XQ Sử Quán, chị có một đặc tính là rất thích xem những bản tin dự báo thời tiết, rất mê những đêm trăng rằm vì chồng chị là một ngư dân, và vào những đêm trăng sáng chồng chị sẽ không đánh được cá và quay về với chị.
Vào một đêm, cách đây vài tháng, trong lúc gia đình tôi đang rất bồn chồn, lo lắng về những hậu quả mà cơn bão vừa đi qua để lại thì nghe có tiếng đập cửa, chị đến và báo tin rằng chồng chị đã bình yên trở về.
Cũng kể từ bữa tối hôm đó chị lặp đi lặp lại một thói quen, sáng thắp nhang, chiều về thắp nhang và ngay cả trong lúc đang thêu chị cũng cầu nguyện sự bình yên sẽ luôn đến với chồng.
Và đứa con nằm trong bụng cũng chính là người bạn, niềm vui, là hy vọng của chị trong những đêm chồng đang lênh đênh trên biển. Chị ước gì mình có thể cùng chồng ra biển, du lịch đến những miền đất giàu có, nhưng chị quá nghèo nên ước mơ đó chẳng bao giờ có thể trở thành hiện thực, chị đã cột chặt ước mơ của chính mình trên tivi qua những bộ phim không tưởng, hay những cuộc phiêu lưu của những tỉ phú.
Một hôm nọ, khi đi làm về, chị bật tivi xem chương trình dự báo thời tiết, người ta dự báo có một cơn bão đang di chuyển vào biển Đông, chị lo lắng, hốt hoảng. Trong cơn hoảng loạn của mình, chị ước sao có một cơn bão mạnh nhất trong mọi cấp độ sẽ ập đến cuốn phăng mọi nỗi buồn, lo lắng của chị, trả lại cho chị cuộc sống bình yên nhất.

Lối vào căn nhà "Người thợ thêu có bầu chờ trăng mọc".
----------------------------------

Tác phẩm: "Đêm trở dạ của người thợ thêu có bầu chờ trăng mọc".
-----------------------------------

--------------------------------------

Nghi lễ "Đón bình minh" của nghệ nhân XQ tại đền "Hơi thở tổ tiên".
------------------------------

Đền thờ "Hơi thở tổ tiên".
"Lạy cha vầng Thái Dương
Lạy mẹ trái đất này
Xin cầu nguyện cho những ai
không hiểu được ý nghĩa của Người.
Đang làm xước da thịt Người.
Đau khổ và bạo hành đến với chúng con,
chỉ có trái đất này mới yêu thương chúng con".
----------------------------------

Nghệ nhân dâng mẫu thêu đón bình minh.
-------------------------------

Nghệ nhân XQ cùng quan khách và người dân Nha Trang tham dự nghi lễ đón bình minh.
----------------------------

"Nghi lễ đón bình minh" của nghệ nhân XQ.
----------------------------------

"Nghi lễ lấy nước biển" của nghệ nhân XQ.
-----------------------------------------

Nghi lễ "Cầu phúc" trên Biển Cấm.
-----------------------------------

Căn phòng "Cầu Phúc".
-----------------------------------

Hội "Thiếu Nữ Rước Sợi Chỉ Ước Nguyện" 1000 năm Thăng Long về Văn Miếu Quốc Tử Giám.
-----------------------------------
CHÚC VĂN
Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Thủ đô Hà Nội, ngày 07 tháng 10 năm 2006
(Tức ngày 16 tháng 08 năm Bính Tuất)
Tại Thái Học đường di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Nghệ nhân – nghệ sỹ tranh thêu tay XQ tổ chức.
Lễ hội XQ Sắc Thu Thăng Long – Hà Nội.
Sắm sanh lễ vật, hương hoa quả phẩm, tinh khiết tâm thành.
Kính dâng lên:
Các bậc Tiên Thánh Tiên Hiền.
Hoàng đế Lý Thánh Tông.
Hoàng đế Lý Thánh Tông.
Hoàng đế Lý Thánh Tông.
Tư nghiệp Quốc Tử Giám – Chu Văn An.
Cùng liệt vị danh nhân văn hóa…
Dạ trước linh vị, kính thưa:
Tinh hoa tích tụ, đất Thăng Long văn hiến nghìn năm
Tú khí hào hùng, dân Lạc Việt nhân tài rạng rỡ
Khuê văn các biểu tượng huy hoàng
Thái Học đường tôn vinh truyền thống
Lịch sử kế thừa, anh linh nối tiếp
Nhớ khi xưa:
Hoàng đế Lý Thánh Tông
Uy vũ hiển hách
Sáng lập Văn Miếu
Khởi nguồn đạo học…
Hoàng đế Lý Nhân Tông
Tôn trọng nhân tài
Đặt hoa minh kinh
Lập Quốc Tử Giám,
Hoàng đế Lê Thánh Tông
Anh minh tài lược
Dựng bia tiến sĩ…
Đề cao hiền tài.
Văn trinh công Chu Văn An
Tư nghiệp Quốc Tử Giám
Học vấn uyên thâm
Đạo cao đức trọng
Không cầu danh lợi
Bình dị thanh liêm
Tiết tháo cương trực
Lẫm liệt uy nghi
Gương sáng để lại muôn đời
Công danh lưu truyền mãi mãi
Nay:
Vận hội nước nhà đổi mới
Noi theo ý tiền nhân tạc trên bia tiến sĩ
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.
Công ty XQ đã góp phần bảo tồn nghề thêu truyền thống, một nghề cao quý giàu tính thẩm mỹ và gắn bó với người phụ nữ Việt Nam. Góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Những tác phẩm thêu tay của nghệ nhân XQ đã có mặt trên khắp thị trường toàn quốc và quốc tế, chiếm được cảm tình của mọi người. Hôm nay, giữa trời thu Hà Nội, chào mừng 52 năm ngày giải phóng thủ đô, hướng tới lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, chào hội nghị cấp cao APEC 2006, các nghệ nhân – nghệ sỹ tranh thêu tay XQ tổ chức tại di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám “Lễ hội văn hóa ngành nghề XQ Sắc Thu Thăng Long – Hà Nội” và nghi lễ khởi động tác phẩm thêu tay chào mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Kính mong:
Thánh hiền phù hộ
XQ Việt Nam
Không ngừng phát triển
Đào tạo được nhiều nhân tài
Góp phần xây dựng
Nước mạnh dân giàu
Dân trí nâng cao
Nhân lực dồi dào
Nhân tài rạng rỡ
Đất nước hiện đại văn minh
Tỏa sáng ngàn năm non sông nước Việt
Muôn vàn thành kính
Đội đức anh linh
Kính thiên, thổ công, thổ địa uy linh
Đồng lai chứng giám.
Cẩn cáo !
------------------------------------
VTV1 TRÒ CHUYỆN CÙNG ÔNG VÕ VĂN QUÂN
“NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI” 2005

Ông Võ Văn Quân - Người sáng lập XQ Việt Nam.
1. Taị sao Anh, Chị lên Đà Lạt lập nghiệp? Tuổi thơ và thời trai trẻ của Anh, Chị có vất vả không?
Với tôi, tuổi thơ là một câu chuyện di cư lưu lạc của chiến tranh và câu chuyện tình của Bố Mẹ chia tay, nghèo đói đến tận cùng, quê hương của tôi nhà cháy – chết chóc – đói nghèo - đất đai “sa mạc hoá…”đó là sự trải nghiệm của tuổi thơ tôi: như một vết sáp trong lòng mình. Suốt đời tôi hiện thời vẫn là người mãi tìm cha sau khi tìm được mẹ. Còn đối với vợ tôi, xin trích lại lá thơ mà chị vợ gởi lại cho vợ chồng tôi khi mới cưới nhau:
“….Điều đó đã thực sự xảy ra trước mắt hai chị em, chị bàng hoàng, hoảng hốt và lo lắng về số phận đáng thương và đáng buồn của mình.
Xung quanh chị, những cây cột gãy của mái nhà bị sụp, những tiếng chân người chạy thình thịch… Máu đỏ loang trên vách tường, đổ xuống khung thêu của mẹ, máu nhuộm với nước mắt, chảy như một màu phẩm có vị mặn, … hai chị em đấm vào vách tường đổ…
Di sản của những người mẹ là gì? Chị và Xuân nấp sau vách tường đổ trông được sự che chở, nhưng em ơi! vách tường đó chẳng bao giờ che chở nổi sự cô đơn…”
Đó là bảng viết tay của hai chị em khi bom rơi vào nhà – người mẹ chết bên khung thêu mà hai chị em còn sống.
Đó là một sự vất vả nhọc nhằn ghê gớm của sự mưu sinh. Khi hai vợ chồng quyết định lên Đà Lạt vì nơi thành phố đó bao giờ cũng tạo cho tôi sự vỗ về, yên nghỉ khi quá nhọc nhằn. Ở cuộc sống người ta cần một cái gì đó như thi ca, sự lãng mạn…. Một cõi mà người ta còn nghị lực sống và yêu thương cuộc đời. Và Đà Lạt là một thành phố của huyền thoại, của lễ hội và sau này nó có thể trở thành thành phố của hội họa và thời trang, lĩnh vực mà vợ chồng tôi đam mê. Từ đó chúng tôi quyết định lên Đà Lạt.
2. Tại sao trong lúc nghề thêu đang gặp khó khăn thì Anh, Chị lao vào đúng nơi khó khăn đó? Vì sao Anh, Chị lại có đủ tự tin để bỏ vốn kinh doanh lĩnh vực đang bị “xuống dốc” này?
Vâng, lúc đó ngành thêu ở trong tình hình ảm đạm nhất, chủ yếu làm hàng gia công, lúc đó vẫn có một số cơ sở thêu tranh lác đác tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng chẳng ai đoái hoài. Lúc đó tôi làm ngành Y, vợ tôi sau khi nghỉ bệnh viện ra buôn bán nhỏ rất khó khăn trong đời sống gia đình. Vợ tôi thường ngồi bên khung thêu, qua cây kim sợi chỉ để bày tỏ một điều gì đó trước cuộc sống, có lẽ là phương tiện để giảng hoà bản thân mình trước cuộc đời. (Vợ tôi trước kia là người thợ thêu ở Huế nối nghiệp dòng dõi cung đình). Tôi suy nghĩ, với người phụ nữ, họ đóng một vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội.
Tất cả điều đó tôi gọi là “Lịch Sử Tâm Linh”. Với tôi, quê hương chính là lịch sử này, nơi mà người đàn ông khát vọng ra đi và khát vọng trở về để được viên mãn trong đó. Phải chăng nghề thêu của người phụ nữ là một phương tiện để nói lên lịch sử này.
Với bản thân tôi, làm kỹ thuật X Quang tại bệnh viện Bảo Lộc gặp những điều xin kể vắn tắt: “Một người thanh niên trạc 28 tuổi bị xích vào giường bệnh, chân bị thương, da xanh mướt, được một cụ bà ngồi bên mớm cháo từng muỗng một. Đó là một phạm nhân trốn trại bị thương phải đưa vào chữa trị, được mẹ già chăm sóc. Một tháng sau, khi người mẹ bê những đồ xú uế của con mình, bà trượt té tại nhà vệ sinh, chấn thương sọ não. Người con trai trốn đi và lấy những đồng tiền cuối cùng của người mẹ. Trên giường hấp hối, cụ bà nói “Xin các bác sĩ hãy chữa cho tôi, để tôi mới cứu lấy được con tôi…” Đó là một sự bất công ghê gớm của tình mẫu tử mà không có sự bất công nào bằng, và một số tình cảnh mà tôi đã gặp về người phụ nữ càng thôi thúc tôi phải dấn thân vào nghề thêu.
Với tôi, nghệ thuật là nắm bắt, hiểu cuộc sống này và hiểu bản thân mình, là phương tiện khát vọng về cuộc sống từ đó mới kể lại những đoạn đường trần thế mình đã đi qua (lúc đó tôi là một người họa sỹ vẽ sơn dầu). Chiến tranh là sự hủy diệt bởi bom đạn (được làm ra bởi kim loại). Nhưng rồi người phụ nữ sử dụng kim loại là một cây kim, một cái “đê” có thể thêu dệt nên Ước mơ - Hạnh phúc - Tình yêu - Sự cô đơn… Sự dấn thân của tôi có nên chăng?
Với tôi, sản phẩm nghệ thuật chỉ có tính phổ biến khi nó càng đặc thù. Cây kim sợi chỉ của họ có thể kể về mình: hạnh phúc - tình yêu - sự sống - cái chết - về những xác tín ẩn dấu - về những phấp phỏng tăm tối của thế giới bên kia… Đó là những thuộc tính mà không dân tộc nào giống dân tộc nào. Nó có thể làm tái mặt những người du khách đến thăm viếng họ và mua sản phẩm của họ.
Vậy tại sao nghề thêu lại xuống dốc? Do chúng ta thiếu đi “niềm tin” mà niềm tin này nó được sinh ra bởi “ý chí”. Lúc đó và đến bây giờ, người ta vẫn đầu tư vào những lĩnh vực thấy được, sờ được và nghe được. Tôi gọi đó là công cuộc “kinh doanh niềm tin sinh ra từ điều xác tín” và lĩnh vực này ai cũng có thể kinh doanh. Đó là một số suy nghĩ ban đầu đã giúp cho tôi quyết định dấn thân.

Ông Võ Văn Quân cùng ông Nguyễn Minh Triết - Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đang trò chuyện về văn hóa nghê thêu của phụ nữ.
3. Khi thành lập cơ sở Anh, Chị có bao nhiêu vốn? Anh, Chị nhớ lại là khi đó Anh, Chị đã kiên trì để thuyết phục mọi người làm cho mình như thế nào? Tìm đầu ra cho sản phẩm ra sao? Khi đó có lúc nào Anh, Chị thấy mình sẽ kinh doanh thất bại hoặc phải bỏ cuộc vì thiếu vốn, thiếu nhân công?
Lúc đầu mới hình thành cơ sở chỉ có 3 người: Tôi đi làm Bệnh Viện - chụp X Quang thêm để có chút ít tiền mua chỉ vải, tối về vẽ mẫu, vợ tôi và chị tôi (đi làm thuê uốn tóc) thêu ngày và tối. Những ngày đầu được hai bức tranh, tôi là người đi bán. Lúc đó không có tiền mua khung và kiếng, tôi chỉ đi bán mảnh vải thêu (bán 2 bức đầu tiên cho Công ty dâu tằm tơ -–Bảo Lộc) cứ như thế tôi bán cho người trong xóm từng bức một (những bức đó tôi nói về họ, kể về tình cảm của họ). Vốn ban đầu được hình thành như vậy đó. Tôi bắt đầu tuyển công nhân, vợ tôi dạy kỹ thuật thêu còn tôi dạy cho họ kỹ thuật pha màu sắc, cách nhìn và thẩm định sự vật trong một bức tranh. Lúc đó quan niệm nghề thêu là của những cô gái không có công ăn việc làm, ít học, xấu xí, đói nghèo…nên những cô gái làm thêu hay mặc cảm nghề của mình, ra đường không dám nhận mình là thợ thêu nên họ hay bỏ việc, đi làm việc khác… Làm sao cho họ yêu nghề và tự hào đây? Lương thì quá thấp vì lúc đó tiền phụ thuộc vào việc tôi đi bán tranh rất rẻ, chỉ cần trả đủ nửa lương. Đây là câu hỏi cho đến bây giờ tôi luôn phải trả lời trước sự tồn tại của ngành nghề này, chính công việc này là lĩnh vực mà tôi đầu tư nặng nhất.
Tôi bắt đầu suy nghĩ con người ai cũng có nhu cầu công nhận, nhất là con người đó càng nhỏ bé. Hãy giúp cho họ một cảm giác là để lại cho đời một cái gì đó giống như một đứa con của họ và chính tôi là người đóng vai trò đó. Tôi thường vẽ hàng loạt các mẫu vẽ, sau đó nói họ chọn một mẫu cho mình và hỏi: “Vì sao em chọn mẫu đó? - Vì em thấy cái này giống ở nhà em!” Và tôi ngồi kể chuyện cho em về kỷ niệm của tôi trên mẫu vẽ, tôi và thợ thêu bắt đầu gặp nhau ở một cõi “Thứ ba” và thêu kỷ niệm đó chứ không phải bức tranh. Khi đi làm bệnh viện về, tôi thường đi quanh khung thêu để làm “người công nhận cho em”…
Vì thế, vợ chồng tôi có rất nhiều kỷ niệm về công nhân của mình như: có một lần không bán được bức tranh nào cả, cả nhà đều đói không gạo ăn, công nhân về nhà lấy gạo mắm muối lên cho vợ chồng tôi tiếp tục công việc, hoặc công nhân có những người hỏi chúng tôi cần tiền trả lương thì họ sẽ về lấy vốn liếng ở nhà cho mượn… Hiện thời những người này vẫn còn làm việc trong công ty chúng tôi. Đó là những câu chuyện cảm động về mối quan hệ giữa chủ và công nhân của mình.
Đầu ra sản phẩm của mình đây là một câu chuyện thú vị đối với tôi. Xin “triết lý” một chút, với tôi, khách hàng là “nhà bên cạnh”: thời gian là sự thay đổi để đi lên thì người ta sẽ đánh mất cái gì đó như một ký ức - một kỷ niệm… Tôi sẽ bán cái đó chứ không phải là “sản phẩm”, tôi luôn tin là “sản phẩm” của mình là nơi gặp gỡ giao lưu giữa “ước mơ” và tính “nội tại” là nơi ngọt ngào của trái chín, trái tim đã già đang cần rất nhiều chất thơ. Nếu làm được điều đó thì khách hàng là “nhà bên cạnh” và tôi đã thành công trong công việc này, mà chúng ta gọi là đầu ra của sản phẩm.
Như ban đầu nói với chị, tôi có một “niềm tin” mãnh liệt vào ngành nghề này. Có khi một hai tháng trời không có lương trả công nhân (có lúc phải cầm chiếc máy hát đi bán). Tình yêu – Hạnh phúc – Hôn phối đã có, nhưng thời cơ chưa đến đó thôi và tôi luôn kiên trì mãi điều này dù khó khăn đến cực điểm. Khi xưa bạn bè ai cũng nói tôi hơi mơ mộng và “khùng” nữa kia! Biết làm sao được! Cái làm nên mình mà! Đến giờ này những người thực tế luôn mỉm cười cách làm của tôi, nhưng những người thực tế đó sẽ trả lời làm sao, khi vai trò của người phụ nữ là tạo một không gian vỗ về, xóa bỏ những “góc cạnh” gai góc của người đàn ông khi trở về sẽ không còn nữa, nếu không đó là sự bi thảm nhất của trái tim và khối óc của cuộc đời. Điều xem chừng hãy công nhận những người nếu không có một lý tưởng sống, họ không chịu đựng được.

4. Có ai giúp Anh trong việc tạo dựng và quảng bá thương hiệu XQ hay không? Bí quyết thành công là gì?
Với tôi, thương hiệu là tài sản phi vật thể, nó thuộc quyền sở hữu của một ai đó. Dựa trên quyền sở hữu này, họ có thể khai thác theo mục đích của mình…Quyền sở hữu chỉ chính đáng khi nó giúp cho con người sáng tạo, còn nếu quyền sở hữu để thay thế cho sự sáng tạo đó là ký sinh, ăn bám. Nên hiện thời tôi thấy có một sự tha hóa về thương hiệu, vì thế tôi luôn lấy XQ đề cập đến những giá trị cuộc đời này (Tôi - một nghệ sỹ chuyên sắp đặt và trình diễn). Tôi luôn đem các loại hình nghệ thuật xích lại gần nhau như: Nghệ thuật thêu - Thơ ca - Âm nhạc - Điêu khắc - Kiến trúc - hòa tấu tạo nên âm hưởng của ký ức trong mỗi tác phẩm tranh thêu của mình. Ví dụ chương trình Tác giả - Tác phẩm của XQ:
Tôi nghĩ đó có phải là bí quyết không? Thú nhận thật với chị, tôi không để ý nhiều lắm cách đo thương hiệu của mình đến đâu rồi, tôi chưa từng nghĩ nhiều về việc này. Nhưng với XQ là nghi thức, linh thiêng và truyền thống. Nếu có XQ khác làm được điều này, tôi xin kết nghĩa làm Tri Kỷ- Tri Âm.
Xin đừng nhân danh nghệ thuật thêu cổ truyền, để rồi đem đến cho nó một hình ảnh của sự Phóng túng - Bừa bãi - Tự phát - Phàm tục - sẽ tiêu diệt một ngành nghề còn trứng nước.

Cuộc trò chuyện của ông Võ Văn Quân trên VTV1.
5. Anh Chị thành lập những Công Ty tại nước ngoài như thế nào? Tại sao cần thành lập?
Hiện thời XQ thành lập 2 Công Ty: tại Mỹ và Thái Lan. Nhiều đại lý như Anh, Singapore, Đài Loan và Đức. Tôi thường chọn đại lý là người trong nghề và bản xứ (bạn tôi người nước ngoài đa số là nghệ sỹ hoặc là nhà kinh doanh nghệ thuật ) và những đại lý này đều thành công.
Với việc thành lập công ty nước ngoài, nơi điều này có vẻ hơi “lý tưởng hóa”, tôi xin kể:
Khi triển lãm tranh trong nước, tại những khách sạn lớn, đa số người nước ngoài nói đó là tranh thêu của Trung Quốc được nhập sang.
Khi ra nước ngoài, tôi gặp nhiều người đều có cái nhìn: hình ảnh Việt Nam là chiến tranh (lịch sử chiến trận) chứ không có “lịch sử tâm linh”, nên nghệ thuật không có gì là hấp dẫn đối với họ.
Một số người cho rằng nghề thêu là của những cô gái ít học, đói nghèo, xấu xí, không có công ăn việc làm, nghề của những cô gái nhàn rỗi, của nhóm người mất an ninh. Nên những cô thợ thêu không phải là người dấn thân trong nghệ thuật, nên sản phẩm thêu không phải là sản phẩm của nghệ thuật. Vì thế, nó là sản phẩm của “thứ cấp”, sau tất cả các hàng thủ công khác.
Vậy muốn thành lập công ty nước ngoài để mở rộng thị trường, tôi phải giải quyết các biến số này. Nên những công ty XQ ở nước ngoài tôi thường lấy 2 chủ đề: Với cộng đồng người Việt- Công ty tranh thêu tay XQ : “Nhật ký ngày trở về quê hương”. Với người Bản xứ, tôi thường lấy đề tài “ Căn nhà nơi sinh ra nỗi mộng mơ và sợ hãi”. Tôi thường có nghệ thuật trình diễn tại công ty, ví dụ: Có 1 lần, một cô gái ngồi thêu trong căn phòng. Bên ngoài tôi lấy bảng hiệu nhỏ là “Vị tình yêu trong nghệ thuật thêu của người phụ nữ Việt Nam” có kèm một chương trình thi cho khách “Người đàn ông quyến rũ nhất đối với người phụ nữ thêu tranh XQ Việt Nam”. Khách đứng xếp hàng thi để nói những lời bay bướm nhất và chờ đợi kết quả của cô gái sẽ chấm thi. Đó là một chương trình mà tôi đã thu hút khách Mỹ nhiều nhất và họ chờ đợi công ty chúng tôi nhiều nhất.
Hiện thời thì những Công Ty XQ Việt Nam ở nước ngoài chưa phát triển được, nhưng tôi tin sẽ có một ngày nào đó phát triển, nếu tôi chịu khó đi ra và tổ chức chương trình (hiện thời là tôi phải sáng tác rất nhiều). Với công ty nước ngoài hiện thời tôi vẫn cử nhân viên và nghệ nhân đi liên tục.

Tác phẩm sáng tác của ông Võ Văn Quân "Kẻ nhân danh đạo lý thị trường".
6. Có phải XQ chỉ hướng tới những khách hàng thượng lưu không?
Tôi xin trình bày quan điểm này: Tranh XQ “rất rẻ”, mỗi tác phẩm tranh thêu của XQ là phương tiện hiểu cuộc sống này, hiểu bản thân mình, là một nỗ lực sáng tạo, khát vọng về cuộc sống, về hạnh phúc - tình yêu, phục hồi những ký ức bị lãng quên… để phụng sự cho chủ thể (con người). Giá mắc hay rẻ (tiền) nó chỉ là khách thể phụng sự cho mưu cầu hạnh phúc con người. Mỗi tác phẩm tranh thêu tay XQ như một sinh linh đang run rẩy trước cuộc sống, khác xa một sản phẩm được tạo ra bởi năng lượng của máy móc vô hồn và lạnh lẽo, cái nào cũng giống nhau, nên tôi nghĩ tranh thêu XQ “rất rẻ”. Người ta có thể mua được chiếc tivi – một chiếc ôtô tại sao không thể mua một kỷ niệm - một ký ức - sự mộng mơ… để xây dựng một chủ thể phong phú với ngần ấy tiền, hay là đời sống vật chất đã nâng lên trở thành “biểu tượng của tinh thần”. Tôi không thể tin điều này, vì vậy tôi có khu vực triển lãm “Nghệ thuật bi thảm siêu hình” để chống lại điều này, gồm những căn phòng:
- Tin tức không từ đâu đến.
- Nhóm người bị ruồng bỏ.
- Cái chết nguyên bản.
- Giấc mơ người đất sét.
- Hang tam giác nơi bắt đầu sự trả thù…
Hiện nay nó là XQ Sử Quán. Đà Lạt Sử Quán đó là một lời cảm tạ nồng nàn nhất của tôi với thành phố mà bước đầu mình đã lập nghiệp, nhưng có những điều húy kỵ trong ngôn ngữ, tôi đành phải sửa lại (nó chỉ là cái quán kể về nghề thêu, được đặt trên Đà Lạt thôi mà). Vì lẽ đó mà bây giờ tôi có một cảm giác “lưu trú” trên mảnh đất của mình …
Tôi đi hơi quá xa, trở lại câu hỏi của chị : Lý do tôi hình thành XQ Sử Quán
8. Anh có bao giờ tiếc nuối khi giã từ nghề bác sĩ không?
Một bác sĩ khi mới ra trường anh ta phải mưu sinh sau đó mới làm giàu và danh vọng và sau nữa mới đạt đến sự trung thực giữa một bên là con bệnh, nếu chữa trị lành, cảm thấy trí tuệ ta làm chủ kỹ thuật khoa học. Về đạo đức, trả được con bệnh về với cuộc đời. Ngược lại thất bại: Trí tuệ ta cũng thất bại, đạo đức cũng chẳng lấy gì làm vui vẻ. Với tôi, người bác sĩ giỏi là người biết chọn ở “bờ thứ ba”. Và tôi không phải là người biết chọn “bờ thứ ba” thì không có gì lấy làm tiếc nuối cả.
9. Anh chị có thể giới thiệu qua về gia đình mình: anh chị được mấy cháu? Anh chị có tài lẻ gì? (Tất nhiên ngoài tài thêu và vẽ).
Tôi dựa trên truyền thuyết như thế này: Thượng đế tạo ra thế giới này 6 ngày, ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi, ngày thứ 8 ngài đuổi Adam và Eva ra khỏi thiên đường, ngày thứ 9 là ngày của con người. Có thể hủy diệt và xây dựng thế giới này. Bốn đứa con của tôi là ngày thứ 9 của tôi. Nó có thể hủy diệt hoặc xây dựng ngành nghề.
Có một lần tôi dẫn những đứa con của mình đi thăm một thợ thêu. Cô đang nấu “súp” dưới bếp. Tôi và những đứa con vào xem, “súp” tại sao không có thịt? Và tôi nói với con mình “súp” của thợ thêu nấu cho gia đình ăn không có thịt con ạ.
Sau đó, tôi dắt con mình nằm dài dưới gốc thông chơi trò chơi “vọc tâm hồn” bằng cách nhìn từ gốc đến ngọn, từ ngọn đến những đám mây và mây lang thang khắp trời. Trong cái sự tràn bờ tâm hồn đó, tôi nói với con mình: “Sau này ba không cần con phải làm giám đốc học nhiều bằng cấp, mà con hãy học cách làm cho nồi súp người thợ thêu có thịt (…) và điều quan trọng hãy để cho tâm hồn chúng ta tràn bờ (…)”
Ông Võ Văn Quân cùng con trai.
------------------------------------
Nơi gặp gỡ của những giấc mơ.
“Tung đốm lửa vào lòng khe
Cháy bùng con nước đi về hạo nhiên
Lá xanh ngủ giữa thung triền
Sáng nay thức dậy một miền cố tri”
-----------------------------------

Bài học nghi thức đầu tiên của nghệ nhân XQ.
"Lỡ yêu bản sắc nghìn xưa
Lấy tâm làm áo gió mưa thấm màu".
----------------------------------

----------------------------------

Nghi lễ của nghệ nhân tại: Đền "Điều bí ẩn của chiếc khung thêu".
"Vô thức cháy bừng đốm lửa
Tro tàn trí óc nhị nguyên
Con cá bên hồ đớp bóng
Hóa ra trăng vỡ là thiền".
-----------------------------

Góc tịnh của thợ thêu tại: "Tịnh khuê các".
"Ta cúi xuống nhặt dấu chân trên cỏ
Thấy tiền thâm sương ướt áo chưa khô".
--------------------------------
DI TÌNH - CƠN ĐIÊN LÀNH MẠNH
(EMPATHIE)
Bức tranh thêu có một giây phút hòa hợp kỳ lạ với người thợ. Mọi trải nghiệm tâm linh sau này có lẽ đều xuất phát từ ký ức về trạng thái nguyên sơ ấy.
Bà Mẹ Và Trẻ Em
Đứa trẻ “là” mẹ nó đến mức độ nào và đối với nó, việc người mẹ cũng “là” nó có tầm quan trọng sống còn to lớn biết chừng nào. Do ảnh hưởng của một hiện tượng “Di Tình” tức là một thứ điên lành mạnh, bắt đầu thấy có vào khoảng tháng thứ ba trước khi sinh và còn kéo dài nhiều tuần sau đó, nên người mẹ có ảo tưởng rằng mình và đứa trẻ mới sinh là một. Về sinh lý, trong y học hiện tượng “Di Tình” có thể nhận thấy được qua sự gia tăng cholesterone trong cơ thể, và khi đứa trẻ chuyển từ trạng thái phụ thuộc tuyệt đối sang một trạng thái phụ thuộc tương đối thì nó giải thoát người mẹ khỏi trạng thái này.
Cảm giác này sâu sắc đến nỗi, nếu đứa trẻ bị mất đi trước khi giải phóng người mẹ khỏi trạng thái đó, người mẹ cứ bị hãm mãi trong trạng thái như vậy, mà chỉ thấy đau buồn thương tiếc đứa con khi một đứa khác đến thay thế nó trong bụng mình.

Nghệ nhân XQ bên lối vào đền "Di tình".
Đối Với Người Thợ Thêu Tranh:
Khi khổ luyện, với động tác và nhịp điệu thêu, nhằm mục đích và dẫn tới kết quả là đưa tinh thần trở về trái tim là để thấy trở lại trạng thái nguyên thủy trong đó con người “Tồn tại” theo như kiểu đứa trẻ sơ sinh, thấy trở lại trái tim và hơi thở gần nhất với cái “Bản ngã thật sự”.
Tác phẩm thêu là “Đứa trẻ sơ sinh” được hiện thân nhờ trái tim và hơi thở, còn người thợ thêu thì hành động hóa thân, có ý thức cao độ, trở về với trạng thái đơn nguyên thuở ban đầu. (…) … bắt đầu xảy ra hiện tượng “Di tình” của người thợ thêu (…).
Muốn cho nghệ thuật thêu tiến lên đừng nên lầm lẫn trạng thái tồn tại của đứa trẻ lọt lòng
“Một tác phẩm tranh thêu” với trạng thái tồn tại của người thợ thêu tin vào những điều huyền bí.
Có thể nói rằng: Khác nhau và giống nhau khi thưởng ngoạn tác phẩm tranh thêu như sau: “Bức tranh thêu như những vị thiên thần đang cầu nguyện”.

Nghi lễ tại: Đền "Di tình".
------------------------------
ĐỀN ÁO SỐNG - ÁO CHẾT
Câu chuyện của những người thợ thêu ngày xưa ở thành phố Đà Lạt này được truyền miệng lại rằng: Ngày xưa trên một bình nguyên cao, nơi đó chim muông, loài vật có thể trò chuyện được với nhau được ngự trị bởi hai vị thần linh: Thần Sống – Thần Chết.
Hai vị cho con người lên sống xây dựng trên vùng đất này. Ban đầu họ yêu thương, đoàn kết nhau, cùng xây dựng một mảnh đất sản sinh hòa bình vĩnh cửu. Với công việc hàng ngày của họ là từ bỏ tính hà tiện, tham lam, ghen ghét, hung dữ và kiêu ngạo. Đó là những điều cam kết ban đầu của họ với hai vị thần linh và được sự che chở của hai vị thần linh đó.
Nhưng theo thời gian, sự cam kết đó cũng phai nhòa làm cho hai vị thần nổi giận, vừa thương, vừa ghét. Nên họ quyết định hàng năm chọn một ngày để xuống chỗ con người: Thần Chết sẽ đem theo những sợi dây để buộc những con người không cam kết đó sẽ sống nghèo khổ, đọa đầy,… còn vị Thần Sống sẽ đem theo những sợi chỉ ban cho những con người cam kết được hạnh phúc, sự phồn vinh…
Đối với người thợ thêu, thế giới sống này vừa tối, vừa sáng cũng vừa sung túc và hạnh phúc – hòa bình nhưng cũng là nơi tồn tại bóng tối (hà tiện, tham lam, ghen ghét, hung dữ và kiêu ngạo).
Cuối cùng, việc dâng lễ và buộc chỉ ước nguyện tại đền “Áo Sống – Áo Chết” là hai mặt của một mong muốn vô vọng của người thợ thêu nhằm xóa bỏ dần những điều ác độc, mong muốn những điều hạnh phúc phồn vinh đến cho cuộc sống này .

Nghi lễ giặt Áo Sống- Áo Chết.
"Thần Chết sẽ đem theo những sợi dây để buộc những con người không cam kết đó sẽ sống nghèo khổ, đọa đầy,… còn vị Thần Sống sẽ đem theo những sợi chỉ ban cho những con người cam kết được hạnh phúc, sự phồn vinh…"
------------------------------
Ý NGHĨA CỦA TẤM THẢM THÊU

Nghi lễ bên "Tấm Thảm Thêu".
Tấm Thảm Thêu này mục đích chủ yếu là dung hoà thế giới của những hình bao quanh chúng ta với cách chúng ta nhận thức chúng, đưa chúng ta vượt qua cấp độ ý thức những hoạt động trong cuộc sống hằng ngày mà chúng ta đòi hỏi.
Với tôi “nghệ thuật thêu” không chỉ bao hàm một hình thức biểu hiện duy nhất, mà cả một tổng thể những phong cách và dạng thức tiếp cận khác nhau .
Với “tấm thảm thêu” này, nó là một chìa khoá mở vào thế giới của vô hình, có thể dùng tấm thảm này trong các nghi lễ, các cuộc lễ thức để thiết lập một mối giao lưu giữa con người với một thế giới tâm linh vốn không thể thâm nhập được bằng những con đường thông thường của tri thức.
Nếu không quy chiếu đến những gì tạo nên mục đích của tấm thảm thêu thì không hiểu được những ước lệ về phong cách của nó. Hình thêu không phải sự thể hiện một đối tượng mà là một tín hiệu của cái vô hình. Với nghệ thuật thêu của tấm thảm này, để cho mọi người hiểu rằng, cái đẹp của nghệ thuật thêu không phải là tấm gương phản ánh tự nhiên một cách nô lệ.
Xét cho cùng tấm thảm này chỉ là một cửa sổ mở ra một thế giới mộng mơ, trong đó những sự vật kỳ lạ tồn tại bên nhau trước một cuộc sống mà mọi sự vật đều giải quyết bằng khoa học và kỹ thuật…

Nghi lễ dâng Thảm thêu tại đền Áo Sống - Áo Chết.
----------------------------------
KHOẢNH KHẮC THIÊNG LIÊNG CỦA NGHỆ NHÂN

Nghi lễ "Rước phấn về cho hoa".
Quan niệm của nghệ nhân xưa kia: Cuộc sống chỉ là sự quá độ, mội cái đều phải cuốn vào chu kỳ triền miên của sáng tạo và tiêu vong của sinh tử, rồi lại tái sinh.
Vì vậy, mọi cái đều được nhận thức trong mối quan hệ cân bằng với cái đối lập của nó. Quá khứ đang ngấm vào hiện tại đã được hợp thành bởi không biết bao nhiêu là tầng lớp lắng đọng qua nhiều thế hệ…
Nghệ nhân xưa kia đặc biệt quan tâm đến các truyền thống xã hội và văn hóa. Truyền thống chỉ quan trọng khi nó là phương tiện tác động vào hiện tại. Vì vậy, tôn trọng truyền thống sẽ mang lại sự cân bằng và hài hòa trong đời sống xã hội.
Nghi lễ và nghệ thuật truyền thống thường phải đi đôi với nhau. Ta nhận thấy càng nhiều nghi lễ, sự tiếp xúc bằng mắt nó chỉ rõ khoảnh khắc thiêng liêng truyền cảm giữa nghệ nhân và thần linh, mà tinh thần được biểu hiện trong một vật nào đó của tự nhiên hay do con người chế tạo ra. Bất cứ một nơi nào đó hoặc một vật nào đó, khi đã làm cho nó “thanh khiết” thì đều được đón nhận cái tinh khiết: Một gốc cây, một mỏm đá, một bờ biển, một tác phẩm thêu, tấm thảm thêu, thậm chí là thân xác người chủ lễ hoặc nghệ nhân. Để tiếp xúc được dễ dàng với thần linh, những nghệ nhân và đồ vật trong nghi lễ phải được chuẩn bị kỹ càng .
Những vật thờ cúng sở dĩ không được bền vững do bản thân vật liệu được dùng (như đất sét, gỗ….) đã được kể lại trong rất nhiều truyền thuyết của văn hóa Việt. Đối với người dân xứ biển, tất cả đều từ biển mà ra, còn ở vùng núi và đồng bằng thì từ đất mà ra, và mọi sáng tạo đều phải trở về với nó (biển và đât) tức là về với Mẹ - người ban phát sự sống - sau khi vật thờ cúng được làm cho thanh khiết bằng lửa hay nghi lễ thiêng liêng. Vào dịp các lễ hội, nghệ nhân làm các vật thờ cúng, hình nhân vv… Sau đó rước diễu hành trong ngày hội đến bờ Sông hay Biển để được tiêu hủy trong nước. Cúng bái xong, thần linh đã được cầu khẩn “từ bỏ vỏ bọc của mình”, thế thì "vật phẩm" đó cũng hết giá trị.

Lối vào "Căn nhà người thợ thêu Đà Lạt".
Những bức thêu cầu phúc:
Ở Việt Nam, khu vườn và nhà ở là trung tâm của mọi tổ chức xã hội và nghi lễ của người Việt. Vị thần che chở cho hộ gia đình nói chung là nữ giới. Bà ta thường lo các việc trong nhà, bảo lãnh sức khoẻ và thịnh vượng cho mỗi thành viên trong gia đình. Họ định kỳ trang trí nhà cửa bằng đồ thêu hoặc tạo ra những vật phẩm trang trí hằng năm.
Họ không những trang trí trong nhà, mà còn ở mặt tiền hoặc cổng chính vào nhà. Các vị thần tốt hay xấu, cũng như người ở trong nhà đều ra vào cổng này. Đối với nghệ nhân, họ thêu những biểu tượng treo lên cổng vào nhằm phù hộ cho nữ thần và xua đuổi các thế lực tiêu cực. Mỗi một biểu tượng thêu là một lời cầu khẩn thần linh (Vẻ đẹp mẫu thêu chỉ là thứ yếu ).
Đây là một thứ trao đổi thầm kín chỉ sống trong thời gian sáng tạo. Khi đã làm xong, họ bỏ mặc cho mẫu thêu mục nát mà chẳng mảy may bận tâm.

Căn nhà "Lưu giữ thời gian".
Những mẫu thêu của bình minh:
Với nghệ nhân xưa, vào những thời điểm quan trọng trong năm (Lễ hội tôn giáo hay các sự kiện trong cuộc đời: Dậy thì, đám hỏi, đám cưới, mang thai, sinh nở, …v..v…) họ thường thêu những mẫu hình - phần lớn là hoa, cũng giống hệt các mẫu hình trên các khăn choàng, áo dài, drap giường, gối của họ.
Các bà, các chị thường khoe rằng họ chẳng bao giờ thêu lại lần hai một hoa văn bên bông hoa. Họ đã biến căn phòng thành một dãy phòng tranh nghệ thuật đầy những hoa văn đủ màu sắc. Nhiều người đã hoàn thành mẫu thêu trước mặt trời mọc, nếu chưa xong thì họ phải thêu lại đêm sau. Sau khi hoàn thiện xong, họ thắp hương và hát những âm thanh hơi chói tai (giống như chầu văn). Các bà, các chị gọi hồn thần linh “nhập” vào mẫu thêu và phù hộ cho cả nhà. Khi “sự tiếp xúc” (darshan) giữa các bà, các chị với thần linh đã được thiết lập thì buổi lễ coi như đã đạt được mục đích. Khi mặt trời mọc, họ lại thắp hương cầu khẩn vị thần đó “quy tiên”, và những mẫu thêu cũng mất hết giá trị.
Đối với toàn thể những người phụ nữ làm nghề thêu, những bức mẫu thêu mang tính thờ cúng này là một phương thức cổ truyền thể hiện cá tính của họ, một cách lên tiếng nói của nữ giới trong một nền văn hoá do đàn ông thống trị. Khi nối liền tâm hồn của nữ nghệ nhân với thần linh, những lời cầu nguyện này là một nhân tố cân bằng trong cuộc sống của chị, là cầu nối của chị với những người phụ nữ khác trên thế gian.
Trong nghi lễ, ta thấy được một điều - sự thông cảm với thần linh chỉ thoáng qua, cho nên những tác phẩm nghệ thuật và kinh nghiệm thu được cũng là phù du. Sự kết hợp nghệ thuật thêu với kinh nghiệm tạo ra một khoảnh khắc sủng ái và hài hoà trong một thế giới không ngừng biến đổi, một cuộc sống tôn vinh máy móc và cái hiện đại.
--------------------------------
NHỮNG CHIẾC ÁO NGƯỜI THỢ THÊU XQ THÊU CHO MÌNH

Nghệ nhân XQ với những bộ áo thêu trên đường phố Nha Trang trong "Hội thiếu nữ rước giấc mơ về Hòn Chồng".
------------------------------

Chiếc áo "Sương khuê bào".
Đêm ngồi khuya
Sương ướt khuê bào
Lòng vẩn vơ treo ngàn phương sao
Đã muốn chôn chân góc vườn này
Mà sao tâm vọng lưu phương ơi!
Nào ai hiểu
Mà nói ai hiểu
Ai nói đa và ai nói thiểu
Ngôn và lời bóng hạc đầu non.
------------------------------

Chiếc áo "Nhớ Mẹ".
Nửa đêm nhớ Mẹ, trùm chăn kín
Khóc một mình
Ôi ! Chỉ một mình con !
------------------------------

Chiếc áo "Hồn quê".
------------------------------

Chiếc áo "Sương sa".
Sử Quán lá vàng không chín lắm
Nên tơ trời nhả sợi giữa khung thêu
Ta muốn hỏi tri âm trời lận đận
Khóm cúc già bên dậu nở hoa chưa?
------------------------------

"Nắng giữa trưa trong veo
Thương con mèo rình bắt
Chiếc áo vàng thợ thêu".
-------------------------------
"Tương lai của con tôi phụ thuộc những gì tôi để con tôi lại cho tương lai."

Nghệ thuật sắp đặt và trình diễn "Văn hóa những đứa con của người thợ thêu".
“À ... ơi! Mẹ tôi hai tay cầm bốn tao nôi
Tìm hạt cơm khô!
À ... ơi! Chị tôi hai tay cầm bốn tao nôi
Tìm hạt cơm rơi!
À ... ơi! Em tôi! Em tôi nằm trong bốn tao nôi
Trăng mọc đầu nôi.
Làng tôi! Quê tôi! Bầu ơi! Thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".
KHÔNG BIẾT CHỤP HÌNH Không phải là cái tật. Mẹ tôi khi cầm máy chụp hình, chụp hình ảnh trên tivi trong khi xem, bảo tôi: “Mẹ có cảm tưởng là các trái tim không thương nhau nữa và tất cả câu chuyện về đầu tư phát triển này là một chuyện ảo tưởng, tan vỡ, trong đó tất cả mọi người đều tức tối – ganh ghét – đố kỵ nhau”. “Làm sao có thể chụp hình trên được?” – tôi nói.
“Người ta không nói đến nguyên nhân thất bại – không nói gì đến sự lãng phí – vì sao món nợ điên rồ đó mắc phải – những người trẻ tuổi và cha mẹ của họ không biết đến sự tồn tại của món nợ này, không biết đến hiện tại và tương lai của họ đang bị cầm cố.
Một bên là những con người không có quyền được thông tin gì cả và một bên có những con người nắm quyền định đoạt nhưng có thái độ im lặng hoặc ngạo nghễ và kiêu căng, không thèm nghe gì cả”.
Những bức ảnh này được diễn ra như thế đó, đã có một nền “Văn hóa im lặng”.
Mẹ tôi, bà đã suy nghĩ kỳ lạ…
Tôi quyết định đem những bức ảnh này triển lãm và ghi lại câu chuyện trên.
Trích nhật ký “Đứa Con Người Thợ Thêu”.
----------------------------------

Nghi lễ tại "Vườn Cấm".
Chúng tôi xin được trả lời thắc mắc này bằng một câu chuyện có thật của một người nghệ sỹ trong công ty chúng tôi. Anh ta kể, khi ra đời anh đã có một card visit “Đứa con của sự dan díu”. Khi đi học, có lần anh cãi nhau với những đứa trẻ khác, những điều anh cãi có lý, một đứa trẻ khác đuối lý đã chỉ vào mặt anh ta nói rằng: “Mày là đứa con không hợp pháp, ngoài vòng pháp luật hay đứa con hoang”.
Chính điều đó làm anh bàng hoàng và ngạc nhiên. Những năm sau giải phóng, lý lịch của anh ta đi học lúc nào cũng ghi rằng: Không rõ. Một lần anh đem câu chuyện này nói với mẹ mình, bà vuốt tóc anh và nói: “Con là một đứa con tội lỗi. Với mẹ, hôn nhân không phải là khuôn khổ của tình yêu. Cuộc đời của mẹ sống trong trật tự của truyền thống, phong tục, thời của thực dân. Mẹ không có tự do, mà tự do duy nhất mẹ có được là tại “Vườn Cấm” của nhà ngoại. Nhưng con ạ, điều quan trọng nhất không phải hỏi ta từ đâu đến mà ta sẽ đi về đâu?” Anh đã lần hỏi về gia phả của mình. Bố anh ta cũng là đứa con rơi. Rồi lên nữa, cuối cùng anh ta chỉ biết rằng: Tổ tiên của loài người là Adam và Eva. Anh không hổ nhục vì mình là đứa con của sự dan díu. Anh đã làm lễ cầu phúc cho những ngày đam mê của một người đàn ông và một người đàn bà đã vượt qua sức nặng của phong tục, sự áp đặt của người lớn để đạt đến một sự tương hợp, bỏ mặc một đường biên giới phi lý mà tình yêu là bản thể duy nhất, và với câu chuyện đó, ngày hôm nay chúng tôi dựng lại “Vườn cấm” để nói về tình yêu đó tại “Vườn Cấm”. Chúng tôi có dựng bức tượng “Chân dung tình yêu của người đàn bà”.
----------------------------------
CHƯƠNG III: NƠI SINH RA ĐỘNG TÁC VÀ NHỊP ĐIỆU

----------------------------------
NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG GIẤC MƠ

Phải đâu quê đá vô tình
Tảng nằm phiến đứng lặng thinh giữa đời
Đố ai thốt tiếng con người
Mà không tím tái góc đời quạnh hiu !
----------------------------------

Nhịp điệu đôi bàn tay
"Thêu không cần chiêu thức
Hành thêu giữa hư vô
Thêu không cần nội lực
Vẫn xuyên suốt hai bờ".
Mọi hoạt động trong đời sống của người phụ nữ nghề thêu đều bị chi phối bởi động tác và nhịp điệu.
Những động tác tự nhiên mang tính chức năng hay nghi thức nhịp điệu sinh học theo mùa hay theo sự vận hành của vũ trụ.
Nó đều kín đáo bắt nhịp cho mối quan hệ giữa họ với thế giới xung quanh và với bản thân của mình.
Trong khi đó, xã hội công nghiệp đã khẳng định ưu thế của trí tuệ đối với cơ thể, của lý trí đối với trực giác. Con người phải thích nghi với thời gian đo bằng đồng hồ, chứ không phải thời gian sinh học. Thích nghi với những yêu cầu máy móc chứ không phải thiên nhiên. Từ đó con người làm chủ được vật chất, nhưng ngược lại con người cũng từ đó dần dần mất đi mối quan hệ với cơ thể của mình, với môi trường của mình và với đồng loại của mình.
Với người phụ nữ nghề thêu động tác nhịp điệu của họ với mục đích tìm kiếm lại những giá trị của cơ thể và giá trị của thiên nhiên. Cố gắng gìn giữ về một ý thức cộng đồng đã mất đi và những nghi thức tập thể lớn lao có thể được coi là những biểu hiện của một khát vọng về một thế giới bớt trừu tượng, bớt tách rời thân xác và bớt cá nhân chủ nghĩa.
Với động tác nhịp điệu, họ coi đó như một sự trở về với một cái gì đó rất cơ bản đối với đời sống con người và tin cậy rằng động tác và nhịp điệu có thể đem lại cho họ một cơ hội tiếp cận có một không hai Với một số chân lý cơ bản, với sự thông thái nguyên thủy là dung hòa thiên nhiên với văn hóa, cái linh thiêng với cái phàm tục, với con người và vũ trụ.
ĐỀN "VŨ KHÍ XÂY DỰNG HÒA BÌNH" VÀ ĐỀN "CHỮ NHÂN THƯỜNG"

Nghi lễ tại: Đền "Vũ Khí Xây Dựng Hòa Bình".
Chiến tranh là sự hủy diệt bởi bom đạn (được làm ra bởi kim loại). Nhưng còn đối với người phụ nữ nghề thêu, sử dụng kim loại là cây kim để thêu dệt nên giấc mơ của con người.
Cây kim sợi chỉ bao năm
Mẹ dạy từ thuở còn nằm trong nôi
Ước gì thêu được bài thơ
Cây đa bến cũ con đò còn đưa.
--------------------------------

Nghi lễ tại: Đền CHỮ NHÂN THƯỜNG.
-----------------------------------
ĐIỀU BÍ ẨN CỦA CHIẾC KHUNG THÊU
Để hiểu rõ ý nghĩa những động tác và nhịp điệu thêu, cần biết về những trục và những mặt phẳng, coi như căn cứ tương đương với cấu trúc cơ thể con người. Theo nền văn minh của nghề thêu cho rằng trung tâm sinh tử của thân thể con người nằm ở giữa ruột ngang với rốn, đó là giao điểm của ba trục cổ điển dùng làm căn cứ:
Động tác và nhịp điệu kỹ thuật của xã hội hiện đại ngày nay biến những nguyên liệu thô thành sản phẩm và đồ dùng.
Trong khi đó động tác và nhịp điệu sáng tạo trong nghệ thuật thuộc về lĩnh vực tượng trưng. Vầng hào quang của nhịp điệu người thợ sáng tạo tỏa sáng lên toàn bộ cuộc sống hàng ngày của họ và tô điểm cho cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn.
TRỤC TRƯỚC – SAU và PHẢI - TRÁI
Tạo thành một mặt phẳng cắt thân thể ở chỗ rốn và trải dài ra song song với bề mặt trái đất. Mặt phẳng này chủ yếu là mặt bằng của các quan hệ xã hội và liên hệ thiên nhiên của người thợ thêu.

Mặt bằng xã hội.
------------------------------------
TRỤC TRÊN - DƯỚI ( SINH – TỬ) TRƯỚC – SAU ( SÁNG – TỐI HOẶC THIỆN – ÁC)
Chính những trục này làm thành một mặt phẳng chia thân thể con người làm hai phần đối xứng: phải và trái gọi là “Mặt Bằng Trung Gian”. Con người soi bóng vào đó trong tư thế nhìn nghiêng và chiếm một diện tích hẹp hơn. Hình chiếu của cột sống không bao giờ thoát ra mặt bằng này, không nghiêng được sang phải, cũng không nghiêng được sang trái, mà chỉ khum về phía trước hay phía sau. Cánh tay và ống chân khép lại với nhau trên bóng nghiêng này. Bàn tay và bàn chân sát lại nhau. Con người có thể cúi lom khom ngồi thấp, hay thu hình lại, cơ thể chồm lên phía trước, ngả phía sau hoặc đứng lên. Mặt phẳng trung gian là nơi người thợ cầm kim chỉ thực hiện động tác sáng tạo đóng vai trò chính.

Mặt bằng trung gian.
------------------------------------
TRỤC TRÊN – DƯỚI (SINH – TỬ) PHẢI – TRÁI (MẠNH – YẾU)
Làm thành một mặt phẳng song song với trán gọi là”mặt bằng trán của thợ thêu”. Trong mặt phẳng này thân thể của người thợ dọi bóng vào mặt bằng đó, thành một bóng nhìn thẳng chiếu một diện tích rộng. Trên mặt bằng này chỉ có thể là những động tác đung đưa sang phải, sang trái, nhảy cao, quay mình theo chiều ngang, xoay mình quanh “Trục sinh tử”.
Các cử động trong không gian này ít có tác dụng trong kỹ thuật thêu và quan hệ xã hội.
Trong các động tác thêu, sợi chỉ ở giữa hai cánh tay phải và trái được gọi là “rốn”. Sợi chỉ di chuyển lần lượt sang phải và trái. Khi thêu sai, người thợ thường dậm chân xuống đất như để dày xéo lên sức mạnh hủy diệt cái đẹp “chết chóc” bằng bàn chân. Thường người thợ thêu xưa khi tập thêu ở mắt cá chân thường có đeo kiềng nhạc để kêu gọi sức mạnh sự sống ở trên xuống. Thường động tác rung chuyển từ chân lên vai, lên đầu toát lên không trung để kêu gọi trời ban cho sức sống, sức mạnh niềm vui khi hoàn thành sáng tạo.

Mặt bằng trán.
-------------------------------------
CÂU CHUYỆN "CHIẾC KHUNG GÃY".

Chiều 20.01.2004, tại căn phòng Thẩm Mỹ Học Truyền Thống, một người thợ thêu mặc bộ áo dài lụa trắng tiến về phía tôi đang ngồi ngắm khung thêu. Nghề nghiệp của cô đã đi đến chỗ kết thúc, tiếp theo là những năm tháng dài trong nghĩa trang.
Như để báo trước sự kết thúc đó, cô đã làm một động tác đơn giản và kì quặc. Cô cầm lấy một chiếc ghế, ngồi xuống đối diện với tôi và nhìn chằm chằm vào tôi, một dòng điện thôi miên chạy qua. Một mối cảm thông bỗng bao trùm một cách kỳ lạ lên tôi. Cô bắt đầu cử động làm những động tác thêu, cô đặt một bàn tay vào không gian của sự sống, không gian của sự chết, của đau khổ, ứng tác một cách bí ẩn, một khúc tưởng niệm, một thông điệp với cuộc đời này.
Đó là câu chuyện buổi chiều của một người thợ thêu với tôi. Qua động tác bí ẩn bàn tay, họ đã phơi trần tâm hồn mình. Tôi mong muốn ghi lại những điều đó tại đây, nơi người thợ thêu đã ra đi vĩnh viễn.

Chiếc khung thêu - Nơi người thợ thêu đã ra đi vĩnh viễn.
-------------------------------------
NGHI THỨC TRÀ
Nghi thức trà của nghệ nhân XQ dựa trên những nhân tố nghệ thuật, thẩm mỹ, văn hóa, đạo đức của người Việt Nam, nghi thức trà có vai trò quan trọng trong việc cấu thành yếu tố tinh thần, tạo cảm xúc trong công việc của người nghệ nhân thêu, rũ bỏ mọi phiền muộn, ưu tư để bắt đầu một ngày làm việc mới toàn tâm, toàn ý để sáng tạo, thêu dệt nên những tác phẩm tranh độc đáo chất chứa những câu chuyện huyền thoại về quê hương, về cuộc đời mang tính triết lý nhân sinh. Qua nghi thức trà của nghệ nhân quý khách sẽ nhạy cảm hơn với nghệ thuật tranh thêu truyền thống, ở đó mỗi nghệ nhân không chỉ khéo léo với đôi bàn tay mềm mại mà còn là một nghệ sỹ làm đẹp cho cuộc đời bằng chính tiếng nói tâm hồn người Việt Nam.

Bàn trà: "Tri Kỷ Không Về Ta Với Ta".
-----------------------------------

Nghệ thuật pha trà.
"Kiếp vốn tha phương
Cố quận bao giờ
Mà tình thầy nghĩa đệ
Có nhớ nhau
Xin cạn một chung trà
Đời chỉ đẹp khi ta còn giọt lệ
Đời khổ đau nên sinh – tử – tình – ca…"
----------------------------------

Nghệ thuật "Thưởng trà".
“Thả chút mộng vào chung trà
Hớp một nửa thơ bảo ta để dành
Nửa kia gợi thức năm canh
Mai sau viết chữ non xanh quê mình”.
----------------------------------
NƯỚC THANH XUÂN
Truyền thuyết kể lại nguồn gốc của nước đó rằng:
“Ngày xưa, đã lâu lắm rồi, khi con người đến cư ngụ trên một vùng núi cao xinh đẹp, mặt trời và mặt trăng muốn cho họ một thứ thuốc trường sinh bất tử, bèn phái đến một người hầu vào đêm sang mùa, người hầu xuống mặt đất với 2 cái thùng, một cái đựng thuốc trường sinh bất tử còn cái kia đựng nước chết. Mặt trăng và mặt trời ra lệnh với người hầu cho con người tắm nước bất tử và cho con rắn tắm nước chết. Trong khi người hầu mệt nhọc vì chuyến đi quá dài, đặt đôi thùng ven đường để đi tiểu tiện thì một con rắn lớn xuất hiện và bò vào tắm trong thùng nước bất tử. Rầu rĩ, người hầu bèn cho con người tắm nước chết và trở về trời. Khi người hầu tường trình đã thi hành nhiệm vụ như thế nào, Mặt trời nổi giận lôi đình và bảo “lỗi của mi đối với loài người là không sao cứu vãn nỗi…. ”
Từ đó, rắn mỗi lần lột da lại sống lại, còn người già thì chết. Tuy nhiên các thần linh rủ lòng thương muốn giúp con người nếu không được sống vĩnh viễn thì chí ít cũng có thể trẻ lại đôi chút. Vì vậy hàng năm, vào cái đêm trước ngày sang mùa mới, các vị gởi nước Thanh Xuân từ trên trời xuống. Cho nên đến tận bây giờ, vào lúc bình minh của ngày hội đầu mùa người ta vẫn múc nước Thanh Xuân ở giếng hoặc nguồn suối cao về cho gia đình uống và tắm.”
Vậy dòng nước Thanh xuân, dù chảy ra từ chân núi, hay phun lên từ giếng gia đình, đều có nguồn gốc từ thế giới bên kia, nó đi từ thiên giới mong đến một thế giới vừa tối vừa sáng, vừa sung túc và bất tử nhưng cũng là nơi an nghỉ người chết ở phía bên kia biển.
Truyền thuyết còn kể lại rằng, trong số những người uống nước thanh xuân đó, nếu dòng chảy vào trí tưởng tượng, thì hẳn người ấy sẽ trở thành một người đoán mộng, một thầy bói hay là nhà lập pháp. Còn nếu dòng nước thanh xuân chảy vào trí tuệ, con người đó sẽ trở thành một nhà thông thái hay một người chuyên nghiên cứu về lý thuyết. Và khi dòng nước thanh xuân chảy đều vào cả trí tuệ lẫn trí tưởng tượng thì con người sẽ trở thành một nhà tiên tri lỗi lạc.
Cuối cùng việc sám hối và uống nước phép là hai mặt của cùng một mong muốn vô vọng, xóa bỏ dấu vết tàn phá của thời gian và đưa vào trong thế giới loài người. Một chút vĩnh cửu vốn là đặc hữu của các thần linh.

Thiếu nữ XQ rước nước "Thanh Xuân" về pha trà.
------------------------------------
NGHI THỨC LẶNG LẼ

Chờ sương bên "Vườn tri kỷ".
Giọt sương ngủ chái thơ này
Mộng làm thi sỹ tháng ngày rong chơi
Chợt nghe điệu lý điệu hò
Bàng hoàng tỉnh giấc quên giờ hóa thân.
-----------------------------------

Lối tịnh tại XQ Sử Quán.
Đêm thu cao hứng quét vườn
Bóng trăng bóng lá chẳng chừa quét luôn
Lại còn quét cả mù sương
Trăng ơi! Trăng hỡi, vương thương chút tình.
---------------------------------------
NGHE HƠI THỞ TIẾNG MƯA

Góc phòng nghe "Hơi thở tiếng mưa".
---------------------------------

Thợ thêu đệm bản giao hưởng thiên nhiên.
"Thiên nhên là một bản giao hưởng tuyệt vời, có lẽ Thượng Đế tạo ra vũ trụ này bằng một bài thơ".
Danh ngôn.
-------------------------------------
NƠI NGẮM CÁC VÌ SAO

Ngắm các vì sao bên cầu "Thủy Nguyệt".
“…Ôi! sự sống là con chim én nhỏ
Qua hiên tranh ngươi để lại bài thơ
Và bất chợt thiên đường nào hiện hữu
Để trần gian bước mãi giữa hai bờ.…”
-------------------------------------

“…Không tâm hứng giọt sương trời
Không tâm hoa cỏ lộc chồi tự sinh
Muôn đời giếng cũ lặng thinh
Lòng không dợn sóng mặc tình thế gian…”
-------------------------------------

Nghi thức tại "Vườn Thư Pháp".
--------------------------------
KHU VƯỜN " NGU NGƠ" CỦA THỢ THÊU XQ
Trước cuộc sống ồn ả hôm nay, trái tim hình như trở nên cứng rắn hơn, mọi khía cạnh của đời sống đều xoay quanh sự tăng trưởng – tiêu thụ - vật chất, tâm trí con người trở nên đày đọa. Tất cả những điều đó dẫn đến những con đường tai họa mà thực tế diễn ra hằng ngày.
Khu vườn “ngu ngơ” – nơi mà chúng tôi nuôi dưỡng lại sự ngọt ngào của trái tim, nuôi dưỡng lại chất thơ, tình yêu và sự nhạy cảm – lòng khoan dung… với sự tôn trọng vẻ đẹp của cuộc đời.
Câu thơ của người thợ thêu gởi du khách tham quan trước cổng khu vườn "Ngu Ngơ".
"Có khi tâm đá thốt lời
Để cho cỏ dại sống đời bình yên".
--------------------------------

Tập pha trà.
"Chim và giun dế du ca
Hôm nao ngứa cổ hót ra giọng vàng
Mây và thơ mãi lang thang
Hôm nao tắt lửa trần gian lạnh buồn…"
--------------------------------

Tập cắm hoa.
"Thơ làm không ra chữ
Nên thơ màu trong veo
Thơ vườn con bướm lượn
Thơ cười chiếc lá reo…"
--------------------------------

Tập viết Thư pháp.
--------------------------------------

Làm vỡ chum trà.
"Thương em mặt trắng lưng dài
Ngón tay tháp bút thêu sai nhiều lần
Nơi này cỏ mọc đầy sân
Nơi kia lớp lớp tấp gần đá xa…"
-------------------------------------
Trong góc vườn "CHIÊM BAO ĐƯỜNG TRẦN".

Cô thợ thêu "Ngủ quên bên bờ suối, mặc nước chảy vè đâu".
"Nắng giữa trưa trong veo
Thương con mèo rình bắt
Chiếc áo vàng thợ thêu..."
-------------------------------------

"Xa xa trên đầu gió
Con chim quên lối về
Chợt gặp vầng trăng nổi
Về làm chi mà về..."
-------------------------------------

Cô thợ thêu chơi trò " Vọc tâm hồn": Lắng nghe hơi thở của gió và tiếng rì rào trong lùm cây...
-------------------------------------

Nơi chờ "Sương giáng hạ".
-------------------------------------

Cô thợ thêu chờ "Trăng rụng".
Nằm nghiêng
Nghe hơi thở
Mặc nước chảy về đâu
Ta có chỗ gối đầu
Là mảnh trăng bên cửa.
-------------------------------------

Cô thợ thêu xem "Niềm vui và nỗi buồn" của cá.
Nằm nghiêng
Nghe hơi thở
Mặc nước chảy về đâu
Ta có chỗ gối đầu
Là mảnh trăng bên cửa...
-------------------------------------
CHƯƠNG IV: THẨM MỸ HỌC CỦA NGHỀ THÊU

------------------------------------------
NƠI GẶP GỠ CỦA NHỮNG GIẤC MƠ

Những bàn tay cam kết về những giá trị làm nên cuộc sống: Nghệ thuật – tình yêu – tình đoàn kết và văn hóa.
-------------------------------------------
TINH THẦN CỦA NGƯỜI THỢ THÊU TRANH
Trong nghệ thuật cổ truyền của người Việt có những vị: Cái bi hùng – cái hài hước– cái bi thiết – cái cuồng nộ – cái ghê gớm – cái tuyệt vời…
Đây là một hoạt động mỹ học của ngành nghề cũng như YOGA là sự khổ hạnh tinh thần dựa trên việc thực hành thoát ngã. Có một nhà nghiên cứu nói về nghệ thuật cổ truyền của người Việt:
“Mọi trí thức, mọi chân lý đều tuyệt vời và vô cùng, những thứ đó không phải tạo ra mà phải khám phá… ” . Nghệ thuật cổ truyền của người Việt không xuất phát từ quan sát và phân tích mà dựa vào suy tưởng và trực giác.
Quan niệm cái đẹp của nghệ thuật cổ truyền dựa trên sự phân biệt chủ yếu giữa Lạc và Phúc mà nghệ sỹ nghệ nhân cho rằng đó chính là bản chất của cái đẹp. Lạc là cá nhân và ích kỷ, ngẫu nhiên và tương đối. Còn Phúc thì mở cửa đi vào tuyệt đối và vô tận. Và nếu lạc thú thoáng qua thì phúc là viên mãn, cân bằng, bình yên. Cuộc đời sẽ không kết thúc bằng thiện thắng ác, người tốt thắng kẻ hung tàn. Tại sao? Những nhân vật chính không nhằm chiếm những ngai vàng trên thế gian này mà đích của họ là đạt đến sự hoàn thiện, đó là cách duy nhất để có một đời sống mai sau.
Đó là điều được phản ánh trên những tác phẩm tranh thêu XQ. Đó cũng là điều cần thiết ở một nền văn minh chúng ta, trong đó sự xung đột giữa tinh thần và vật chất được giải quyết bằng cái đẹp truyền thống.
Những truyền thống hiếu khách đang mất dần đi do công cuộc đô thị hóa ngày càng mở rộng, tình làng nghĩa xóm đang loãng ra.
Hiện đại hóa đang tàn phá những kiểu mẫu đời sống cộng đồng. Thành phố lớn rộng lên nhiều do dân số tăng, đồng thời cũng do các vùng nông thôn đổ xô ra không ngừng. Chủ nghĩa cá nhân đang thống ngự tinh thần cộng đồng.
Vì một lý do, hình thái gia đình rộng lớn đang dần tan rã, nhường chỗ cho gia đình hạt nhân (chỉ có vợ chồng và con cái). Sự lỏng lẻo đi của những mối ràng buộc thân tộc có khuynh hướng dẫn đến những thái độ vị kỷ. Lòng quảng đại và hào phóng trở nên ngày càng hiếm hoi.
Chính lòng hiếu khách vốn xưa đã từng là lý tưởng đóng góp nên sự thống nhất.
Ví dụ:
Ngày xưa, khách phương xa bao giờ cũng ngạc nhiên về các nghi thức diễn ra trước mặt mình khi đến thăm Đà Lạt. Bất kể giờ giấc, lý do đến thăm, địa vị xã hội của khách, trước hết người ta mời anh ta uống trà:
Bước vào ngôi nhà cũng kể như kết thúc một cuộc hành trình qua gió cát - phong trần - mệt mỏi.
Thường thường trà được pha theo kiểu: lá chè xanh nấu nước để ngâm lâu, rồi rót ra những chiếc bát, pha thêm nước nóng, chén trà vẫn đặt trên khay và mấy thỏi đường không bỏ vào trà – tùy khách họ sẽ bỏ vào lưỡi. Bao giờ cũng có sẵn những đồ ngọt để ăn như: mứt gừng, bánh cốm…
Cùng với chất vàng óng ấy, mỗi miền, thành phố có đặc sản riêng (như mùa nóng có dưa hấu, nhãn…).
Trò chuyện cũng theo một nhịp điệu nghi thức: thoạt đầu, hỏi thăm sức khỏe nhau, nhưng khi vào đề tránh những thông tin chẳng lành đợi lúc thuận hãy báo để đỡ gây xúc động mạnh. Tuỳ theo mức độ thân sơ người ta dừng lại ở những câu chuyện chung chung hay chuyển sang những vấn đề cá nhân hơn: người này, người nọ giờ ra sao? Khi câu chuyện xìu đi, người ta lại bơm lên bằng cách nhắc đi nhắc lại một câu hỏi sơ đẳng: “ông có khỏe không?...”. Xin đừng vội sốt ruột mà sai lầm đấy! Như vậy chỉ là để cho im lặng khỏi bao trùm, người Đà Lạt đã lấy nhiệt tình lấp đầy những lúc bên nhau…
Sau khi anh đỡ khát, người ta sẽ đem đến cho anh những đĩa quả khô, bánh ngọt, hoa quả đang mùa…
Người ta đã quyết giữ anh lại và mọi sự cố đều tốt. Hãy nếm hoa quả của chúng tôi rồi hãy đi! Làm sao mà từ chối được trước hàng loạt các thứ trái xếp hài hòa với nhau trông thật sướng mắt.
Chính truyền thống hiếu khách đó đã tạo nên tinh thần của người thợ thêu tranh. Nghệ thuật truyền thống chỉ có thể tồn tại trong nền văn minh của chúng ta nếu chúng ta ý thức sự đối chọi của những lực vĩnh cửu, giữa đam mê và trật tự, khí chất và cảm khái, cao hứng của tửu thần và chất mực thước của người từng trải.

-----------------------------------

Theo quan niệm của người Việt, thẩm mỹ học truyền thống là phương thức nhận thức cái đẹp. Cái đẹp chỉ được công nhận khi:
Đó cũng là thẩm mỹ học của XQ.

Khu vực "Thẩm mỹ học truyền thống".
Chim và giun dế du ca
Hôm nao ngứa cổ hót ra giọng vàng
Mây và thơ mãi lang thang
Hôm nao tắt lửa trần gian lạnh buồn.
--------------------------------
QUY TRÌNH SÁNG TÁC VÀ HOÀN CHỈNH MỘT TÁC PHẨM TRANH THÊU TAY

-------------------------------------
THẨM MỸ HỌC TRUYỀN THỐNG CỦA NGHỀ THÊU
SỰ GẶP NHAU Ở BỜ THỨ 3...
Mỗi một tác phẩm tranh thêu ra đời là sự kết hợp hài hòa sâu sắc giữa tâm hồn nghệ nhân thêu và họa sĩ sáng tác, hơn cả là vai trò chính yếu của nghệ nhân thêu, đó là sự sáng tạo liên tục của một tâm hồn nhạy cảm và của đôi bàn tay khéo léo tỉ mỉ để cho ra đời một "Linh hồn" mang cái thần sắc riêng của nó. Tuy nhiên, để hoàn thiện một bức tranh thêu tay xuất sắc, một tác phẩm nghệ thuật mang đúng nghĩa của nó không đơn giản chỉ là cách chọn và sắp những khối chỉ màu trong mối tương quan logic theo từng đường nét sẵn có, mà nó phải trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp và mất nhiều thời gian.
Người phôi thai cho từng tác phẩm tranh thêu là những tâm hồn đầy xúc cảm, đề thơ cho những nỗi niềm. Từ những mẫu vẽ của họa sĩ bằng chì đen trên mẫu giấy vẽ (giấy Calsone), qua bộ phận thiết kế mẫu, tại đây những họa sĩ khéo léo thiết kế lại mẫu vẽ lên trên nền vải Silk lụa hoặc Coton, tùy theo từng tác phẩm tranh mà người thiết kế phải chọn loại vải gì, màu sắc nền vải. Sau đó mẫu vẽ với những đường nét cơ bản màu đen trắng được chuyển giao đến một tâm hồn đồng cảm, một nghệ nhân thêu. Ở đây, nghệ nhân thêu phải sáng tạo với nghệ thuật bằng chính tâm hồn mình. Sự hòa hợp tinh tế màu sắc chỉ trong những đường nét thêu tạo vẽ mềm mại và sống động trên nền lụa. Và cũng vì sự kết hợp sắc nét trong kỹ thuật thêu tay, nghệ nhân chúng tôi có thể diễn đạt những điều cụ thể và trừu tượng, có thể dung hòa những hình ảnh xung quanh mình dưới cách đánh giá của nghệ thuật và đưa bản thân mình lên một bình diện cao hơn về nhận thức và kinh nghiệm để cho ra một tác phẩm hoàn thiện với đầy đủ các yếu tố về giá trị nghệ thuật và mỹ thuật. Vâng! đúng vậy, tưởng chừng như suốt cuộc đời sống trong bóng tối, mò mẫm các sự vật xung quanh, nhưng dưới ánh sáng của nghệ thuật mọi vật như có một chiều sâu, có một tỉ trọng khác, có được điều đó chính là nhờ vào sự sáng tạo và chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật.

Ban giám khảo chấm giải.
-------------------------------------

Tác phẩm đoạt giải.
-------------------------------------
LÝ LỊCH CÁ TÍNH

-------------------------------------

-------------------------------------
Trò chuyện với ông VÕ VĂN QUÂN - Chủ tịch HĐQT Công ty XQ Việt Nam
VỀ VIỆC THIẾT KẾ
KHÔNG GIAN VIỆT
Toàn cầu hoá đã đặt chúng ta ở ngã ba đường của hai thế giới. Chúng ta đang đứng ở giao điểm của ít nhất hai nền văn hóa, trong đó nền văn hóa của chúng ta bị yếu thế. Vì thế, chúng ta cần phải trình bày, đưa ra ánh sáng nền văn hóa đó. Nhưng nền văn hóa toàn cầu kia cũng là nền văn hóa đích thực, nền văn hóa mà ta cảm nhận hằng ngày qua môi trường sống, qua sách vở, qua phương tiện thông tin đại chúng.v.v.
Đó cũng là nền văn hóa của chúng tôi như một phần không thể tách khỏi số phận riêng từng cá nhân và tập thể trong đời sống. Vì vậy, chúng tôi tìm cách dung hòa – đó là điều phải làm chúng tôi gọi đó là “chủ nghĩa chiết trung” trong một thế giới hiện đại thông qua nghệ thuật tái tạo “không gian Việt” mà chúng tôi gọi là nghệ thuật trang trí trong căn nhà người Việt Nam.
- Thưa ông! Trên tư cách một người nghệ sỹ, ông nói có một nỗi thất vọng đang bao phủ nếu không muốn nói đang khủng hoảng tinh thần và lo âu. Thông qua nghệ thuật trang trí “không gian Việt” ông thể hiện mơ ước một sự vận động nào đó?
-Vâng! ở đất nước tôi với sự tiến tới nền văn minh công nghiệp, bởi sự năng động của Châu Âu – Châu Mỹ, tôi có những người bạn bên đó và họ đã hỏi: Tại sao còn nói đến sự đe dọa của phương Tây khi họ không có mặt ở đó, khi chủ nghĩa thực dân đã xoá bỏ và Việt Nam đã độc lập tự do?
Đất nước chúng tôi đâu có thoát một cách dễ dàng như vậy. Không phải vì chủ nghĩa thực dân đã xoá bỏ mà là nguy cơ tan vỡ của nền văn hóa Việt đã biến mất đâu. Mối hiểm họa còn đó: sự phát triển kinh tế – hiện đại hóa – đô thị hóa và sự hội nhập đất nước tôi và mạng lưới quan hệ thế giới… nó đang có nguy cơ tự xoay mặt lại với mình. Điều đó không có nghĩa là không nên hội nhập, nhưng khi mở cửa ra thế giới phải mở to mắt nhìn vào hiểm họa đó. Chiếc lá chắn của một nền độc lập chỉ về mặt nào đó (…), không kèm theo độc lập về văn hóa, coi chừng đó là một lá chắn hão huyền không tin cậy cho sự an toàn. Đất nước tôi đã chứng kiến và trải qua những cuộc phiêu lưu “ ngàn năm đô hộ giặc Tàu, trăm năm đô hộ giặc tây”. Vì vậy “nhiệm vụ của người tốt phải đóng góp cho đất nước dù rằng rất nhỏ nhoi”- lời cụ Tố Hữu dặn tôi khi thăm XQ Sử Quán – Đà Lạt. Tôi dù không đủ khả năng vẫn muốn tổ chức “không gian Việt” - nó chỉ là một tiếng hát của những người nghệ nhân – nghệ sỹ XQ, bằng nghệ thuật truyền thống của mình, mơ ước tìm lại bầu nhựa sống trong văn hóa quê hương dù rằng nhỏ nhoi, không có khả năng nhưng im lặng đó là một sự đồng lõa không tha thứ được. Trên tư cách một người nghệ sỹ tôi cũng xin kể một truyện ngắn: khi thiết kế khu vườn “tri kỷ người Việt” tôi có trình bày trước một số cử tọa quản lý văn hóa mới tinh và thành thật thú nhận rằng họ kém hiểu biết về thế giới – về tương quan lực lượng – về chính họ và về trách nhiệm không thể đảo ngược. Tất cả họ đều phản đối tôi “nói chuyện trời sập” tôi không oán hờn, không giận dỗi mà chỉ thấy nỗi cô đơn không thể tránh khỏi và chính nỗi cô đơn đó tôi đã dựng đền “Tri kỷ không về ta với ta” tại Sử Quán.
- Ông có cho rằng “không gian Việt” là một tham vọng lớn và sẽ chết yểu trong tương lai và ông đã sử dụng sản phẩm gì cho không gian đó?
- Ai đó đặt tôi sao cũng được, cho sao cũng được, …nhưng đối với tôi, “không gian Việt” đã tạo cho mình một cảm tưởng là đang đi giành lại một điều gì đó: Tên tuổi của nghề thêu, đất nước tôi và kể cả chính bản thân của tôi. Công cụ chủ yếu của chúng tôi là sản phẩm của ngành nghề thêu truyền thống. Đối với nhà văn, nhà thơ công cụ của họ đó là ngôn từ. Sản phẩm thêu, đó là cái chứa đựng sự sống nó không những có chức năng sáng tạo mà còn có chức năng khám phá. Khám phá là gì? Là khuấy động các dòng suối trái ngược nhau của tâm hồn Việt, một cái nhìn xoáy vào chỗ tận cùng sâu thẳm của sự tha hóa “kinh tế thị trường” mà tôi đã dàn dựng tác phẩm như:
- Kẻ nhân danh đạo lý thị trường.
- Người xem phim.
- Hang tam giác nơi bắt đầu sự trả thù.
- .v.v.
Mà mọi người đều biết hiện thời đã bị phá bỏ.
Và thậm chí có người cho tôi là đang tham gia vào cuộc cách mạng văn hóa – kệ họ. Tất cả chúng ta đều phải bước vào một khởi đầu mới, một khởi đầu vì đất nước, vì hiện thời cuộc sống có nhiều khởi đầu giả tạo, còn đối với chúng tôi đó là sự khởi đầu thực sự trong nghề nghiệp của mình hoà nhập cùng thế giới. Ký ức, những điều bị chôn vùi, tất cả đều được khai quật, công bố, nở rộ .v.v. trong một thế giới toàn cầu, tôi cho rằng đó là tín hiệu quan trọng trong văn hóa.
Sự tồn vong của “không gian Việt” phụ thuộc vào khả năng nghe được tiếng nói đó. Rõ ràng trong sự toàn cầu hóa mà chúng ta đang sống, việc nghe tiếng nói của nghệ thuật truyền thống đã bị giảm sút. Nhưng càng ngày người ta càng thấy rõ đó là tiếng nói duy nhất còn tràn đầy sức sống và nhờ đó chúng ta có thể xây dựng và kiến tạo trong căn nhà của mình, đất nước của mình.
Với “không gian Việt” đây là một khái niệm mà chúng tôi không bao giờ quan niệm cái đặc thù của chúng tôi là sự đối lập, là đối thuyết của phổ biến. Đối với chúng tôi tiếp tục tìm kiếm bản sắc là một điều hết sức quan trọng. Và đồng thời khước từ “chủ nghĩa hẹp hòi”. Mối quan tâm của chúng tôi là sự quan tâm có tính nhân văn và chúng tôi mong muốn nó bắt rễ trong chúng tôi, nhân viên chúng tôi và bắt rễ sang người khác thậm chí cả người nước ngoài. Tôi nhớ một lần khi làm ăn với đối tác nước ngoài tại Anh Quốc, anh ta nói rằng muốn tranh thêu trở thành phổ biến thì phải bỏ “XQ Việt Nam” tức là phủ nhận mình là người Việt Nam. Còn tôi thì trái lại “càng làm người Việt Nam bao nhiêu, thì chúng ta càng phổ biến bấy nhiêu”
Đặc thù mà chúng ta nói ở đây là đặc thù được dung hòa với cái chung. Đối với tôi không hề có sự giam cầm trong lòng một đặc thù.
Đặc thù nghĩa là bắt rễ cắm sâu nhưng cũng là sự chuyển tiếp, chuyển tiếp tới cái phổ biến...

Căn nhà Việt.
-------------------------------------

Bảo tàng hoa.
-------------------------------------
NHỮNG NGHỆ THUẬT THÊU ĐẶC SẮC
NGHỆ THUẬT THÊU TRANH CHÂN DUNG

Nhóm nghệ nhân thêu tranh chân dung.
-------------------------------------
KHUÔN MẶT XA LẠ
Những bước thực hành thoát ngã khi người nghệ nhân thực hiện một tác phẩm tranh chân dung:

Nghệ nhân đang thêu tranh chân dung.
-------------------------------------
GIÁ TRỊ CỦA MỘT BỨC TRANH CHÂN DUNG ĐƯỢC THÊU BẰNG TAY
Một bức tranh chân dung được tạo ra từ cảm xúc chia sẻ của một con người bằng xương bằng thịt - “Thời gian nghệ nhân” - nên bản thân của mỗi bức tranh chân dung thêu bằng tay có một đời sống tinh thần.
Bức tranh thêu được tạo ra từ một nghệ thuật truyền thống Việt Nam nên nó mang cảm xúc cho người xem. Mà người nghệ nhân chúng tôi gọi là “Hồn cổ tộc Việt Nam”… Và trở thành một giá trị thiêng liêng trong mỗi gia đình.
Độ bền của bức tranh thêu chân dung:“Lưu niên cổ đại ”. Bằng chứng là bức liễn thêu đời Lý – Trần còn lưu giữ tại chùa Bảo Quốc - Huế.
Tranh thêu chân dung được tạo ra từ nhiều xớ chỉ nên rất nhạy cảm với ánh sáng, từ đó tạo ra rất nhiều cảm xúc cho người xem. Bức thêu chân dung trở thành một nhân vật sống đối thoại với người xem mà nghệ nhân chúng tôi gọi là “Sự lãng quên không bao giờ đến”.

Chân dung Chủ Tịch Nước CuBa FIDEL CASTRO.
-------------------------------------
NGHỆ THUẬT THÊU CHÂN DUNG
BÍ ẨN CỦA KHUÔN MẶT
Thành ngữ phủ nhận tư cách làm người, từ chối không cho họ cái phẩm cách có được khuôn mặt riêng.
Như là: mất mặt – nhẵn mặt – không còn mặt người nữa – bị đánh vỡ mặt.
Điều đó nói lên tầm quan trọng nổi bật khuôn mặt trong sự nhận biết bản thân bên trong một quan hệ xã hội.
Để giữ thể diện, có thể nhìn thẳng vào mặt kẻ khác …v…v
Trong cuộc sống, khuôn mặt là nơi người ta nhận biết nhau – khi chúng ta đi, tay không và không che mặt đã phơi ra trước mắt mọi người những nét nổi bật có thể phân biệt được ngay con người với nhau. Nếu như thân thể là đường ranh giới giữa bản thân với bên ngoài và với người khác, thì khuôn mặt là bộ phận ở đó khắc sâu cái bản sắc đã đem lại cho từng cá nhân một ý nghĩa về mặt xã hội và văn hóa. Khuôn mặt thể hiện dưới một dạng sinh động hay bí ẩn, tính tuyệt đối của sự khác biệt của từng cá nhân, dù chỉ rất nhỏ những khuôn mặt người là những biến thể đến vô tận trên những sớ chỉ, hàng tỉ dáng vẻ sinh ra từ một bản chữ cái tối thiểu: mắt, mũi, trán, miệng …
Khuôn mặt liên kết con người với cộng đồng, thông qua những nét và cách biểu lộ được hình thành, đồng thời cũng khẳng định tính khác biệt và tính độc nhất của mình.
Trong mọi vùng thân thể, khuôn mặt là nơi tập trung những giá trị cao cả nhất. Là khuôn đúc cái ý thức về bản sắc, cũng là nơi định hình sự quyến rũ và muôn sắc thái của cái đẹp – xấu xí. Giá trị của nó cao đến nỗi nếu nó bị một vết thương làm biến dạng đi, thì con người sẽ cảm nhận nó như một thảm kịch, gần như một sự tước đoạt mất bản sắc. Xã hội ngày hôm nay coi trọng cá tính con người thì giá trị khuôn mặt càng lớn
Nghệ thuật thêu chân dung của XQ ra đời cùng lúc với sự xuất hiện tôn trọng cá nhân, rất chú ý thể hiện trung thành những nét đặc sắc của khuôn mặt, như trong một số tác phẩm thêu.

Nhịp điệu thời trái khoáy.
-------------------------------------
NHẬP ĐỀ THÊU CHÂN DUNG CỦA XQ
Có một sự tương ứng dễ gây bối rối giữa nhân cách con người và hình dạng khuôn mặt của họ, cho nên khi thêu khuôn mặt trở thành một thứ phát ngôn cho con người đó, một dấu hiệu hữu hình của cái nội tâm.
Trong nghệ thuật thêu chân dung XQ, hình ảnh về khuôn mặt với tư cách là nơi linh hồn chọn để cư trú, thường được thể hiện một cách đặc biệt khó tả, hình như thân thể tìm thấy ở đây cái tinh thần của nó.
Tầm quan trọng của khuôn mặt, cảm tưởng về sự đồng nhất được thể hiện rất rõ trong quan hệ các tình nhân bởi lẽ họ đặc biệt chú ý đến khuôn mặt lẫn nhau một nhà văn nói về khuôn mặt:
“Một dấu hiệu của tình yêu là lúc chúng ta say mê nhìn khuôn mặt người yêu, cái xúc cảm đầu tiên, không hề suy giảm mà kéo dài, làm ta thêm run rẩy, một cái nhìn trở thành sợi chỉ thêu dẫn dắt chúng ta vào trái tim của nhau”.
Những cái nhìn của những người yêu nhau luôn ở ngưỡng của một sự phát hiện và nuôi dưỡng một sự chờ đợi ấy. Khuôn mặt luôn là một nơi mà sự thật sắp được bộc lộ ra là một kho vô tận những ý nghĩa mới mẻ hoặc chưa được phát hiện, khuôn mặt giống như một vùng đất chờ được thám hiểm mỗi ngày. Và không nghi ngờ gì nữa sự kết thúc của một mối tình sẽ xảy đến khi mà các tình nhân nhận ra sự tầm thường trong khuôn mặt của nhau, và chẳng buồn tìm ra điều gì bí ẩn trong khuôn mặt đó nữa.
Vẻ mặt lại có tác động chủ yếu đến sự gặp gỡ giữa những con người. Khuôn mặt của người khác tạo ra “cái cảm tưởng đầu tiên” không dễ phai mờ: cảm tình, ngờ vực, tò mò, e ngại … Âm vang xúc cảm ấy, có thể nhận được ngay từ cái nhìn đầu tiên coi như đã định hướng cho những sự giao tiếp về sau. Cái “cảm tưởng qua tướng mạo” ấy trong năng lực phán đoán có phần yếu kém, nhưng lại là một nhân tố có thể thúc đẩy hay ngăn trở sự gặp gỡ với người kia.

Chiếc quan tài da tôi.
-------------------------------------
ẢO TƯỞNG CỦA THUẬT XEM TƯỚNG
Thuật xem tướng là buộc các khuôn mặt phải bộc lộ bí ẩn của chúng. Cho rằng cái bề ngoài phản ảnh thành cái bên trong của mỗi con người, việc xem xét các đường nét, ngay từ cái nhìn đầu tiên, có thể cho phép đánh giá những phẩm chất tinh thần của người đối thoại. Những ai đọc được dấu hiệu về mối quan hệ qua lại giữa linh hồn và thân thể - mối quan hệ đã biến khuôn mặt thành một thứ chữ ký tinh thần của con người - thì họ sẽ làm chủ được quan hệ với những người khác.
Thuật tướng số cố gắng xua tan điều bí ẩn của người khác, quy nó lại trong vài nét và đặc tính. Đồng thời cũng phát hiện, phơi bày cái linh hồn đằng sau cái vỏ ngụy trang của thân thể. Đó là VIỆC LÀM ĐÁNG NGỜ VỰC. Đưa tới một ảo tưởng về quyền chi phối sẽ trở thành một vũ khí đáng sợ trong tay những kẻ thực thi nó là một bộ môn khoa học.
Thực ra thuật xem tướng, không quan tâm đến khuôn mặt mà đến nét mặt, đến cái hình dáng được vẽ lên bởi những đường nét như: hình trán, vành môi, góc cạnh của mũi, vẻ nhìn … Để phỏng đoán tâm lý con người, để phát hiện nội tâm người đó, tâm tính, những thói xấu còn che dấu các ưu khuyết điểm, những bội bạc sẽ tới. Như vậy, xem tướng mặt đã khóa chặt bản sắc một con người trong sự sắp đặt những đường nét của người đó.
Tính chất hai mặt trong mối quan hệ giữa con người và khuôn mặt của họ, trên thực tế đã làm nản chí những kẻ mưu toan dựng lên một bản đồ về tâm lý con người trên những cơ sở những đặc điểm của khuôn mặt (sách thuật xem tướng hiện thời xuất bản bày bán các hiệu sách).
Tôi đã tự vẽ chân dung đầu hai mặt của mình chẳng hạn và tôi đã chụp khuôn mặt dưới nhiều dáng vẻ khác nhau (như chiếc quan tài da tôi). Khuôn mặt chỉ là một điều chỉ dẫn về người khác, không phải dấu hiệu nhận dạng về tâm lý. Người ta chỉ có thể biết người khác bằng cách gặp gỡ nói chuyện với người đó và chứng kiến những hành động của người đó. Khuôn mặt không phải là hình vẽ hình học đẹp cũng không phải một lắp ghép những nét nhận dạng. Cần có sự tế nhị và sự trìu mến khi tiếp cận nó. Và chỉ lúc ấy thôi nó mới cho thấy tính đa dạng của nó:
Khuôn mặt là một tình cảm.

Tác phẩm tranh thêu: ĐẦU HAI MẶT
-------------------------------------
TÂM SỰ CỦA NGHỆ NHÂN THÊU TRANH CHÂN DUNG

Một ngày nào đó giữa đám đông xa lạ, bỗng dưng có một cô gái chạy đến bên một quý ông và xin phép được ôm thì không biết quý vị sẽ nghĩ như thế nào, chắc có lẽ quý vị sẽ nghĩ rằng cô gái ấy bị tâm thần hay bị gì rồi mới có hành động và lời nói như vậy. Nhưng tôi cũng xin thưa với quý khách rằng đó là người nghệ nhân thêu tranh chân dung đặc sắc nhất của công ty XQ chúng tôi, bởi lẽ khi cô nhận thêu một bức tranh chân dung có nghĩa là cô đang gặp gỡ với một khuôn mặt thật xa lạ, nhưng sống với gương mặt đó quá lâu, thêu từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng nọ, đến nỗi gương mặt đó như thành thân quen như chính ruột thịt của mình vậy. Nhưng, vì cuộc sống mưu sinh cô phải giao trả bức tranh cho vị khách kia, thì ngay chính lúc này cô phải đối diện với sự phân ly, cô cảm thấy nhớ nhung, khắc khoải. Chính vì thế, khi gặp lại vị khách đó trên đường cô đã từ bỏ ý thức liêm sỉ, ý thức xấu hổ để chạy đến và xin phép được ôm.
Tôi xin được phép nói như thế này: Nếu như một ngày nào đó có một cô gái chạy đến bên quý anh đây và xin phép được ôm, thì xin anh đừng phản ứng gì cả mà hãy tặng cho cô gái ấy một cành hoa. Và bây giờ tôi xin phép được thay mặt chị nghệ nhân kia để kể cho quý khách nghe những nỗi niềm những tâm sự của người nghệ nhân thêu tranh chân dung thông qua nhạc phẩm khuôn mặt xa lạ.

Nghệ nhân XQ đang thể hiện tác phẩm "Khuôn Mặt Người Xa Lạ".
-------------------------------------
-------------------------------------

Đền "Tam Bất Hủ" tại phòng thêu tranh chân dung - Nơi lưu giữ những bức chân dung mà nghệ nhân XQ đã thêu.
-------------------------------------
CHÂN DUNG ĐƯỢC LƯU GIỮ TẠI ĐỀN "TAM BẤT HỦ"

-------------------------------------
LỄ THỤ PHÁP DÀNH CHO NHỮNG TÁC PHẨM THÊU TRANH CHÂN DUNG

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP.
-------------------------------------

Giáo sư, anh hùng lao động, nhà văn hóa Việt Nam ĐẶNG VŨ KHIÊU.
-------------------------------------

SƯ MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH.
-------------------------------------

Chủ Tịch Nước CuBa Ngài FIDEL CASTRO.
-------------------------------------

Ông VŨ MÃO - Ủy Viên Ban Chấp Hành TW Đảng, nguyên chủ nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội.
-------------------------------------

Ông DƯƠNG TRUNG QUỐC - Nhà sử học Việt Nam.
-------------------------------------

Ông TRẦN BÌNH MINH - Tổng giám đốc Đài Truyền Hình Việt Nam.
-------------------------------------

Ông TRẦN CHẤN UY - Đạo diễn Đài Phát Thanh Truyền Hình Tỉnh Khánh Hòa.
-------------------------------------
NGHỆ THUẬT TRANH THÊU HAI MẶT

Nhóm nghệ nhân thêu tranh hai mặt.
Buổi chiều nhìn nắng vàng qua trước ngõ
Phút thanh xuân thoáng chốc đã tà huy
Tiếng chim kêu tự cuối vườn ai đó
Thoảng trong không như báo triệu điều gì …
-------------------------------------
MỘT SỐ THUỘC TÍNH CỦA NGHỆ NHÂN THÊU TRANH HAI MẶT

Nghệ nhân đang thực hiện tác phẩm tranh thêu hai mặt.
-------------------------------------
Do đặc điểm của lịch sử Việt Nam, trang sử đầu tiên là cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước đã tạo ra truyền thống người đàn ông là chiến trận (ra đi), người đàn bà là lịch sử tâm linh (nhịp nghỉ - niềm tin của người ra trận). Vì thế vai trò của người phụ nữ hậu phương tạo một không gian vỗ về – an nghỉ – niềm tin – chờ đợi. Xuất phát từ nền tảng đó người phụ nữ Việt Nam truyền thống là trang trí nhà cửa bằng thẩm mỹ học của mình – của xã hội: Rèm – khăn – ra giường – gối…
Tranh hai mặt xuất phát từ rèm thêu mà người phụ nữ Việt Nam đã sử dụng để tạo một không gian trong gia đình êm ả, vỗ về, nhằm xóa bỏ những góc cạnh, gai góc trong tâm hồn người trở về.
Nên có thể nói rằng nguồn gốc tranh hai mặt luôn đi theo lịch sử dân tộc Việt Nam (có thể không xác định thời điểm).
Từ đặc điểm ý nghĩa của rèm thêu tạo không gian an ủi – vỗ về – êm ả - thanh thoát, ngày hôm nay đã được nâng lên chuyển thể thành nghệ thuật thêu tranh hai mặt.
Trước cuộc sống tất bật, vội vã và những kiến trúc đại sảnh vô hồn, tranh hai mặt ra đời đó là một khát vọng của người phụ nữ về không gian sống đầy “tính nhân văn” cho cuộc đời.

Tác phẩm tranh thêu : "Mãnh Hổ".
-------------------------------------
NGHỆ THUẬT THÊU TRANH PHONG CẢNH
Tranh thêu phong cảnh là sự đan quyện lấp lánh của những mũi thêu như suối trên những hình trang trí huyễn hoặc tạo ra một không gian những hình ảnh bất ngờ trên mỗi bức tranh, nó cũng đang phập phồng đời sống hữu cơ và còn đang cố đua tài với thiên nhiên. Những tác phẩm tạo hình người và cây cỏ đang hòa quyện vào nhau, chuyển hình thảo mộc sang hình động vật, làm cây biến thành thiên nga hay thành rắn… rắn biến thành con người, con người lại biến thành ánh lửa…
Tranh phong cảnh XQ bỗng sống động lên với một thế giới đầy cỏ hoa, loài vật, huyền thoại và người được thể hiện trong trắng đến nỗi tưởng chừng như đó là thời trước tội tổ tông truyền vậy.
Tác phẩm tranh phong cảnh phát hiện sự phóng khoáng của tính không đối xứng trong không gian mang lại những ý niệm mới và chuyển động trong không gian. Một lần nữa nó trở lại chiếm lĩnh trí tưởng tượng của một thế giới đang hướng tới sự đơn điệu và buồn tẻ.
(Nhóm Nghệ Sỹ - Nghệ nhân sáng tác và thêu tranh Phong Cảnh)
-------------------------------------

Nghệ nhân thêu tranh phong cảnh.
Buổi chiều nhìn nắng vàng qua trước ngõ
Phút thanh xuân thoáng chốc đã tà huy
Tiếng chim kêu tự cuối vườn ai đó
Thoảng trong không như báo triệu điều gì …
-------------------------------------

Nghi lễ của người nghệ nhân khi hoàn thành tác phẩm:" Vườn Tri Âm - Tri Kỷ"
“ Miên man ta đứng giữa sa mù
Nghe sương vỡ trên niềm đau của cỏ
Có ai nhặt màu nắng xưa rồi khóc
Còn riêng ta thêu lá tạc trăng vàng”
-------------------------------------
Như chúng ta thấy, con người có thể tự hoàn thiện mình bằng cách biến nơi họ ở thành phong cảnh, họ đem lại cho phong cảnh tính người, trước hết phát hiện ra nó, sau đó tạo ra các tín hiệu về cuộc sống của con người tại đó. Phong cảnh là một tấm gương , trong đó con người tìm thấy chính mình, tác động tới đồng loại của mình bằng những tín hiệu rải rác khắp nơi, tại thành phố hay các vùng nông thôn – tại nhà mình.
Như vậy, phong cảnh là sự tích tụ vật chất của ngôn ngữ đó tại các vật thể hoặc cảnh vật tạo nên mà cái chúng ta gọi là phong cảnh.
Bố cục của một bức tranh phong cảnh
Ngắm tranh phong cảnh là một hoạt động không đem lại lợi ích gì cho thương mại, và càng không phải coi phong cảnh như là một bức tranh “rỗng tuếch” không mang dấu vết con người. Người ngắm không chỉ đang đi vào con đường, leo lên một ngọn núi trừu tượng.v.v.. mà còn tìm đọc một cuốn sử được ghi chép trong các cuốn sổ với nhau. Trước tiên, có sổ ghi chép địa chất người sống ở đó họ leo trèo, đi đứng như thế nào trong địa hình đó, dùng công cụ gì đối với địa chất đó? Sau đó, đến sổ ghi chép thể thao: Những người đó đi lại những con đường đã được những con người trước đó khai phá. Họ đã dùng dự kiến thời gian chuẩn bị cho một cố gắng nào đó, và luyện tập ra sao cho thân thể có thể thực hiện động tác nào đó, sự nhào lộn nào đó. Còn sổ ghi chép thẩm mỹ mà chúng ta có thể gọi là “Bố cục phong cảnh” sự rèn luyện cảm giác, tinh thần cho phép những con người ở trong đó thưởng thức được hình dáng đặc biệt của núi non – nhà cửa – chùa chiền v.v, sắc thái của ánh sáng vào những lúc khác nhau trong ngày. Việc rèn luyện chu đáo thân thể cho phép họ “Khiêu vũ” không chút mệt nhọc giữa những địa hình hoặc say sưa quay lửng giữa trời.

Tác phẩm tranh thêu : "Thành phố của người thợ thêu".
-------------------------------------
NHỮNG TÁC PHẨM TRANH THÊU NIỀM TỰ HÀO CỦA NGHỆ NHÂN - NGHỆ SỸ XQ

Tác phẩm :"KHÚC HÁT NGUỒN CỘI" đạt kỷ lục Guiness Việt Nam về tác phẩm tranh thêu tay lớn nhất vào năm 2005.
“Sắc đào rạo rực mơ xuân cảnh
Cõi bụi bâng khuâng nhớ cội nguồn”.
-------------------------------------

Số lượng nghệ nhân thêu : 9 người.
Trưởng nhóm nghệ nhân : Trương Thị Kim Thanh.
Thời gian thêu : 8 tháng.
Kích cỡ: 270 x 330 cm.
Chất liệu: Chỉ BCT, tơ tằm, bóng và vải cotton.
-------------------------------------

Tác phẩm: QUÊ CHA ĐẤT TỔ.
“Sông xa nguồn có bao giờ tịch lặng
Dòng nước xuôi lưu lạc cả trăm miền”.
-------------------------------------

Số lượng nghệ nhân thêu : 2 người.
Trưởng nhóm nghệ nhân : Đặng Thị Hà.
Thời gian thêu : 4 tháng.
Ngày hoàn thành : 26 - 03 - 1998.
Kích cỡ: 100 x 190 cm.
Chất liệu: Chỉ tơ tằm, bóng và vải cotton.
-------------------------------------

Tác phẩm : VƯỜN HỒNG.
“Một thoáng trần gian trong cõi thực
Đôi chút hư vô giữa cõi không”
-------------------------------------
Số lượng nghệ nhân thêu : 6 người.
Trưởng nhóm nghệ nhân : Võ Thị Phú.
Thời gian thêu : 4 tháng.
Ngày hoàn thành : 26 - 02 - 2000.
Kích cỡ: 160 x 225 cm.
Chất liệu: Chỉ tơ tằm, bóng và vải cotton.
------------------------------------
Tác phẩm : "ĐÀ LẠT VƯỜN MƠ".
-------------------------------------

Giấy chứng nhận nghệ nhân HOÀNG THỊ XUÂN đạt một trong 10 nghệ nhân xuất sắc nhất Việt Nam với tác phẩm "ĐÀ LẠT VƯỜN MƠ".
Số lượng nghệ nhân thêu : 4 người.
Trưởng nhóm nghệ nhân : Hoàng Thị Xuân.
Thời gian thêu : 6 tháng.
Ngày hoàn thành : 11 - 05 - 2001.
Kích cỡ: 110 x 170 cm.
Chất liệu: Chỉ tơ tằm, bóng và vải cotton.
-------------------------------------

-------------------------------------
BỘ TRANH
CUỘC LŨ TÀ HUÂN
Một kiếp làm người đã mệt
Còn hơi đâu nghị luận không vời
Học yêu người suốt đời chẳng hết
Sự sống sao lại treo lửng giữa trời?

Tác phẩm: " Bức tranh dành cho người xem tranh".
-------------------------------------

Tác phẩm: "Bắt đầu một sự khai sinh".
-------------------------------------
Tác phẩm: " Kiếp người".
-------------------------------------

Tác phẩm: "Phản đề".
-------------------------------------

Tác phẩm: " Đi tìm bản sắc".
-------------------------------------

Tác phẩm: "Thăm bạn".
-------------------------------------
BỘ TRANH NHỮNG CON VẬT LINH

Tác phẩm: " Chúa tể của bóng đêm".
-------------------------------------

Tác phẩm: "Bước chân nghìn trượng".
-------------------------------------
Tác phẩm: "Đôi cánh bão tố".
-------------------------------------

Tác phẩm: " Bán anh hùng ca".
-------------------------------------
B. NGHỆ SỸ TRONG SÁNG TÁC TRANH THÊU

-------------------------------------

-------------------------------------
THEO DÒNG THỜI GIAN
Thời đại chúng ta đang mang dấu vết đậm của sự đối lập giữa khoa học và bộ môn “Nhân văn”. Thời đại của chủ nghĩa thực chứng ra đời lòng tin tuyệt đối vào tư duy thuần túy lý trí và tiến bộ đã khiến chúng ta quên mất, nếu không nói là coi khinh những khía cạnh chủ yếu của con người như cái vô thức và những huyền thoại vốn là nguồn gốc biểu hiện nghệ thuật, tức là phía ẩn bản chất con người.
Khách thể được khoa học thần thánh hoá như trung tâm vũ trụ và thay thế bằng chủ thể, con người bằng máu thịt. Trong đó con người không còn là người quan sát khoa học “vô tư“ mà là một bản ngã hiện thân trong mỗi cơ thể cái “Hiện thể phải chết” từ đó khơi nguồn cho nghệ thuật bi thảm và siêu hình, hình thức nghệ thuật cao nhất. Nghệ thuật phải phụng sự cho chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa siêu thực để cứu vãn cái hình ảnh đáng buồn đầy tính chất biếm họa về những cá nhân bị hòa tan trong khối đông đảo, trong đó sự bí ẩn của tâm hồn bị suy giảm thành những phát xạ có thể định lượng bằng vật lý học.
Với nghệ thuật sắp đặt - trình diễn, tấu trình tại khu vực Agora hay còn gọi là “XQ bày tỏ” nhằm biểu đạt những phấp phỏng tối tăm nhất của chúng ta về thượng đế, định mệnh, ý nghĩa cuộc đời, hy vọng… Nghệ thuật ở đó cố gắng trả lời những câu hỏi đó không chỉ bằng ý niệm mà bằng những biểu trưng và huyền thoại.
Nghệ nhân nghệ sỹ XQ không bao giờ đòi tách cái duy lý khỏi cái không duy lý, cảm năng khỏi trí năng, mơ mộng khỏi thực tế. Mơ mộng huyền thoại và nghệ thuật có chung một nguồn gốc trong cái vô thức. Với nghệ thuật sắp đặt trình diễn, chúng phát hiện một thế giới vốn không thể tự biểu hiện bằng cách nào khác. Yêu cầu chúng tôi giải thích tác phẩm của mình thì thật là ngớ ngẩn (Ai mà lại đi tưởng tượng Trịnh Công Sơn, Bùi Xuân Phái… phân tích bản nhạc, tác phẩm của mình).
Tham vọng muốn giải thích mọi sự “một cách duy lý” là dấu hiệu của cái tâm lý thực chứng phương Tây, đặc tính của thời hiện đại đề cao quá mức giá trị khoa học lý trí lôgích.
Nghệ nhân - nghệ sỹ XQ chúng tôi không lẫn lộn những mốt nghệ thuật với nghệ thuật tư tưởng. Trong sự vận động rộng lớn và bi tráng của các ý niệm có tiến, có thoái, có rẽ ngang hoặc ngược dòng.
-------------------------------------

-------------------------------------

Tác phẩm: "Nghệ sĩ và bản Tango cuối cùng"
-------------------------------------
Người nghệ sỹ trong cuộc du hành xuyên qua cuộc sống, anh đã bồi bổ khiêu động các hoài niệm say sưa tinh tế. Gia tăng sức mạnh, thắp sáng niềm vui, anh đã khẳng định, giáng phúc, hóa thánh cuộc đời, một xây đắp cao ngút cho tình cảm. Nhưng bất hạnh thay, người nghệ sỹ luôn gặp những bức tường thành của những con người quá thực chứng, dựa dẫm vào kinh tế thị trường quá đáng nên họ đánh giá cao khoa học kỹ thuật, đã đưa cuộc đời này vào quá trình trừu tượng hóa, duy lý hóa nên họ đã lạc đường theo hướng núi của bằng cấp toán học. Hình tam giác là sắt thép, logarit là năng lượng hạt nhân kết hợp với hình thức trừu tượng nhất của quyền lực kinh tế. Cuối cùng tạo ra cỗ máy ma quỷ, trong đó con người trở thành bánh xe vô danh tiểu tốt. Khiến những con người bằng xương bằng thịt cảm thấy càng cô đơn, cô đơn tại nhà mình, cô đơn trong cuộc sống này và họ không còn ý thức được cái thiêng liêng nữa..
Cái giá ghê gớm phải trả cho việc loại trừ những thế lực vô thức của người nghệ sỹ trong mỗi con người: những vị thần linh vô thức giấu mặt đã trả thù dưới dạng xì ke, ma túy, giết người, bạo dâm… Đó không phải là vấn đề phạm tội ngày càng tăng mà người đời hay tưởng nhầm… Vì thế tôi van anh em, bằng tình yêu và hy vọng ở cuộc đời này, đừng giết con người nghệ sỹ nằm trong anh em. Không phải là bản tango cuối cùng đâu anh, hãy nhiều nữa đi để đưa con người vào những hoài niệm say sưa tinh tế, để chiến đấu chống lại sự trả thù của những vị thần linh vô thức đang tàn phá cuộc sống này…
Kính tặng người nghệ sỹ còn sống trong anh.
-------------------------------------
NGHỆ THUẬT HÒA NHẬP
"Hành trình về với thiên nhiên"
"Bị ám ảnh bởi nguy cơ mọi sinh vật trong thiên nhiên sẽ biến mất, nghệ nhân - nghệ sỹ XQ biểu thị mỗi lo lắng của mình qua những tác phẩm nghệ thuật: Biểu thị những đám mây - giữ lại tiếng gió của năm tháng - hành trình của một chiếc lá rơi - tiếng than của một con chuồn chuồn - vị đắng của loài hoa dại.
Qua những tác phẩm nghệ thuật này, nghệ nhân - nghệ sỹ XQ cố gắng nắm mắt bằng thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác: như là một tác phẩm nghệ thuật hoàn toàn, một không tưởng từ thiên nhiên mà ra và trở về với thiên nhiên.
Những không tưởng tiềm tàng ẩn trên mỗi lá rừng, trong mây và trong gió...là những người nghệ sỹ chỉ việc đón nhận chúng, giải thoát cho chúng khỏi sự vô danh, với một lòng tin "Ngớ Ngẩn" vào sự không tưởng. Thiết lập thơ ca trên dòng sông tàn nhẫn của thời gian."
Trích nhật ký nghệ sỹ XQ tháng 05.2004

Tri kỉ không về. Ta với ta.
“Ta ngồi mãi giữa hư vô lòng núi
Bỗng thấy chiều hớt hải đuổi theo mây
Khối thời gian rơi vào triền đá lặng
Hiện tại nào mất hút ở đầu cây”
-------------------------------------
NGHỆ THUÂT HOÀI NGHI
"...Để giữ được một niềm tin sống động là có những thứ đẹp đẽ, những thứ còn có ý nghĩa trong cuộc sống này, để không ngừng lôi cuộc sống ra khỏi tâm trạng tự mãn, để thức tỉnh trí óc con người phải cảnh giác và không bao giờ nói đồng ý mà không suy nghĩ..."

"TA LÀ AI?"
"Chúng ta từ đâu đến cuộc đời này
Hốt nhiên hai vai công trái đất
Bước đi cô liêu, khách dạ hành cô độc
Tìm kiếm gì năm tháng rớt quanh đây?"
-------------------------------------
"Chỉ sống thôi chư đủ mà chúng ta cần đặt ra những câu hỏi về cuộc sống. Đã là con người thì không ngừng tìm kiếm tất cả những gì đem lại ý nghĩa cho cuộc sống của mình và cho nhiều người. Chính thời điểm đó mà văn hóa là khía cạnh then chốt trong bước tiến hóa của bất kì nghề nghiệp nào, bất kì xã hội nào hướng đến chỗ xã hội công bằng văn minh hạnh phúc. Vậy thì người nghệ sỹ có vai trò gì trong quá trình đó?"
-------------------------------------

Tác phẩm sắp đặt: "Kẻ nhân danh đạo lý thị trường"
-------------------------------------

Tác phẩm sắp đặt: " Những chiếc hộp cất giữ tinh thần người nghệ sỹ"
“Ngôn ngữ của các tác phẩm nghệ thuật tại XQ không chỉ là sự “Ngành nghề biểu đạt” mà còn là “Điều bí mật xin được chia sẻ”, hiểu được như thế chúng ta đến với nhau trong một tinh thần cởi mở và hiếu kỳ hơn là một hoài nghi và bác bỏ.”
-------------------------------------

Tác phẩm sắp đặt: "Hang tam giác - Nơi bắt đầu sự trả thù"
“Để giữ được một niềm tin sống động là có những thứ đẹp đẽ, những thứ có ý nghĩa cho cuộc sống này, để không ngừng lôi cuộc sống ra khỏi tâm trạng tự mãn, để thức tỉnh trí óc con người phải cảnh giác và không bao giờ nói đồng ý mà không suy nghĩ, người nghệ sỹ trước hết phải trung thành với lương tri của mình, trước sự trung thành với “nhân dân”. Đây là điểm chủ yếu muốn lương tri ấy minh mẫn và mạnh mẽ, nó nhất thiết phải giao hòa với người khác, với “nhân dân”. Với các con người trong nghề nghiệp phải được rèn luyện trong hành động và những phát hiện cá nhân anh ta. Khi đó sẽ dẫn đến sự dấn thân hoàn toàn và tự nguyện vào trong lịch sử đã qua, hiện tại và tương lai của cộng đồng mà anh ta là thành phần.
Người nghệ sỹ trên phương diện đó không thể bị khoanh vùng hay bị ép buộc phải phục tùng một tín điều này hay một niềm tin kia. Chính trong sự khát vọng của mình, tình yêu quê hương xứ sở của mình mà anh ta gánh vác đầy đủ trách nhiệm của một con người. Người nghệ sỹ giữa quá trình khó khăn - nguy hiểm và say mê nhưng thông qua nó một ngành nghề với những người phụ nữ thấp bé sẽ tiến bước từ từ không gì có thể cưỡng lại nổi để đi đến phúc lợi – hạnh phúc – bản sắc của mình”.
Nghệ sỹ XQ Sử Quán
-------------------------------------
Tác phẩm sắp đặt: "Người xem phim"
-------------------------------------

Tác phẩm sắp đặt: "Không biết tin vào đâu"
-------------------------------------


Tác phẩm sắp đặt: "Niềm hy vọng của quê tôi"
-------------------------------------

Tác phẩm sắp đặt: "Thân phận kẻ lặng mạ và phản bội"
-------------------------------------

Đền thờ chiếc gươm gãy tại khu vườn " Hội chợ của những người bất tử"
“Một kiếp làm người đã mệt
Còn hơi đâu nghị luận không vời
Học yêu người suốt đời chẳng hết
Sự sống sao lại treo lửng giữa trời”
-------------------------------------

Tác phẩm sắp đặt: "Người xin giấy phép sống"
-------------------------------------

Tác phẩm sắp đặt: "Fash food"
-------------------------------------
“Tôi! Một kẻ yêu cuộc sống này, yêu thành phố này bất chấp những khiếm khuyết của nó. Yêu tình bạn, yêu sự hài hước và tiếng cười, nhưng trong thực tế một số chủ đề tác phẩm của tôi lại nói về vết thương, về những phản trắc muôn thuở của cuộc đời. Cái đó chẳng vui vẻ gì lắm nhưng thành thật, thành thật đó là cam kết của tôi với tư cách là một nghệ sĩ”.

Tác phẩm sắp đặt: "Điều bí ẩn của giọt nước trong cuộc sống"
“MỖI NGƯỜI CÓ MỘT THỜI GIAN ĐỂ NÓI VÀ MỘT THỜI GIAN ĐỂ LẮNG NGHE”
-------------------------------------
Tác phẩm sắp đặt: "Âm bản - Dương bản"
“Tôi! Một kẻ yêu cuộc sống này, yêu thành phố này bất chấp những khiếm khuyết của nó. Yêu tình bạn, yêu sự hài hước và tiếng cười, nhưng trong thực tế một số chủ đề tác phẩm của tôi lại nói về vết thương, về những phản trắc muôn thuở của cuộc đời. Cái đó chẳng vui vẻ gì lắm nhưng thành thật, thành thật đó là cam kết của tôi với tư cách là một nghệ sĩ”.
-------------------------------------

Tác phẩm sắp đặt: "Kẻ sáng tạo thần linh"
-------------------------------------
"Bạn có phải là một người nghệ sỹ không?
Bạn hãy mau mau đi đến những đỉnh núi cao nhất để hòa tan vào sự bất di bất dịch của thiên nhiên… Và rồi bạn hãy đi đến tận cùng sự khốn khổ của con người để thấy trái tim mình rung động…
Từ đó bạn sẽ hành động. Cuộc đời sẽ khóc cho bạn, trả lại những giọt nước mắt mà bạn đã khóc cho những người nghệ sỹ đi trước.
Nghệ sỹ là như thế đó”.
-------------------------------------

Tác phẩm sắp đặt: "Thân phận kẻ hoài nhớ tương lai"
“Sáng tạo là khổ hạnh
Trong đêm tối miên trường
Có đốm lửa vô biên
Cháy trên đầu ngọn bút”
-------------------------------------

"Hành trình của một đóa hoa"
-------------------------------------
NHẬT KÝ
“HÀNH TRÌNH VỀ XỨ SỞ MIỀN TRUNG”
CỦA NGHỆ SỸ XQ
Một lần sau chuyến công tác từ miền Trung quay về Đà Lạt, chúng tôi dừng xe tại một vùng đất khô cằn. Cuồng chân và muốn tránh tiếng ồn của xe, chúng tôi đi dạo vào một cánh đồng khô. Một người địa phương kêu chúng tôi. Anh ta đội cái mũ lệch, mặc chiếc áo len rách, tay cầm cây gậy. Tôi biết anh ta là gã chăn cừu. Tiến lại gần, tôi mời anh ta một điếu thuốc, chúng tôi ngồi im lặng trên bờ ruộng khô. Anh ta rít một hơi thuốc và cất lên một tiếng hát đẹp lạ lùng, chính xác một cách kỳ lạ. Tiếng hát xuyên cả bầu trời đến tận các vì sao. Một màu xanh bỗng bao trùm trên cánh đồng khô hạn. Với tiếng hát đó, tôi rất xúc động. Tôi thấy cả điều cứu rỗi, thông điệp, ân phước nơi vùng đất khô cằn với hai gã nhàn du trên chiếc xe con. Không có một cuốn sách nào, một bài diễn văn nào trước một thực tế của những con người tự hào về mảnh đất của mình. Một sự giao lưu giữa anh em chúng tôi với một bản sắc ở vùng đất khô cằn đó. Đây là một kỷ niệm mà anh em chúng tôi nâng niu mãi. Hôm nay, xin kể cho tất cả quý anh chị ở đây một trải nghiệm về âm nhạc của tôi từ những điều mà gã chăn cừu đã hát, thông qua “Bài Ca Khẩn Cầu Người Đất Sét” (Bài hát quê tôi…).
Những bài hát bình dị, những điệu hò, những bài thơ được chở trên những cánh gió bay đêm, nó thể hiện về bản chất của cuộc đời nhất.ột lần sau chuyến công tác từ miền Trung quay về Đà Lạt, chúng tôi dừng xe tại một vùng đất khô cằn. Cuồng chân và muốn tránh tiếng ồn của xe, chúng tôi đi dạo vào một cánh đồng khô. Một người địa phương kêu chúng tôi. Anh ta đội cái mũ lệch, mặc chiếc áo len rách, tay cầm cây gậy. Tôi biết anh ta là gã chăn cừu. Tiến lại gần, tôi mời anh ta một điếu thuốc, chúng tôi ngồi im lặng trên bờ ruộng khô. Anh ta rít một hơi thuốc và cất lên một tiếng hát đẹp lạ lùng, chính xác một cách kỳ lạ. Tiếng hát xuyên cả bầu trời đến tận các vì sao. Một màu xanh bỗng bao trùm trên cánh đồng khô hạn. Với tiếng hát đó, tôi rất xúc động. Tôi thấy cả điều cứu rỗi, thông điệp, ân phước nơi vùng đất khô cằn với hai gã nhàn du trên chiếc xe con. Không có một cuốn sách nào, một bài diễn văn nào trước một thực tế của những con người tự hào về mảnh đất của mình. Một sự giao lưu giữa anh em chúng tôi với một bản sắc ở vùng đất khô cằn đó. Đây là một kỷ niệm mà anh em chúng tôi nâng niu mãi. Hôm nay, xin kể cho tất cả quý anh chị ở đây một trải nghiệm về âm nhạc của tôi từ những điều mà gã chăn cừu đã hát, thông qua “Bài Ca Khẩn Cầu Người Đất Sét” (Bài hát quê tôi…).
Có những tác phẩm bất hủ ra đời từ tiếng sáo của người chăn bò, từ tiếng đàn guitar của gã du mục. Và có những tiết tấu âm điệu trở thành bất tử sinh ra từ nhịp đi và hơi thở mệt nhọc của người nông dân trên mảnh ruộng khô cằn.
Những loại nhạc sinh ra từ bụi đường thường rất dễ bị thiêu hủy. Nhưng nó là một âm thanh thực nhất, cuộc đời nhất và tình yêu nhất (Con chim lửa…).
-------------------------------------

-------------------------------------

Nghệ thuật trình diễn: "Con chim lửa"
-------------------------------------

Nghệ thuật trình diễn: "Người gánh rau bên bánh xe thổ mộ"
… Hỡi những người nghệ sỹ, hãy giúp chúng tôi xóa đi câu nói nổi tiếng của tương lai
“Đáng lẽ họ làm được nhiều, nhưng họ chẳng dám làm bao nhiêu”…
-------------------------------------

Nghệ thuật trình diễn " Người xem phim"
“Trong cuộc đời này nếu ta mất nhẫn thì còn ngón tay, mất áo quần ta còn thân thể, mất ảo tưởng – còn ước mơ, nhưng mất ước mơ thì mất tất cả. Với người hàng xóm của tôi, tất cả ước mơ của anh ta đều bị cột chặt vào cái ti vi với những bộ phim, mà nhiều lúc người ta chỉ đưa ra những diễn viên, những ca sỹ mùi mẫn, với những tư tưởng dễ dãi, vô hại và không truyền tải một thông điệp nào cả…”
-------------------------------------
THỜI BUỔI CỦA NHỮNG NGHỆ SỸ DI TRÚ
Michael Heardter
Thay vì sáng tác những tác phẩm bất hủ, mơ ước một
thứ nghệ thuật bảo tàng, các nhà nghệ thuật ngày nay
thường mong muốn thể hiện những suy nghĩ và cảm xúc
của mình bằng một thái độ khiêu khích, đưa ra các tác
phẩm hoặc cách dàn dựng gây sốc tâm lý.

Tác phẩm sắp đặt: "Chân dung doanh nhân"
Thế giới của toàn cầu hóa dường như đang rơi vào tình trạng ngày càng hỗn độn, trong một cuộc khủng hoảng sâu sắc của những ý tưởng về trật tự, sự liên kết và những giới hạn mà đã từng thắng thế trong một thời gian dài và nay vẫn tiếp tục có một sức hút mạnh mẽ đối với chúng ta. Các nhà khoa học dành một vị trí ngày càng lớn cho cái mà người ta gọi là “thuyết hỗn độn”. Cùng với việc phai mờ dần hình ảnh rạch ròi về thế giới, các khái niệm về sự toàn vẹn và liên kết quốc gia cũng tỏ ra huyễn hoặc hơn.
Cho dù chúng ta có muốn hay không, quan niệm truyền thống coi văn hóa là sự thể hiện đặc biệt của các nét đặc thù của dân tộc hoặc của quốc gia nay trở nên lỗi thời. Sự lai tạp văn hóa giờ đây trở thành một vấn đề phổ biến hơn là một hiện tượng cá biệt. Mỗi người được coi như là một điểm quy tụ của nhiều nền văn hóa.
Tháp ngà, nơi giam mình của nhiều nghệ sỹ yêu thích sự thuần khiết và siêu việt, đã từ lâu vắng bóng người. Các nghệ sỹ thời hậu hiện đại đã từ bỏ không gian riêng, các xưởng họa hay điêu khắc cô độc để đến với quảng trường công cộng. Thay vì sáng tác những tác phẩm bất hủ, mơ ước một thứ nghệ thuật bảo tàng, các nhà nghệ thuật ngày nay thường mong muốn thể hiện những suy nghĩ và cảm xúc của mình bằng một thái độ khiêu khích, đưa ra tác phẩm hoặc cách dàn dựng gây sốc tâm lý. Hình ảnh người nghệ sĩ tài ba suốt đời không ngừng đi sâu vào môn nghệ thuật của mình đã là một khuôn mẫu lỗi thời và phải nhường chỗ cho những nghệ sĩ linh hoạt, bất kể khi nào cũng có thể thể hiện bằng nghệ thuật, một cảm xúc, một thông điệp khẳng định sự tồn tại hoặc một thực tế xã hội. Nghệ thuật ngày nay can thiệp rộng, mang tính nhất thời và có mặt ở khắp mọi nơi. Xưởng họa hay xưởng điêu khắc của nghệ sĩ thời hậu hiện đại là cả một thế giới.
Những nghệ sĩ di trú trở thành một trong nhiều sứ giả giữa các nền văn hóa trong một thế giới đang bước vào thời đại toàn cầu hóa. Thành công trên phạm vi thế giới của mẫu hình nghệ sĩ “kiều dân” hoặc “ngoại lai” đã đáp ứng được nguyện vọng của nhiều nghệ sĩ và trí thức muốn tìm hiểu sự đa dạng về vật chất và văn hóa của thế giới, họ tạm thời hòa nhập vào các cộng đồng những nhà sáng tạo nghệ thuật để trao đổi ý kiến và thủ pháp. Việc tăng cường các quan hệ và mạng lưới qua các đường biên giới quốc gia và biên giới văn hóa là một phần cái đẹp của thời hiện đại, cũng giống như việc xóa bỏ dần dần sự phân biệt truyền thống giữa nghệ thuật và kỹ thuật.
Người Đức, Giám Đốc Viện Phát Triển Nghệ Thuật Đương Đại Kunstlerhaus Bethanien
-------------------------------------

Nghệ thuật trình diễn: "Sự cứu rỗi thân xác"
-------------------------------------
NGHỆ THUẬT HỘI CẢM THẦN BÍ
"Bạn có cho tôi cầu nguyện thượng đế của bạn không?
Vì đã quá lâu tôi cầu nguyện thượng đế của mình"
Thuở đầu đời môi rượu lả đường say
Tôi đã ra đi tự khối tình chân thật
Yêu trần gian mà chẳng dám cầm tay
… Cảm ơn nhé! Một đời gió nổi
Cuốn phăng tôi đến một chốn bên trời
Thế gian nhé! Một lần xin sám tội
Qùy nơi đây mà ôm siết con người!
-------------------------------------

“Nếu tôi biết điều gì có lợi cho tôi mà có hại cho gia đình tôi, tôi sẽ gạt bỏ điều đó ra ngoài tâm trí.
Nếu tôi biết điều đó có lợi cho gia đình tôi mà có hại cho mảnh đất mà tôi đang sống tôi sẽ cố gắng quên điều ấy ñi.
Nếu tôi biết điều gì có lợi cho nhóm người của tôi mà có hại cho quê hương tôi, có hại cho loài người thì tôi coi đó là một tội ác.
Nếu tôi phạm phải tội ác này xin hãy trừng phạt tôi.”
-------------------------------------
SỢI CHỈ ƯỚC NGUYỆN VÀO LÚC HOÀNG HÔN
Tôi đang ngồi trên cái giường của người thợ thêu. Tôi cảm thấy rất dị khi có mọi người ở đây. Tôi không chịu trình diễn vì có cái giường này. Tôi nói mọi người mang nó đi nhưng nó cứ chạy xuống đây mãi. Tôi không chịu trách nhiệm với cái giường này. Tôi không sao lý giải nổi. Có lẽ đây là vấn đề siêu hình, vấn đề tâm linh và tôi đang chấp nhận ngồi trên cái giường của người thợ thêu để nói về họ, hát về họ mà qua đó người thợ thêu có thể tìm được tên mình, phát hiện ra vẻ đẹp của bản thân và những kinh nghiệm say mê đã bị lãng quên. Cái giường mà tôi đang ngồi đây và những sợi chỉ ở trên đầu tôi ñoù laø “Trung gian của buổi chiều và hoàng hôn” của ngườii thợ thêu.
Sau khi hát có ai giúp tôi mang cái giường này đi không và hãy cột chặt nó vào một tảng đá để nó không còn chạy xuống đây nữa, vì mỗi lần như vậy, tôi cảm thấy rất dị khi trình diễn. Mà thôi, đừng khiêng nữa, sau khi tôi hát xong thì hãy khiêng còn bây giờ người thợ thêu đang ngủ say trong giấc nồng như một kẻ nốc cạn sự cô đơn thành thật. Tôi còn hát nữa vì sáng mai đây khi cô thợ thêu thức dậy tôi vẫn còn hát, và ngay bây giờ tôi tiếp tục hát.
“ Em nằm đó,trắng một màu trinh trắng...”
Khi tôi hát lần thứ hai, tôi thấy có một điều gì đó nổi lên, ngự trị trên cái giường này, vật đó có khả năng rất kỳ lạ. Có những cái bỏ chạy thoát khỏi cái giường, có cái vẫn còn nằm lại nhưng nó đòi hỏi quá nhiều. Cái giường của người nghệ nhân là thế đó.
Cứ mỗi lần trình diễn xong, đêm về tôi cứ bị cơn vật vã ám ảnh mãi không sao ngủ được. Tôi nhìn sang cái giường bên cạnh của người em gái thợ thêu mà từ nay đã đi vào im lặng , chỉ còn cái giường nằm lại nhưng tôi vẫn có cảm giác người em gái vẫn còn nằm lại. Tôi hát bài hát “Sợi chỉ ước nguyện vào lúc hoàng hôn" bằng giọng mũi và thiếp dần đi. Trong cơn mơ tôi thấy trên cái giường chỗ tôi đang trình diễn ướt đẫm vì đêm sương Đà Lạt. Tôi còn thấy trên cái giường đó, những người khách đi tham quan XQ Sử Quán đều ghé lại và ngồi trên cái giường của người thợ thêu.”

Tác phẩm sắp đặt và trình diễn: Sợi chỉ ước nguyện vào lúc hoàng hôn
-------------------------------------
-------------------------------------

Mô hình sắp đặt: " Xin được chết trong lời thú nhận của tinh yêu"
“XIN HÃY CHO TÔI ĐƯỢC TỰ DO
ƯỚC MƠ VÀ TỰ DO CHẾT ”
-------------------------------------

Tác phẩm săp đặt: "Tiếng gọi nơi vườn cấm"
-------------------------------------
CẦU CHÚA

Con không nói với con người nữa mà xin nói với người, Chúa của mọi loài, mọi thế giới và mọi thời đại: nếu cho phép những sinh linh yếu đuối, bị lạc lõng trong không gian mênh mông, và không thể nhận thấy đối với phần còn lại của vũ trụ, dám xin một cái gì ở Người, Người mà tất cả đã được đem cho đi hết, mà các chiếu chỉ đều bất di bất dịch cũng như vĩnh cửu. Xin hãy đoái nhìn với lòng trắc ẩn xuống những sai lầm gắn liền với bản chất chúng con; xin chớ để cho những sai lầm này gây ra những tai họa cho chúng con…...
-------------------------------------
… Xin hãy làm cho những kẻ thắp nến giữa ban trưa để thờ phụng Người chịu đựng được những kẻ bằng lòng với ánh sáng mặt trời của người; xin hãy làm cho kẻ phủ lên áo của họ một tấm vải trắng để nói rằng cần phải yêu mến người không ghét những kẻ cũng nói như vậy dưới một tấm áo khoác ngoài bằng len đen; xin hãy làm cho việc thờ phụng người bằng một thứ biệt ngữ cổ xưa hay bằng một thứ biệt ngữ mới hơn đều là như nhau; xin hãy làm cho những kẻ mà y phục ruộm đỏ hay ruộm tím, trị vì trên một mãnh đất nhỏ gom lại bằng một đống bùn nhỏ của trái đất này và sở hữu một vài mảnh tròn tròn của một thứ kim loại nào đó,dượ hưởng một cách không kênh kiệu cái mà họ gọi là ” vinh quang phú quý”, và những kẻ khác nhìn họ một cách không đố kị, bởi Người biết rằng trong những thứ phù phiếm kia chẳng có gì để mà phải đố kỵ hay để kênh kiệu…
-------------------------------------
… Người đã không cho chúng con một trái tim để hận thù và những bàn tay để cắt cổ lẫn nhau; xin hãy khiến cho chúng con giúp nhau chịu đựng gánh nặng của một cuộc đời vất vă và phù du xin hãy cho những khác biệt nhỏ nhặt giữa những quần áo che phủ tấm thân còm cõi của chúng con, giữa tất cả những cách nói không thích đáng của chúng con, giữa tất cả những hoàn cảnh của chúng con, chênh lệch nhau biết bao theo con mắt chúng con nhưng lại bằng nhau biết bao trước Người,..
-------------------------------------
… Xin hãy khiến cho mọi người nhớ rằng họ là anh em với nhau, xin hãy khiến cho họ ghê tởm sự bạo tàn đối với tâm hồn, cũng như ghê tởm sự cướp bóc, dùng vũ lực lấy đi thành quả của lao động và sản xuất yên bình!...
-------------------------------------
… Nếu như tai họa chiến tranh là không thể tránh khỏi, xin hãy khiến cho ít nhất chúng con cũng không thù hằn nhau, không xâu xé lẫn nhau trong hòa bình và sử dụng khoảnh khắc cuộc sống của chúng con để ca ngợi, cũng bằng hàng nghìn ngôn ngữ khác nhau, từ Xiêm cho đến California, lòng nhân từ của Người đã ban cho chúng con khoảnh khắc đó.
-------------------------------------
… xin hãy cho tất cả những sắc thái nhỏ nhặt phân biệt những nguyên tử được gọi là “con người” với nhau, không phải là những dấu hiệu để hằn thù và ngược đãi,..
-------------------------------------
NHỮNG TÁC PHẨM CỦA NGHỆ SỸ XQ
Khi nói đến những thành phố nổi tiếng trên thế giới, người ta nói đến thành phố của những vị thần công nghiệp, vị thần chiến tranh hay thành phố của huyền thoại, lễ hội và tình yêu.
Nếu thành phố Đà Lạt là thành phố của ái tình, thì tôi – người Đà Lạt phải làm sao để tìm lại được lịch sử tinh thần của chính mình?
“Rừng thông, biệt thự, những địa danh đã trở thành những công trình của kỷ niệm. Vậy thì người nghệ nhân thêu của chúng tôi phải làm sao để tìm thấy một linh hồn, một linh hồn thuộc về chúng!”
Những công trình hiện thời dù tuyệt diệu đến đâu cũng không làm cho chúng ta nắm bắt được đức tin của người xưa, nắm bắt được thái độ cơ bản của người dân bản địa với môi trường xung quanh. Chúng ta không thể bảo đảm được rằng chúng ta có thể liên hệ được với: “Cuốn sách của những người đã chết”. Phải chăng những ngôi biệt thự xưa, những rừng thông duy nhất còn sống động đối với chúng ta là do chính nghệ thuật của nó gợi lên chứ không phải ở danh mục hay những tên tuổi lẫy lừng.
Đã bao giờ quý vị nhìn ngắm những ngôi biệt thự ở Đà Lạt vào những chiều hoàng hôn chưa. Khi màn đêm buông xuống, khuôn mặt của những ngôi biệt thự như bị mờ đi, rừng cây thâm u phủ lên nó một sự bí ẩn như chống lại đêm tối. Nếu quý vị chịu khó lắng nghe những tiếng rì rầm, ai oán từ những ngôi biệt thự và nghe những tiếng xé lụa là, êm dịu trong đêm vọng lên từ những biệt thự mà chúng ta cứ ngỡ đó là bóng ma trong những ngôi biệt thự hoang. Quý vị sẽ nhận ra đó chính là tiếng nói của tiền nhân.
Chính nghệ thuật biến cạ tiêu vong thành cái vĩnh cửu, đối lập hoàn toàn với điều gọi là “Cái chẳng bao giờ còn nữa”.
Nghệ nhân – nghệ sỹ XQ chúng tôi cố gắng làm một điều gì đó khi đối diện với ngôi biệt thự để khám phá sự bí ẩn của nó dù rằng đôi lúc chúng ta quá ngây thơ. Chúng ta đi tìm kiếm trong sự thờ ơ của trăng, nước, trong tiếng rì rầm muôn thuở của rừng thông, trong sự im lặng của những ngôi biệt thự. Nghệ nhân – nghệ sỹ XQ chúng tôi mong muốn giành giật một điều gì đó từ cõi chết xa xăm.
Trích nhật ký sáng tác của nghệ sỹ XQ

Chương trình giới thiệu tác giả tác phẩm: "Ngôi biệt thự ma"
-------------------------------------
Tác phẩm: NỤ HÔN TỘI LỖI
Tôi là một nghệ nhân đang làm việc tại khu vực “Nhóm người bị ruồng bỏ”. Tôi xin kể cho quý vị nghe một câu chuyện mà thông qua câu chuyện này đã làm thay đổi thái độ của người họa sỹ công ty XQ chúng tôi.
Câu chuyện bắt đầu khi một người họa sỹ XQ đi thăm cô nghệ nhân bị bệnh bạch cầu (bệnh ung thư máu) trở về. Anh bỗng trở nên lầm lì ít nói, suốt ngày ngồi tại khu vực triển lãm Nhóm Người Bị Ruồng Bỏ ôm đàn ngồi hát, anh hát rằng: “Đêm nghe gió tự tình, đêm nghe đất trở mình vì mưa, đêm nghe gió thở dài, đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai…”. Anh hát với một cây đàn, một cái gối và một cái micro, anh hát trong ba đêm liền. Có đêm anh hát đến 1-2 giờ sáng. Đến đêm thứ tư, chúng tôi không còn nghe anh hát nữa. Chúng tôi quyết định, đi tìm anh và chúng tôi thấy anh đang ngồi vẽ trong khu vườn Tri Kỷ. Anh vẽ rồi xóa, vẽ rồi xóa liên tục. Sáng hôm sau, với gương mặt mệt mỏi và khắc khoải anh đưa cho chúng tôi xem tác phẩm “Nụ Hôn Tội Lỗi”. Anh tâm sự:
“Các em có còn nhớ cô nghệ nhân rất đẹp thêu ớ căn nhà tranh thêu chân dung. Chính người nghệ nhân đó đã tạo cảm xúc để anh vẽ những tác phẩm về thiếu nữ. Cũng là người mỗi buổi sáng anh đi làm thật sớm để đếm từng bước chân của cô đi qua sân “Nhóm Người Bị Ruồng Bỏ” và những buổi chiều về anh lại ngồi đếm xem cô có bước đúng với số bước chân của cô lúc sáng không. Rồi một ngày, anh không còn được đếm những bước chân của nàng nữa, vì anh nhận một hung tin rằng cô đang hấp hối tại bệnh viện bởi một căn bệnh hiểm nghèo - bệnh bạch cầu. Anh vội chạy lên bệnh viện, trước mắt anh là một gương mặt nhỏ bé, xanh xao, gầy guộc. Đôi mắt cô khép hờ như muốn chống lại sự im lặng và bóng tối đang bủa vây xung quanh. Anh bước lại gần và hỏi cô gái đó ba câu:
Nói rồi, người họa sỹ cúi xuống đặt lên môi cô nghệ nhân một nụ hôn và dường như cô cũng đắm chìm hoàn toàn trong nụ hôn của người họa sỹ. Cô nắm chặt tay của người họa sỹ và nói rằng: “Anh ơi! Em còn yêu cuộc sống này, yêu ngành nghề này lắm. Nhưng cuộc sống không còn thiết đến em nữa”. Nói rồi, cô đã trút hơi thở cuối cùng.
Còn người họa sỹ của chúng tôi trở về, anh đem câu chuyện này kể cho mọi người nghe và cứ tự hỏi hành động của mình là đúng hay sai ? Một nụ hôn của một người họa sỹ già trên 50 tuổi, dành cho một nghệ nhân 19 tuổi là có toäi hay khoâng?
Có người cho rằng:
Đó là nụ hôn có tội, vì đạo lý của người Việt Nam không cho phép. Nhưng có người lại cho rằng trong giờ phút cuối cùng của cô nghệ nhân, anh đã đến và cùng cô vượt qua giờ phút đau đớn nhất của cuộc đời, nụ hôn đó vượt qua mọi giới hạn về tuổi tác, luân lý đạo đức nên nụ hôn đó không có tội.
Còn đối với Nghệ Nhân Nghệ Sỹ chúng tôi thì có thể nói rằng: Khi đối diện với căn bệnh hiểm nghèo, nếu ta có thể cứu chữa được thì về phương diện trí tuệ chúng ta hoàn toàn có thể tự hào, còn về phương diện đạo đức, ta đã trả được một con bệnh về với cuộc sống, về với sự yêu thương và về với ngành nghề. Nhưng ngược lại, chúng ta đã hoàn toàn thất bại trước căn bệnh ung thư. Vậy về phương diện trí tuệ, ta thất bại. Còn về phương diện đạo đức cũng chẳng lấy gì làm vui vẻ cho lắm. Vì vậy, mọi sự tiếp cận lúc đó là giữa con người với con người. Cho dù đó là nụ hôn giữa người họa sỹ già dành cho cô bé 19 tuổi thì đó cũng là nụ hôn giữa một con người và một con người cho nên không có một khuôn khổ, một đạo lý nào có thể can thiệp.
Và anh họa sỹ đó đã nói với tôi rằng: Trong cuộc đời anh đã từng chứng kiến rất nhiều cái chết, có những cái chết khắc khoải, lo âu, nhưng cũng có những cái chết vô cùng thanh thản và bình an. Và với anh, tố chất của người anh hùng không chỉ có trong người đàn ông mà còn có trong những người phụ nữ. Cái chết của cô nghệ nhân đó là cái chết của một người anh hùng và cô đã đối diện với cái chết vô cùng thanh thản và bình an. Và vì thế, anh vẫn ôm đàn ngồi hát ru người em gái đó ngủ.
Vậy người nghệ sỹ – anh ta là ai? Phải chăng anh ta là một sinh vật được cấu tạo bởi cảm xúc và trí nhớ. Nhớ về quê hương, nhớ về ký ước tuổi thơ, nhớ về lịch sử và hoài nhớ cả về tương lai. Để rồi bằng nỗi nhớ của mình anh đã đưa vào trong mỗi tác phẩm. Người nghệ sỹ luôn cảm thấy chật chội trong thân xác, luôn bị gò bó trong khuôn khổ của thời đại. Chính vì thế, anh ta muốn bức phá, bay lên để tạm trú ở một cõi nào đó. Vì vậy, người nghệ sỹ luôn bị cho là thiếu thực tế. Nhưng cũng chính người nghệ sỹ là người luôn bày tỏ sự thành thật nhất của mình đối với cuộc đời này.
-------------------------------------
NGHỆ THUẬT ĐƯỜNG PHỐ
Chúng tôi đem tất cả các loại hình nghệ thuật muốn phơi bày trước mắt mọi người và như vậy tìm lại được cái sức sống năng động mà nó đã nhiều lần đánh mất trong dòng chảy thời gian.
Đường phố lại trở thành chiếc nôi của nghệ thuật đã trả lại cho nó sức mạnh bẩm sinh cùng những khả năng bị lãng quên. Cái thành phố hiện đại xấu đi và đánh rơi cái ý thức về màu sắc từng tô điểm cho chúng thuở xưa. Ngày hôm nay, để bộc lộ cái ý chí muốn phát hiện lại ngôn ngữ ấy, đằng sau nghệ thuật trình diễn của Nghệ Nhân – Nghệ Sỹ XQ đó nổi rõ một nỗi hoài nhớ, niềm ao ước tìm lại được một sự hòa đồng, vui vầy, một quan hệ sống động với môi trường xung quanh mà người dân và du khách khi đến với thành phố lớn cảm thấy thiếu vắng da dieetsddeens độ làm họ thất vọng.
Nghệ nhân XQ đưa truyền thống và hiện đại kết hợp thành một hỗn nóng đầy tiềm năng bùng nổ làm cho cuộc sống thành phố sôi động, hào hứng hơn.
Nghệ thuật đường phố nhằm kích thích mơ ước và tái tạo không gian đô thị. Mọi người có thể tự do chiếm hữu lại không gian đó trong một thời gian hữu hạn, sao cưỡng lại được điều hấp dẫn như vậy ?
Chương trình tổ chức lễ hội của chúng tôi nhằm mục đích lao vào sáng tạo bằng cách dành phần lớn thời gian để tạo ra những phần kết hào hùng về âm thanh chuyển động và ánh sáng về đêm.
Chính quyền địa phương có thể khẳng định tính độc lập và quyền uy của mình bằng cách tổ chức và tài trợ một cuộc phô diễn mà tất yếu các phương tiện truyền thông đại chúng đã đưa tin. Quy mô hưởng ứng là thước đo sức sống thành phố, vùng miền đó.
Hẳn quý vị đã biết ngày 21 tháng 6 là ngày hội âm nhạc của nước Pháp. Lúc đó cả nước Pháp bùng nổ, nhất là tại Pari, trước nhà thờ, bên dòng sông Seine, trong những công viên, trên lòng đường, những người nghệ sỹ không chuyên, sáo, đàn và kể cả opera đều biểu diễn. Lúc đó người dân, du khách được thưởng thức những xung động, bùng nổ đầy sự kỳ diệu của thành phố. Mọi người dân, du khách đều cảm thấy mình là người yêu âm nhạc nhất và cảm thấy mình là nghệ sỹ thực thụ.
Đó cũng chính là mong muốn của nghệ nhân – nghệ sỹ XQ qua những chương trình Nghệ thuật đường phố.
-------------------------------------
Trong lịch sử loài người, nỗi ám ảnh về kiếp phù du là một đặc trưng thường trực.
Từ thời xa xưa, sự chết nhắc lại cái trật tự của sự đời: mọi cái đã có cái khởi đầu thì sớm muộn cũng có kết thúc. Do đó, mới có khát vọng muốn vượt qua cái nhất thời, tìm lại cái vĩnh cửu trong tư duy, trong nghệ thuật vv…. Một số nền văn hóa đã từng được xây dựng trên tham vọng vượt lên trên thời gian. Ý chí xây dựng cái bền vững, muốn “vật chất hóa” cái tuyệt đối qua những ngôi đền, tượng thánh, lăng tẩm cổ xưa… là bằng chứng của cái tham vọng đó.
Thuyết tâm linh của đạo Phật lại có cách tiếp cận trái ngược, chấp nhận tính không bền vững của cuộc sống để làm nổi bật tính vĩnh cửu cơ bản của nó (Bích họa – mặt nạ – Họa đồ Phật giáo đại thừa) với ý nghĩa chỉ ra rằng cái phù du là con đường đi vào cái vĩnh hằng. Vậy là theo cách nào đó, một ngôi đền cổ và một điệu múa tế thần có thể coi như hai mặt của một cuộc tìm kiếm: đạt tới cái tuyệt đối thông qua cái nhất thời.
Trong thế giới hiện đại, mọi sự đã thay đổi, đó là sự rạn vỡ đáng lo ngại khi bỏ qua cái nhất thời. Hiện đại đã tước bỏ hết ý nghĩa một thời được tôn vinh của cái phù du, đẩy nó vào cõi hư vô. Liệu ta có nên “töø boû tinh thaàn cuûa thôøi gian”. Sự vững bền có còn chỗ đứng trong những xã hội mà sự đổi thay đã thành qui luật?
Loại hình nghệ thuật nào cũng không thể tách ra khỏi thời đại đó. Nhưng nếu vai trò của nó cũng đồng thời là từ bỏ tinh thần thời đại của nó và báo hiệu một thời đại mới thì sao?
Cách đây 200 năm, thời đại tiền công nghiệp tưởng chừng như bền vững, bắt đầu tiến từ từ rồi ngày càng tăng tốc. Thời đại ấy lao vào việc mưu cầu cái mới không gì cản nổi vì những lý do đạo lý (cái mới thay cái cũ nhân danh “đạo lý”) – và việc mưu lợi (cá mới thay thế cái dùng rồi, nhân danh "thương mại" ). Nền mỹ học lúc đó đã góp phần vào bước nhảy vọt, chẳng hạn như mẫu mã lúc bấy giờ vừa là sản phẩm, vừa là một nhân tố cúa tính hiện đại (mỹ học công nghiệp)
Còn thời đại ngày hôm nay thì sao?
Hàng ngày những truyền thông nói rằng: địa điểm thời đại chúng ta tạo thành một cảm tưởng tăng tốc kết hợp với sự bấp bênh, và chúng ta tự đặt câu hỏi: Sự tăng tốc này đưa chúng ta đến đâu? - Câu hỏi về ý nghĩa của tốc độ đó- Nên vai trò của nghệ thuật có thể là đào sâu ý nghĩa đó. Nghệ thuật trên thực teesphari có nhiệm vụ thể hiện chiều sâu của cái bền vững.Thế giới của sự vật đối với chúng ta không còn là chỗ dựa vững chắc, với những ý nghĩa hàng ngày, mà là vượt tổng thể trôi chảy luôn biến đổi.
Với sự tiến bộ tin học và truyền thông đã mở ra một tầm vóc kinh nghiệm của con người, đã giải thoát rào chắn không gian và thời gian, một sự đa dạng vô tận của những quá khứ, hiện tại, tương lai. Tất cả điều đó vừa hấp dẫn vừa đáng ngại, vì chúng ta vẫn chưa tính được những tác động đối với con người và xã hội.
Sự đảo lộn hiện tại cực kỳ quan trọng, không thể nào đánh giá thấp được. Do vậy, cần phải tạo dựng và hỗ trợ những công cụ văn hóa mới để đối phó với hiện tượng hậu quả tiêu cöïc.
Thiên hướng mạnh mẽ là lẩn trốn vào cái thế giới tưởng tượng và phớt lờ những vấn đề cụ thể của môi trường. Như vậy, chúng ta đã quên: Giữa thế giới phi vật chất của thông tin và thế giới của chất thải, của vật chất chết, còn tồn tại một thế giới khác: thế giới của những vật thể mà hình ảnh đang thay đổi theo các phương thức do bản chất sâu xa của con người quyết định và tạo ra (họ là những con người sinh học đang sống trong một hệ sinh thái, và là những con người văn hóa đang đi tìm ý nghĩa của sự vật). Thế giới đó được gọi là “vật chất sống”.
Thế giới “vật chất sống” được tạo nên bằng sự thay đổi và tính thường xuyên. Chính ở đây, người ta tìm ra giải đáp cho những vấn đề trọng yếu liên quan đến tương lai nghệ thuật (việc xây dựng một ý nghĩa) và tương lai sinh tồn của chúng ta (bảo tồn những điều kiện sống.)
Xưa kia, ý niệm về vững chắc dựa trên sự bất di bất dịch bề ngoài của các mối quan hệ (sức ì của vật chất, các quy ước xã hội – quy ước trong nghệ thuật ….). Cái thế giới của nghệ thuật xác thực đông cứng ấy đã từng làm cơ sở để giải thích thực tế của chúng ta nay bị tan vỡ.
Ngày nay, nó phải nhường chỗ cho một thế giới đang chuyển động. Trong đó, tính thường xuyên mà chúng ta rất cần đến sẽ không còn là cái đã đạt được, mà phải giành lấy bằng một ý chí quyết định .
Cái tầm vóc vững chắc (của sản phẩm, của các mối quan hệ, các tư tưởng, quy ước …. ) chỉ có thể tìm thấy ngày nay là tầm vóc vững chắc của những dạng được ổn định hóa trong bối cảnh phải thay đổi thường xuyên.
Không còn gắn liền với sự vật nữa, tính thường xuyên trong sự thay đổi này phải là kết quả của hành động, và những dự án. Một dự án nhằm xác định: Cái gì phải tồn tại lâu dài, để cho những cái còn lại có thể thay đổi mà không đánh mất đi ý nghĩa, cũng như không tàn phá môi trường của chúng ta? Chỉ có đi theo hướng đó thì nghệ thuật mới có thể thực sự là thuộc về thời đại của nó, và ý nghĩa của nó mới góp phần tạo dựng tương lai.
-------------------------------------
NGƯỜI DỆT NÊN XQ
Người nổi tiếng xin gởi lời chào đến anh Võ Văn Quân - Người sáng lập và là Giám Đốc tranh thêu XQ Việt Nam

-------------------------------------
1.Anh là một doanh nhân nhưng cách kinh doanh của anh cũng luôn khắc khoải một nỗi niềm?
Tôi sinh năm 1961 – 62 hay 63 mẹ tôi cũng không nhớ rõ. Từ thuở nằm nôi tôi đã có 1 tấm card visit “đứa con không cha”. Một người phụ nữ trải nghiệm qua hai cuộc chiến tranh và nuôi con lớn lên trong bom đạn… phải như thế nào? Tôi không rõ lắm nhưng câu nói của bà vẫn còn văng vẳng bên tai tôi “con trai của mẹ! Hãy nhớ lấy là chúng ta đang sống trong tình trạng mất trí nhớ ngày càng trầm trọng, chịu sự chi phối của luật im lặng, của tình trạng phải nén nhịn và của ký ức những người phụ nữ bị dằn nén…”. Lúc còn thơ ấu, tôi đi học với một lý lịch được chứng nhận “không rõ nguồn gốc của cha…”. Với những điều báng bổ:
Nhớ có một lần tôi đem tất cả điều này hỏi mẹ, bà im lặng trong góc tối căn nhà, không ăn uống gì cả, tôi bê cháo đến bên mẹ: “mẹ ăn cháo đi, con xin lỗi mẹ…” sau đó bà đã nói trong nước mắt “ñieàu quan trọng không phải ta từ đâu đến mà ta sẽ đi về đâu… cuộc đời này được xây dựng bởi những chiếc mặt nạ giả dối… nó sẽ khuyến khích sự hèn nhát. Mẹ ước mơ nếu có kiếp sau mẹ sẽ là đàn ông, mẹ sẽ đeo chiếc mặt nạ cảnh tỉnh cuộc đời… -Chiếc mặt nạ của người đàn ông quyến rũ-…” Lúc đó tôi đã ưỡn ngực nói với mẹ “con sẽ là người đàn ông quyến rũ của mẹ…”
Từ đó, tôi đã rút ra được một kinh nghiệm: sự đau khổ lớn nhất của người phụ nữ là khi người ta đánh vào nữ tính của họ – đẩy họ vào một thế giới im lặng, cam chịu và nhẫn nhục. Tôi ví dụ như những từ mà người ta đang đánh vào người phụ nữ làm nghề thêu chúng tôi “sến,–bệnh họan, không chồng… Ai ơi! Đừng lấy thợ thêu, mỏi lưng chai đít lại thêm bệnh mù…”. “Đến XQ SỬ Quán, kẻ ngang tàng đến mấy cũng phải mềm lòng trước miền gái đẹp…”
Tôi xin kể về gia đình mình: Trước, hai vợ chồng tôi rất nghèo. Vào một buổi chiều mưa tầm tã trên con đường ngập nước, tôi dắt xe đạp, vợ tôi mang bầu đứa
con gái đầu tiên và ôm chiếc khung thêu đi sau ướt sũng bởi bùn từ những chiếc xe môtô đời mới của nhóm người đàn ông lạng qua, còn vang lên những tiếng cười sảng khoái đầy kiêu hãnh. Tôi dừng lại tâm sự “Em à! Chúng ta đang sống trong một thế giới tự túc, tự mãn, kiếm tiền nhanh, kiếm tiền bằng mọi cách, thượng đế bây giờ là đồng dolla…” vợ tôi cười rất duyên, vội lau bùn xung quanh cái bầu và chiếc khung thêu vừ nói: “Em thích đẻ một đứa con trai. Nó sau này sẽ ban bố một tình trạng khẩn cấp - một tình trạng khi tuổi trẻ không có một sự nghiệp để chiến đấu…”. Tôi nhăn mặt và nói:“Thôi thì anh thay cho đứa con trai mình ban bố tình trạng đó cũng được… Anh sẽ có một sự nghiệp để chiến đấu, đó là bảo vệ “sức mạnh nguyên thủy và thuần khiết” của người phụ nữ làm nghề thêu”.
Tôi là kẻ nôn nóng, không muốn chờ đợi. Cái chết sẽ đến sớm và nổ vào mặt ta - đừng hèn nhát nữa. Từ đó, dù nghề nghiệp nào, từ ngành y đến kinh doanh, tôi đều đưa vào bản thân mình tiếng xôn xao của mẹ tôi, vợ tôi và những người phụ nữ làm nghề thêu, và cả đồng loại của mình nữa, có lúc mạch lạc có lúc rời rạc nhưng chẳng sao, tôi vẫn làm điều đó mà.
Có những thời điểm tôi tưởng mình vượt không qua được trong một sự cô độc - không có sự thông cảm, chia sẻ, một nỗi lo sợ tồn tại, thì chính người em gái thợ thêu đứng bên cạnh nói nhỏ
”Em ủng hộ anh và sẽ cầu nguyện cho anh”.
Tôi cũng luôn được gia tăng sức mạnh bởi con gái của mình “Ba ôi, mỗi lần con qua cửa khẩu hải quan Singapore cùng với những người bạn mình, bao giờ cũng khó khăn vì phải trình bày: “đem theo bao nhiêu tiền và sang để làm gì ?” dưới những con mắt nghi ngờ và khinh miệt, con đi học chớ có làm gì đâu…? Và những tin tức hàng ngày về phụ nữ Việt ở Hàn quốc - Singapore làm cho con thấy hổ nhục về phụ nữ mình quá! Con có cảm giác đó là định mệnh và số phận”.
Nỗi đau của một người cha vô trách nhiệm nổi lên trong tôi chỉ sống trong sự hèn nhát để một ngày nào đó những đứa con của tôi phải sống quỳ gối hay sao?
Tôi xoa đầu nó và nói: “Đó không phải là định mệnh đâu con, mà cái thiếu của ba và của các con hay mặc cảm về thân phận là do không được giáo dục “ý thức công dân” đó thôi…”
Tôi đã học và tiếp tục sẽ học điều đó qua nghề nghiệp của mình cho đến ngày lìa xa trần thế này. Có lẽ tên tôi: Võ Văn Quân - XQ được thêu dệt nên từ những điều đó.
-------------------------------------
2.Tại sao lại chọn Đà Lạt là nơi xuất phát điểm tranh thêu của anh?
Nếu có thể được, tôi xin mời em về Đà Lạt để ngắm sự đỏng đảnh của bình minh và hoàng hôn của thành phố này để thấy những sự kỳ bí của thiên nhiên, hoặc sự hờn dỗi của những cơn mưa phùn đầy sương, xa và gần của sự vật như một bức tranh thủy mặc. Tôi sẽ mời em cùng với tôi thực hiện một “nghi lễ chỉ dành riêng cho chim sẻ Đà Lạt” hoặc tôi sẽ dắt em đến chỗ mà cuộc sống chúng ta giàu có vô kể, đó là lúc bình minh, những ánh sáng vàng lấp lánh, những giọt sương còn đọng lại trên những ngọn thông và hoa. Như cả bầu trời rắc vàng xuống cho thành phố này, lúc đó em sẽ chạy tung tăng và hét to lên: “Đất nước ta giàu quá..." Tôi đã từng như vậy đó, nó là một bức tranh thêu rực rỡ màu sắc ở cuộc đời này. Em cứ đến Đà Lạt đi, chi phí tôi sẽ chịu cho mà. Khi đó em sẽ tự hỏi “thành phố Đà Lạt này trò chơi thông và gió có trước hay tình yêu có trước? ”.
Tôi tâm sự như trên để cho em thấy rằng thành phố này có một truyền thống lãng mạn kinh khủng, nơi mà nó xoa dịu nỗi đau, làm cho sự bất công trở thành nguôi ngoa và giúp cho người ta có nghị lực để sống và yêu thương cuộc đời này. Tôi có thể dùng từ “Đà Lạt hóa" chính xác đối với tôi, vì khi mới đến tôi là du khách, khi ở lâu trở thành cư dân và sẽ nhiễm cái đặc thù của nó.
Đà Lạt đã hóa tôi như thế đó. Và Đà Lạt là vùng đất đón nhận dân nhập cư các nơi đổ về nên sự cởi mở, khoan dung còn đậm hơn ở một vài nơi còn tồn tại cách cư xử theo “lễ hội bộ tộc", nó sẽ khó cho sự cinh để phát triển. Tôi nói điều đó trên tư cách của một người công dân đất Việt mong góp cho địa phương và đất nước của mình được phát triển vì chúng ta chỉ có chung một bộ tộc “Nghĩa Tình Trăm Con”.
-------------------------------------
3.Phải nói Lễ hội ngành thêu của anh được tổ chức rất công phu và ấn tượng. Anh có dự định còn làm những chương trình hoành tráng hơn thế nữa?
Một tổ chức, một ngành nghề, một công ty muốn phát triển dừng nên chờ đợi ở những kẻ “Viên mãn”, nên tôi không bao giờ bằng lòng với những lễ hội mình đã làm. Nếu có điều kiện tôi sẽ làm “hoành tráng” hơn nữa.
Có rất nhiều người đến mỉa mai tôi: “Ông là một thằng khùng, cứ mỗi lần làm lễ hội là bị đánh te - tua vậy mà cứ làm mãi… để tiền đó mà ăn chơi và đi du lịch .v.v…”. Với những người đó, tôi thường mời họ đến, xem một bức tranh tôi vẽ kể về đứa con trai của mình: bao giờ cũng ôm một vật nó thích nhất trước khi ngủ. Nó rất sợ, vì ngủ là một mảnh của sự chết mà. Tôi cũng thế, rất sợ cô đơn - lưu đày và cái chết. Cái chết sẽ đến dù sớm hay muộn, tại sao? Không có câu trả lời, tôi quyết định né tránh nó, biến dạng nó, cải trang để trở về với tuổi thơ, tuổi mà trước cái gì cũng ngạc nhiên, tò mò, thích thú và hào hứng. Làm lễ hội để cho tôi, những người thợ thêu và cả những người bạn đến với chúng tôi được sống trong những giây phút thăng hoa, đoàn kết và yêu thương nhau.
Cách đây 10 năm, khi tiếp cận mãi với nghề thêu nhưng không làm phát triển được. Tôi đã thức đêm quá nhiều và đã khóc, (chuyện vui mà) bỗng có một ông bụt xuất hiện giới thiệu ông là Đức Tổ Nghề Thêu LÊ CÔNG HÀNH (sinh ngày 18/01/1606 - mất ngày 12/06/1661 tại làng Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) hoûi taïi sao con khoùc? Tôi đã trình bày về nghề nghiệp và số phận của những người phụ nữ làm nghề thêu. Ngài đã tặng cho tôi 4 chiếc bị thần chứa:
Từ đó đến nay tôi đã làm để xoá bỏ văn hoá cũ của người thợ thêu “dân dã, say sưa, cục mịch và phóng túng - tự phát - bừa bãi …” bằng một văn hóa “Nghi thức - linh thiêng - truyền thống - tinh tế và thâm trầm”. Thoâng qua các lễ hội, tôi đã nâng lên được hình ảnh của người thợ thêu. Và tôi sẽ còn làm “hoành tráng” hơn nữa để đem đến niềm vui và nụ cười cho mẹ tôi, vợ tôi, con tôi, người thợ thêu xung quanh tôi và cho phụ nữ đất nước tôi. Và mẹ tôi bà hay dặn dò: “Khi nào con khóc không nổi nữa, con hãy cười lên …” vì tôi đã có lời thề giữa trời đất “Chữ tín tao phùng hứa nhất thiên" , sẽ là một người đàn ông quyến rũ của mẹ, của vợ và của các con gái tôi và cho những người thợ thêu đã và đang cầu nguyện cho tôi.
Trước khi làm lễ hội, bao giờ tôi cũng ngồi hàng giờ trong căn nhà “lưu giữ những kết quả của một quá trình nhiều sóng gió” để xem lại nhật ký "chúng ta phải quỳ gối" răn đe mình trong nhật ký đó “những bài báo này lẽ ra chúng ta phải xé nó nhưng chúng ta vẫn giữ lại. Mỗi lần đọc lại, nó đem đến một nỗi bất hạnh lớn hơn thời gian của một đời người…”.
Để cho nghề thêu phát triển, phải giải quyết 4 biến số (lịch sử – ngôn ngữ – bí truyền – tâm lý giới tính – nghề nghiệp). Tôi đã từng đi đến gõ cửa nhà của nhiều nhạc sỹ – thi sỹ – văn sỹ – nhà báo – và cả những giáo sư, tiến sỹ.v.v… tôi đều nhận được sự thờ ơ, dửng dưng, không có lòng thương xót. Nếu có nói về người thợ thêu thì đều hời hợt và thiếu trí tưởng tượng. Đời người ngắn quá, nghề thêu không chờ đợi được nữa rồi. Và từ đó, tôi đã “một người thành một dàn nhạc” bất đắc dĩ (nhà thơ – ca sỹ – nhạc sỹ – thi sỹ – họa sỹ – đạo diễn .v.v…) và tôi đã trở thành tấm bia (kẻ đá lấn sân – ôm đồm – ngạo mạn – gây rối – kẻ dám nhân danh nghệ thuật…)
Khi nào em có điều kiện vào thăm, tôi cho đọc hết lại. Chắc chắn em sẽ thốt lên “làm sao XQ có thể tồn tại được?”.
Xong một lễ hội, tôi bao giờ cũng thắp hương trước bàn thờ tổ ngài Lê Công Hành và khấn “Xin lạy ơn trên hãy tha thứ cho người phụ nữ làm nghề thêu chúng con”.
-------------------------------------
4.Nghề tranh thêu nâng cao tầm vóc phụ nữ, nghệ nhân Hoàng Lệ Xuân đã được Nhà Nước phong tặng là 1 trong 10 nghệ nhân tài hoa, anh có thể nói đôi nét về người phụ nữ ấy ngoài đời thường?
Với bản phong tặng nghệ nhân tài hoa, chúng tôi trưng bày trong nhà truyền thống tại Đà Lạt Sử Quán ở một vị trí trang trọng. Nó đem đến cho những người thợ thêu chúng tôi lòng tự hào, kiêu hãnh, cũng là một nguồn nuôi dưỡng sự đam mê tự tin trong nghệ thuật thêu của mình. Còn ai tặng, cách tặng và tặng ở đâu? Mà nhiều người đã phê phán, chỉ giám đốc phụ trách”sức mạnh nghề thêu” Võ Đình Học của chúng tôi biết thôi … Và hôm nay ai thắc mắc điều đó thì tôi chỉ muốn nói rằng “Bạn ơi! bạn có muốn đỡ đầu cho người phụ nữ làm nghề thêu truyền thống này không?”. Còn với người phụ nữ Hoàng Lệ Xuân (XQ) là một người thả diều và tôi là con diều đó là một trò chơi nuôi dưỡng sự hào hứng, ngây thơ và trí tưởng tượng kể cả sự mộng mơ nhưng không bao giờ để cho diều bị đứt, chỉ thả vào lúc đẹp trời và biết cuốn dây khi gió nổi lên hoặc mưa bắt đầu đến. Nên vợ chồng tôi luôn sống trong “mối tình đầu”, “yêu như chưa yêu lần nào”.
-------------------------------------
5.Mọi người muốn thêm thông tin về tổ ấm gia đình của anh? Với những kỷ niệm khó quên trong anh?
Với tôi, con người dù vô tức hay hữu thức đều luôn tránh né sự cô đơn, lưu đày và cái chết, và để “bất phục tùng” điều đó thì phải biết lưu giữ những khoảnh khắc đã qua giống như ông tiều phu đốn củi gom góp lại từng bó để nuôi dưỡng cái chết của mình. Tôi nghĩ đó là tài năng của con người.
Gia đình tôi xin được khoe sự giàu sang của mình một chút: có 3 chiếc xe con. Một lần tôi đi làm về khuya, cả nhà ra đón. Đứa con trai nói “Ba ơi! Chiếc xe của con cũ rồi, ba để xe mới của ba lại cho con”. Tôi nói “Cũng được! Với điều kiện, con hãy chở hương đi thắp hết trên những nấm mộ của người thợ thêu đã nằm xuống, và đi thăm lại hết những người thợ thêu đã về già…”. Lúc đó, mẹ tôi cằn nhằn: “Lại suy tư như con chuột chũi nữa rồi…”. Vợ tôi thì :“Vì lẽ đó mà anh già trước tuổi”. Còn ba đứa con gái tôi nói: "Ba uống rượu, hút thuốc và về khuya quá nên càng ngày càng xấu trai ..." nên trong gia đình tên tôi là:
-------------------------------------
6. Anh đã đạt rất nhiều giải thưởng! Anh đã thực sự hài lòng với những gì mình đã và đang làm? Dự định trong tương lai của anh về tranh thêu XQ?
Giải thưởng đối với tôi là một nhu cầu"Công nhận" của người nghệ sỹ và doanh nhân. Nhưng với người thợ thêu của XQ chúng tôi: Cách đây 10 năm, ra đường không dám nhận mình là thợ thêu. Còn ngày hôm nay, họ ra đường tự hào mình là thợ theâu tranh. Cho nên với giải thưởng mà XQ chúng tôi nhận, tôi luôn suy nghĩ “Giả thật không quan trọng mà là thiện hay ác cho người thợ thêu...". Giải thưởng tôi mơ ước nhất thì chưa bao giờ được nhận. Nếu có ngày đó, chắc tôi chẳng bao giờ được thấy vì năm nay tôi gần 50 tuổi rồi. Đó là giải thưởng công nhận cho ngành nghề thêu này là một bộ môn nghệ thuật, nó phải có thuật ngữ riêng, ngôn ngữ riêng vì hiện thời ngôn ngữ trong ngành nghề thêu XQ bị cho là “ma trận chữ nghĩa, sến, bí hiểm và bệnh hoạn…v.v”.
Giải thưởng thứ hai mà tôi mong đợi: đó là giải thưởng công nhận ngành nghề thêu có một lịch sử .
Giải thưởng thứ ba: công nhận ngành nghề thêu có một bí truyền riêng (niềm tin – tín ngưỡng)
Giải thưởng thứ tư: công nhận cho người phụ nữ nghề thêu được quyền “sửa soạn và bày tỏ” những khát vọng, ước mơ của mình.Tôi nói điều này vì có một lần nhóm nghệ sỹ và anh em báo chí đêu phản ứng với tôi cho là nhân danh “nghệ thuật sắp đặt và trình diễn”, cũng có những bài báo đánh tôi về điều đó. Tôi biết đó là những từ ngữ cao quí chỉ dành cho một nhóm người nào đó được quyền sử dụng. Vì thế, tôi lấy từ ngữ của mẹ tôi. Vì khi ở quê mỗi lần cúng giỗ ông bà, tôi thường được kêu về “để sửa soạn và bày tỏ"” tình cảm của mình với tổ tiên, với bà con hàng xóm. Từ đó, mỗi lần tổ chức gì cho nghề thêu truyền thống dân tộc : “thợ thêu xin được sử soạn và bày tỏ..."
Tôi cũng không biết có những giải thưởng đó không? Và làm sao để có được những giải thưởng đó? Nếu công nhận tôi là người “nổi tiếng” thì cho tôi được hỏi và xin điều đó, vì là người “nổi tiếng” mà.
-------------------------------------
7. Anh đã thực sự trở thành người nổi tiếng, giữa cái danh và cái thực, anh chọn cái nào?
Tôi không biết trên đời này có ai tự nhận mình là người “nổi tiếng” chưa? “Nổi tiếng” về cái gì? Và họ sử dụng sự “nổi tiếng” của mình để làm gì? Và cho ai? Ở đất nước chúng ta, quá nhiều người “nổi tiếng”. Còn riêng mình, tôi rất thích trở thành người “nổi tiếng”. Vì khi được như thế, tôi sẽ được bảo vệ, nói họ nghe, người ta sẽ không báng bổ và mỉa mai cách làm của tôi. Được như vậy tôi sẽ làm cho nghề thêu được phát triển, hàng ngàn người phụ nữ sẽ có đời sống đỡ hơn, họ sẽ tự hào kiêu hãnh “vì tôi là phụ nữ làm nghề thêu”. Sự “nổi tiếng” sẽ giúp tôi không bị “đè nén” vì một sự không thông cảm, không chia sẻ, và một nỗi lo sợ cho tương lai nghề nghiệp và bản thân.
Nếu không được như vậy thì đó đâu phải là người nổi tiếng. Mà thay vào đó, tôi thích có một chức quyền để bảo vệ ngành nghề thêu của mình. Nếu có danh và thực, tôi xin chọn cả hai. Cũng giống như người hoạ sỹ có danh mới bán được tranh, còn anh có tài vẽ tranh cỡ nào cũng vô ích vì không có danh. Và nếu cho tôi chọn gì thêm nữa, tôi sẽ chọn hết tất cả để bán được tranh. Vì có thế thì đời sống thợ thêu sẽ đỡ hơn, có tiền làm lễ hội nhiều hơn, to hơn, để khoe với mọi người rằng: thợ thêu đẹp quá, sang trọng và quý phái quá, là nàng tiên thêu tranh. Tiên thêu thì tranh phải đẹp, giá phải mắc. Tôi “tham lam” quá phải không? Nhưng hàng ngàn người phụ nữ làm nghề thêu, họ sẽ nở những nụ cười đẹp nhất cho đất nước này, họ sẽ không còn mặc cảm hổ nhục về thân phận của mình, họ sẽ được kính trọng dù rằng “ở đất khách quê người".
Sự “nổi tiếng hay danh tiếng”, chỉ là từ ngữ vang lên trong sự sáo rỗng, khó bao giờ mà đạt được, đừng tự lừa dối mình nữa. Mà “Hạnh phúc” của con người là quan trọng.
-------------------------------------
8.Tôn chỉ và bí quyết kinh doanh của anh?
Trong Đà Lạt Sử Quán, tôi có một cánh cử niêm phong giấc mơ của người thợ thêu". Tôi từng nói:"Ai mở được cánh cửa đó, tôi sẽ trao chức Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị kiêm Tổng Giám Đốc Công Ty XQ Việt Nam”. Tôi luôn đào tạo cho tất cả nhân viên không kể ai phương pháp mở cánh cửa đó. Bên trong cánh cửa đó, tôi để một khoản tiền rất lớn dùng để đầu tư vào "sức mạnh nguyên thủy và sự thuần khiết" của người phụ nữ làm nghề thêu.
Hãy thận trọng! Sự nghiệp nào rồi cũng qua đi. Đời người thì ngắn, nghệ thuật thì trường tồn và chỉ có nghệ thuật mới đem lại ý nghĩa cho cuộc sống.
Tiền bạc là hệ quả chứ không phải là mục đích. Ta cứ hoàn thiện giá trị đi, tiền bạc sẽ đến… Tôi không biết là mình có thiếu thực tế không? Nhưng tôi suy nghĩ răng cuộc sống của ngày hôm nay gồm 4 sự hoàn thiện:
Thứ nhất: Hoàn thiện sở hữu nhà cửa, tiền bạc – xe cộ, vật chất kể cả quyền hạn mà họ phải hy sinh cho đến cùng, tôi nghĩ đây là cấp độ thấp nhất.
Thứ hai: là hoàn thiện thể hình – thể chất.
Thứ ba: hoàn thiện tinh thần.
Thứ tư: là hoàn thiện trí tuệ.
Nếu cuộc sống chỉ hoàn thiện cho sở hữu thì tầm vóc của doanh nghiệp rất nhỏ bởi vì sở hữu (Kinh doanh) là do có sẵn một thị trường (quỹ đạo) và thành công theo quỹ đạo đó. Nếu quỹ đạo đó lên thì doanh nghiệp lên, xuống thì doanh nghiệp đó xuống. Khi đó chúng ta dễ chấp nhận “Số phận và định mệnh” mà thực tế trong cuộc sống từ người giàu nhất và nghèo nhất, từ nam đến nữ khi có “Chuyện xui xẻo xảy ra” đều cho là số phận và định mệnh, ít khi nào chúng ta có thể tạo ra được một thị trường, một quỹ đạo riêng (giống như những sản phẩm nổi tiếng đã trở thành thương hiệu quốc gia của một số nước trên thế giới).
Tôi ví dụ Việt Nam đã gia nhập WTO, bơi ra biển lớn làm sao có thể đương đầu với hàm cá mập của tài chính – kỹ thuật khoa học của các công ty đa quốc gia… Vậy thì chúng ta phải có một con đường riêng, không chấp nhận “Số phận và định mệnh” mà tôi gọi là “Nhận Thức Xã Hội Cấp Cao” đó là đạo lý – tư tưởng – triết lý - kể cả tư tưởng tôn giáo. Nó sẽ giúp cho ta không chấp nhận các “định mệnh và số phận” của mình. Vì suy nghĩ như vậy nên trong Đà Lạt Sử Quán, tôi luôn ép buộc nhân viên học ở hai khu vực.
Một là: Phòng “Tin tức địa phương + hiệu sách”, hai là khu vực “AGORA” nơi mà chỉ ra những dấu hiệu khủng hoảng giá trị cuộc sống. Chúng tôi đặt tên để bắt mọi người suy nghĩ về điều đó, từ đó hình thành nên các triển vọng mới. Rõ ràng ở đây, tôn chỉ và bí quyết kinh doanh của tôi là “Sự giáo dục” mà tôi có thể nói rằng đó là sự đầu tư lợi nhuận nhất ở cuộc sống này.
-------------------------------------
9. Xem tranh của anh người ta chìm đắm vào thế giới của nó: tinh tế mà có hồn. Anh có bí quyết gì để thổi hồn vào những bức tranh?
Đối với tranh XQ, đó là quan niệm: Cấu tạo một bức tranh thêu không những là kim chỉ, ngày công, khung, kính… mà còn và chủ yếu là một phương tiện truyền tải: tình yêu, nỗi cô đơn, niềm hạnh phúc và cả những thuộc tính về thế giới bên kia. Là một công cụ giúp người phụ nữ giảng hòa với bản thân mình, với lịch sử, trước một cuộc sống thực tế nhàm chán…
Vì thế, hãy tạo cho họ một không gian, nơi đó chuyên chở niềm tin, lòng tự hào, những nghi thức của động tác thêu, sự hòa nhập vào một thế giới mộng mơ… Họ sẽ thêu với động tác của người nghệ nhân và sự cảm xúc bay bổng của người nghệ sỹ. Tôi nghĩ đã là con người, ai cũng có những hạt giống của nghệ sỹ. Nhưng điều quan trọng là làm sao cho hạt giống đó nảy mầm (Đà Lạt Sử Quán chúng tôi đã làm như thế). Còn đối với người họa sỹ chúng tôi, khi vẽ mẫu bao giờ cũng có quan niệm về sự hưng phấn thẩm mỹ.
Khi ngắm một tác phẩm, không những hình ảnh bề mặt của bức tranh đem lại, mà nó còn thể hiện được một trải nghiệm nào đó, một nhận thức đầy tham vọng với cuộc đời. Nghệ thuật là kể lại những chặng đường chúng ta đã đi qua trên trần thế này.
Để cảm nhận nghệ thuật, chúng tôi bao giờ cũng tin rằng. Nghệ thuật là hệ thống và cơ chế ( Sửa soạn và bày tỏ đó mà) đó là cách mà chúng tôi tạo ra những bước “Thực hành thoát ngã” mới đến ngắm được một bức tranh.
Để cảm nhận một nghệ thuật, tôi cũng nghĩ một mình bản thân tác phẩm không đủ, mà phải xích rất gần những loại hình nghệ thuật khác lại với nhau như: kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, ánh sáng, thơ ca…v.v. để hòa tấu lại với nhau, mới tạo ra được âm hưởng của ký ức.
Phải chăng đó là tất cả hồn của tranh thêu XQ không?
Còn vấn đề nào nữa không?
Tôi chỉ biết có vậy và rất mong ai đó biết. Hãy giúp đỡ tôi! Xin tri ân.
-------------------------------------
10. Ngoài thời gian công việc, anh còn dành thời gian cho lĩnh vực giải trí nào ?
Như em biết, ai cũng có một cái nghề. Còn đối với tôi, có một nghề rất cụ thể đó là nghề “Tạo Ra Những Khái Niệm Mới“ cho ngành thêu. Như trước đã kể với em ban đầu khi tiếp xúc với nghề thêu, những khái niệm của ngành thêu rất nghèo nàn thậm chí không có gì cả. Tôi đã trở thành “Một người thành một dàn nhạc" bất đắc dĩ. Tôi luôn nói với mọi người tôi không phải là Chủ tịch HĐQT, không phải là Tổng giám đốc, không phải là một nghệ sỹ, nhạc sỹ, họa sỹ, thi sỹ… và càng không phải là “ông chủ”. Mà tôi là người đượ người thợ thêu ủy thascvaf người thợ thêu nói với tôi rằng: “Anh hãy biết cách cho và nhận cho ngành nghề…”.
Chúng ta thường nghe mọi người hay tự xưng tôi là trí thức, là nghệ sỹ… theo tôi người nghệ sỹ, người tri thức, công việc của anh ta là phải tạo ra “Khái niệm mới”. Nếu không tạo ra được tôi nghĩ anh ta chưa phải là nghệ sỹ và tri thức. ”Khái niệm mới” là một cái gì rất mong manh giống như một đứa bé mới ra đời cần được chăm sóc, giữ gìn, sau này sẽ cho hoa và kết trái. Và chúng ta cũng đã biết kẻ thù của “Khái niệm mới” là những sự thị phi – dè bỉu và bút chiến (xung quanh tôi là không biết bao điều thị phi mà chắc em cũng biết…)
Tôi cứ mặc kệ và chính nhờ những “khái niệm mới đó”, tôi đã nâng lên được hình ảnh của thợ thêu: đó là những cô gái “nghi thức, nghi lễ, truyền thống và linh thiêng” thay thế cho hình ảnh “xấu xí, nghèo nàn, cục mịch, đói kém, ít ăn học thì làm sao có thể làm nghệ thuật được?”
Nghề nghiệp của tôi cụ thể như vậy đó . Nhưng không ai hiểu… nên tôi luôn trong tình trạng bị ức chế, nó giống như quả lắc, lắc về bên kia bao nhiêu thì lắc về lại bên này bấy nhiêu. Nên tôi thích nhất là ngồi với anh em lãnh đạo trong công ty XQ. Tâm sự và ôm đàn, hát, và uống rượu bên đốm lửa “nỗi buồn nhớ cố hương”. Anh chị em hay nói tôi là người “than khóc chiếc chum cũ” cũng giống như người làm công tác tổ chức phải sống trong tình trạng “Phân ly” nên tôi rất thích chơi cờ để mong tìm một tình trạng “Hội tụ” trên ván cờ.
-------------------------------------
11.Anh có nghĩ đến một ngày, con đường nổi tiếng anh đã và đang đi sẽ nổi tiếng trên khắp thế giới không? Và anh là đại diện cho Việt Nam về ngành thêu?
Tôi chưa bao giờ nghĩ và bây giờ tôi nghĩ đây. Nếu mà muốn đạt được sự thật phải từ bỏ ảo tưởng. Trước tiên phải tìm được sự “công nhận” trong cộng đồng chúng tôi. Người ta vẫn còn thiên kiến với nghệ thuật. Khi thưởng ngoạn, họ bao giờ cũng mong tìm một công thức nào đó, một thông điệp gì trong nghệ thuật này. Không, hãy đến với nghệ thuật bằng trái tim trinh trắng.
Thứ hai: có nhiều người lo sợ khái niệm mới do thiếu hiểu biết nên co mình lại và bác bỏ.
Thứ ba: tôi và nhân viên công ty chúng tôi do nóng ruột “ảo tưởng sự nổi tiếng” nên sẽ rơi vào khuôn “trường phái” và khuôn “tư tưởng” đó là thực tế nghệ thuật của chung ta ngày hôm nay.
Thứ tư: bao giờ nghề thêu mới được nhận bốn giải thưởng mà như tôi đã nêu ban đầu.
Thứ năm: bao giờ tôi có nhiều dolla tôi sẽ xây dựng một phim trường thật lớn và tìm kiếm khắp đất nước này những đạo diễn giỏi, nếu không được tôi sẽ bay sang Hàn Quốc thuê đạo diễn như đạo diễn bộ phim “Nàng Dea Chang Kum” cùng với các ca sỹ, thi sỹ, diễn viên, người mẫu tài năng nhất để họ nói về người phụ nữ làm nghề thêu Việt Nam.
-------------------------------------
12.Nói về XQ vào thời điểm ở 10 năm nữa, anh có định hướng và dự định gì?
Với tôi 10 năm, 20 năm hay 30 năm nữa cũng được, miễn là còn sống.
Tôi sẽ hỏi: - Này ông Quân “nổi tiếng” ơi! Ông đã có được bốn giải thưởng mà ông từng mơ ước chưa? – Nếu ông ta nói chưa được, tôi ghé lại tai ông thì thầm rất nhỏ để không cho người thứ ba nghe (vì sợ mang tiếng bất kính với người nổi tiếng) – Này! Ông là một lão già lẩm cẩm. Đã “lãng quên” ký ức rồi!...
Tôi xin cầu nguyện! Hãy cho ông ta được những ước mơ đó đi vì ông ta đã gần 50 tuổi và hàng ngàn người thợ thêu đang chờ nơi ông.
-------------------------------------
13.Anh có lời khuyên gì với những người trẻ tuổi đang mong muốn được như anh?
“Hãy tìm một sự nghiệp để chiến đấu vì tổ quốc này”
Tôi xin tặng mấy câu thơ:
“Vì giác ngộ lòng ta thành đá trắng
Nằm chiêm bao năm tháng đỉnh cô đơn
Vì giác ngộ mà lòng ta biển cạn
Nói ai hiểu và có còn ai hiểu”.
-------------------------------------