1.jpg)
LỊCH SỬ GIÁO XỨ
Lịch sử hình thành Giáo Xứ Việt Nam Đức Mẹ La Vang - San Jose khởi đi từ những ngày hạt giống Dân Việt được gieo trên vùng đất lạ Silicon Valley sau cuộc xuất hành năm 1975. Đất lành chim đậu, người dân Việt đổ về an cư lạc nghiệp tại vùng nắng ấm San Jose ngày càng đông và nhu cầu tâm linh của người Công Giáo Việt Nam được Giáo hội địa phương quan tâm chăm sóc.
Vào thập niên đầu, các giáo xứ địa phương đón nhận để người Việt Nam có thể cử hành Thánh Lễ trong các ngày Chúa nhật và Lễ trọng, trong khuôn viên nhà thờ của các giáo xứ này, đồng thời cũng có những nơi để sinh hoạt tôn giáo như các lớp dạy giáo lý, các nơi hội họp cho các đoàn thể công giáo tiến hành… Các nhà thờ St Elizabeth, St. Lucy, Most Holy Trinity, St. Maria Goretti, St. John the Baptist, Holy Family, St. Patrick… đã là những nơi đầu tiên mà người Công giáo Việt Nam được phép dùng làm nơi cho các hoạt động tôn giáo này.
Qua các thập niên sau, cộng đoàn Công giáo Việt Nam tiếp tục phát triển lớn mạnh tại các giáo xứ địa phương, nhưng vẫn khát khao có một giáo xứ dành riêng cho người Việt Nam với một ngôi thánh đường mang nét văn hóa Việt Nam, cho người Việt Nam, để cùng nhau quy tụ thờ phượng Chúa theo truyền thống tập tục người Công Giáo Việt Nam.
Ngày 1 tháng 7 năm 1999, Đức Giám Mục Giáo phận San Jose đã chấp thuận cho người công giáo Việt Nam được thành lập một Giáo Xứ Thể Nhân và chọn nhà thờ St. Patrick làm nhà thờ Việt Nam với danh hiệu là Giáo Xứ Việt Nam St. Patrick. Từ đó, cộng đoàn giáo xứ Việt Nam San Jose có một mái nhà để quy tụ thờ phượng Chúa, và Nhà Thờ St. Patrick đã gắn liền với Giáo Xứ Việt Nam. (Đồng thời, giáo xứ St. Patrick vẫn tiếp tục là một giáo xứ tòng thổ, phục vụ cộng đồng giáo dân đa ngôn ngữ, gồm cả cộng đoàn nói tiếng Tây Ban Nha.)
Ngày 30 tháng 8 năm 2012, một biến cố không may xảy đến với Giáo Xứ St. Patrick. Đó là trận hỏa hoạn. Ngọn lửa đã thiêu hủy gần như toàn bộ cấu trúc bên trong ngôi Thánh Đường.
Ngày 28 tháng 4 năm 2013. Đức Giám Mục Patrick J McGrath ban sắc lệnh đổi tên giáo xứ thành “Giáo Xứ Đức Mẹ La Vang” (Our Lady of La Vang Parish). Đồng thời, Ngài cho phép Giáo Xứ chính thức tiến hành chương trình gây quỹ để xây dựng cơ sở Thánh Đường Đức Mẹ La Vang với cuộc vận động “Góp Tay, Ta Xây Nhà Chúa”. Hiện nay, cộng đoàn Giáo Xứ Việt Nam đang cùng nhau nỗ lực góp phần xây dựng ngôi Nhà Thờ mới, và xây dựng Đền Thờ tâm hồn con người, trong một cộng đồng Kitô Hữu hiệp nhất yêu thương, theo truyền thống văn hóa Công Giáo Việt Nam.
Hướng về tương lai, Giáo Xứ Việt Nam Đức Mẹ La Vang, với ngôi Thánh Đường mới, sẽ là di sản quý báu truyền lại cho thế hệ mai sau, để tiếp nối tinh thần, giá trị và truyền thống văn hóa Việt Nam: Sống đức tin kiên vững, gắn bó trong đời sống gia đình, giữ gìn đạo hiếu với tiền nhân, và sống chứng nhân Tin Mừng Yêu Thương.
1.jpg)
Tác phẩm tranh thêu tay: Thánh Tượng là Đức Mẹ ẵm Chúa Hài Đồng thể hiện bằng Hodighitria (Đấng chỉ dẫn đường đi). Trong tư thế đặc sắc này: Đức Mẹ ẵm Chúa Hài Đồng trên tay trái, và Chúa Giêsu giang hai tay giơ lên ban phúc lành, bên dưới là các Thánh tử vì đạo. Tác phẩm này được trang trí ở Thánh Đường Đức Mẹ La Vang (Giáo Xứ Việt Nam Đức Mẹ La Vang - San Jose - America)
Kích thước: 250 x 330 cm
Chất liệu: Chỉ DMC, chỉ tơ tằm, và vải cotton.
Thời gian hoàn thành: 2 năm
Số lượng chỉ: 11kg
------------------------------------------
* QUY TRÌNH ĐỂ HOÀN THIỆN TÁC PHẨM TRANH THÊU:
ĐỨC MẸ LA VANG VÀ CÁC THÁNH
I. Phác thảo mẫu bút chì
II. Nghi lễ khởi phát mũi chỉ đầu tiên
III. Quá trình hoàn thiện:
1.Danh sách nghệ nhân thực hiện tác phẩm
2.Thời gian hoàn thiện
3.Số lượng chỉ hoàn thành tác phẩm
4.Nghi lễ cắm kim gãy
5.Số lượng mũi kim thêu
IV. Thẩm định tác phẩm sau khi hoàn thiện
V. Nghi lễ buộc chỉ ước nguyện sau khi hoàn thành tác phẩm
VI. Lên khung tranh
VII. Nghệ nhân nghệ sĩ XQ thực hiện nghi lễ hoàn thiện tác phẩm rước về thánh đường: Đức Mẹ La Vang San Jose, America.
1.jpg)
Hãy cho con được biết Chúa, để con được mắt Chúa thương đến và coi ngành thêu này là ngành nghề của Chúa.
(Lời cầu nguyện của nghệ nhân
thêu tranh Thánh Tượng)
-------------------------
… Nếu như tai họa chiến tranh là không thể tránh khỏi, xin hãy khiến cho ít nhất chúng con cũng không thù hằn nhau, không xâu xé lẫn nhau trong hòa bình và sử dụng khoảnh khắc cuộc sống của chúng con để ca ngợi - cũng bằng hàng nghìn ngôn ngữ khác nhau, từ Xiêm cho đến California, lòng nhân từ của Người đã ban cho chúng con khoảnh khắc đó… Xin hãy cho tất cả những sắc thái nhỏ nhặt phân biệt những nguyên tử được gọi là “con người” với nhau, không phải là những dấu hiệu để hằn thù và ngược đãi…
(Trích VOLTAIRE - Luận về khoan dung)
-------------------------
… Xin hãy khiến cho mọi người nhớ rằng họ là anh em với nhau, xin hãy khiến cho họ ghê tởm sự bạo tàn đối với tâm hồn, cũng như ghê tởm sự cướp bóc, dùng vũ lực lấy đi thành quả của lao động và sản xuất yên bình!... … Xin hãy khiến cho mọi người nhớ rằng họ là anh em với nhau, xin hãy khiến cho họ ghê tởm sự bạo tàn đối với tâm hồn, cũng như ghê tởm sự cướp bóc, dùng vũ lực lấy đi thành quả của lao động và sản xuất yên bình!...
(Trích VOLTAIRE - Luận về khoan dung)
--------------------------------
Con không nói với con người nữa mà xin nói với Người, Chúa của mọi loài, mọi thế giới và mọi thời đại: Nếu cho phép những sinh linh yếu đuối, bị lạc lõng trong không gian mênh mông, và không thể nhận thấy đối với phần còn lại của vũ trụ, dám xin một cái gì ở Người, Người mà tất cả đã được đem cho đi hết, mà các chiếu chỉ đều bất di bất dịch cũng như vĩnh cửu. Xin hãy đoái nhìn với lòng trắc ẩn xuống những sai lầm gắn liền với bản chất chúng con; xin chớ để cho những sai lầm này gây ra những tai họa cho chúng con…
(Trích VOLTAIRE – Luận về khoan dung)
--------------------------
CẦU CHÚA
Người đã không cho chúng con một trái tim để hận thù và những bàn tay để cắt cổ lẫn nhau; xin hãy khiến cho chúng con giúp nhau chịu đựng gánh nặng của một cuộc đời vất vả và phù du; xin hãy cho những khác biệt nhỏ nhặt giữa những quần áo che phủ tấm thân còm cõi của chúng con, giữa tất cả những cách nói không thích đáng của chúng con, giữa tất cả những hoàn cảnh của chúng con, chênh lệch nhau biết bao theo con mắt chúng con nhưng lại bằng nhau biết bao trước Người …
(Trích VOLTAIRE – Luận về khoan dung)
1.jpg)
… Xin hãy làm cho những kẻ thắp nến giữa ban trưa để thờ phụng Người chịu đựng được những kẻ bằng lòng với ánh sáng mặt trời của Người; xin hãy làm cho kẻ phủ lên áo của họ một tấm vải trắng để nói rằng cần phải yêu mến Người không ghét những kẻ cũng nói như vậy dưới một tấm áo khoác ngoài bằng len đen; xin hãy làm cho việc thờ phụng Người bằng một thứ biệt ngữ cổ xưa hay bằng một thứ biệt ngữ mới hơn đều là như nhau, xin hãy làm cho những kẻ mà y phục ruộm đỏ hay ruộm tím, trị vì trên một mảnh đất nhỏ gom lại bằng một đống bùn nhỏ của trái đất này và sở hữu một vài mảnh tròn tròn của một thứ kim loại nào đó, được hưởng một cách không kênh kiệu cái mà họ gọi là “vinh quang phú quý”, và những kẻ khác nhìn họ một cách không đố kỵ; bởi Người biết rằng trong những thứ phù phiếm kia chẳng có gì để mà phải đố kỵ hay để kênh kiệu…
(Trích VOLTAIRE – Luận về khoan dung)
-----------------------
Ngày xưa ở Đà Lạt có một vị cha xứ, hàng tuần tập trung các cô cậu sinh viên, những người thổ dân, người dân các vùng miền thậm chí những người ở nước ngoài, cùng tập trung trên một đồi thông thực hiện nghi lễ tẩy uế bằng cách mọi người sẽ ngồi lại thành vòng tròn, chuyền tay nhau những trái thông Đà Lạt. Và vị cha xứ thường đọc to rằng: Chúng ta đều là những tinh thần lưu vong trong thế giới vật chất và chỉ có đạt tới sự thống nhất bằng cách vượt qua mâu thuẫn.
Nên có thể nói những quả ớt chuông đầy màu sắc ở Đà Lạt là biểu tượng cho sự đoàn kết, thống nhất, xây dựng nền văn hóa hòa bình: Tình làng nghĩa xóm - Học cách yêu thương
----------------------------------------------
LUẬT CỦA CHÚA
Nhằm đưa con người đến chỗ nhận thức được sự tồn tại của mình về mặt linh hồn và thể xác. Luật đạt tới mục đích đó bằng cách thiết lập hòa bình cho các công dân và làm cho các cá nhân có được những đức tính có ích cho xã hội. Không được để cho sự hiểu biết về Chúa vẫn chỉ là trừu tượng mà nó phải đưa người ta đến chỗ làm cho tình đoàn kết, luật pháp và công lý ngự trị trên trái đất.
-------------------------------------
“Ở đâu có hai hoặc ba người nhân danh ta màhọp nhau lại thì có ta ở giữa họ”, và khi bẻ bánh trong bữa tiệc ly, Chúa nói cùng các Tông Đồ rằng: “Các con hãy làm điều này để nhớ đến ta”.
“MỘT SỰ HỌP MẶT LÀ ĐỂ TƯỞNG NIỆM”
1.jpg)
17 NGHỆ NHÂN
THỰC HIỆN TÁC PHẨM
1. Nguyễn Thị Đông Nghi
2. Tống Thị Mỹ Lan
3. Bùi Thị Hải Lý
4. Trịnh Thị Phương
5. Nguyễn Thị Phương Thảo
6. Ngô Thị Hiền
7. Hồ Thị Lý
8. Trần Thị Kim Thanh
9. Lê Thị Mai
10. Lê Thị Hoàn
11. Trần Thị Mai
12. Hoàng Thị Hậu
13. Trịnh Thị Hạnh
14. Cù Thị Thanh Trang
15. Trần Thị Hường
16. Trần Thị Hồng Vân
17. Nguyễn Thị Thu Hải
1.jpg)
1) Kho tư liệu vải, chỉ, kim
2) Thư viện các mẫu thiết kế tranh thêu và các sản phẩm thêu
3) Bộ phận chuyên khảo các tác phẩm thêu và sản phẩm thêu
Gồm có:
a) Tiêu đề của bức tranh
b) Hình thức bức tranh (câu chuyện ra đời)
c) Diện mạo (cách thể hiện – kỹ thuật – màu sắc – chất liệu)
4) Bộ phận phục chế các tác phẩm tranh thêu và sản phẩm thêu: Giới thiệu những hình thức phục chế của nó.
5) Phòng tác quyền các tác phẩm thêu và sản phẩm thêu
6) Phòng các bộ môn nghệ thuật thêu
- Chân dung – phong cảnh – hai mặt – điêu khắc
7) Pháp lý – Hành chính – Tài chính: Thích hợp cho công nghệ sản xuất (ước mơ) nhằm tạo ra sự tăng cường những cơ cấu cần thiết cho việc ổn định và phát triển nghề thêu.
a) Pháp lý: là những quy định của các bộ phận trong hệ thống sản xuất.
b) Hành chính: giám sát – quản lý hoạt động của các bộ phận trong hệ thống sản xuất (phân công phụ trách các bộ phận).
c) Tài chính: Chi phí đầu vào và đầu ra hệ thống sản xuất này.
Chọn cách trưng bày (xếp đặt) một biểu hiện độc đáo của nghề thêu. Đã qua rồi thời kỳ cách trưng bày nghề thêu cho thật nhiều, dễ dàng cho khách hàng lựa chọn. Xuất hiện nhiều cơ sở cạnh tranh chạy theo – nó trở thành tranh thêu là một “MỚ HỖN ĐỘN”: Nghĩa là giảm sút về tiềm năng Nghệ Thuật của nó, bước thụt lùi về thẩm mỹ của nghề thêu – sự nghèo nàn tinh thần mà nó đem lại – sự trống rỗng về ý tưởng của nghề thêu. Tóm lại, tranh thêu bây giờ là tranh chợ.
----------------------------
ĐIỀU LÀM NÊN VINH QUANG CHO MỖI TÁC PHẨM THÊU
“Khi bắt đầu thêu: Bao giờ cũng có đoạn độc thoại giữa người thợ thêu – sợi chỉ thêu và bài thơ siêu thực. Khi kết thúc tác phẩm thêu: là một cuộc trò chuyện giữa bức tranh và tác phẩm văn học. Chính những giai đoạn này, nó làm thay đổi sâu sắc nghệ nhân thêu, đưa họ vào trạng thái ngây ngất. Đó là dấu hiệu thay đổi với chất liệu sâu xa của bức tranh thêu: - kỹ thuật với tư duy – kỹ thuật với xúc cảm – kỹ thuật với kiến thức – làm nên nghĩa đích thực và đơn nhất của mỗi tác phẩm thêu XQ.”
-----------------
Thế giới hiện đại tràn ngập những kí hiệu nghe – nhìn. Sản xuất nghe – nhìn tăng lên khủng khiếp. Hậu quả là con người giảm sút về tiềm năng nghệ thuật. Bước thụt lùi về thẩm mỹ, sự nghèo nàn về tinh thần, chưa kể đến sự trống rỗng ngày càng lớn của những ý tưởng được thể hiện.”
-----------------
“Bộ phận nghiên cứu các bộ sưu tập và sản phẩm thêu
Bằng chứng về sự tiến bộ và tiến hóa của con người dưới hình thức cao cả nhất của nó khi con người coi những tác phẩm nghệ thuật là danh hiệu vinh quang của mình, và tác giả của tác phẩm được quý trọng nhất.”
Krzytof Zanussi
(Đạo diễn và biên kịch Ba Lan)
1.jpg)
Người ta đã nói rằng nghệ thuật thêu XQ là một sự phục sinh liên tục, luôn luôn quay về các lý tưởng truyền thống để giải quyết các vấn đề thẩm mỹ của mình. Ta có thể thấy những khía cạnh của truyền thống ấy trong các Icon thể hiện Đức Mẹ và các tông đồ trong những chiếc áo xếp nếp truyền thống người Việt và thể hiện những người truyền bá kinh Phúc Âm ở những tư thế, trong trang phục và bối cảnh rất giống những nhà đạo đức học thời xưa. Nếu ta quên đi trong giây lát tính mơ mộng và huyền ảo của tác phẩm ta có thể nhận ra ngay các giá trị truyền thống…
Về hình thức lẫn các tỷ lệ, về mặt biểu tượng lẫn màu sắc, mỹ học của nghệ thuật thêu Icon được xây dựng trên nền tảng của những truyền thống cổ xưa. Truyền thống cổ xưa ấy, bao quát một số trục tư duy lớn - Thiên Chúa, cái tuyệt đối, thế giới, sự sáng thế, con người - được bổ sung thêm những giáo huấn triết học và tôn giáo ban đầu được truyền khẩu, sau đó được diễn đạt trong sách và trong những hình thức khác nhau của nghệ thuật tôn giáo như kiến trúc và hội họa. Ở mức cao nhất, nghệ thuật thêu Icon có nhiệm vụ truyền bá tư tưởng triết học và thần học. Theo nghĩa đó, thêu Icon được coi là "thần học bằng màu sắc của thêu".
Cái đẹp trong thêu Icon cần được nhìn nhận theo cách đó. Nghệ nhân XQ không quan niệm cái đẹp vì bản thân cái đẹp, "nghệ thuật vị nghệ thuật", cái ý tưởng lãng mạn của thế kỷ 19, đối với họ cũng như đối với các nghệ sĩ thời xưa, cái đẹp là một thuộc tính của cái Thiện, tên gọi về một trong những thực tại tối cao của vũ trụ. Người Kitô giáo coi địa hạt của cái Thiện là ở trên trời, nơi ngự trị sức mạnh thần thánh. Lời giáo huấn đằng sau tôn giáo và triết học mà ta có thể tìm thấy trong nghệ thuật thêu Icon là nhằm đưa cái Thiện thần thánh xuống với con người trên trái đất, đồng thời nâng con người lên với cái Thiện.
Theo cách nhìn ấy, vũ trụ là một hệ thống thứ bậc với Chúa Trời ở điểm cao nhất. Chúa - Người cai quản vũ trụ. Tít xa bên dưới là trái đất bị cái chết, quỷ Xatăng và sự tối tăm đe dọa. Con người bị gắn liền với trái đất do bản chất vật chất của mình, nhưng linh hồn con người, nơi có ánh lửa thần thánh, vẫn mơ về với các thiên thần và thượng đẳng thần trên bầu trời sao, cũng như về với những nguyên lý của thế giới thần thánh, tổ quốc thực sự của mình.
1.jpg)
A. Nơi lưu giữ những công trình nghiên cứu về các bộ sưu tập tranh thêu và sản phẩm thêu.
B. Nơi kể chuyện về một số tác phẩm tranh thêu.
Tại phòng chuyên khảo: Mỗi bức tranh thêu không những là tác phẩm nghệ thuật mà còn là cả quá trình “Kể chuyện huyền thoại”. Công việc là tìm ra cách kể chuyện các huyền thoại bằng ngôn ngữ mới.
C. Khu trưng bày giới thiệu các tác phẩm chuyên khảo.
Nên bắt đầu câu hỏi như thế này, là con người ta có còn thích tranh thêu nữa hay không? Và khẩu hiệu XQ đưa ra liệu có còn thích hợp nữa không?
“Tranh thêu tay XQ là món quà quý giá đậm đà tình nghĩa quê hương và là mặt hàng trang trí nội thất cao cấp của dân tộc Việt”.
Giai đoạn ban đầu: câu hỏi đặt ra, hình ảnh của bức tranh thêu của nghệ thuật thêu tay truyền thống có cần thiết cho một dân tộc hay không?Khả năng kể lại quê hương mình, bản thân mình, cho mình soi những tấm gương của mình liệu có còn nữa không? Hay là bây giờ nó chỉ là sản phẩm giống như quần áo – nước giải khát – xe hơi – thuốc lá – rượu...vv. Bằng cách nào để bảo vệ mình, một nghệ thuật thêu XQ truyền thống của dân tộc. Bằng cách trở lại quá trình chinh phục với hình thức sáng tạo mới để tạo ra một “hành trang cho ngày trở về với quê hương”.
--------------------------------
Bộ phận: CHUYÊN KHẢO – THIẾT LẬP CÁC BỘ SƯU TẬP VÀ PHÁT HÀNH TÁC PHẨM VÀ SẢN PHẨM THÊU
I. CHUYÊN KHẢO:
Các sản phẩm thêu XQ được khảo sát bởi 3 phần:
1. Từ ngữ: những tiêu đề tranh và sản phẩm.
2. Hình ảnh: các sự vật trong tranh và sản phẩm.
3. Diện mạo: bố cục hay còn gọi là năng lượng liên kết các sự vật trong tranh.
Đó là 3 thành phần cơ bản của một tác phẩm thêu XQ.
II. THIẾT LẬP
Bộ sưu tập tranh thêu và sản phẩm thêu dựa trên 3 mô hình huyền thoại: sự trở về quê hương – tình yêu bất khả thể và tự vấn.
1. Sự trở về quê hương:
Khi mới lớn lên ai cũng có nhu cầu ra đi và tự tái tạo mình – nhất là ở các nước phát triển - mảnh đất hứa cho sự ra đi để tái tạo mình.
Không phải ngẫu nhiên khi ra đi đến nước khác người ta thường đổi tên như: Tony..., Mary...v.v.. thực sự nó đáp ứng một nhu cầu (vô thức hay hữu thức) là muốn bắt đầu lại tất cả.
Đó là lý do thứ nhất - lý do thứ hai: tìm công việc phù hợp và thu nhập khá - Lý do thứ 3 là khám phá cái mới, văn hóa mới, lối sống mới, cái nhìn mới. Còn việc trở về, nó không ngừng diễn ra trong mỗi người. Không ngừng bị “THẦN KINH PHÂN LIỆT” nghĩa là: - Ở NƠI TA ĐI VỀ ĐÔI NGẢ –
2. Tình yêu “BẤT KHẢ THỂ”
Không bao giờ đạt đến sự viên mãn
3. Việc TỰ VẤN:
Vậy là: Tranh thêu XQ không những thực sự là nghệ thuật mà là quá trình “kể chuyện huyền thoại”, công việc thương mại là thực hiện quá trình kể các huyền thoại qua tranh thêu bằng một ngôn ngữ mới. (Vì ngày hôm nay không ai có thể tạo ra huyền thoại mới)
III. Phát hành SẢN PHẨM THÊU (Các hình thức kinh doanh)
Đây là công việc thực hiện chức năng sống còn, là phát hành những hình ảnh nội sinh. NỘI SINH nghĩa là tranh thêu XQ phản ánh hình ảnh dân tộc (thuộc tính dân tộc: tình yêu – hạnh phúc – cô đơn – sự phấp phỏng về thế giới bên kia...) và mối quan tâm của dân tộc đó về: Quá khứ - hiện tại – tương lai... những khắc khoải lo âu của dân tộc đó... chứ không phải chỉ ru ngủ bằng (thể thao – giới showbiz – ca nhạc ..v.v..)
1.jpg)
XQ muốn làm cho nghệ thuật thêu trở thành trung tâm kháng cự lại việc mất đi ý nghĩa, thành trì cuối cùng của ý nghĩa này của hình ảnh. Nghệ thuật phải có một ký ức, một ngôn ngữ phát triển - ngôn ngữ nghề thêu là phụ nữ - một phương tiện hùng mạnh in dấu lên mọi thứ mà nó sản sinh “khả năng có được hình thù” in dấu lên nó, đem lại cho nó cái chất lượng hữu cơ, cái ký ức mà nó hiện thiếu.
Để cho trí tưởng tượng không bị gục ngã trước tác động kỹ thuật truyền hình tốc độ cao và trả lại cho hình ảnh sự ngây thơ đã mất của nó… Ta phải đình lại dòng chảy của hình ảnh và cưỡng lại sức mạnh quyến rũ của cái tính - TỨC THỜI - nếu làm được việc đó, con người chúng ta sẽ được trở về cái mà các nhà tư tưởng lớn gọi là TIỀM NĂNG CỦA CHÂN LÝ như trong tiểu thuyết: ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT (của PROUSI) ông viết: “Vị của một cái bánh ngọt nhỏ trên đầu môi làm sống lại các ký ức bị chôn vùi trong quá khứ một quá khứ được sống lại trong hiện tại”.
Có quá nhiều các loại hình nghệ thuật ta có thể thấy được hiện nay khiến cho mỗi chúng ta phải tự tạo ra cách thưởng thức của riêng mình. Tình trạng có quá nhiều các loại hình nghệ thuật khiến cho công việc người nghệ sĩ – nghệ nhân rất vất vả. Đôi khi bị mất phương hướng trong mê cung PHƯƠNG PHÁP và PHONG CÁCH.
Trong thế giới bão hòa nghệ thuật, việc thưởng thức một khám phá nghệ thuật thật sự là tuyệt diệu và trở thành hiếm hoi. “TÔI YÊU THÍCH CÁI KHÔNG BAO GIỜ CÓ!”, những họa sĩ thiết kế tác phẩm Đức Mẹ La Vang Và Các Thánh tại XQ - Sử Quán đã thốt lên như vậy, họ đã mời chúng ta bằng câu đó. Hãy lên đường khảo sát những nẻo đường khám phá của nghệ thuật thêu.
Là sự trở về với “chính sự vật” mà trong nghề thêu XQ chủ trương gọi là “BỘ MÔN HIỆN TƯỢNG HỌC”. Với bộ môn này trong nghệ thuật thêu XQ có nghĩa là học lại cách nhìn sự vật bằng đôi mắt trẻ thơ. Trong một cuốn sách: CHÂN LÝ CỦA HÌNH ẢNH (Wim Wenders) phát hiện trong động tác nhìn của con người khả năng về chân lý tiềm ẩn: Bị che đậy bởi lời nói - bởi những biến cố đã qua - bởi dư luận. Việc trở lại với nhận thức thật sự, không vướng vào những đánh giá, phán xét nghĩa là học lại cách nhìn. Điều này trở nên quá khó khăn, vì sự lạm phát hình ảnh ngày hôm nay. Kỹ thuật độ nét cao cho phép nhân lên vô tận các hình ảnh, mà vẫn đảm bảo độ chính xác sắc nét của nó. Được số hóa và phi vật chất hình ảnh độ nét cao sẽ không bị hư hỏng như một bản phim âm bản, vì vậy từ “NGUYÊN BẢN” của bức ảnh trở thành vô nghĩa. Với những thao tác sửa đổi nó không để lại dấu vết gì… Hình ảnh sản sinh ra bằng máy vi tính dẫn đến thời đại của những tình huống làm hàng giả nơi HIỆU ỨNG THỰC TẾ lấn át bản thân thực tế: THẾ GIỚI ẢO lấn át thế giới thực. Mối quan hệ giữa NGHỆ THUẬT và CÔNG NGHỆ hiện thời là mối quan hệ cực kỳ khó khăn. Nghệ nhân – nghệ sĩ khi làm việc luôn né tránh KHÁI NIỆM hóa mà chỉ đào sâu vào đặc thù cuộc sống của thế giới này, để nắm bắt toàn bộ kinh nghiệm của nó. Trong khi đó công nghệ làm ngược lại xem cái đặc thù là kết quả của cái toàn cầu (cào bằng)… Nghệ nhân - nghệ sĩ trở thành nhà tin học. Tính siêu nghiệm của tác phẩm nghệ thuật sẽ ở đâu đó trong các mạng truyền đi trong các mạch được biến đổi, được giải thích… Hình ảnh này bắt đầu quay lưng lại với con người, nó đã trở lại những “hình ảnh nghệ thuật” nhìn lẫn nhau…? Rồi lại sẵn sàng ra đi nữa, chạy về cái không có giới hạn về biển cả và chết chóc.
------------------------
“SỨC NẶNG CỦA HÌNH KHỐI” BỨC CHÂN DUNG
Nếu ta đặt sáu bức ảnh cạnh nhau, ta sẽ nhìn sáu lần. Điều đó giống như khi ta nhìn một ai đó hơn, sẽ nhận thấy rằng con mắt của ta di động liên tục và trải nghiệm thị giác là một sự tổng hợp những cái nhìn cục bộ được xác định bởi mối quan tâm, và bị làm lệch đi bởi quan niệm và ký ức ta thêu những bức chân dung trước đó.
Những cảm giác về chiều sâu và động tác gắn liền với cái nhìn của con mắt. Qua đó, ta sẽ lấy lại định nghĩa về nhận thức từ trường phái ấn tượng – trường phái lập thể. Nếu chỉ xem một bức ảnh duy nhất chỉ có tóm giữ được khoảnh khắc hết sức ngắn ngủi, đó là những hình ảnh “chột”.
Còn chị em thử xếp nhiều hình ảnh từ nhiều kiểu gợi lại sự trải nghiệm phức hợp của con mắt trong thời gian đem lại một khía cạnh lập thể, với những hiệu quả đi từ những ký ức về hình dáng và lịch sử dí dỏm của nhân vật – sẽ tạo ra những “tham vọng” mở rộng về các mặt hình họa cho nhân vật.
Chính cách làm và nhìn như theo trường phái lập thể… “chính sự chuyển động của nhân vật cho thấy nhân vật đang sống chứ không phải là hình nộm – hoặc một bia đá trơ trơ”. Niềm tin ấy khiến ta đẩy mạnh việc sử dụng thêu trong các tác phẩm của mình, các hiệu ứng phối màu khác nhau trên bức chân dung – đôi lúc hơi khuếch đại hoặc ngược lại, dừng lại sự tĩnh lại cố hữu của bức chân dung qua đó giúp cho chúng ta nhận thức được khả năng gây ảo giác của bức chân dung khi thêu xong.
Mục đích của người thợ thêu chân dung không phải là tái tạo vẻ bề ngoài của tự nhiên mà là làm nổi lên bên ngoài những gì sâu sắc nhất trong hình mẫu, và nhất là thể hiện một cách năng động, như có sự sống bên trong.
Có thể nói rằng người thợ thêu XQ làm việc từ trong ra ngoài. Họ đưa ra ánh sáng những hình khối của cơ thể như thể bản thân họ đang tạo ra sự sống, thể hiện đến từng chi tiết sự hài hòa của hình dáng.
Tác phẩm của họ không bao giờ là một sự sao chép “theo kiểu chụp ảnh” như trong nghệ thuật hàn lâm chủ nghĩa (Academic), cũng không phải là sự phản chiếu lạnh lùng của những hình dáng trừu tượng như trong chủ nghĩa tân cổ điển. Mà là tràn trề sự sống, chỉ được ghìm lại nhờ một ý thức sâu sắc về sự cân bằng và chừng mực.
Niềm say mê cái thực ấy đã dẫn đến việc không ngừng đổi mới các phương tiện biểu hiện một tư thế mới - tư thế Contrapposto (cái hồn riêng của con người). Tư thế Contrapposto, thêu người trước kia đứng thẳng trên hai chân, nay dồn sức nặng sang một chân, còn chân kia hơi khuỵu ở đầu gối, khiến cho tư thế được mềm mại hơn, tự do hơn. Đầu ngoảnh đi, các trục chuyển vị trí và nhịp điệu thay đổi, phá vỡ sự cô đơn của mình. Bức tranh thêu bước vào không gian mà nó tạo ra chung quanh nó. Đồng thời, khi thay đổi vẻ biểu hiện, con người được thể hiện cũng thay đổi ý nghĩa. Bức tranh thêu có nội tâm hơn, đối thoại với bản thân mình, với nghệ nhân sáng tạo ra nó. Nó mất bớt đi vẻ hoàn thiện thần thánh nhưng lại giành thêm tính người, có thêm một tâm hồn sâu sắc.
Đây là bước ngoặt đánh dấu phong cách cổ điển trong thời kỳ nghệ thuật bi thảm siêu hình lên đỉnh cao.
Với tác phẩm thêu chân dung, cái đẹp sinh ra từ sự vật lộn giữa con mắt và bàn tay của nghệ nhân. Với thời gian, yếu tố thứ nhất (con mắt) sẽ mất đi sức mạnh của nó và yếu tố thứ 2 (bàn tay) sẽ chiến thắng và dẫn đến một chủ nghĩa hiện thực “quá khích”.
Tuy nhiên ngay với quá trình phát triển, nghệ thuật thêu chân dung luôn đi sâu vào những bí ẩn tâm hồn con người với tài nghệ tạo hình bằng những sợi chỉ êm dịu và đẹp đẽ sinh ra từ ý tưởng về con người hoàn thiện.
Chân dung của một con người là một trang biên niên sử, được lưu giữ để thế hệ ngày mai có nghị lực làm việc. Nên nghệ thuật thêu chân dung của XQ đều có vị: “Của tình mẫu tử, vị của chí anh hùng, vị của thi ca, vị của trang hảo hán, vị của…”.
1.jpg)
Ngành thêu tay truyền thống Việt Nam Icon, tức Thánh Tượng, phát triển rực rỡ. Trong nhà thờ Đức Mẹ La Vang, nghệ thuật thêu Icon biểu thị một chân lý mặc khải và tham gia nghi thức phụng vụ trong lĩnh vực thánh tượng. Icon mang tính biểu tượng mà còn là hiện thực và nghệ nhân thêu Icon cổ truyền không phải là một nghệ nhân thể hiện một quan niệm cá nhân mà là một người trung gian thể hiện đúng cách nhìn của Giáo hội. Icon như vậy thực sự là một môn thần học bằng hình ảnh. Mộc mạc, những chi tiết các Icon XQ là một nghệ thuật hết sức tinh tế và nhẹ nhàng.
-------------------------------------
NHẬT KÝ "KIM GÃY" CỦA NGƯỜI THỢ THÊU TRANH CHÂN DUNG
Khi tôi nhận ra mình nắm trong tay một quyền lực phi thường. Tôi đã ngần ngại khá lâu về cách sử dụng nó cho mũi chỉ đầu tiên...
Trước hết tôi không biết có nên tìm cách tạo một số nét chân dung này giống bản thân tôi hay người thân của mình, hay chỉ là một cơ thể đơn giản. Thế nhưng trí tưởng tượng của tôi quá phấn khích khiến tôi không thể...
Tôi bắt đầu hoài nghi khả năng của mình có thể đem lại sự sống của một con người phức tạp và tuyệt vời trên một nền vải trống rỗng. Ôi! Con người – sự sống – màu xanh...
Cố nhiên, tôi chờ đợi sẽ vấp phải nhiều sự ngáng trở, mũi chỉ đường kim có thể thất bại (gãy) vào bất cứ lúc nào và tác phẩm của tôi cuối cùng tỏ ra là không HOÀN HẢO. Nhưng khi tôi nghĩ đến những hoàn thiện diễn ra hàng ngày – tôi cảm thấy có quyền hy vọng.
Không ai có thể hình dung được những cảm xúc khác nhau trong giây phút ban đầu khi mũi chỉ thêu đầu tiên của bức chân dung, phải chi người đặt bức chân dung này, đứng bên cạnh tôi chắc có lẽ thúc đẩy tôi tiến lên với một sức mạnh không gì cưỡng lại ...
... Sự sống và cái chết đối với tôi như những giới hạn lý tưởng mà tôi cần phải vượt qua trước khi gieo những sợi chỉ nhiều màu sắc như một dòng thác ánh sáng vào cái nền vải, một thế giới tối tăm... trên nền vải trống rỗng, sẽ xuất hiện một sinh linh sung sướng và tốt đẹp...
Họ có biết rằng bao nhiêu cây kim gãy và máu chảy trên đầu ngón tay? Có khi nào họ gửi một lời cám ơn đến tôi không?
Theo dòng suy tưởng ấy, tôi cho rằng nếu tôi thành công trong việc dùng cây kim đưa sự sống vào một vật chất vô tri, vô giác thì có lẽ sau đây tôi có thể hồi sinh nơi mà cái chết xem chừng đưa thể xác đến chỗ tan rữa...
1.jpg)
Truyền thống thần bí cho rằng con người "được tạo ra theo hình ảnh Chúa Trời" có nghĩa là con người mang theo vũ trụ trong bản thân mình. Cuộc đời của linh hồn có thể hiểu như là một hành trình khai tâm không diễn ra trong thế giới ba chiều và trong thời gian mà trong không gian tâm linh bên trong con người. Thời xưa, hình ảnh trong các nghệ thuật Icon luôn nhằm minh họa cho một số sự kiện then chốt mà con người tất yếu phải gặp trong đời sống tâm linh của mình.
Thời gian không tồn tại trong các Icon và được thay thế bằng vĩnh hằng. Cũng vậy, không gian không giới hạn ở ba chiều trong thế giới thông thường của chúng ta. Các Icon đưa chúng ta đến với một thế giới nhiều chiều hơn nhiều khả năng tiếp nhận của các giác quan vật chất của chúng ta.
Mọi Icon là một sự tóm tắt về thị giác vũ trụ nơi các biểu tượng đều có cùng một giá trị, dù là nói về thế giới bên ngoài (thế giới vĩ mô) hay nói về thế giới bên trong chúng ta (thế giới vi mô). Con người, hay nói cho đúng hơn là linh hồn con người, được thể hiện trong hình ảnh của Chúa Trời. Từ trong Icon, Chúa Trời nhìn vào đáy tâm hồn người xem với một ánh mắt mãnh liệt là "TA HIỆN HỮU", nó nói với những gì nằm ở chỗ sâu thẳm trong mỗi chúng ta, không phải nói với cái tôi hằng ngày, với những ý nghĩ, những mối quan tâm bề ngoài mà nói với cái gì sâu kín ở tận đáy lòng con người.
1.jpg)
Căn phòng: Kinh Thánh Cao nguyên Langbiang, là một suy tưởng của nghề thêu XQ Đà Lạt.
Thường người ta nói Kinh Thánh không quan tâm đến tính thời sự.
Ngược lại, khi xây dựng căn phòng được mang tên: Những lời thú tội trong thế giới Đà Lạt "cũ", ra đời quay trở lại với đề tài ấy nhưng với một thái độ hoàn toàn khác. Sự thay đổi cách nhìn nhận về một giai đoạn lịch sử đã qua… Đất nước kém phát triển - nghèo đói bất công… Kinh Thánh không chú ý đến thời sự. Nó không nói gì về thực tế khó khăn của - đất nước ngày nay. Căn phòng này là căn phòng vang lên như một bản án buộc tội. Trong đó nêu bật lên rằng: Không giống như hình ảnh mà người ta gán cho nó, "Tổ quốc của các huyền thoại" này đã đau khổ về những thần thoại mà nó tạo ra. Các quyết định về số phận của nó được thông qua tại những nơi khác ngoài nó. Đó là một suy tư sâu sắc về lịch sử đã qua. Là nuối tiếc hòa bình, hạnh phúc của dân tộc họ sẽ được hưởng sau chiến tranh. Không hề có định kiến, chỉ có mối ngờ vực lớn đối với những kẻ gây tội, cho dù chúng ở những thang bậc khác nhau.
Tất cả nghề thêu của chúng tôi đều phấn đấu cho quyền được đóng góp vào một nền văn hóa dân tộc, đó là một quyền không thể chối cãi. Nhưng có một số lĩnh vực của một nền văn hóa dân tộc đôi khi biến thành một lý tưởng mang tính chất quốc gia hẹp hòi như đã từng xảy ra... Cần phải có đầu óc phê phán, có ý thức cảnh giác mạnh mẽ hơn đối với vấn đề văn hóa dân tộc. Trong vấn đề này có một hiểm họa mà không phải lúc nào chúng ta cũng ý thức được.
Lưu ý phải cảnh giác với một hiểm họa mới: Coi mỗi đặc thù riêng biệt của mỗi vùng miền là văn hóa của một dân tộc là một giá trị bản chất. Đôi khi người ta lẫn lộn như vậy. Đặc thù không nhất thiết là một giá trị. Đâm trâu, chém heo… là một đặc thù. Nhưng đó có phải là một giá trị không? Nếu không phân biệt giữa hai khái niệm đó, người ta có thể trượt từ tính đặc thù (cái cũ) sang "chủ thuyết đặc điểm riêng" (…)
1.jpg)
1.jpg)
Khi người thợ thêu tiếp xúc với phần cao cả trong tâm hồn mình, hoặc ít nhất có khả năng tập trung khi cần thiết để thực hiện một bức tranh thêu tôn giáo, họ không quan niệm cái đẹp vì bản thân cái đẹp “Nghệ Thuật Vị Nghệ Thuật”. Cái ý tưởng lãng mạn của thế kỷ thứ 19 đối với họ, cái đẹp là một thuộc tính của cái thiện nhằm tham gia đưa cái thiện thần thánh xuống với con người, đồng thời nâng con người lên với cái thiện.
Ngày nay, khi chiêm ngưỡng một bức tranh Kito Giáo, mọi Tín Đồ đều thấy ở đó niềm tin “Chúa Kito có thể tái sinh tại mỗi con người” và “phép hiện thân” là điều có thể vẫn xảy ra, và nó sẽ đưa chúng ta đến với bài Thánh Ca hay nhất và cổ xưa nhất.
“Lạy Chúa! Hãy rũ lòng thương …”
HÒM BIA MINH ƯỚC CỦA NGHỆ NHÂN XQ
1.jpg)
“Ở đâu có hai hoặc ba người nhân danh ta mà họp nhau lại thì có ta ở giữa họ”, và khi bẻ bánh trong bữa tiệc ly, Chúa nói cùng các Tông Đồ rằng: “Các con hãy làm điều này để nhớ đến ta”.
“MỘT SỰ HỌP MẶT LÀ ĐỂ TƯỞNG NIỆM”
------------------
Giáo sĩ Pierre khi đọc kinh Phúc âm của thánh Luc, đoạn nói đến ngày thứ ba sau khi chúa Giêxu chết, các tín đồ của Người đi về một ngôi làng tên là Emmaus. Họ nói với nhau về những gì đã xảy ra. Họ buồn rầu, thất vọng, vì Giêxu đã được coi là một nhà tiên tri, đến để giải phóng họ, nhưng lại không có gì xảy ra. Trên đường, Giêxu nhập vào nhóm họ và đi cùng với họ nhưng họ không nhận ra. Mãi cho đến khi Giêxu ngồi vào bàn ăn cùng với họ, cầm lấy bánh mì, ban phúc cho miếng bánh, bẻ bánh ra và chia cho họ thì họ mới mở mắt ra. Nhận ra Giêxu rồi, họ mới nói những lời này: "Tim chúng ta đã chẳng cháy rực trong người chúng ta trong khi Giêxu trò chuyện với chúng ta trên đường đó ư?" Khi đó ngài lấy một tấm bảng, viết lên chữ “Emmaus” rồi treo ngoài cửa, đồng thời giải thích với đám thanh niên: "Hãy tin rằng cuộc sống tốt đẹp, thành công làm ta hết ảo tưởng, nhưng cũng làm ta hào hứng. Nó trước hết dẫn đến sự trung thực bằng lòng để mất đi các ảo tưởng. Bởi vì ta sinh ra chứa đầy ảo tưởng nhưng khi lớn dần lên, ta loại dần chúng đi để đi đến chân lý. Và ta chỉ có thể thành công nếu chấp nhận sự từ bỏ đó. Niềm hào hứng đã trở lại với các tín đồ tuyệt vọng. Và họ lại ra đi báo tin mừng với các tông đồ, nói rằng họ đã nhìn thấy Chúa cứu thế sống lại."
Giáo sĩ Pierre (bí danh từ năm 1942 của Henri Grouès, sinh năm 1922 tại Lyon, Pháp) từ gần nửa thế kỷ nay là người bênh vực không mệt mỏi những người nghèo và bị thiệt thòi. Ông đã nổi tiếng trên khắp thế giới vì cuộc chiến đấu của ông vì những người ấy mà ông tiến hành cùng với Emmaus, tổ chức từ thiện được ông lập ra năm 1949.
1.jpg)
Nhật ký của Võ Hoàng Hạ Uyên
DỊU DÀNG & NHẸ NHÀNG
Lấy cảm hứng từ nền văn hóa nghề thêu... thông qua những câu chuyện “độc đáo và thơ mộng” trong nghề nghiệp của mình, tôi kể lại lịch sử của nền văn hóa nghề thêu cho vị linh mục: PHÊRÔ Huỳnh Lợi, rằng nghề thêu XQ vừa là “sản phẩm của truyền thống vừa là phản ứng của hiện đại này”. Làm thế nào để một người phụ nữ quyết định chọn cách sống bằng nghề thêu rất đặc biệt này?
Giống như một nhà thơ đã nói với tôi rằng: “Sợi chỉ chọn người phụ nữ chúng tôi bởi vì chúng tôi đơn độc”. Sợi chỉ trở thành một cách giao tiếp với bí ẩn của chính chúng tôi, tri thức thân mật của chúng tôi và giao tiếp với con người. Qua những tác phẩm thêu, họ đọc chúng tôi và họ khám phá bí ẩn của chính họ và tri thức thân mật của họ.
Sợi chỉ trong nghề thêu XQ như vậy nó liên quan đến việc chấp nhận sự cô độc, đồng thời nghịch lý là cố gắng thoát khỏi nó. Trở thành một nghệ nhân là phải cảm thấy cần phải hiểu thực tế, đưa nó vào viễn cảnh để lấp đầy khoảng trống cơ bản bằng những mẫu thêu. Cũng như với các nghề nghiệp khác có thể thông qua âm nhạc, viết văn, làm thơ hoặc thông qua vẽ và màu sắc.
Đôi lúc, tôi mô tả nơi mình sống và làm việc… Có rất nhiều nơi trong XQ Sử Quán mà tôi vẽ mẫu và thêu, tôi thường mang theo những sợi chỉ màu vụn trong túi xách và nơi tôi thích nhất là CĂN PHÒNG HƯƠNG VỊ CÀ PHÊ CỦA BÀ trên chiếc sopha thêu, nơi đó có một tác phẩm tôi tôn sùng, đó là một chậu cà phê hạt một trụ gỗ lũa gắn những hạt cà phê cùng với những con côn trùng điêu khắc bằng chỉ và có cả những đóa hoa phong lan rừng “Tri Kỷ Hữu” được điêu khắc bằng chỉ.
Tôi nghĩ rằng: Nó tổng hợp cuộc sống tốt của những nghệ nhân chúng tôi tại Đà Lạt - XQ Sử Quán - “Đất đai, động vật và thực vật... Nuôi dưỡng sự sống… Và chính bàn tay con người đã làm cho nó trở thành một món đồ phản sự sống.”
1.jpg)
“TIẾNG THÉT” trong một toa tàu
Thời khắc định mệnh ấy được khắc sâu bởi “tiếng thét trong toa tàu”, tiếng thét ẩn kín trong xương thịt người lưu vong sẽ được thêu lên, vượt qua thời gian và không gian, đòi một sự thanh toán với lịch sử.
…Và cái khoảnh khắc tĩnh lặng tiếp sau tiếng thét xé lòng ấy, một sự yên lặng sẽ phát triển thành chứng lãng quên, cố tình hay vô tình. Trong mọi câu chuyện đời, điều không nói ra thường được đẩy lùi về phía sau, tưởng chừng như cách tốt nhất để khỏi tiết lộ một quá khứ đau buồn là bao bọc nó bằng sự yên lặng dày đặc. Đây chính là cái “phi văn bản” hay “phi nghệ thuật” và theo một ý nghĩa nào đó, là một tuyên ngôn bị nén lại trước sự lưu vong.
Chuyến đi được suy tính kỹ và tự nguyện của người lưu vong đã là một sự pha tạp rồi, đó là sự cọ xát cuộc đời anh chị ta với một nền thi ca, một thế giới quan khác hẳn. Người lưu vong “biết” mình đi đâu. Anh chị ta sẽ suy tính về từ sự xa cách đến chiến lược bén rễ và sống sót, đến phương cách để có được một vị trí trong cái cấu trúc sinh tồn ở đất nước mới sẽ đón nhận mình (…)
1.jpg)
Quan niệm về Chân, Thiện, Mỹ như ba mặt của cùng một lý tưởng cao nhất có thể dùng để giúp ta hiểu được tính chất các Icon. Nếu vũ trụ do Chúa Trời tạo ra là trật tự, cân đối và hài hòa, tức những đặc tính xuất phát từ Chân, Thiện và Mỹ thì ta phải thấy cả ba mặt đó trong các tác phẩm nghệ thuật ngợi ca Đấng sáng tạo. Tham gia chính hành động sáng thế, xuất phát từ những quy luật sáng thế, những tác phẩm nghệ thuật ấy cũng phải tỏ ra Chân, Thiện, Mỹ. Nhưng muốn cho bức Icon được nâng cao tới tầm ấy thì người thêu nó, bằng một sức mạnh nội tại tự nâng mình lên, cũng phải tìm thấy trong mình trật tự thần thánh. Chỉ có thể thực hiện được điều đó bằng một kỷ luật tinh thần nghiêm ngặt. Nghệ nhân phải rèn luyện để hoàn toàn tập trung vào việc cầu nguyện, chiêm ngưỡng, phải giữ im lặng trong bản thân mình, không để tâm trí bị sao nhãng vì mơ mộng hoặc những ý nghĩ trần tục. Nghệ nhân phải hoàn toàn làm chủ được bản thân mình thông qua cái mà các triết gia gọi là "tự nguyện khổ hạnh". Sự khổ hạnh ấy làm cho tâm hồn được cương cường, trong sạch, đem lại cho người đó nghị lực cần thiết để nhích đến gần ánh sáng thần linh. Người nào đạt được như vậy sẽ được luôn luôn tiếp xúc với phần cao cả trong bản thân mình, hoặc ít nhất có khả năng tập trung khi cần thiết. Khi người đó trở thành một Nghệ nhân Icon thì nghệ thuật của họ sẽ thể hiện Mỹ, cũng như Chân và Thiện vì những đức tính ấy được phản ánh trong tất cả những gì người ấy làm, y như ánh sáng xua tan bóng tối. Quy luật khiến cho ánh sáng xóa đi bóng tối được áp dụng cho thế giới tâm linh cũng như thế giới vật chất. Đó là hai mặt của cùng một thực tế. Nhờ quy luật ấy, các nghệ nhân Icon đã thể hiện cái vô hình bằng cái hữu hình - điều đó giúp ta hiểu được một số cách giải quyết của họ tưởng như không logic. Ví dụ, tình trạng không có bóng tối nói lên một thế giới sáng sủa, ở đó, Chúa trời hiện hữu và do đó không cần có một nguồn sáng bên ngoài nào khác. Bản thân những nhân vật thần thánh được miêu tả ở đấy cũng là những nguồn sáng. Thừa hưởng của triết học tư tưởng xưa cho rằng thế giới được tạo ra khi linh hồn nhập vào vật chất, các Nghệ nhân Icon tin rằng ánh sáng là một thực tại tinh thần cho dù không phải họ không biết ánh sáng là một sự tổng hợp của các màu. Biết rằng quy luật của linh hồn và vật chất diễn ra ở mọi cấp bậc họ có thể chứng minh, bằng việc sử dụng mầu sắc, sự giáng trần của thánh thần giữa loài người. Nghệ thuật của họ là một sự ca ngợi vật chất biểu hiện thần thánh ấy cả trong vũ trụ lẫn trong bản thân họ. Ngày nay, khi chiêm ngưỡng một Icon, mọi tín đồ đều tìm thấy ở đó niềm tin rằng Chúa Kitô có thể tái sinh tại mỗi người, và phép hiện thân là điều vẫn có thể diễn ra.
----------------
NHÂN CHỨNG CÂM LẶNG
Nghệ thuật thêu chân dung giống như một hành trình thụ pháp. Trong đó, người thợ thêu giống như một kẻ du hành tìm cách đạt tới một điểm nút hay một tiêu điểm tóm gọn toàn bộ mối quan tâm của con người mà cô bắt đầu thêu họ.
Thoạt tiên, cô sẽ mời người mà cô sẽ thêu chân dung vào trong một căn phòng – một cánh cửa đóng kín – hay một không gian tĩnh lặng để tránh khỏi những điều thu hút sự chú ý của cô và người khách mà trong cuộc sống thường làm cho ta xa rời thực tại của ta.
Dần dần, cô nhích lại gần họ, không nên gọi là người mẫu, mà nên gọi là những người đối thoại, thậm chí là người cô sẽ trò chuyện và tâm sự. Cô đã bỏ một thời gian dài để thu hẹp cái khoảng cách đơn giản mà vô tận đó giữa con người với con người.
Tưởng đâu như từ đó trở đi, trên sự hiện diện riêng của khuôn mặt – rũ bỏ mọi thứ chung quanh – cô gắn vào cái đường rạn nứt vô hình kia, nó báo hiệu thời gian, sự tất yếu phải ra đi, phải già đi nhưng phải tồn tại.
Chân dung được phác thảo đầu tiên đó không phải là một mặt nạ mà gợi lên bóng dáng người thứ hai trong mình. Tất cả những người, thợ thêu đến gặp không bị rút gọn chỉ còn là một hình nộm trên con đường đi của cô – một tấm bia đá trơ trơ bất động.
Ở cuối cuộc hành trình đó có lời đáp. Cô thợ thêu chân dung đã khơi gợi sự đối thoại, sự liên tục đồng lõa. Cô đặt câu hỏi và lắng nghe tiếng vọng.
Ta chỉ có thể ngưỡng mộ và hiểu thợ thêu khi họ xây dựng cái “thành lũy bằng những sợi chỉ” mỏng manh và quý giá, chứa đầy tương lai cho con người.
1.jpg)
I. TÍNH CHẤT LÝ – HÓA CỦA CHỈ VẢI DÙNG ĐỂ THÊU TRANH.
Kỹ thuật thêu, mẫu vẽ phải tương ứng với tính chất lý hóa của vải. Vì thế, chỉ vải dùng để thêu tranh được dệt từ các loại sợi khác nhau cần thiết để phù hợp với công dụng của từng loại, tạo cho chỉ, vải khỏi bị biến thể theo thời tiết. Để dễ dàng công tác bảo quản trong từng trường hợp trang trí tại nhà, đóng đi xa hoặc xuất khẩu.
- Sợi thiên nhiên: Bông vải (cotton), Len, Sợi tơ tằm
- Sợi nhân tạo: Viscô (Vải satin, lụa gấm), Acetat, Tri Acetat
- Sợi tổng hợp: Polifamind (nilon), Polyester (Chỉ cấu tạo sợi vải xoa, giả chỉ tơ tằm rất khó phân biệt), Poly acril vitrit (Musseline –Arlen).
Vải tổng hợp và nhân tạo thường hay co rút nên trước khi thêu trên vải này phải ngâm nước để tránh tình trạng nhăn nhúm, gây biến dạng tranh. Nhất là thêu tranh chân dung.Vì vậy, khi thêu tranh để đảm bảo tốt chất lượng nên chọn vải thiên nhiên để thêu tranh.Nếu chọn vải tổng hợp để thêu tranh cần phải chọn loại chỉ, vải tương ứng nếu không sẽ gây nên tình trạng co rút không đều, mất chất lượng.
II. ĐỘ BỀN
- Mỗi tác phẩm tranh thêu XQ được cấu thành bởi các nguyên liệu chỉ, vải tốt nhất DMC (Pháp), BCT (Tiệp Khắc), lụa tơ tằm, chỉ bóng, chỉ cotton có tính thẩm mỹ và độ bền rất cao.
- Đã được xử lý trước khi thêu, nên hạn chế tối đa sự biến dạng và phai màu của chỉ vải.
-----------------------------------
GIÁ TRỊ MỖI TÁC PHẨM THÊU XQ
Không những giá trị thủ công – giá trị truyền thống mà còn nhất là giá trị nghệ thuật, vì nó thể hiện tình cảm của người đương thời. Xúc động và độc đáo vì đi tìm kiếm một chủ nghĩa nhân văn trong thế giới bị giằng xé và bất trắc.
Nên có thể nói: GIÁ TRỊ của một tác phẩm thêu XQ không phải là cấu tạo nguyên liệu: VẢI – CHỈ – NGÀY CÔNG mà giá trị chính là nền văn hóa gắn liền với nó.
--------------------------------------
HỆ THỐNG SẢN XUẤT SẢN PHẨM THÊU TAY XQ VIỆT NAM
Giám Đốc: Võ Hoàng Hạ Uyên
A. CÁC BỘ MÔN NGHỆ THUẬT THÊU XQ
I. ĐIÊU KHẮC
Trưởng bộ phận: Trần Thị Thanh Hiền
II. CHÂN DUNG
Trưởng bộ phận: Tống Thị Mỹ Lan
III. PHONG CẢNH
Trưởng bộ phận: Lê Thị Thanh Vân
IV. TRANH HAI MẶT
Trưởng bộ phận: Nguyễn Thị Thu Hải
V. THỜI TRANG – SẢN PHẨM ỨNG DỤNG
Trưởng bộ phận: Ngô Thị Hiền
Trong mỗi bộ phận nghệ thuật thêu, sản phẩm được chia làm ba loại:
1. Siêu phẩm: Giá trị sản phẩm thuộc bảo tàng không bán.
2. Sản phẩm cao cấp: Thường trang trí cho các gia đình thượng lưu, phòng họp đa năng của các tổ chức.
3. Các sản phẩm trung bình: làm quà lưu niệm.
B. CÁC BỘ PHẬN CHUYÊN TRÁCH SẢN XUẤT
I. BỘ PHẬN THIẾT KẾ VÀ CHỈ ĐẠO NGHỆ THUẬT THÊU
Trưởng bộ phận: Chị Võ Hoàng Hạ Uyên
II. BỘ PHẬN TÁC QUYỀN SẢN PHẨM THÊU
Trưởng bộ phận: Chị Hồ Thị Lý
III. BỘ PHẬN CHUYÊN KHẢO NGHIÊN CỨU VÀ SƯU TẬP THÊU – PHÂN PHỐI
Trưởng bộ phận: Chị Nguyễn Thị Đông Nghi
IV. THƯ VIỆN: CÁC MẪU THÊU VÀ KỸ THUẬT THÊU
Trưởng bộ phận: Chị Nguyễn Thị Thảnh
V. PHÒNG NHÂN SỰ:
Đào tạo và phát triển nghề thêu về các địa phương – khai thác tiềm năng con người.
Trưởng bộ phận: Chị Trương Thị Thu
VI. HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH CÁC TÁC PHẨM THÊU.
Trưởng bộ phận: Chị Hoàng Lệ Xuân
VII. TRUNG TÂM TƯ LIỆU KIM - CHỈ - VẢI
Trưởng bộ phận: Chị Nguyễn Thị Ngọc Quý
VIII. PHÒNG THIẾT KẾ KHUNG – BO – BAO BÌ SẢN PHẨM
Trưởng bộ phận: Anh Trần Minh Kha
IX. BỘ PHẬN PHỤ TRÁCH CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN SẢN PHẨM THÊU
Trưởng bộ phận: Chị Nguyễn Thị Huyền
C. THỨ BẬC NGHỆ NHÂN THÊU XQ
Đánh giá dựa trên cơ sở:
- Các kỹ thuật thêu với xúc cảm.
- Các kỹ thuật thêu với kiến thức.
- Các kỹ thuật thêu với tư duy.
HÌNH THÀNH NHỮNG THỨ BẬC:
1. Nghệ nhân xuất sắc: Chuyên thêu các siêu phẩm với những đòi hỏi kỹ thuật khó nhất, chi phí cao nhất.
2. Nghệ nhân giỏi: Thêu các tác phẩm giá trị, chi phí tương đối cao.
3.Nghệ nhân khá: Thêu các tác phẩm trung bình, chi phí tương đối.
4. Nghệ nhân trung bình: Chuyên thêu những bức tranh lưu niệm
5. Thợ thêu: Chuyên thêu các sản phẩm ứng dụng.
D. BỘ PHẬN PHÁP LÝ- HÀNH CHÍNH - TÀI CHÍNH SẢN XUẤT
Nhằm tạo ra và tăng cường hoạt động cho cơ cấu này hoạt động.
Trưởng bộ phận: Chị Nguyễn Thị Thu Phương
----------------------------------
Giá trị mỗi tác phẩm tranh thêu XQ không những giá trị thủ công - giá trị truyền thống mà còn nhất là giá trị nghệ thuật, vì nó thể hiện tình cảm của người đương thời. Xúc động và độc đáo vì đi tìm kiếm một chủ nghĩa nhân văn trong thế giới bị giằng xé và bất trắc. Nên có thể nói: giá trị của một bức tranh thêu XQ không những là cấu tạo nguyên liệu: vải - chỉ - ngày công mà giá trị chính là nền văn hóa gắn liền với mỗi tác phẩm XQ
------------------------------------
ĐỀ NGHỊ CHỊ EM KHI SÁNG TẠO, THỰC HIỆN 4 BƯỚC NHƯ SAU:
1. Thực hiện một nghi thức lấy một bài thơ trong chiếc hộp
2. Cầm câu thơ đi dạo thưởng ngoạn từ đó hình thành nên ý tưởng.
3. Tìm nguyên liệu trong không gian này để diễn đạt.
4. Dàn dựng xếp đặt bằng kỹ thuật khéo léo, tài năng, tinh tế.
Chú ý: Trò chơi ngôn ngữ là quan trọng và mỗi tên tác phẩm sẽ được diễn đạt qua mỗi câu thơ mà chị em chọn.
------------------------------------
CÁC BƯỚC HOÀN THÀNH MỘT TÁC PHẨM TRANH
Bước thứ 1: ĐÁNH GIÁ BẢNG THIẾT KẾ
Dựa trên cơ sở:
1. Tiêu đề của bảng phác thảo
2. Hình thức: những câu chuyện đưa vào bản thiết kế
3. Diện mạo: hình thức thể hiện của bản phác thảo
Bước thứ 2: ĐƯA BẢN THẢO QUA TÁC PHẨM THÊU
1. “Cuộc đối thoại” sợi chỉ thêu nào, màu sắc nào với những giá trị “siêu thực” trong bản phác thảo.
2. “Cuộc đối thoại” các loại kỹ thuật và quang phổ màu chỉ với một “Tác Phẩm Văn Học”
Mời “cấp bậc” nghệ nhân thực hiện
- Kỹ thật với cảm xúc
- Kỹ thuật với kiến thức
- Kỹ thuật với tư duy
Bước thứ 3: CÁCH THẨM ĐỊNH TÁC PHẨM TRANH THÊU
1. Xác định lại nội dung truyền tải của mẫu vẽ.
2. Kỹ thuật thêu và cách pha màu.
3. Không gian và thời gian trong tác phẩm qua sự truyền tải về màu sắc kỹ thuật và nội dung.
4. Giải phẫu học.
5. Luật viễn cận (xa và gần).
6. Xác định thời gian thêu ở các vùng nhạy cảm.
------------------------------------
“Khác với những hình thức nghệ thuật khác, tranh thêu XQ nhiều khi vượt lên trên sự phân biệt qui ước giữa văn hóa thấp và văn hóa cao. Vì nó chứa đựng những điều sâu sắc về văn học. Ra đời một cảm xúc mới, mà nó còn được nhìn nhận về mặt nghệ thuật thị giác. Nghề thêu XQ lập ra một quan niệm mới về văn hóa thêu XQ. Một cách miễn cưỡng, những thành trì của văn hóa cao cấp đã đi đến chỗ phải thừa nhận nghề thêu XQ trên phương diện là phương tiện thể hiện đã có được giá trị riêng của nó.”
------------------------------------
GIÁ TRỊ CỦA MỘT BỨC TRANH CHÂN DUNG ĐƯỢC THÊU BẰNG TAY
1. Một bức tranh chân dung được tạo ra từ cảm xúc chia sẻ của một con người bằng xương bằng thịt - “Thời gian nghệ nhân” - nên bản thân của mỗi bức tranh chân dung thêu bằng tay có một đời sống tinh thần.
2. Bức tranh thêu được tạo ra từ một nghệ thuật truyền thống Việt Nam nên nó mang cảm xúc cho người xem mà người nghệ nhân chúng tôi gọi là “Hồn cổ tộc Việt Nam”… và trở thành một giá trị thiêng liêng trong mỗi gia đình.
3. Độ bền của bức tranh thêu chân dung: “Lưu niên cổ đại”. Bằng chứng là bức liễn thêu đời Lý – Trần còn lưu giữ tại chùa Bảo Quốc - Huế.
Tranh thêu chân dung được tạo ra từ nhiều sớ chỉ nên rất nhạy cảm với ánh sáng, từ đó tạo ra rất nhiều cảm xúc cho người xem. Bức thêu chân dung trở thành một nhân vật sống đối thoại với người xem mà nghệ nhân chúng tôi gọi là “Sự lãng quên không bao giờ đến”.
1.jpg)
HỆ THỐNG SẢN XUẤT XQ
Gồm các bộ phận chuyên trách:
I. BỘ PHẬN THIẾT KẾ VÀ CHỈ ĐẠO NGHỆ THUẬT
II. BỘ PHẬN CHUYÊN KHẢO CÁC TÁC PHẨM THÊU VÀ THẨM ĐỊNH.
III. THƯ VIỆN CÁC MẪU THÊU – KỸ THUẬT THÊU.
IV. TRUNG TÂM TƯ LIỆU KIM – CHỈ – VẢI.
V. TRUNG TÂM SẢN XUẤT:
* Nghệ nhân xuất sắc: Chuyên thêu các siêu phẩm với những đòi hỏi kỹ thuật khó nhất, chi phí cao nhất.
* Nghệ nhân giỏi: Thêu tranh loại B, chi phí tương đối cao.
* Nghệ nhân trung bình: Thêu tranh lưu niệm và sản phẩm ứng dụng – thời trang.
VI. TRUNG TÂM ĐÀO TẠO CÁC BỘ MÔN NGHỆ THUẬT THÊU.
* Tranh chân dung
* Tranh phong cảnh
* Tranh hai mặt
* Điêu khắc chỉ
VII. BỘ PHẬN PHỤC CHẾ VÀ BẢO TRÌ CÁC TÁC PHẨM THÊU.
Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ và kiến thức cần thiết cho công tác về các khu vực:
* XQ Hà Nội
* XQ Sài Gòn
* XQ Huế
VIII. Bộ phận tác quyền của sản phẩm thêu XQ
IX. Trung tâm nghiên cứu các bộ sưu tập tranh thêu và sản phẩm thêu XQ.
X. Bộ phận thiết kế các loại khung tranh – bo tranh và trang trí âm thanh – ánh sáng.
--------------------------
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO CÁC “CHUYÊN GIA” BẢO TỒN & KIẾN THỨC CÔNG NGHỆ CHO “DI SẢN NGHỀ THÊU”
Gồm các bộ phận:
I. BỘ PHẬN CHUYÊN KHẢO CÁC TÁC PHẨM TRANH THÊU – SẢN PHẨM THÊU
(Chuyên gia về nghệ thuật thêu)
II. BỘ PHẬN PHỤC CHẾ CÁC TÁC PHẨM TRANH THÊU VÀ SẢN PHẨM THÊU
III. BỘ PHẬN TRÔNG NOM – BẢO TOÀN các tác phẩm tranh thêu – những mô hình ý nghĩa lịch sử và khoa học tại các bảo tàng XQ Sử Quán.
IV. TRUNG TÂM TÁC QUYỀN VÀ THỪA KẾ TÁC QUYỀN CÁC TÁC PHẨM VÀ VẬT PHẨM THÊU
V. TRIỂN LÃM HÀNG THÁNG những bộ sưu tập thêu được phục hồi dành cho thương mại và dành cho mạng lưới không thương mại.
XQ Sử Quán cần tuyển mộ: Thợ thêu – đặc biệt ưu tiên cho nghệ nhân lớn tuổi (cho trung tâm đào tạo).
--------------------------
Thế giới hiện đại, con người có trông đợi ở nghệ thuật mà nó đã làm trong bao thế kỷ qua. Nghệ thuật phải miêu tả thế giới này với một bậc thang giá trị được xác định rõ ràng. Có còn đặt ra những câu hỏi từng được coi là gắn liền bản sắc văn hóa của con người. Những câu hỏi về ý nghĩa cuộc sống, của khổ đau và cái chết. Nếu không có câu hỏi đó, Liệu rằng nghệ thuật có tồn tại không? Chắc chắn sẽ không... Không có những câu hỏi đó, loài người có tồn tại được không? (...)
--------------------------
NHỮNG BƯỚC THẨM ĐỊNH KHI THÊU MỘT TÁC PHẨM TRANH CHÂN DUNG
I. KỸ THUẬT THÊU
1. Mũi kim không quá 0.5 cm.
2. Chân chỉ: phải sắc và không thấy chân
3. Bó tạc, đâm xô phải không thấy gờ.
4. Mặt chỉ sắc, độ mịn mặt cao.
5. Màu sắc chỉ phải tan theo quang phổ của màu.
II. XÁC ĐỊNH LẠI PHẦN NHẠY CẢM NHẤT CỦA BỨC ẢNH, NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA KHUÔN MẶT
Khi tiếp xúc với một bức ảnh chân dung, người họa sĩ và người nghệ nhân phải hiểu rõ hoàn cảnh ra đời của bức ảnh và nhân vật trong ảnh để biết được phần nhạy cảm là những chi tiết nào cần diễn đạt.
Chú ý: môi, khóe miệng, mắt, khoảng cách chân mày, nhân trung, dái mũi, dái tai…
III. NGƯỜI NGHỆ NHÂN ĐƯỢC CHỌN THÊU TRANH CHÂN DUNG TẠI “XQ SỬ QUÁN”
Phụ thuộc vào thuộc tính của bức ảnh và thuộc tính của người nghệ nhân:
1. Nhóm nghệ nhân thêu tranh chân dung người lớn tuổi.
2. Nhóm nghệ nhân thêu tranh chân dung người trẻ tuổi.
3. Nhóm nghệ nhân thêu tranh chân dung kèm phong cảnh.
4. Nhóm nghệ nhân thêu tranh chân dung những vị lãnh tụ.
IV. THỜI GIAN THÊU
Phải cần 1,5 đến 5 tháng để hoàn thành một tác phẩm tranh chân dung. Người nghệ nhân phải ghi lại nhật ký trong quá trình thêu để phân định thuộc tính nghệ nhân, chân dung “thời gian nghệ nhân”.
V. THUỘC TÍNH CHÂN DUNG
Chọn những mẫu khung phù hợp với từng bức tranh chân dung.
VI. HOÀN THIỆN, LÊN KHUNG VÀ ĐƯA VÀO PHÒNG THẨM MỸ HỌC TẠI XQ SỬ QUÁN
Để đánh giá lại toàn bộ và làm giấy chứng nhận của công ty gởi cho khách hàng.
Một tác phẩm tranh chân dung được xác nhận khi đã đóng dấu và có những chữ ký của những người đại diện công ty.
1. Ông Võ Văn Quân – Người Sáng Lập Công Ty XQ.
2. Bà Hoàng Lệ Xuân – Nghệ Nhân Đôi Bàn Tay Vàng Quốc Gia Việt Nam.
3. Nghệ nhân thực hiện tác phẩm chân dung.
4. Họa sĩ công ty XQ.
VII. PHƯƠNG THỨC BẢO QUẢN MỘT TÁC PHẨM TRANH CHÂN DUNG
Khi tranh bị dơ hoặc ố chỉ được hấp và phơi mặt trái.
Không được tẩy giặt khi tranh bị dơ.
Ủi tranh mặt trái để tránh tình trạng dơ bẩn và bị nhăn.
Phải lồng trong khung kiếng để bức tranh được bảo quản tốt nhất.
-----------------------------
QUAN NIỆM NGHỆ NHÂN XQ KHI THÊU MỘT BỨC CHÂN DUNG
1. Là một chứng nhân cho một thời kỳ biến động … (lịch sử tinh thần người đó), vì thế chọn lọc một số nét trên cơ thể … (khuôn mặt) để tạo điểm nhấn.
Vì thế, người đặt chân dung phải cung cấp tài liệu:
- Nghề nghiệp, tôn giáo
- Địa lý vùng miền
- Giới tính, tuổi
- Những sự kiện đáng ghi nhớ trong đời của nhân vật … (Cuộc đời và đam mê)
2. Là một nguồn cảm hứng cho người thân và thế hệ mai sau …
.jpg)
Với lịch sử của cộng đồng người Việt ở hải ngoại…
- Với nghệ thuật kiến trúc.
- Với hiệu lực bóng tối và ánh sáng.
- Với nhiệm tích Kitô tái diễn hàng ngày ở đó
Thánh đường giám tòa Đức Mẹ La Vang là biểu tượng tuyệt vời đạo Thiên Chúa của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Cấu trúc của nó tuy biến cải, nhưng mục đích vẫn trung thành với đồ án cội nguồn tức là tập hợp chung quanh vị giám mục toàn thể cộng đồng tín hữu cùng chung một đức tin, là nơi vị giám mục cử hành Thánh lễ, truyền phép Thánh thể biến bánh và rượu nho thành thịt và máu Chúa Kitô, con Thiên Chúa đã sinh xuống trần gian, hy sinh trên Thập giá để chuộc tội tổ tông của loài người, và để cùng loài người giao kết một minh ước mới, được giáo hội biểu thị trong sơ đồ kiến trúc và trong lễ nghi phụng vụ
.jpg)
I-Kiến trúc thứ nhất được thiết kế theo một bố cục hướng toàn bộ vào điểm trung tâm để che trên giếng thánh đào xuống đất là nơi người tân tòng giáo sẽ được dìm xuống để chịu phép rửa tội. Phần trên của giếng thánh là một mái bồn dựa trên một loại tang trống lớn “Trống Đồng Ngọc Lũ” Việt Nam
II- Vương cung thánh đường với qui mô - nhằm tiếp nhận toàn thể tín đồ tụ họp chung quanh bàn thờ để dự thánh lễ do vị giám mục cử hành. Trong thánh đường, gian chính giữa được phân chia thành ba khoảng dành cho giáo dân. Hai cánh gian bên tượng trưng cho cây thập giá của Chúa Kitô. Ở gian hậu cung (cung thánh) đặt ngai giám mục ngồi
.jpg)
Nỗ lực nghệ thuật dồn mọi cố gắng vào phía bên trong của công trình, Hiệu quả đạt được ở phía bên trong tuân theo một nguyên lý: các vòng cung lớn, trần nhà và cảnh trí trên nền nhà kết hợp với nhau nhằm thu hút con mắt người tín hữu về phía bàn thờ. Ánh sáng lọt qua các lỗ hổng trổ sát nhau ở phía trên những bức tường càng làm tăng thêm độ căng theo chiều ngang….
Kỹ thuật sử dụng ánh sáng theo kiểu mới này không chỉ nhằm mục đích thẩm mỹ đơn thuần mà còn nhằm đáp ứng với ý nghĩa mà người Kitô hữu qui gán cho nó, tức là một hình ảnh thiên xạ của Chúa. khu vực cung thánh được bài trí nổi bật hơn để nhấn mạnh đó là tâm điểm của tòa kiến trúc.
Thực ra, đấy là một cách… phi vật chất hóa trong kiến trúc.
Khi bước vào ngôi thánh đường, người tín hữu như vào một thế giới không thuộc phạm vi vật chất nữa mà là thiêng liêng thần thánh. Họ tự cảm thấy được thấm nhuần bởi Thiên Chúa và như vậy là họ cũng tham gia vào nhiệm tích thánh thể do vị giám mục cử hành.
.jpg)
Ở thế kỷ này, khi các giám mục không còn phụ thuộc vào chính quyền phần đời nữa thì tự bản thân các ngài phải đảm nhiệm về số mệnh của mình và của nhà thờ do mình phụ trách. Các ngài phải đối phó với một thách thức mới, tức là tình trạng dân số tăng vọt nhanh chóng, nhất là ở những nơi đô thị. Do đó, các nhà thờ cần mở rộng. Những tín đồ cũng ngày càng thêm đông đảo, phải có những giáo đường khổng lồ để tiếp nhận họ.
Vị giám mục phải cung cấp những giải pháp độc đáo đối với một đối tượng dân chúng có những mục tiêu không còn giống nhau nữa. Thực vậy, tuy ngôi thánh đường giám tòa vẫn luôn luôn là Đền thánh của Tân Minh Ước giữa Thiên Chúa và dân của Chúa, nhưng khi thể hiện mối quan hệ minh ước đó thì cần vận dụng đúng kiểu ngôn ngữ ở thời điểm của nó mới am hiểu được. Nghệ thuật kiến trúc và hình tượng được biểu thị với ý định rõ rệt nhằm phổ biến một thông điệp sáng sủa hơn cho toàn thể giáo hữu. Vì vậy, phong cách kiến trúc những nhà thờ có tiền điện quay theo hướng đô thị chính (Đối diện với tòa thị chính thành phố), được bố cục hài hòa với cửa ở giữa và một bên là tháp chuông và một bên là tượng Đức Mẹ La Vang được điêu khắc bằng đá.
Bên ngoài là một thềm sân (tiền đình) nơi chuyển tiếp giữa thế giới trần tục với thế giới thánh thiêng của giáo đường. Phần “tiền diện" của cấu trúc được trang trí bằng những tác phẩm mỹ học truyền thống của người Việt Nam hàm chứa một thông điệp hùng mạnh. Đem lại một bản sắc cho cộng đồng người Việt hải ngoại mà ở các giáo hữu đều cùng chung một đức tin.
.jpg)
Thánh Đường giám tòa là nơi tụ họp toàn thể cộng đồng đa phương, đa dạng khác nhau.
Khu vực hát kinh thường được bố trí ở phía trên của cánh ngang nhà thờ, là nơi dành riêng cho giới kinh sĩ xướng ca nguyện ngâm. Đấng chí thánh ngự trị ở nơi cao trọng nhất trong cung thánh và bàn thờ chính là nơi chỉ giám mục mới được hành lễ. Hai bên phía ngang nhà thờ có lối ra tới tòa giám mục và khu vực hàng rào giáo qui dành cho giới giáo sĩ.
Thông qua những sự lựa chọn thẩm mỹ khác nhau, các kiến trúc đều cố gắng đạt tới cùng một mục đích: Biến ngôi giáo đường dưới trần thế thành Dân Jérusalem trên trời như đã được miêu tả ở phần cuối sách Khải Huyền. Và từ trên trời xuống, ngôi Thánh Đường là "Tòa ngự trị của Thiên Chúa giữa loài người" tỏa sáng rực rỡ bằng mọi thứ ngọc quí giá nhất…
.jpg)
Mời bạn ấn vào đường link dưới xem tác phẩm:
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=624691333021653&id=100064423764685&mibextid=qC1gEa
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)
1.jpg)