Tác phẩm tranh thêu tay: UỐNG RƯỢU CẦN

Tác phẩm tranh thêu tay: UỐNG RƯỢU CẦN

Chất liệu: Chỉ DMC, chỉ tơ tằm, vải cotton

Kích cỡ: 115 x 155 cm

Họa sỹ: Nguyễn Thị Thu Ba

Nghệ nhân: Đoàn Thị Hà

 

LỜI "THỤ PHÁP" GIÀ LÀNG BẢN ĐỊA

Phải đi đến quyết định, phá vỡ ràng buộc mà cuộc sống hiện đại và sự mềm yếu của trái tim đã trói ta lại.

Được vũ trang bằng chiếc gùi và cái gậy tổ tiên, và lên đường tìm đất mới cho bộ lạc.

  

KHU VĂN HÓA BẢO TỒN “NGHỆ NHÂN CƯ DÂN BẢN ĐỊA”

“Văn hóa bảo tồn” hình thành nên mảnh đất sở trường cho sự phát triển của các nghệ nhân bản địa. Không gian trong đó tài năng đặc biệt của họ được nảy nở tự do nhất. Với điều kiện văn hóa không phải là ký ức về quá khứ, trở lại với một bản ngã huyền thoại, mà phải trở thành một ký ức về tương lai, rộng mở với người khác, phong phú không ngừng và bất tận bằng cách phát huy những nhân tố nội tại tiếp thu nhân tố ngoại lai pha trộn  tạo một sự hài hòa.

Trước tác động của quá trình “san bằng” và “đồng loạt hóa” các dân tộc thiểu số đang tiết ra những “kháng thể xác định khác biệt” làm cho ý thức bản thể bộc phát dẫn đến chỗ lên tiếng đòi quyền tự trị rộng rãi hơn.

Vì thế không gian – văn hóa bảo tồn bản địa - là nhân tố ổn định, sự an toàn là bản sắc mà họ phải được sống đầy đủ, là được thừa nhận và biểu đạt một cách đầy đủ- tạo nên sự hài hòa, bản sắc dung hòa với phẩm giá con người.

 

Người cư dân bản địa tôn thờ tổ tiên và tin ở thần linh: thần gỗ, thần mật, thần mối, thần rừng… và tìm cách giao tiếp với thần linh trong các buổi lễ. Song chỉ có pháp sư (thầy cúng) mới có thể liên lạc được với thế giới bên kia thông qua cái cây Nêu “cột thần linh”.

 

 

HÀNH VI SÁNG TẠO CỦA TỔ TIÊN

 

Sinh hoạt tôn giáo của các thổ dân miền cao nguyên xoay quanh những hành vi nguyên thủy của tổ tiên, họ là những người đã sáng tạo ra những nghi lễ đầu tiên, những đồ vật, hình vẽ thờ cúng đầu tiên (cây nêu) qua nghi thức và sự chăm lo nơi thờ cúng.

Các thổ dân ngày nay tự khẳng định là người kế tục tổ tiên của họ. Để duy trì sự trù phú của thế giới, họ tìm cách giải phóng một phần sáng tạo tiền nhân trong các nghi lễ trong đó nghệ thuật có một vị trí quan trọng.

Vị chủ lễ có nhiệm vụ vào những giai đoạn khác nhau của buổi lễ, vẽ lên thân thể người múa, những mẫu hình mãnh liệt bằng đất son, màu vàng, đỏ bằng đất sét, than củi. Các hình vẽ đó còn được trang trí thêm bằng các lông chim sặc sỡ, những sợi xơ (tơ) dán vào da hoặc cài vào người, làm cho khi nhảy múa, người nhảy sẽ biến thành người xưa.

Có khi người ta vẽ những mẫu hình xuống đất dành cho nghi lễ, có khi phủ khắp một diện tích tương đối lớn chứa đựng những thành tố 3 chiều: núi cao, vực sâu hay những chiếc cọc được đóng cách đều nhau, trên đó có treo những vật thờ cúng, phong cảnh nguyên thủy và những đặc trưng của nó thể hiện một cách giản lược, còn người múa thì đi lại khắp mọi chỗ, vừa đi vừa bắt chước những điệu bộ sáng tạo của tổ tiên.

Những mẫu hình chức năng là nối liền thời kỳ huyền thoại của việc tạo ra thế giới với thời hiện tại, đã dần dần bị xóa nhòa theo tiến trình của nghi lễ, ý đồ không phải tạo ra tác phẩm lâu bền mà là để gợi nhớ một cách mãnh liệt cái thế giới tổ tiên, tìm lại nó và truyền nó cho các thế hệ trẻ.

Đôi khi những mẫu hình thông dụng nhất như dấu chân của những con thú – đường cong hay thẳng – nhằm thể hiện chủ yếu nơi trú ẩn và công cụ của tiền nhân.

Khả năng sinh đẻ được thể hiện: đối với đàn bà bằng những vòng tròn đồng tâm, đối với đàn ông bằng những đường thẳng song song. Sự gặp gỡ của những lực đồ họa ấy trong cùng một nghi lễ sẽ giải phóng năng lượng phát sinh cần thiết cho sự tồn tại vĩnh cửu của chu kỳ cuộc sống.

 

 

Chiếc Áo: NGƯỜI CON CỦA MẶT TRỜI

    Sử thi của những cư dân bản địa, nói lên sức sống bền bỉ của những truyện kể thần thoại trong các cộng đồng ở cao nguyên. Nó kể lại câu chuyện về thần Inkaki - con trai mặt trời là nạn nhân của thực dân Pháp, bị người Pháp tra tấn và chặt đầu. Thủ cấp rời khỏi thân, được sống bí mật trong những khu rừng bí mật, tại đó được sinh ra một thân mới và mặc áo xơ của các loại cây cau rừng. Sau khi thân mình mọc ra hoàn toàn, người con mặt trời trở lại tiến hành việc phán xét cuối cùng và lập lại các buôn làng.

   Niềm tin đó vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Mỗi năm tại nhiều cộng đồng cư dân bản địa, những buổi tế lễ thổ thần là dịp diễn lại cái chết của người bản địa. Trong các cuộc trình diễn, các diễn viên là người dân bản địa, trong trang phục của thời đó làm sống lại một loạt sự kiện thần thoại và lịch sử, mà sử thi dân gian xếp liền cạnh nhau hoặc chồng lên nhau trong một bối cảnh phi thời gian do vậy được xếp hỗn độn vào với nhau. Trong tất cả cuộc trình diễn đều có cảnh kẻ cầm đầu thực dân xuất hiện và chặt đầu người bản địa, thực ra bị thắt cổ. Ký ức tập thể đã thay thế việc chặt đầu bằng việc thắt cổ, làm sống lại những hình ảnh muốn nói rằng trong một tương lai không xác định (khi thân thể của vị thần thủ lĩnh được phục hồi hoàn toàn). Nền văn minh cổ xưa của cư dân bản địa sẽ tìm lại được tất cả sự huy hoàng của nó, lập lại luật lệ của nó và phân phát đất đai cho con cháu của những người sở hữu thật sự.

   Câu chuyện sử thi ấy tồn tại, biến đổi và tái tạo dưới ảnh hưởng qua lại của các nền văn hóa bản địa, bản xứ, Châu Âu v. v … Sự biến đổi ấy chắc chắn làm đậm nét thêm sự tương đồng của các chủ đề giữa các khu vực khác nhau.

 

Trụ cây: NƠI TRÚ NGỤ LINH HỒN TỔ TIÊN

Tác phẩm: PHÙ THỦY

Chúng tôi tìm cách tái phát hiện những cội rễ đã mất. Thể hiện những trường tồn, những tín hiệu – hình dáng phổ quát.

Cũng là nơi Nghệ Nhân – Nghệ Sỹ XQ thiểu số chúng tôi cầu xin tổ tiên tha tội, bằng cách đụng chạm vào gốc cây thiêng liêng, nơi trú ngụ linh hồn tổ tiên, nhờ vị chủ lễ đặt tay lên đầu nghệ nhân – nghệ sỹ trong lúc chạm tay vào gốc cây thiêng giúp cho chúng tôi trò chuyện được với linh hồn tổ tiên.

Bên dưới là một hốc cây, nơi chúng tôi rưới rượu lên một hòn đá cúng tổ tiên.

 

 

 

BODY “PLAY”

 

Sửa đổi cơ thể để chống lại cái vẻ ngoài ước lệ tầm thường, một sự tìm kiếm nhằm đem lại một ý nghĩa cho cuộc sống được coi là vô vị.

Hình thức đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tiêu chuẩn hóa đang tiệm tiến

Cơ thể không phải là một dữ liệu giải phẫu học bất biến rằng có nhiều cách để ghi lên cơ thể những dấu hiệu cho thấy mình thuộc về nền văn hóa nào đấy.

Một hình thức “thẩm mỹ học bộ lạc” là một phương cách mà để giáo dục mọi người bằng cách nuôi dưỡng ký ức về những nền văn hóa Đà Lạt xưa đã biến mất, truyền đạt ý niệm về cái đẹp nền văn hóa ấy và tỏ lòng tôn kính nó.

  

 ỐC ĐẢO HẠNH PHÚC

(Trò Chơi Búp Bê)

Vào những giờ nghỉ - với những trò chơi treo búp bê nó tạo cho người thiểu số chúng tôi những xung năng chơi, có thể gọi là xung năng tò mò - xung năng khảo sát, 3 cách gọi của những người nghiên cứu về tập tính học hay dùng với dân tộc thiểu số khá lẫn lộn.

Với chúng tôi, nó đem lại một lợi thế trong quá trình chọn lọc tự nhiên, trong môi trường sống ngày hôm nay, tạo cho mình có thói quen khảo sát một cách không chủ ý môi trường xung quanh có dịp học hỏi nhiều hơn cho việc đối phó với những tình huống bất ngờ. Trò chơi búp bê (hoán đổi vị trí tổ chức - con người) làm nên một con đường trong trí óc mình dẫn dắt đến một lạc thú thẩm mỹ và suy tưởng cá nhân, khiêm tốn hơn, dạy cho chúng ta hãy xem xét lại những quan niệm và ý kiến đã thành nếp. Nó còn phát triển những chức năng nuôi dưỡng các khả năng lao động, sáng tạo và mọi hình thức hoạt động khác trong đời sống của người thiểu số trong không gian Đà Lạt XQ Sử Quán.

Chúng tôi thường nghe nói sự khai sinh ra loài người mà sự tham gia chính của nó là trò chơi - và lịch sử loài người là đầy những trò chơi – ngày nay nó được bao phủ tấm màn bí ẩn. Vì vậy, tương lai của chúng tôi sẽ phụ thuộc vào khả năng của chúng tôi sáng tạo ra, không chỉ những kỹ thuật mới, mà cả tổ chức mới và những văn hóa mới, phụ thuộc vào khả năng của chúng tôi, nên chăng bằng cách phục hồi lại ngọn lửa đó của sự sống …tiếp tục chơi một cách tự do trong không gian này.

 

 

.
.
.