TÁC PHẨM 33L

— "Giá trị" Mỹ Học của văn hóa có thể đo trong một nền văn minh xã hội bằng cách dựa trên "giá trị" của nó với sự mở cửa ra tương lai. Hành động và hiệu qủa được hàm ý trong từ nguyên của từ "Mỹ Học" này mang nghĩa: Khéo léo, tài năng và trình độ kỹ thuật. Theo nghĩa có hiệu quả. Văn hóa là sản phẩm của tự do sáng tạo. Như vậy, văn hóa không chỉ là một trong nhiều nhân tố trong bước tiến hóa của xã hội, mà nó còn là nền tảng, là nguyên lý vận động của sự tiến hóa đó. Tuy nhiên, văn hóa theo nghĩa này, ngày nay nhiều khi vắng mặt trong nhiều xã hội. Điều đó làm sáng tỏ một số nguyên nhân của tình trạng thiếu tự do trong xã hội đó… Tự do dần dần trở thành một việc phục tùng, trung thành với kẻ nắm giữ quyền lực đã được trao mọi quyền hành, như vậy là sinh ra sự thống nhất giữa chân lý và quyền lực, cá nhân chỉ tồn tại trong sự phục từng. Cá nhân có thể làm được gì trong trường hợp đó ? Bị tước mất quyền sở hữu và quyền lao động, con người vẫn có thể tiếp tục đấu tranh. Nhưng khi bị tước mất chính ngôn ngữ của mình, tức là quyền được nói của mình, con người theo một nghĩa nào đó bị tước mất quyền sống.
 
Lịch sử đã cho thấy rằng tất cả những ai đã thực hiện quyền tự nhiên của mình được nói ra chống lại tập thể quyền lực, đã phải trả giá đắt, nhiều khi bằng tính mạng của mình. Nhiều người khác đã tưởng rằng việc sở hữu các đồ vật có thể giải phóng họ khỏi quyền lực của tư duy. Như vậy họ đã từ bỏ quyền được nói của mình, nhường nó cho chính quyền, và bó hẹp mình trong hàng hóa vật chất và buôn bán.
 
Văn hóa, về cơ bản, là một sự nhận thức về thế giới, một hành động sáng tạo. Trong các xã hội của chúng ta, nó đã trở thành một hình thức trang trí tô điểm. Từ đó, tiến bộ trên trái đất được đánh giá về mặt tuân theo những chỉ thị từ trên trời, và cá nhân được đánh giá theo sự phụ thuộc của họ vào chính quyền. Sự phụ thuộc đó được thể hiện: Hài hòa, hòa giải và thống nhất. - Hài hoà để phủ nhận xung đột xã hội - Hòa giải để phủ nhận xung đột trí tuệ -Thống nhất để phủ nhận sự chia rẽ và phân nhỏ.
 
Thế giới này chịu sự tiến công của hai phương thức tri thức: -Phương thức thứ nhất chở theo quá khứ, nó quan tâm đến cái mai sau và những biện pháp để đạt tới vĩnh cửu - phương thức thứ hai mang theo tính hiện đại phương Tây, nó chủ yếu quan tâm đến việc xử lý vật chất, các biện pháp kỹ thuật để sản xuất và tiêu thụ. Nói cách khác, một bên là phụng vụ của thiên đàng trên trời, một bên là phụng vụ của thiên đàng dưới trái đất. Đó là một thế giới làm tê liệt tinh thần vì nó không sản sinh ra được tư tưởng lẫn kỹ thuật.
 
Thế giới hiện đại cai quản bằng tính duy lý và năng lực kỹ thuật hướng về tiêu thụ, cái tiêu thụ đồng nhất nó và làm cho nó trở thành phụ thuộc. Thị trường, năng lượng và chiến lược là những thứ dễ thấy hơn con người, tự do của con người và các vấn đề vũ trụ lớn lao của con người. Đó là một nhãn quan mang nặng tính chức năng, nó che giấu con người và phơi bày ra cỗ máy.
 
Ngày nay sản xuất hướng về đổi mới các phương tiện hơn là đổi mới con người. Các phương tiện nô dịch con người hơn chứ không phải là giải phóng con người. Cái được sản xuất ra, trở nên quan trọng hơn bản thân con người. Như thể con người tồn tại như một bộ phận của một cỗ máy.
 
Trong những điều kiện ấy, triển vọng của tự do là như thế nào ? Sẽ bắt đầu được xua tan khi người ta đánh giá lại một cách hoàn toàn và triệt để bản thân mình, nền văn hóa của mình và quan hệ của mình với "Kẻ Khác" cần phải ra đời một ý thức mới về Kẻ Khác, về niềm tin khác, và cái ý thức ấy trở thành một gương mặt thứ hai, một sự mở rộng bản thân mình. Dưới ánh sáng của ý thức mới đó, bản sắc của con người sẽ không còn được xác định trước mà trở thành kết quả của một quá trình sáng tạo, được đổi mới với mỗi đề án mới. Quá khứ (tôn giáo hoặc đảng phái) khi ấy sẽ chỉ là cái thành phần nguyên sơ hơn, cái kém giàu có hơn, cái kém sâu sắc hơn của bản sắc. Và bản sắc ấy chỉ có thể là kết qủa của một qúa trình sáng tạo liên tục. Đơn độc trong mọi sinh vật, con người tạo nên bản sắc của mình bằng lao động và tư duy sáng tạo. Bản sắc con người không phải là một lượng cố định, nó không sinh ra từ bất kỳ loại quá khứ nào, nó là sự “tìm kiếm mãi mãi tương lai trong một số phận không ngừng sáng tạo”. Để đạt tới trình độ ý thức ấy về mặt bản sắc - kẻ khác thì chính trị phải trở thành một bộ phận hữu cơ của một tổng thể, tổng thể văn hóa. Cái thứ nhất phải phụ thuộc vào cái thứ hai, hành động chính trị phải chủ yếu là một phương tiện tăng cường sự trao đổi giữa bản thân mình với người khác, nó phải thỏa mãn một nguyện vọng văn hóa được có đối thoại, trao đổi, bổ sung.
 
Để cuối cùng bác bỏ câu nói nổi tiếng của Saint - Just: “Mọi nghệ thuật đều sản sinh ra những điều kỳ diệu, duy nghệ thuật cai trị là sản sinh ra những quái thai."
.
.
.