
Phiên tòa khiếu kiện miễn phí và tinh thần pháp luật của con người thợ thêu.
- Tác phẩm: Đám Đông Nổi Giận
NHỮNG ĐIỂM MỐC TRONG LỊCH SỬ LUẬT PHÁP
Năm 2350 Trước Công Nguyên
BỘ LUẬT URUKARGINA
Chưa hề được tìm ra, nhưng những tư liệu khác có nói đến nó như một bộ sưu tập những “chỉ dụ” hay những sắc luật do các Vua miền Mesopotamia (Lưỡng Hà) ban bố.
Năm 2050 Trước Công Nguyên
BỘ LUẬT URNAMMU
Bộ luật thành văn đầu tiên được biết đến dựa trên một hệ thống trong đó nhân chứng khi khai báo phải tuyên thệ trước những quan toà chuyên nghiệp. Quan toà có thể ra lệnh cho kẻ phạm tội phải đền bù cho nạn nhân.
Năm 1700 trước Công nguyên
BỘ LUẬT HAMMOURABI
Dưới triều đại của vị Vua Babylone này, một bộ luật đã được soạn thảo và khắc vào tấm bia làm bằng một tảng đá diorit lớn. Thành ngữ “Tội nào hình phạt ấy” đã trở thành tượng trưng cho nguyên tắc cơ bản của bộ luật này.
Năm 1300 Trước Công Nguyên
10 ĐIỀU RĂN
Nhà tiên tri Moise đã trực tiếp nhận của Chúa Trời một bản kê 10 điều luật, tức 10 điều răn, sau này được đưa vào Kinh Thánh.
Từ năm 1280 đến năm 880 Trước Công Nguyên
NHỮNG ĐẠO LUẬT CỦA MANU
Bản tập hợp những đạo luật được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những đạo luật này là cơ sở của chế độ đẳng cấp tại Ấn Độ, một chế độ sắp xếp con người theo địa vị xã hội. Trừng phạt chỉ là biện pháp cùng lắm mới dùng đến. Người thuộc đẳng cấp cao thường bị nghiêm trị nặng hơn những người ở đẳng cấp dưới.
Năm 621 trước Công nguyên
NHỮNG ĐẠO LUẬT CỦA DRACON
Luật gia Hy Lạp Dracon được giao nhiệm vụ soạn thảo một bộ luật cho thành Athènes. Bộ luật này nghiêm ngặt đến nỗi tính từ ”Draconie” ngày nay có nghĩa là “cực kì khắc nghiệt”.
Năm 450 trước Công nguyên
“12 CHIẾC BẢNG”
Những đạo luật này được soạn thảo để cai trị người La Mã, là cơ sở cho đại bộ phận pháp lý hiện đại. Những luật này quy định xử án công khai các tội phạm và thiết lập một chế độ cho phép bên bị hại đòi kẻ xâm hại phải bồi thường. Nguyên tắc căn bản: Luật phải viết thành văn. Việc xử án không được đơn thuần tùy thuộc vào sự giải thích của quan tòa.
Năm 350 trước Công nguyên
BỘ LUẬT TRUNG HOA CỦA LI KUI
Bộ luật đầu tiên của Hoàng Đế Trung Hoa đề cập đến trộm cắp, cướp bóc, nhà tù, bắt bớ và những quy tắc chung làm mẫu cho bộ luật đời Đường.
Năm 529
BỘ LUẬT JUSTINIEN
Hoàng đế Byzantin (Đông Hy Lạp) Justinien đã đi vào lịch sử với việc xây dựng bộ luật La Mã Corpus Juris Civilis. Nhiều châm ngôn pháp lý hiện hành cũng bắt nguồn từ bộ luật ấy.
Năm 604
HIẾN PHÁP 17 ĐIỀU CỦA NHẬT BẢN
Do một ông hoàng nhiếp chính soạn thảo, hiến pháp này đã tạo thành khuôn mẫu ý niệm về đạo đức và pháp lý tại Nhật Bản. Một điều khoản nói rằng: ”Hòa bình và hài hòa phải được tôn trọng vì nó quan trọng đối với mối quan hệ giữa các nhóm người”. Điều này chỉ rõ cái động lực sâu xa của “luật Phương Đông”, nó tìm cách ngăn chặn những cuộc xung đột, còn “luật Phương Tây” thì tìm cách giải quyết chúng.
Năm 653
BỘ LUẬT ĐỜI NHÀ ĐƯỜNG
Liệt kê những tội ác và những hình phạt trong 501 điều duyệt xét lại những bộ luật Trung Hoa thời trước và thống nhất trình tự tố tụng.
Năm 1100
TRƯỜNG LUẬT ĐẦU TIÊN
Do Imérius, luật gia người Italia, mở tại Bologne. Năm 1150, trường này đã có trên 10.000 sinh viên. Nó đã góp phần làm sống lại bộ luật Corpus Juris và phổ biến Luật Ma Mã ra toàn Châu Âu.
Năm 1215
MAGNA CARTA
Khi ký vào bản “Đại Hiến Chương” này, Vua John của nước Anh đã nhường một số quyền tư pháp cho các Nam Tước và nhân dân. Lần đầu tiên một vị Vua chấp nhận mình có thể buộc phải tôn trọng đạo luật, và các vị Nam Tước có thể phản bác ý kiến nhà Vua. Người ta có thể thấy ở đây “Phác họa của thông luật nước Anh”.
Năm 1776
BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA NƯỚC MỸ
Lần đầu tiên một quốc gia bác bỏ các lý thuyết Trung Cổ cho rằng một số người, về mặt pháp lý, có quyền chỉ huy những người khác.
Năm 1804
BỘ LUẬT NAPOLEON
Bộ luật toàn diện được ban bố tại Pháp, công nhận nhiều thành quả của cuộc Cách Mạng Pháp, cũng như quyền tự do cá nhân, quyền bình đẳng trước Pháp Luật, tính không tôn giáo của nhà nước. Bộ luật này đã gợi ý cho việc xây dựng các bộ luật của Québec (1865), của Đức (1900) và của Thuỵ Sỹ (1907).
Năm 1864
CÔNG ƯỚC GENÈVE
Đã được soạn thảo ra để bảo đảm một sự tôn trọng tối thiểu quyền con người trong thời chiến, cũng như việc bảo vệ các nhân viên quân y và cách đối xử nhân đạo với thương binh.
Năm 1945 -1946
PHIÊN TOÀ XÉT XỬ TỘI ÁC CHIẾN TRANH TẠI NUREMBERG
Một phiên toà đã xét xử những thủ lĩnh quốc xã về tội ác chống lại hoà bình, chống nhân loại, tội ác chiến tranh, chỉ rõ rằng ngay trong thời chiến, những tiêu chuẩn đạo lý cơ bản vẫn có hiệu lực.
Năm 1948
LIÊN HỢP QUỐC THÔNG QUA BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ
VỀ NHÂN QUYỀN
Quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.
Nguồn: The World Wide Legal Information Association
__________________
CÔNG ƯỚC VỀ QUYỀN TRẺ EM
Công ước về quyền trẻ em đôi khi được coi là hiến pháp cơ bản của trẻ em. Công ước gồm 54 điều mô tả chi tiết các quyền cá nhân của bất kỳ ai dưới 18 tuổi được phát triển tốt nhất các năng lực của mình, không bị đói khát, thiếu thốn, không bị sao nhãng, không bị bóc lột và gánh chịu những bất công khác.
Kết quả của 10 năm nghiên cứu và thương lượng, bản Công ước đã được Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20–11-1989 và bắt đầu có hiệu lực ngày 2-9-1990 sau khi được 20 nước phê chuẩn. Cho đến nay đã có 139 nước phê chuẩn, ký hoặc tham gia Công ước¬¬¬*. Một khi được một nhà nước phê chuẩn, Công ước sẽ có hiệu lực bắt buộc tại nước đó. Một uỷ ban gồm 10 chuyên gia chịu trách nhiệm theo dõi việc áp dụng tại các nước tham gia Công ước.
Công ước đi xa hơn những văn bản đã có trước đó bằng cách tìm kiếm một sự cân bằng giữa các quyền của trẻ em và các nhiệm vụ của cha mẹ hay những người chịu trách nhiệm về sự tồn tại, phát triển và bảo vệ trẻ, và bằng cách cho trẻ có quyền tham gia những quyết định liên quan đến cả hiện tại và tương lai.
Trong số những vấn đề bức bách được đề cập, trong đó một số xuất hiện lần đầu trong một Công ước quốc tế, có những nghĩa vụ đối với trẻ em sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhất là những vấn đề của trẻ em tị nạn (điều 22), việc bảo vệ chống lại bóc lột tình dục và những hình thức bóc lột khác (điều 34 và 36), vấn đề ma tuý (điều 33) những trẻ em có mắc mớ với luật pháp (điều 40), việc nhận con nuôi ở nước ngoài (điều 35), trẻ em trong xung đột vũ trang (điều 38 và 39) những vấn đề của trẻ em tàn tật (điều 23) và trẻ em các dân tộc bản xứ và thiểu số (điều 30).
Giáo dục là chủ đề của hai điều khoản quan trọng (27 và 28), được tăng cường bởi Hội nghị thế giới về giáo dục cho mọi người, họp tại Jomtien (Thái Lan) từ ngày 5 đến 9-3-1990. Giáo dục tiểu học phải trở thành bắt buộc và không mất tiền đối với mọi người, và phải hướng vào việc phát triển nhân cách, tài năng và năng khiếu tự nhiên của trẻ, đồng thời tôn trọng bản sắc, ngôn ngữ và các giá trị văn hóa của trẻ. Nhu cầu đem lại những cơ hội học tập như nhau cho trẻ em gái và trẻ em trai đã được nhấn mạnh.
Sức mạnh của Công ước mới này là sự linh hoạt của nó. Nó có khả năng thích nghi với những cách đề cập của mọi nước trong việc theo đuổi mục tiêu chung. Nó đã không lẩn tránh những vấn đề gai góc, nhưng đã tìm ra cách thích ứng với những giá trị văn hóa, tôn giáo khác nhau cũng như những giá trị khác đáp ứng theo cách riêng những nhu cầu phổ biến của trẻ em.
Dưới đây là toát yếu những điều khoản chính của Công ước.
* Tính đến ngày 25-7-1991
NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHÍNH CỦA CÔNG ƯỚC
Lời mở đầu
Lời mở đầu nhắc lại những nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp Quốc và những quy định cụ thể của một số hiệp ước và tuyên bố liên quan. Nó khẳng định lại thực tế là trẻ em cần đến một sự che chở và quan tâm đặc biệt do tính dễ bị tổn thương của trẻ, và đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm cơ bản của gia đình trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ.
Lời mở đầu cũng khẳng định lại việc cần có một sự bảo vệ về mặt pháp lý và các mặt khác đối với trẻ trước và sau khi ra đời, đến tầm quan trọng của việc tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng của trẻ và vai trò thiết yếu của hợp tác quốc tế trong việc bảo đảm các quyền trẻ em.
Định nghĩa trẻ em (Điều 1)
Trẻ em được định nghĩa là một người dưới 18 tuổi, trừ phi luật pháp quốc gia thừa nhận tuổi trưởng thành sớm hơn.
Không phân biệt đối xử (Điều 2)
Mọi quyền đều áp dụng cho mọi trẻ em, không trừ một ngoại lệ nào. Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ trẻ em chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử và có những biện pháp tích cực để đẩy mạnh các quyền trẻ em.
Lợi ích tốt nhất của trẻ em (Điều 3)
Mọi hành động liên quan đến một trẻ em cần tính đến đầy đủ lợi ích tốt đẹp nhất của đứa trẻ này. Nhà nước sẽ đem lại cho trẻ sự bảo vệ và chăm sóc cần thiết trong trường hợp bố mẹ hoặc những người hữu trách khác không có khả năng làm việc ấy đối với trẻ.
Thực hiện các quyền (Điều 4)
Nhà nước phải làm hết sức mình để thực hiện các quyền ghi trong Công ước.
Định hướng và phát triển các năng lực của trẻ (Điều 5)
Nhà nước phải tôn trọng các quyền và trách nhiệm của bố mẹ, cũng như của các thành viên trong gia đình mở rộng, nhằm hướng dẫn đứa trẻ một cách phù hợp với sự phát triển các năng lực của nó.
Tồn tại và phát triển (Điều 6)
Mọi trẻ em có quyền bẩm sinh được sống, và Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm sự tồn tại và phát triển của trẻ.
Tên và quốc tịch (Điều 7)
Trẻ em có quyền đựơc đặt tên khi ra đời. Trẻ cũng có quyền mang một quốc tịch, và trong chừng mực có thể, đựơc biết bố mẹ mình và được những người ấy nuôi dạy.
Bảo vệ dân tính (Điều 8)
Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ và nếu cần thiết, phục hồi những nét cơ bản trong danh tính của trẻ (kể cả tên, quốc tịch và quan hệ gia đình).
Cách ly với bố mẹ (Điều 9)
Trẻ có quyền sống với bố mẹ trừ phi được đánh giá là không thích hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ. Trẻ cũng có quyền duy trì tiếp xúc với cả hai bậc cha mẹ nếu phải sống xa một người hay cả hai người.
Đoàn tụ với gia đình (Điều 10)
Trẻ và bố mẹ có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào cũng như trở về xứ sở quê hương của mình nhằm đoàn tụ với gia đình hoặc duy trì quan hệ với các thành viên khác trong gia đình.
Bắt cóc và giữ lại bất hợp pháp (Điều 11)
Nhà nước có nghĩa vụ chống lại việc bắt cóc và giữ lại trẻ em ở nước ngoài do một người cha mẹ hay một bên thứ 3 tiến hành.
Ý kiến của trẻ (Điều 12)
Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ý kiến của mình và ý kiến của trẻ được tính đến trong mọi vấn đề hoặc thủ tục liên quan đến trẻ.
Tự do ngôn luận (Điều 13)
Trẻ em có quyền bày tỏ các quan điểm của mình, thu nhận thông tin và làm cho người khác biết đến các ý kiến và thông tin, bất kể các đường bên giới.
Tự do tư tưởng, ý thức và tôn giáo (Điều 14)
Nhà nước tôn trọng quyền của trẻ em được tự do tư tưởng, ý thức và tôn giáo, đồng thời tôn trọng vai trò hướng dẫn của bố mẹ.
Tự do lập hội (Điều 15)
Trẻ em có quyền hội họp với những trẻ khác, gia nhập hoặc lập hội.
Bảo vệ đời tư (Điều 16)
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại mọi sự can thiệp vào đời tư của mình, vào gia đình, nơi ở và thư tín của mình, chống lại những điều nói xấu và vu cáo.
Được tiếp xúc với thông tin thích hợp (Điều 17)
Nhà nước bảo đảm trẻ em được tiếp xúc với những thông tin và tài liệu xuất xứ từ các nguồn khác nhau, và khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng truyền bá những thông tin có ích lợi xã hội và văn hóa đối với trẻ em. Nhà nước có những biện pháp bảo vệ trẻ em chống lại những tài liệu có hại cho trẻ.
Trách nhiệm của bố mẹ (Điều 18)
Bố mẹ cũng có trách nhiệm hàng đầu trong việc nuôi dạy con cái và Nhà nước phải giúp họ thực hiện trách nhiệm ấy. Nhà nước sẽ đem lại sự giúp đỡ thích đáng cho bố mẹ trong việc nuôi dạy con.
Bảo vệ chống lại sự ngược đãi (Điều 19)
Nhà nước phải bảo vệ trẻ em chống lại mọi hình thức ngược đãi từ phía bố mẹ hay những người khác chịu trách nhiệm trông nom trẻ và lập ra những chương trình xã hội thích hợp để ngăn ngừa những hành động ngược đãi, và chữa chạy cho nạn nhân.
Bảo vệ trẻ em không gia đình (điều 20)
Nhà nước có nghĩa vụ đem lại sự bảo vệ đặc biệt cho trẻ em bị tước đoạt mất môi trường gia đình và bảo đảm sao cho trẻ em được hưởng một sự chăm sóc thay thế cho sự chăm sóc của gia đình, hoặc được gửi vào một học hiệu thích hợp. Mọi cố gắng liên quan đến nghĩa vụ này cần quan tâm thích đáng đến nguồn gốc văn hoá của trẻ.
Nhận con nuôi (điều 21)
Tại những nước được phép nhận con nuôi, việc này chỉ được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ và khi hội tụ đủ mọi sự cho phép của nhà đương cục thẩm quyền cũng như mọi bảo đảm cần thiết.
Trẻ em tị nạn (điều 22)
Một sự bảo vệ đặc biệt được dành cho trẻ em tị nạn hoặc cho đứa trẻ tìm kiếm quy chế tị nạn. Nhà nước có nghĩa vụ cộng tác với các tổ chức thẩm quyền có nhiệm vụ bảo đảm sự bảo vệ ấy.
Trẻ em tàn tật (điều 23)
Trẻ em tàn tật có quyền được hưởng sự chăm sóc đặc biệt cũng như một nền giáo dục và đào tạo thích hợp để trẻ có thể có một cuộc sống trọn vẹn, đúng mực và đàng hoàng, và đạt được một mức độ độc lập và hòa nhập xã hội càng cao càng tốt.
Y tế và dịch vụ y tế (điều 24)
Trẻ em có quyền được hưởng một tình trạng sức khỏe cao nhất có thể có và được chăm sóc về y tế. Nhà nước đặc biệt chú trọng đến việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và phòng bệnh, đến giáo dục về y tế và hạ thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Nhà nước khuyến khích sự hợp tác quốc tế về mặt này và cố gắng bảo đảm sao không một trẻ nào bị tước đoạt quyền được hưởng những dịch vụ y tế hiệu quả.
Thường kỳ xem xét nơi gửi gắm trẻ (điều 25)
Trẻ em được Nhà nước gửi gắm cho một nơi nào đó vì lý do chăm sóc, bảo vệ hay chữa chạy, có quyền được hưởng việc thường kỳ xem xét lại việc gửi gắm này.
An toàn xã hội (điều 26)
Trẻ em có quyền được hưởng an toàn xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội.
Mức sống (điều 27)
Mọi trẻ em có quyền có một mức sống thích hợp cho sự phát triển thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức và xã hội của mình. Cha mẹ có trách nhiệm hàng đầu bảo đảm cho trẻ được hưởng mức sống ấy. Nhà nước có nhiệm vụ làm cho trách nhiệm này được bảo đảm. Trách nhiệm của Nhà nước có thể bao gồm viện trợ vật chất cho bố mẹ và con cái họ.
Giáo dục (điều 28)
Trẻ em có quyền được hưởng một nền học vấn và Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm việc giáo dục tiểu học bắt buộc và không mất tiền, khuyến khích tổ chức những hình thức khác nhau của giáo dục trung học có đến được với mọi trẻ em và làm cho giáo dục cao đẳng đến được với mọi trẻ em trên cơ sở học lực. Kỷ luật nhà trường phải tôn trọng các quyền và nhân phẩm của trẻ. Nhà nước sẽ nhờ đến sự hợp tác quốc tế để bảo đảm việc tôn trọng quyền này.
Mục tiêu giáo dục (điều 29)
Giáo dục phải nhằm phát triển nhân cách của trẻ em, phát triển tài năng, năng khiếu tinh thần và thể chất của trẻ đến mức cao nhất. Giáo dục phải chuẩn bị cho trẻ một cuộc sống tích cực ở tuổi người lớn trong một xã hội tự do và khuyến khích ở trẻ một lòng kính trọng đối với bố mẹ, bản sắc, ngôn ngữ và các giá trị của mình cũng như nguồn gốc văn hóa và các giá trị của người khác.
Trẻ em các dân tộc thiểu số hay bản địa (điều 30)
Trẻ em thuộc những cộng đồng thiểu số hoặc những dân tộc bản địa có quyền được hưởng đời sống văn hóa riêng của mình, thực hành tôn giáo riêng của mình và sử dụng ngôn ngữ riêng của mình.
Vui chơi, giải trí và các hoạt động văn hóa (Điều 31)
Trẻ em có quyền được vui chơi, giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật.
Lao động trẻ em (Điều 32)
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại mọi thứ lao động đe dọa đến sức khoẻ, giáo dục và sự phát triển của trẻ. Nhà nước ấn định tuổi tối thiểu cho việc thuê trẻ và quy định những điều kiện thuê trẻ lao động.
Sử dụng và buôn bán ma túy (Điều 33)
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại việc tiêu thụ các chất gây ngủ và ma túy, chống lại việc dùng trẻ vào việc sản xuất và phân phát những thứ ma túy ấy.
Bóc lột tình dục (Điều 34)
Nhà nước phải bảo vệ trẻ em chống lại sự hung bạo và bóc lột tình dục, kể cả mãi dâm và việc đưa trẻ dính líu vào những hoạt động khiêu dâm.
Buôn bán, bắt cóc (Điều 35)
Nhà nước có nghĩa vụ làm hết sức mình để ngăn ngừa việc buôn bán và bắt cóc trẻ em.
Những hình thức bóc lột khác (Điều 36)
Trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại mọi hình thức bóc lột khác không nói đến trong các điều 32, 33, 34 và 35.
Tra tấn và bị tước đoạt tự do (Điều 37)
Không một trẻ nào bị tra tấn, gánh chịu những sự trừng phạt và đối xử tàn bạo, bắt bớ và giam giữ không hợp pháp. Án tử hình và tù chung thân không cơ hội phóng thích đều bị ngăn cấm áp dụng cho những tội do những người dưới 18 tuổi phạm phải. Mọi trẻ em bị tước đoạt tự do đều bị cách ly khỏi người lớn trừ phi người ta cho rằng không nên làm như vậy vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Trẻ em bị giam giữ có quyền được hưởng một sự giúp đỡ về pháp lý hoặc mọi sự giúp đỡ thích hợp nào khác cũng như duy trì sự tiếp xúc với gia đình.
Xung đột vũ trang (Điều 38)
Các nước tham gia Công ước áp dụng mọi biện pháp có thể trong thực tế sao cho trẻ em dưới 15 tuổi không tham gia trực tiếp vào các cuộc xung đột vũ trang. Không một trẻ nào dưới 15 tuổi bị tuyển vào các lực lượng vũ trang. Các nước cũng bảo đảm việc bảo vệ và chăm sóc những trẻ em bị ảnh hưởng bởi một cuộc xung đột vũ trang như ghi trong công pháp quốc tế thích ứng.
Chăm sóc phục hồi sức khoẻ (Điều 39)
Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm rằng những trẻ em nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang, của sự tra tấn, lơ là, bóc lột hay ngược đãi, được điều trị thích đáng để có thể phục hồi sức khoẻ và hội nhập trở lại xã hội.
Việc xét xử đối với trẻ em (điều 40)
Trẻ em vi phạm luật pháp có quyền được hưởng một cách đối xử sao nâng cao ý thức của trẻ về nhân phẩm và giá trị cá nhân, có tính đến tuổi của trẻ và nhằm hội nhập trẻ trở lại xã hội. Trẻ có quyền được hưởng những đảm bảo cơ bản cũng như một sự trợ giúp về pháp lý hoặc bất kỳ một sự trợ giúp thích đáng nào khác cho việc bảo vệ mình. Nên tránh những thủ tục pháp lý và việc gửi gắm trẻ vào những cơ quan nhất định những khi có thể được.
Tôn trọng những tiêu chuẩn cao hơn (Điều 41)
Khi những quy định liên quan đến quyền trẻ em trong công pháp quốc gia và quốc tế hiện hành ở một nước cao hơn những quy định tương tự trong Công ước này thì tiêu chuẩn được áp dụng bao giờ cũng là tiêu chuẩn cao hơn.
Thực hiện và bắt đầu có hiệu lực (Điều 42 đến 54)
Những quy định trong các điều từ 42 đến 54 dự tính đăc biệt những điểm sau đây: