Tác giả - tác phẩm:
- ĐỖ THỊ PHƯƠNG
PHÒNG KHÁCH - Mr. QUÂN - MOTEL SNAKE
...Người đã tạo tác ra công trình xq sử quán này. Đến đây, đã có người nói “chắc ông ta giàu có, nhiều tiền của và sống sung sướng lắm mới làm ra cái trò này”. Có người lại bày tỏ không thích cách làm này… Trước những điều đó, ông dặn chúng tôi hãy nói với những người khách đến tham quan rằng “cái mà anh chị thấy ở đây chưa nơi nào có cả”, và xin mời anh chị hãy đến cửa hàng của ông mua hộ một cây nến. Thưa quý vị, mỗi cây nến ông ta chỉ lời có 500đ. Khi chúng tôi hỏi thì ông nói: ”Vì sợ khi về già, thèm một ly rượu mà con cháu không cho”.
Còn đằng kia là chiếc bàn, trên đó có hình ảnh chiếc xe đạp và hình bóng của ông. Ông nói: Khi nào anh qua đời mà mấy em còn nhớ đến anh thì hãy tổ chức chương trình vòng quanh Đà Lạt trong vòng 1h bằng xe đạp, không phải để nhớ lại ngày đầu tiên anh đạp xe đi bán tranh đâu mà hãy đạp xe vì một thành phố hòa bình . vì xe đạp được sinh ra cho thành phố này nhưng thành phố này chẳng bao giờ xây dựng cho nó cả.
Vậy nên hiểu thế nào về chân dung của ông. Chúng ta hãy hình dung về một ngày làm việc của ông như thế này:
Vào mỗi buổi sáng, ông ngồi trên chiếc ghế bất di bất dịch trong không gian này cho đến khi đĩa mặt trời đỏ rực như mời gọi ông một bữa ăn sáng dưới rừng thông, để chờ người du khách đầu tiên bước vào Đà Lạt Sử Quán như chờ người tình trong một ngày vẫn chưa gặp – đến buổi chiều, khi mà không gian Đà Lạt chơi trò ú tim giữa mặt trời với mây, nước, người ta chỉ có thể cảm nhận được chiều Đà Lạt khi những ngọn thông còn ngậm những giọt nước lấp lánh ánh sáng như một cơn ảo vọng níu chiều, mà nghệ nhân chúng tôi gọi là những giọt nước mắt chiều của cô dâu ngày đầu tiên về nhà chồng. Và cũng chính trên chiếc ghế bất di bất dịch đó, ông đợi người nhân viên cuối cùng rời khỏi ĐLSQ và tự hỏi đêm nay, trước khi ngủ, cô thợ thêu sẽ có những hy vọng thầm kín nào, rồi ông đến thăm những chiếc rương như là một bài học cho người nghệ sỹ suy nghĩ về đêm, để hành động, để tìm xem thời buổi của tri thức liệu rằng có sự tiến bộ của con người hay không? và liệu trong những chiếc rương đó tạo ra một mối liên hệ giữa ngành nghề thêu của chúng tôi với đời sống cộng đồng có còn hay không? Như thế đó.
Cũng tại căn nhà “Hạo Khí của Người Nghệ Sỹ“ trong khu vườn này, buổi sáng người thợ thêu chúng tôi hơi lo lắng một chút nếu thấy ông ngồi 15 phút bước ra thì ngày đó chúng tôi vui vì không có chuyện gì xảy ra, nhưng nếu thấy ông ngồi 1 tiếng thì chắc chắn sẽ có chuyện lớn. Đôi lúc, chúng tôi ước gì căn nhà đó không tồn tại, nên chúng tôi hay nói đùa với nhau đó là nơi sinh ra mộng mơ và nỗi sợ hãi của người thợ thêu.
Vào những ngày Đà Lạt mưa gió, ĐLSQ không có khách đến thăm và ông bị bệnh nhưng vẫn cứ ngồi đợi, chúng tôi thắc mắc hỏi thì ông trả lời ”Cuộc đời con người không kết thúc trên trần thế này bằng cái chết, không phải nói về thế giới bên kia, mà trước khi lìa đời ta còn phải chịu trách nhiệm với nghề nghiệp, với những người ta yêu thương và với quê hương xứ sở. Nên ngồi trên chiếc ghế này để khôn ngoan sự sống chứ không phải để khôn ngoan sự chết” và ông còn dặn khi nào ông đi công tác xa thì những người quản lý của công ty hãy thay ông để ngồi trên chiếc ghế Thạch Tâm vào buổi sáng và buổi chiều.
Vì giác ngộ mà lòng ta giếng cạn
Nói ai hiểu, mà có còn ai hiểu
Vì giác ngộ lòng ta thành đá trắng
Nằm chiêm bao năm tháng đỉnh cô đơn
Thưa các anh chị, đến đây chắc các anh chị sẽ hỏi vậy thì những nghệ sỹ XQ là ai? Và họ sáng tạo những gì trong không gian này?
Tuy vậy, Nghệ sỹ sống về đêm XQ cũng là một người lãng mạn chân chính đã sáng tạo ra thế giới thần thoại, trong đó diễn ra cái bi kịch của thân phận con người, như trường ca “Dế Khóc Trăng”. Trong đó nói đến sự cô đơn của một kẻ sáng tạo trong một xã hội thù địch với những giá trị tinh thần.
Có thể ví dụ như là chuyện kể về một vì Sao Hôm trước căn nhà Nghệ Sĩ. Vì say đắm một nàng công chúa làm nghề thêu dưới trần thế mà Sao Hôm sẵn sàng từ bỏ cuộc đời bất tử của một vì tinh tú để trở thành một người trần. Chàng đã dấu mình vào một hành tinh trôi nổi trong vũ trụ. Cuối cùng, khi giáp mặt được với Thượng Đế, nghe lời nhắc nhở của Thượng Đế rằng: Tình yêu của người trần đâu có thủy chung. Chàng hiểu ra “sự hy sinh mà mình định thực hiện là vô ích”, nên quyết định không trở lại với thế giới loài người nữa. Chính theo nghĩa đó, mà ở sân “Sao Hôm” trước căn nhà Nghệ Sỹ có dòng chữ khắc trên phiến gỗ như thế này: “Tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng nói nào êm ái như tiếng tình yêu, đó là kỷ niệm duy nhất còn lưu lại dưới bầu trời. Từ khi tình yêu dạy cho ngươi biết hùng biện, những lời ngươi nói được lắng nghe trong các cuộc luận bàn”.
Nhất là trong thời buổi mà sự cách biệt ngày càng lớn giữa những ước lệ tầm thường của nghệ thuật đương thời đối lập với phong cách nghệ thuật của “Nghệ Sỹ Sống Về Đêm” dưới rừng thông (XQ Sử Quán). Không thể thay đổi được cách nhìn hạn chế đó. Từ giữa cuộc đời, khi đã lựa chọn tự do biểu hiện theo cách riêng họ ngày càng phải chịu sự cô đơn vì người đương thời ngỡ ngàng và không hiểu, thậm chí một số tác phẩm của họ gây ra sự chống đối mạnh mẽ.
Ví dụ: Đã từng có nhiều bài báo viết về “Nghệ thuật gì ở ĐLSQ”?
Hay lời của một nhà quản lý Văn Hóa: “Kỳ này phải làm rõ chuyện nghệ thuật ở ĐLSQ không để tình trạng du khách tiếp tục bị mắc lừa”
Hoặc một nhà quản lý văn hóa khác nói: “Cần phải thành lập một đoàn thẩm định nghệ thuật - trong đó có các chuyên gia về nghệ thuật xếp đặt nhằm chấn chỉnh để nhặt ra những hạt sạn, bảo vệ môi trường văn hóa trong lành ở thành phố Đà Lạt”.
Giữa những đòi hỏi của nghệ thuật và sự chờ đợi của công chúng về một phong cách nghệ thuật “Huê Tình”, để ru hời nhau bằng những công thức có sẵn, bằng một thông điệp như áp phích quảng cáo. Người “Nghệ sỹ sống về đêm” không tìm được một chỗ đứng trong thời của mình. Đôi lúc anh ta cố gắng chấp nhận tính lịch sử nghệ thuật đồng thời lại phá hủy nó từ bên trong và mối xung đột ấy kết thúc bằng một khước từ cả về mặt lý thuyết lẫn thực hành.
Những nghệ sỹ lạc thời ấy đôi lúc chỉ biết thổ lộ mối ưu tâm chính yếu của mình với con vượn bằng những cuộc trò chuyện theo kiểu THỰC THI DI CHÚC – khá kỳ cục.
“Nghệ sỹ sống về đêm” XQ là công dân của thế giới và là cư dân Đà Lạt - dân của tỉnh lẻ – Họ là thần dân vương quốc trung gian giữa cái “không còn nữa” và cái “chưa có”. Trên bình diện xã hội học có thể nghĩ đó là những cuộc khủng hoảng sinh tồn và bản sắc. Vì thế, những tác phẩm của anh ta bao giờ cũng mang tính thời sự. Trong đó, con người từ ảo tưởng chuyển sang thất vọng, một câu chuyện về tình yêu và bạo lực, về chiến tranh và sự say sưa kinh tế cho tới đoạn cuối lại khát vọng đầy sự khoan dung và cứu chuộc. Điều làm con người đồng thời không ưa thích tinh thần này là vì trong đó chứa những yếu tố “kinh tởm - hãi hùng - gớm guốc”.
Họ là nhóm người cùng thời – lạc thế hôm qua và hôm nay? Có lẽ cái bí mật của việc tác phẩm của họ bao giờ cũng thời sự là ở chỗ đó. Không phải ở bản chất mà người ta gán cho họ, đúng hơn là ở nghị lực họ huy động để mở cánh cửa vào tương lai. Để hiểu điều này, mời quý khách tham dự nghi thức cắm “Kim Gãy” vào mỗi chiều thứ 7 dưới cổng mặt trời của người Đà Lạt với một phong cách tôn nghiêm nhất của nghề thêu.
Nên có thể kết luận rằng:
Bản ngã “Nghệ sỹ sống về đêm XQ” mang bản chất siêu hình, đúng hơn là “ma quỷ”. Để trêu chọc và đánh lừa loài người, ma quỷ thường sử dụng những sinh vật cô đơn, được chúng phú cho sức quyến rũ… nên chúng đã biến những kẻ kia thành “Nghệ sỹ sống về đêm” làm sao có thể đo – đong hay đếm họ được .

Tác phẩm: MOTEL SNAKE

Chiếc ghế “Vọng Giác Sào“ của Mr . Quân

Phòng khách Mr. Quân

-Chiếc rương 1789 tại Đà Lạt-
Khía cạnh Pháp tại Đà Lạt 120 năm
trong tổng quát thế giới
I.Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Và Dân Quyền Được Quốc Hội Lập Hiến Ở Pháp Thông Qua Tháng 8 – 1789:
Cuộc cách mạng Pháp là sự tổng hợp đầu tiên của 2 cuộc đổi thay lớn lao diễn ra trước nó.
Cách mạng pháp nổi bật không phải chỉ nhờ ở sự mới lạ của nó, mà còn vì bản thân nước Pháp đã nổi bật trên trường thế giới. Lúc đó Pháp là nước đông dân nhất (sau Nga) hùng mạnh nhất – là nước tiên tiến nhất về kinh tế (sau Anh) tiếng Pháp khi ấy là công cụ giao tiếp quốc tế chủ yếu, là ngôn ngữ của tầng lớp thượng lưu học thức. Lúc đó, nước Pháp đòi hỏi vị trí bá chủ về văn học. Lúc đó ở các nước, nhiều nhân vật chính trị đều biết tiếng Pháp, am hiểu và say mê quan tâm đến lịch sử Pháp đã vay mượn những khái niệm và từ ngữ của Pháp như “ phái hữu - phái tả” , “các câu lạc bộ”, “phái Giacobanh” “phái núi cao”, “phái Tecmido”, “phái Bonapác”, “Quân Suăng”.. vv..
Nền cộng hòa thứ III ở Pháp chính thức bắt nguồn từ cách mạng 1789 đã xây dựng được một đế quốc thuộc địa rộng lớn, chinh phục bằng sức mạnh của vũ khí, song với lương tâm hoàn toàn thanh thản vì tin rằng dưới ngọn cờ ba sắc, Pháp đang truyền bá trên thế giới một thông điệp ưu việt về đạo đức và trí tuệ, một thông điệp hấp dẫn vừa có khả năng khai hóa và Pháp hóa...v.v..
II.Phong Trào Phi Thực Dân Hóa Thế Giới Thứ 3
Sự nổi dậy lớn lao của thế giới thứ 3 chống lại chủ nghĩa đế quốc “Phương Bắc” thoạt tiên dường như đó là sự nổi dậy chống nước Pháp (hay chống lại Châu Âu, hoặc “Phương Tây”) nhân danh chính những nguyên tắc tự do của Pháp (1789) hoặc của Châu Âu.
Đòi những nước nhân danh nhân quyền đi chinh phục thuộc địa phải thi hành tại các thuộc địa chính những quyền phổ biến đó. Thế rồi trào lưu ấy phát triển thành nguyện vọng đòi khẳng định những khác biệt dân tộc – hoặc là bản sắc dân tộc.
Trào lưu ấy vung ra trước mặt chủ nghĩa đế quốc không phải các nguyên tắc phổ biến của chủ nghĩa ấy mà là những giá trị đặc thù của chính những dân tộc bị áp lực.
III.Tình Hình Hiện Nay?
Bản thân thế giới đã trở thành một tổng thể thống nhất hiểu biết lẫn nhau. Và có quan hệ qua lại với nhau: sự hiểu biết lẫn nhau sâu rộng hơn này đã bác bỏ điều xưa nay được coi là tất nhiên:
Đó là thứ bậc các nền văn hóa. Chủ nghĩa tự do phương Tây không còn được coi là hình thức văn minh duy nhất có thể chấp nhận. Ngày nay chúng ta nói đến nền văn minh số nhiều những điều kiện đã tồn tại thế kỷ trước có tác dụng mở rộng ảnh hưởng của cách mạng Pháp 1789 suy yếu và không còn nữa.
- Nước Pháp không còn đứng hàng ngũ những cường quốc lớn.
- Tiếng Pháp không còn là ngôn ngữ của sự giao tiếp quốc tế.
- Châu Âu không còn là trung tâm duy nhất của thế giới.
Vì sự phản bội tinh thần 1789: nhân danh lý tưởng tự do chỉ là sự che đậy lịch sử cho bá quyền của Châu Âu
IV.Hãy Đến Cái Mới
Thuyết phổ biến – di sản xa xôi của thời kỳ ánh sáng – 1789 – cái triết học ít nhiều ngấm ngầm nhưng dù sao cũng có tác động thúc đẩy trong các thể chế quốc tế. Tại sao không nhớ lại trong giây phút ấy, nhân kỷ niệm Đà Lạt 120 năm, không phải kiểu đắc thắng lỗi thời song cũng không nên tự dày vò một cách vô ích -:
Rằng cách đây hơn 2 thế kỷ, nước Pháp đã là một chặng đường trong hành trình tiến tới sự hình thành nhân loại.
V.Tuyên Ngôn Thiên Niên Kỷ Thứ III
“AD89” hội vì tuyên ngôn 26-8-1989 do 3 sinh viên Pháp thành lập. Hiện đại hóa tinh thần 1789. Từ ngày ra đời “AD89” hoạt động trên cả lĩnh vực quốc gia lẫn quốc tế nhằm 2 mục đích:
Thứ nhất: làm sao để tiến bộ công nghệ được sử dụng một cách tích cực phục vụ loài người?
Thứ hai: nhiều tham vọng là đề ra một học thuyết về nhân quyền xây dựng trên các quan niệm nhân văn về bản sắc và tính toàn cầu.
Bản tuyên ngôn 26-8-1989 được dự thảo tại đại hội bất thường thanh niên Châu Âu họp từ ngày 16 – 23-7-1989 tại cung Châu Âu, với sự tham dự của 500 đại biểu 21 nước thành viên Hội Đồng Châu Âu và đại diện của các tổ chức “AD89” trên khắp thế giới.
Những thanh niên từ các chân trời địa lý – chính trị và xã hội rất khác nhau tham gia tổ chức này (gần hơn 300 hội viên) được tổ chức thành những nhóm nghiên cứu về các đề tài khác nhau – thông tin – tin học – di truyền học – môi trường và vũ trụ.v.v…

KHU VƯỜN: 7 nỗi sợ ngày tận thế của nghệ sỹ sống về đêm.
Chúng tôi luôn e sợ rằng một ngày nào đó:
1.Núi lửa không còn phun trào và địa cầu sẽ chỉ còn là một hành tinh chết.
2.Các suối nước nóng thôi tuôn chảy, nơi không còn bắt đầu nguồn sống.
3.Thủy triều không còn tiếp tục vận hành, làm sinh lý của trái đất biến mất.
4.Không còn các mầm xanh – sự nối tiếp, sự sống tan biến.
5.khắp nơi chỉ còn là đống tro tàn và sự sống bị hủy diệt.
6.Mặt trăng không còn chiếu sáng, sinh lý của cả vũ trụ biến mất.
7.Mặt trời biến mất và thế giới chỉ còn lại sự tăm tối và u mê.
… Liệu những điều này có thể xảy ra không? Nó đang diễn ra từ từ qua các cuộc khủng hoảng về bản sắc và sinh tồn mà chúng ta vẫn đang chứng kiến mỗi ngày.

Nhật ký : dưới một căn Hầm

Phòng triển lãm:
“Phù sinh biến màu”

- Khu đồi hội chợ của những người bất tử -
NGUY CƠ LỚN NHẤT CHO NGƯỜI “BẤT TỬ”
LÀ SỰ THÈM MUỐN QUYỀN LỰC
- HIỂM HỌA CHO NGƯỜI “BẤT TỬ”
DÍNH LÍU VÀO CÁC CHIẾN LƯỢC
TRANH GIÀNH QUYỀN LỰC

Thức Ăn Nhanh

Đứa Bé Đi Tìm Cha

Chiếc giường: Phân tâm học của tôi

Kẻ nhân danh: Đạo Lý Thị trường

Bếp ăn: Phù Thủy

Bên kia - Tự do và phẩm giá -

Hát khúc bi ca cho một bé gái vừa qua đời

Khu vực :nấm mộ đôi “chiêm bao đường Trần”

Bếp ăn -phù thủy