PHÒNG LÀM VIỆC: VẠN QUYỂN THƯ

Không gian làm việc “Phát Tích”, những ý tưởng tư duy, nơi đạt đến đỉnh cao:     

  • Lập ngôn (viết sách).
  • Lập công (có công với quê hương xứ sở).
  • Lập đạo ( tạo dựng niềm tin, tín ngưỡng cho con người).

Gồm những không gian xếp đặt sau:

  • Trầm hương linh hiển.
  • Án trăng: trăng trên án đọc vần thơ mới viết.
  • Án thư trầm nguyện ( bàn làm việc ).
  • Án sưởi bút: “sưởi bút để nhen lửa lạnh non thiêng”.

 

  1. Nguyên liệu: Một bàn làm việc – một ghế làm việc - hai tủ (hồ hải – sơn khê) – một án trăng – một bộ thập bát bang – bộ tranh “cuộc lữ tà huân” – án sưởi bút (tranh hai mặt nhỏ và nơi cặm bút ) – trầm hương linh hiển (án thờ các vật linh, phụ thuộc vào tín ngưỡng ) – tranh hai mặt lớn.

 

  1. Xếp đặt: Bốn không gian

*     Không gian “ Trầm Hương Linh Hiển” ( Tiền vạn quyển thư )

 

  • Bục đỡ tác phẩm tranh hai mặt vật linh hiển.

 

  • Phía trước là giá đỡ nhị sơn.

 

  • Nếu tranh đại bàng hai mặt (tám phương bốn hướng) thì trang trí bài thơ

Đời nhân sĩ con chim trên đỉnh núi

Ngợi ca ngày nắng mới giữa mù sương

Chim rướm máu bởi hồn thơ u khoát

Rớt xuống trần như lửa cháy tà dương

 

  • Nếu tranh hai mặt là phong cảnh quê hương Việt Nam thì trang trí bài thơ:

Ai đã từng sơn khê, phong trần hồ hải

Đầu ngước cao, thép kiếm ánh dương hồng

Tôi cầu nguyện trí người tung áo vải

Cho đạo đời thơm ngát tấm tình chung

 

  • Nếu tranh hai mặt là chân dung, thì trang trí bài thơ :

 

Miên man ta đứng giữa sa mù

Nghe sương vỡ trên niềm đau của cỏ

Có ai nhặt màu nắng xưa và khóc

Còn riêng ta đẽo đá tạc trăng vàng

 

*     Xếp đặt “Án Trăng” hậu “Án Thư Trầm Nguyện”

Gồm hai tủ :           

  • Hữu vu “Hồ hải”
  • Tả vu “Sơn khê”: nơi đựng bài viết, tài liệu của chủ nhân.

Giữa hai tủ “Hồ hải” và “Sơn khê”, đặt một án trang trí bộ thập bát bang, phía sau vách tường treo bộ tranh “Cuộc Lữ Tà Huân” ( những tác phẩm triết lý ). Có nghĩa “Trăng trên án đọc vần thơ mới viết”

 

*     Xếp đặt “Án Thư  Trầm Nguyện”  (bàn và ghế làm việc )

Trên bàn là “Án sưởi bút” đặt bức tranh “Cổ Độ” hai mặt nhỏ.

Vách tường tả vu treo bài thơ Đọc Sách:

Đãy sách cũ con mọt già tư lự

Ngán ngẩm cười những chuyện chẳng gì đâu

Sợi tóc bạc bùi ngùi thương con chữ

Mai mốt kia rụng xuống những chân cầu.

 

Bàn Làm Việc hay còn gọi “Án thư trầm nguyện”

Ai đã từng sơn khê, phong trần hồ hải

Đầu ngước cao, thép kiếm ánh dương hồng

Tôi cầu nguyện trí người bung áo vải

Cho đạo đời thơm ngát tấm tình chung

 

 

NƠI THỂ HIỆN BÓNG CHỦ NHÂN

(Hay Còn Gọi Tố Như Ư)

      Nơi thể hiện bóng chủ nhân qua những ký hiệu – biểu tượng ( Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín – Dũng - Tâm ).

Nguyên liệu : bức bình phong thêu hai mặt – hài thêu – đôn gỗ và hai chậu hoa lan ( Ý Điểm Duyên ) – một bộ rèm thêu “Nguyệt Trúc Vô Thanh” – cặp liễn đối thêu ( Nhân – Trí – Lễ …) – cặp đèn thêu màu đỏ.

 

Xếp đặt : tác phẩm  “Núi Cười Sông Lận Đận”

  • Liễn và rèm treo cửa
  • Bình phong chắn trước cửa
  • Hài thêu đặt trước bình phong
  • Đôn và hoa lan để hai bên bức bình phong
  • Hai đèn thêu trên hai bức liễn

     

Trình diễn

  • Chủ nhân làm việc: sử dụng ánh sáng và thả rèm.
  • Chủ nhân có thể ra tiếp khách: vén rèm tắt nguồn sáng bên ngoài.     

     

    Không gian "Tố Như Ư"

     

    Ta đã ra đi từ xa xăm nỗi nhớ

    Vết ngựa bon loang khói giữa ngàn thu

    Bẻ kiếm quăng giữa lòng gió bão

    Phụng hiến đời không kể hơn thua

     

    Sắc đào rạo rực mơ xuân cảnh

    Cõi bụi bâng khuâng nhớ cội nguồn

    .....................

    Tình biển mực trào ân sữa mẹ

    Bút lòng chữ đọng nghĩa nguồn quê

    ..........................

     

    Nơi ngắm bình minh và nghe chim hót

     

    Cánh cửa: Nơi Ngắm Các Vì Sao

     

    Xinh xinh vài nụ cỏ

    Đặt lên đĩa án thư

    Lung linh vầng nhật nguyệt

    Lung linh cả thái hư

     

     

                                      Góc "Ngắm Trăng"                                                                        Góc "Bẽ bàng với nguyệt"

     

 

.
.
.