TẬP THƠ: SƯƠNG KHÓI ĐƯỜNG THI

NGÕ VÀO

Then sương mở chốt, đón chư quân

Chợt nhớ người xưa, chữ ngại ngần

Đá dựng sân không, chào thượng sĩ

Mây chờ ngõ lạnh, tiếp hiền nhân

Chim quen gác trúc, mưa hòa nhạc

Hương nhớ phong thu, gió nhã trầm

Đọng đáy mắt xanh, hồn vũ trụ

Bốn mùa cổ độ chẳng biên phân!

 

VƯỜN THIỀN

Vườn Thiền trầm lặng xuyết hoa vân

Trăng nước thanh thanh, vẽ tuyệt ngần

Gió thoáng lối thơ, vờn thủy mặc

Sương vương áo cỏ, đọng chơn tâm

Thái hư lá vỗ, chao tinh đẩu

Đại mộng, hương bay, ngợp diệu trần

Huyền hựu đón xuân, vô lượng nghĩa

Rừng xưa, chim cũ hót nghinh tân!

 

NHẤT MỘNG SƯƠNG

Nửa mái am thiền, nhất mộng sương

Nửa kia, nắng sớm vọng trăm đường

Lòng mây trắng chữ, thơ càng nhẹ

Mắt lá xanh màu, khói dễ vương

Lắm lúc chim ngàn, thương luyến núi

Đôi lần hạc nội, dạo chơi vườn

Xa xăm dặm biếc, lời vô hạn

Bút nguyệt, nghiên trầm, mực xạ hương!

 

GẬY QUA BỜ

Một thuở qua bờ, chiếc gậy tre

Gõ vang trên đá, khối u mê!

Rơi vào vực thẳm, muôn con chữ

Lạc giữa vườn hoang, một lá đề

Lãng đãng chim trời, vui dặm khách

Mơ hồ quán trọ, luyến niềm quê

Đến đi khinh khoát, trăng cài áo!

Cho dẫu cô liêu vướng bốn bề!

 

THANH KHÍ

Khói mây liễu mộng, ngoại trần chơi!

Trăng nước hoa gương, ngẫm lại cười

Nhân ái đề huề, sao tỏ rạng

Đạo tình vẹn vẻ, ngọc phô tươi

Non cao, hạc cũ gầy sương tuyết

Động vắng, mai xưa lặng tiếng lời

Một thoáng tơ vàng rơi giếng cổ

Ngàn sau thanh khí, lạnh trần khơi!

 

 

ĐẠO CÓ TÌNH

 

Đò nhẹ lên nguồn, cơn mộng trắng

Ghé qua suối ngọt, cá say kinh

Hương trời gió thoảng, không thành có

Sắc nước trăng pha, bóng lẫn hình

Mượn mái non xanh, vui tiểu ẩn

Xoa tay bụi đỏ, mỉm phù sinh

Rong chơi ba cõi, mười phương Phật

Để biết hư vô, đạo có tình!

 

CHÂN BÈO HOA

Cây rừng, ríu rít tiếng chim reo

Đêm lặng, ngày trôi, gió thoảng vào

Chiếc lá thời gian, sắc biếc thắm

Cành hoa hiện tại, nụ trong veo

Bâng khuâng núi lạnh, trăng không ngủ

Ngơ ngác thuyền bồng, sóng nhổ neo

Vọng tưởng lênh đênh trời tía đỏ

Tưởng đâu hoa đốm nở chân bèo!

 

TAY RUN VIẾT

Một buổi trà sương, chung ẩn sĩ!

Một câu thơ cổ, hương tri âm !

Màu chim cánh khói, thương trời hạ

Giọt nắng hình hoa, luyến giậu xuân

Chộn rộn trăm sông, thuyền đạo lý

Lao nhao mấy côi, chợ nhân luân

Thường như viết mãi, tay run mãi

Nhắp cạn tứ trăng, bút chuyển vần!

 

VI TIẾU

Còn ai vi tiếu, thú trên đời?

Ngắm nước mây trôi, thơ cũng trôi

Như đã nghêu ngao chơi mệnh vận

Như từng vi vút cỡi không thời

Bối hương, tao ngộ tình non thẳm

Hạo khí, đạo đàm sóng biển khơi

Ví thử cảo thơm rây bụi trắng

Chừng nghe tịch mịch núi non cười!

 

TRÊN ĐỈNH TÂN BA

Ngửa mặt, bơ ngơ giữa cuộc đời

Ta về đỉnh nguyệt, núi mây chơi

Đông phương, Hà Bá nằm che mất!

Tây thổ, Đạt Ma đứng chật rồi!

Huyễn giới ba ngàn như sợi khói

Ảo trần tám vạn tợ nùi hơi

Gió vàng khẽ động chùm sao quế

Ngâm sảng câu thơ, Phật mỉm cười!

 (Tịnh xá Sãla, thu 1975)

 

HUYỀN KHÔNG CẢM TÁC

(Kỷ niệm ngày đến HK, đèo Hải Vân - Lăng Cô)

Lãng bước du phương lạc chốn này

Huyền Không ai dựng giữa triền mây

Trời xa, biển ngậm lòng nhân tục

Rừng quạnh, non phơi dấu hạc gầy

Hai nẻo suối về, xanh bể Bắc

Một giàn lan tỏa, ngát đồi Tây

Hồn chiều trải rộng mười phương đạo

Ngợp giấc thiền, quên kiếp cỏ cây

 (Đầu năm 1974).

Ngợp giấc thiền, quên kiếp cỏ cây

Phong sương, y đã bạc vai gầy

Lối lên bát ngát hương đàm quyện

Nẻo xuống mịt mùng lửa não vây

Tịnh Thuỷ, nước reo mùi giác tỉnh

Thanh Tâm, lòng lắng vị trần say

Giữa hồ Hàm Nguyệt, trăng thiên cổ

Gởi Bạch Vân sơn chút vọng này!

 (Cuối năm 1974)

 

TỊNH XÁ SÃLA

Chùa nghèo dựng giữa một hoang đồi

Muốn viếng Sãla, trán đổ hôi!

Đạo đến xóm gầy, nghe lá thở

Sư về rừng quạnh, ngắm non cười

Rằng vui mỗi sớm, cây vươn lộc

Hẵng sáng từng đêm, sao đổi ngôi!

Khói tỏa nửa vời, chim nhớ tổ

Ngàn năm sống thọ, cảnh quy hồi!

(Đông Ất Mão, 1975).

 

VÔ THANH ĐIỆU

 (Nhớ Nhà Thơ Trà Giang Tử, Kathina 1975 tại tịnh xá Sāla)

Tri bỉ hề! Tri kỷ! Cố nhân!

Gặp nhau như thử hội phù vân

Mò trăng, bác Lý, mơ tầm huyễn

Gảy khúc, chàng Vương, giả níu chân!

Thơ đến non trần, men suối ái

Đạo về núi tịnh, ngoảnh triền ân

Bao giờ thiền tứ, vô thanh điệu

Đáo bỉ, câu thơ chẳng nệ vần!

 

ĐỀ THÁP

Cố Đại Sư Giới Nghiêm

1. Nguồn Trong Lặng

 Tùng trúc non cao khẽ cúi đầu

 Nhớ ai, sương đọng lệ ngàn thâu

 Mang ân tế độ, kinh mầm ngọc

 Đội phúc khai truyền, pháp hạt châu

 Cây cũ nầy hoa, tươi thắm mãi

 Nhánh xưa vươn lá, biếc xanh lâu

 Giữ gìn suối ngọt, nguồn trong lặng

 Phụng hiến nhân gian giọt nhiệm mầu

2. Thắp Chữ

Một thuở rừng xưa, dáng cổ tòng

Tàn cao, bóng cả rợp hư không

Dịch kinh, giữ vẹn lời nguyên thủy

Giảng pháp, gìn tròn nghĩa chánh tông

Đuốc trí, an nhiên soi chướng ngại

Gót từ, thanh thản lướt gai chông

Đá vàng ghi tạc ân vô lượng.

Thắp chữ, lung linh ngọn nến hồng

3. Giọt Lệ Trời

Bảo tháp tôn nghiêm, tưởng niệm Người

Gương trăng đạo hạnh rạng trần khơi

Xây chùa, lập viện, tâm nào quản

Tiếp chúng, độ tăng, chí chẳng dời

Bóng đã qua đi, xanh vạn khoảnh

Hương còn để lại, ngát muôn đời

Đức dày, ân trọng, nghìn non nhẹ

Kinh chữ vô ngôn, giọt lệ trời!

4. Trăng Soi Bóng

 Từ độ ngài đi, lạnh mái chùa

 Cỏ cây gầy ốm, lá lưa thưa

 Nhớ thương, uy đức, nghiêm bao chúng

 Kính cảm, từ dung, nhiếp mấy thừa

 Cấy hạt bồ-đề, tùy phước mới

 Chèo thuyền bát-nhã, thuận duyên xưa

 Tướng rồng, dáng phượng, trăng soi bóng

 Bảo tháp trầm hương phụng bốn mùa!

 

TRƯỢNG TÒNG

 (Kính dâng Ngài Hộ Nhẫn)

Một cõi Thiền Lâm, bóng trượng tòng

Quang minh tinh đầu chiếu hư không

Đầu phơi mưa nắng, gìn thanh hạnh

Chân dẫm xóm làng, giữ chánh tông

Rủ bụi, thung dung vầng nguyệt tỏ

Xả tài, phơi phới mảnh gương trong

Mây lành năm sắc che tàn lọng

Hương ngát ba ngàn tỏa núi sông

Thiện tín trầm hoa, nhân thắng tuệ

Tăng ni kinh pháp, quả viên thông

Bi từ, giới trí ngời uy đức

Đạp sóng, thênh thang cuộc lữ bồng!

 

THÁP XÁ LỢI CẢM TÁC

 (Tại chùa Thiền Lâm)

Phật đi, để lại nắm tro thôi!

Hóa đạo, hóa văn đẹp tuyệt vời

Mã não, "thịt xương”, hương tú diệu

Lưu ly, "tủy não”, sắc tinh khôi

Phúc ươm, bạch ngọc, "da" trong sáng

Đức tụ xích châu, "huyết” rạng ngời

Sữa thánh no lòng, thương trẻ dại

Cháo thiền đỡ dạ, cảm con côi

Thiện nam trỉa hạt cầu công quả

Tín nữ gieo nhân hưởng lộc trời

Vằng vặc đỉnh trăng, tinh đẩu phục

Linh thiêng xá-lợi vượt không thời...

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

 

Mượn thân giả tạm cứu đời thôi

Suốt tám mươi năm sống tuyệt vời

Vương tử, chẳng màng ngôi cửu ngũ

Đạo sư, đạt thấu bậc nguyên khôi

Pháp mầu giải thoát, danh thơm nức

Anh diệu từ bi, đúc rạng ngời

Lớp lớp sóng thiền, xua khổ não

Trùng trùng mưa pháp, bạt đơn côi

An bình rộng tỏa bao la đất

Hạnh phúc cao dâng bát ngát trời

Đảnh lễ, ngưỡng trông tòa tháp báu

Toàn chân, nhớ mãi đức muôn đời!

 

THIỀN LÂM THÁNH THÁP

 

Lừng lững uy nghi vút tận trời

Trang nghiêm bảo tháp nhiếp trần khơi!

Thiền Lâm, rồng báu, công tôn tạo

Quảng Tế, trăng vàng, đức chiếu soi

Hằng sản, hằng tâm, hương vạn khoảnh

Thường tu, thường giới, phúc muôn đời

Gốc xưa tự tại, cây xanh lá

Cành cũ an nhiên, lộc biếc chồi

Thiền quán, cung nghinh, đèn tứ chúng

Kinh cầu, lễ bái, đuốc ba ngôi

Vinh quang, đạo hạnh, trăng thiên đế

Vĩnh cửu, hồng ân, nghẹn chữ lời!

 (Am Mây Tía, Xuân Ất Dậu, 2005)

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

Bóng tháp tôn nghiêm vượt đỉnh trời

Mây lành chầu ngự, tịnh trần khơi

Uy nghi, cổ kính, thân vàng chiếu

Vững chãi, quyền năng, móng ngọc soi

Phật cốt thiêng liêng truyền vạn thuở

Kim quang mầu nhiệm tỏa muôn đời

Hoa nhuần ánh tuệ, trân châu nụ

Lá thắm hương tâm, bạch tuyết chồi

Quảng Tế kỳ quan, thiền chủ thượng

Cố đô văn vật, đạo cao ngôi

Pháp duyên chợt động ba nghìn cõi

Xuân mở trang kinh, gió dậy lời!

(01/3 Ất Dậu, 2005)

 

VÔ NGÔN THÂN GIÁO

 (Kính dâng đức Tăng trưởng)

Đức của đất trời, bặt trí tri!

Trang nghiêm một cõi, nhiếp nhân vi

Ngàn nhà cơm bánh, thân nào quản

Tám tiết nắng mưa, hạnh sá gì

Nhỏ nhẻ nói cười, tâm đại độ

Dịu dàng đi đứng, giới oai nghi

Bao năm độ chúng, vô ngôn giáo

Hoằng pháp, lợi sanh bất khả nghì!

 

TÙNG BÁCH HƯƠNG

 (Chúc thọ Ôn Trúc Lâm)

Xuân nay phụng bút, kính mừng Ôn

Tuổi hạc tuyết sương, thọ tự tồn

Thiền khí, quỷ ma gờm tích trượng

Đạo từ, tâm nguyệt động nghiên son

Trang nghiêm, bích nhãn nhìn Tăng sự

Tự tại, thảo hài dạo Bối môn

Tùng bách ngàn năm, hương hóa cốt

Tào Khê nước chảy, biếc đầu non!

 

BỤT HỶ XẢ

(Chúc thọ Ôn Từ Quang)

Thiều quang sương tuyết, tám mươi xuân

Chúc thọ mừng Ôn, nhất điểm tâm!

Tôn tạo chùa xưa, ân phúc mệnh

Dựng xây điện mới, áng thiền vân

Độ đời, trầm lắng hồi chuông vọng

Hành đạo, u nhàn tiếng khánh ngân

Hỷ xả nụ cười, vui đất Bụt

Sơn môn, bát-nhã tỏa phân phân!

 

VUI VĂN SÁCH

 (Quý dâng Ôn Từ Quang)

 Hưởng thọ, mừng Ôn, tùng bách niên

 Ngát ngào lan thảo toả bên hiên

Thanh nhàn sớm tối đùa văn sách

Thơi thả tháng ngày dạo tứ viên

 Phước lớn, đủ đầy cơm cháo ngọc

 Đức dày, vẹn vẻ chúng đồ hiền

Trăm năm hỷ xả, lòng vô chấp

Tục diệm tam thừa đựng kế duyên!

 

TRĂNG RỪNG TRÚC

(Kính điếu Giác linh Ôn Trúc Lâm)

 Thiên cổ, lung linh ngọn nến hồng

 Người đi, sương nước lệ ngàn không

 Kim cương, gậy gõ miền lau trắng

 Viên giác, trăng đeo vạt áo sồng

 Đáo bỉ, thung dung thuyền mật độ

 Nhập triền, thanh thản hạnh chơn tông

 Nhiên nhiên, pháp khí bừng trăm trượng

 Hạo hạo, tâm hương tỏa vạn tòng

 Hiên lạnh, hài xơ, thiền xóa chữ

 Liêu nghèo, mái dột, đạo đơm bông

 Gió qua rừng trúc, an vị sự

 Vọng giữa hư vô, trống cổ đồng!

 

THẮP THƠ TRỪ TỊCH

 

 (Dâng Đại huynh)

Bút chuyển tình xuân chở đạo vàng

Nửa đêm trừ tịch nhớ mang mang

Chân trời, huynh rải lòng vô nhiễm

Góc biển, đệ nuôi lửa hữu hằng

Đại nguyện khiến hiền nhân xuống núi

Tiểu tâm xui ác hữu chuồn hang

Dù cho nắng quái đùn phương trượng

Cổ thụ che chung vẫn một tàn!

(HK - Lăng Cô, 1976).

 

LẠC KHỨ HỒI!

 (Mến tặng Nhà Thơ Phạm Phú Hải)

 Bạn đến thăm ta đã trễ rồi!

Tìm thơ, thơ lãng giữa dòng trôi

 Lối về cửa tục, mây lầm khói

 Nẻo đến am không, núi trở đồi

Y bát tha hương chưa ráo nợ

 Cửa nhà cố quận đã trơ vôi

 Quay lưng phương trượng mờ thiên cổ

 Một chiếc thân hư, lạc khứ hồi !

 (HK, Lăng Cô, 1976).

 

ĐỒI TÂY CÁT LẤP

Đời nửa lưng mây thở khói vàng

Nương trần chim mỏi cánh về hoang

Gió sương ngăn mộng còn nghi ngút

Thi bút se duyên đã bẽ bàng

Thống khổ non mê vầy điệp điệp

Bi thương biển huyễn trải mang mang

Gương soi trăng mộng chìm hư ảo

Cựu lý mờ sau bóng biệt ngàn....

 

Cựu lý mờ sau bóng biệt ngàn...

Ngựa phi thiên lý, rượt quan san!

Áo hàn che kín thân gầy guộc

Da tuyết bao quanh dáng võ vàng

Mộng mị đã quên giờ tựu hội

Bọt bèo còn nuối khắc ly tan

Đò ai khách muộn chờ trăng xế

Cuộc lữ đêm đau vẫn rỡ ràng!

 

Cuộc lữ đêm đau vẫn rỡ ràng

Muôn lần mê trú bến gian nan.

Rừng phơi mộ, mộ phơi từng lớp

Biển đắm sương, sương đắm mây hàng

Đất động muôn sau rền tiếng vọng

Suối reo nghìn trước dậy âm vang

Nhìn mông tám hướng, người khôn tỏ

Cát lấp đổi Tây, đã trở vàng...!

(Núi Lớn - Vũng Tàu, 1973)

 

PHONG LAN

Ẩn sĩ chi hoa? Vương giả hoa?

Thuở xưa quê quán chốn yên hà

Sắc hương thanh nhã, bao người mến

Cốt cách kiêu kỳ, ít kẻ ưa

Uống móc, ăn sương y nết cũ

Gìn vàng, giữ ngọc vẫn nòi xưa

Hồng trần lỡ đọa thì không tiếc

Chỉ tiếc tri âm ít ỏi là!...

 

NHÀ THƠ PHẠM PHÚ HẢI

(họa - thương kính tặng TTA)

Ánh trăng đầu buổi đã tan rồi!

Bọt trắng hai bờ lạnh lẽo trôi

Hùm rống tà huân, đau đớn núi

Vượn gào nhật mộ, tái tê đồi

Tìm thơ, nguồn cũ, rêu um sắc

Thăm bạn, tường xưa, gạch vữa vôi

Ai biết, ai kia không biết nhỉ

Khổng Khâu mà cũng khóc Nhan Hồi!

 

Khói tan rồi! Lửa tắt rồi!

Tro tàn trôi giữa tháng ngày trôi

Biển sâu, sầu hỡi, sâu hơn biển

Đồi lạnh, tình ơi, lạnh lắm đồi

Động gió, đá còn nguyên dáng đá

Am mây, vôi đã trở màu vôi

Nghe chừng vẳng vẳng chuông năm ngoái

Lạnh lạnh theo sương nhịp đổ hồi

Vần thơ năm trước lại quên rồi

 

Một chữ bồng bềnh, hai chữ trôi

Tóc bạc, sương chiều rơi trắng núi

Mắt xanh, khói sóng phủ lam đồi

Anh hoa bách tuế: Tờ thư mọt!

Hài cốt thiên thu: Nhúm bột vôi!

Mực cạn, bút cùn, năm tháng lụn

Đèn khuya nhảy múa bóng bồi hồi

 

Rồi sẽ cười vang tóc bạc rồi

Thuyền đời nhẹ lễnh, mặc đò trôi

Đứng khoanh tay, ngắm mưa tràn biển

Nằm duỗi chân, xem nắng lụt đồi

Sao sớm nhập nhòa đầu mái ngói

Trăng khuya loang lổ cuối tường vôi

Cười nghiêng kim cổ, Đông Tây nhé

Cho lạnh thiên khung phút vãn hồi!

(Đà Nẵng - 1977)

 

LẠNH HƯ KHÔNG

Một thoáng bao năm biệt cửa thầy

Về thăm, lòng tự khói ngàn mây

Cây xưa, đứng đội tình sương tuyết

Mái cũ, nằm nghe nghĩa tháng ngày

Bạn ở hoàng thành, chắc vẫn tỉnh?

Tôi tìm thâm xứ, lẽ còn say?

Tỉnh-say mấy cuộc, trò dâu mộng!

Nghe giữa hư không gió lạnh đầy!

(Phật Bảo tự, Phú Thọ Hòa, 1977)

 

CƠN BÃO SỐ 8

Đại thụ trăm năm gãy gục đầu

Đất trời quằn quại, biển thương dâu!

Chơ vơ đá dựng, da bung vảy

Tơi tả lan phơi, sắc tượt màu

Góc hẹp, cỏ nằm, vô sự nhỉ?

Thân mềm, liễu đứng, có gì đâu!

Bão qua vẫn lắm nhà không nát

Tạo hóa ai ngờ thiên vị nhau!

 

ĐÁO BỈ BỈ ĐÁO

(Gởi Phạm quân)

 

Vốn cách đường thiên lý hỡi ai!

Muốn đi thăm, ngại lối sương dày

Ngóng vời ải lãnh, thương tình nhạn

Trông mút sơn đầu, luyến nghĩa mây

Dặm phố, thân gầy hơi thuốc đắng

Góc vườn, mắt đỏ khói thiền cay

Họa long, điểm nhãn còn chăng tá?

Tung cánh trời xanh hội cuộc này!

 

Tung cánh trời xanh hội cuộc này?

Huyền đàm, hí luận, mặc đời say!

Thiền phong, dậy gió, sông dài ngợp

Đạo khí, bung hơi, núi lớn lay

Tô Thức thương thời, thơ cảm mộng

Đào Tiềm xót thế, phú buồn lây

Mang mang Tiềm - Thức, mang mang cõi!

Bỉ đáo ta? Ta đáo bỉ đây! ?

(HK- Lăng Cô, 1978)

 

HUYỀN KHÔNG THẤT CẢNH

1. Pháp Vũ Đường

 (Đề nhà giảng, học kinh pháp)

Duyên thiền ghé lại cõi trầm luân

Hiện pháp như lôi, như vũ vân

Nở đóa hữu tình trên sỏi đá

Trồng cây vô niệm giữa tham sân

Phiêu phiêu, mây nhẹ nâng tình thức

Hốt hốt, mưa lành tưới đạo tâm

Thi bút tiêu tao phương ngoại vật

Lời sương, tứ đọng, hải triều âm!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

Uy đức mười phương hiện pháp luân

Đất trời nhuần gội ánh từ vân

Hương đàm chuyển gió xua mê ác

Kiếm tuệ vần mây bạt não sân

Sắc tỏa hồn nhiên hoa kiến tánh

Không ngời tự tại đá minh tâm

Ba ngàn, triêu mộ, kinh hồi hướng

Thánh thót mưa lành, khởi diệu âm!

 

 

NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH

 (họa)

Pháp vô thường như chuyển pháp luân

Sắc không huyễn hóa, áng hồng vân

Vỡ non muôn khoảnh, gieo hoa lạc

Xới đất nghìn vuông, xót cỏ sân

Ươm hạt vô ưu, nương hạnh đạo

Nắn cành nghiệp thức, dưỡng từ tâm

Chuông sương, tỉnh giấc, ba nghìn cõi

Vang vọng muôn đời sóng hải âm!

 

2. Thanh Tâm Viên

(Đề hồ cảnh, vườn cỏ đá).

Lối nhỏ qua cầu, bóng thảo lư

Vườn thơ, vườn cỏ, dáng khiêm từ!

Mấy mùa tĩnh mặc, màu thanh thủy

Bao độ u nhân, nghĩa cổ thư

Trăng ghé hồ trăng, không lại có!

Gió xao cành gió, thiệt rồi hư

Hốt nhiên, trời đất đàm hương quyện

Sao tỏ trời chiều, một chữ Như!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

Lung linh sương khói quyện bồng lư

Trần Giải, cầu qua, bước dậy từ

Nước biếc, xôn xao gương cổ nguyệt

Non xanh, vằng vặc dấu thiên thư

Mây chầu, thầm tưởng trời vân uyển

Đá tạc, chừng mơ đất thái hư

Điệu trúc, gió ngân, phiền tục lãng

Rằng tâm tức Phật, cảnh hồ như...

 

NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH

(họa)

Một chiếc hồ trăng, một thảo lư

Lối quanh, bờ cỏ, dạo hiên từ

Mây trôi lặng lẽ, trang hồ điệp

Gió thoảng thanh nhàn, ý cổ thư

Lác đác vàng rơi, dòng huyễn hóa

Thong dong sương rụng, lạch doanh hư

Thanh Tâm một thoáng, trần tâm sạch

Rủ bụi qua cầu, gót thản như!

3. Phương Thảo Địa

(Đề vườn phong lan, địa lan)

Có phải bên đời một chút tiên?

Mà sao nhẹ lễnh giấc ưu phiền

Hoa rơi cảnh Bụt, trăng đưa lối

Thơ thoảng vườn Thiền, đạo gởi duyên

Ngõ trúc, sương len hồn trí giả

Cửa không, mây níu áo nhân hiền

Bốn mùa u nhã, tình phương thảo

Chim hót đất lành, nghĩa cố viên!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

 Xanh um một cõi nước non tiên

 Gót tục lâng lâng rũ sạch phiền

 Gió thoảng u lan, hồn khởi sắc

 Sương in phương thảo, dạ ngời duyên

 Đài thơ, mực đọng, tình cao sĩ

 Cánh bướm, son phô, dáng đại hiền

 Ríu rít vườn hương, chim điểm đạo

 Chồi Từ, nụ Lạc rợp thiền viên!

 

4. Yên Hà Các

 "Nghêu ngao vui thú yên hà,

Mai là bạn cũ, hạc là người quen”

                                        (Nguyễn Du)

Ráng khói ngàn xưa nét huyễn hư!

Yên hà, mai hạc, Tố Như ư?

Trăng khuya, đọc sách, đèn tri kỷ

Bạn cũ, ẩm trà, vị tĩnh cư

Qua lại gác văn, mây mặc khách

Tới lui thềm đạo, bóng thiền sư

Giấy trời, sương mực, thơ vô tận

Bút trúc pha tình, vạn quyền thư!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

Mái nguyệt, thềm mây vút cõi hư

Đằng Vương cao các chốn này ư?

Long lanh khe Hổ, nghiên thanh tú

Chót vót non Lô, bút tịnh cư

Hoa thảo nồng nàn, duyên mặc khách

Phong vân thắm thiết, đức chân sư

Nghìn xưa khói ráng còn bay mãi

Đạo lý, văn chương bạn lữ thư!

 

NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH

(họa)

Sương khói Bồng doanh vẫn ảo hư!

Bạch Am, Yên Tử, chốn này ư?

Tùng xanh, hạc trắng, chiều tri ngộ

Trúc biếc, mai vàng, sớm ẩn cư

Gác gió, thơ đề, tình thiện hữu

Thềm mây, bút thảo, dáng thiền sư

Cỏ cây vô ngã, trời vô ngã

"Liên phát lô trung”, hóa nghĩa thư!

 

. Hứa Nhất Thiên

 "Vấn quân kim hà xứ

    Mang mang thiên địa biên

    Thùy tri thời tái kiến

    Chỉ tín Hứa Nhất Thiên!”

                       (Viên Minh)

Chỉ tín tao phùng "Hứa Nhất Thiên”!

Cổng tre, lối cỏ, tứ điền viên

Chân trời góc bể, chung tàn thụ

Trăm núi nghìn sông, một cảnh thiền

Cổ độ, doanh hư bày đủ vẻ

Phong trần, hưng phế góp thêm duyên

Đệ huynh phiêu lãng phương hà ngoại

Dáng đá, hình cây nhớ bạn hiền!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

 Lồng lộng cao vời: Hứa Nhất Thiên!

 Hẹn xưa, lời tạc giữa Không Huyền

 Tình huynh, rực rỡ, trăng sơn lữ

 Nghĩa đệ, sắt son, sóng hải thiền

 Bằn bặt mây ngàn, xuôi viễn mộng

 Mịt mù hạc nội, ngược tiền duyên

 Cuộc trần tan hợp, tâm vô trú

 Lồng lộng cao vời: Hứa Nhất Thiên!

 

6. Thi Hiên

(Đề hiên thơ thư pháp)

 Bốn mùa thơ nở chái hiên sương

 Mây khói xôn xao, chữ cúng dường

 Như phụng múa trăng, dâng tứ điệu

 Như rồng cỡi sóng, lướt từ chương

 Thênh thang hạc trắng, trời vô ngã

 Bát ngát hoa vàng, đất phạm vương

 Thiên cổ lưu hương, tâm tại Phật

  Mưa lành, nước ngọt, hiển cành dương!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

 Phơi phới tờ hoa ngát khói sương

 Rồng bay, phụng múa nét như dường

 Hân hoan, nguyệt tụng, trang thần cú

 Lãng đãng, mây hòa, khúc thánh chương

 Hữu ý, thơ xuyên dòng tục đế

 Vô ngôn, đạo tỏa ánh thiền vương

 Nguồn thiêng lấp lánh, tâm từ Phật

 Bút dựng đài sen, pháp hiền dương!

 

7. Vọng Giác Sao

(Đề mái tổ trên cây, canh gác đêm)

Vọng giác hay là chân giác sào?

Là hư, là thực, hỡi chiêm bao?

Gìn tâm nên quá nhiều thao thức?

Giữ cảnh chi mà lắm khổ lao?

Bóng mát, tha hồ chim tíu tít

Tàn im, hí hửng trẻ xôn xao

Năm canh bất trắc, đời xa đạo

Chi uổng tình trăng chảy dạt dào!

 

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

 Bão táp, trầm luân, đứng chịu sào

 Khiêm cung, thanh nhã đẹp dường bao

 Bốn chân chổng gọng, xuân thường trụ

 Hai mái tốc tranh, hạ giải lao

 Cảnh dựng, tường Đông, lừng khiết tĩnh

 Lan treo, giậu Bắc, nức thôi xao

 Bồ-đề bóng mát, chim cu hội

 Thấp thoáng cành trăng mộng dạt dào!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

 "Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,

Thiên hạ hà nhân bất thức quân”

                                  (Cao Thích)

Vốn nòi ẩn sĩ giữa trăm hoa

 Hương tỏa non cao, ngát hải hà

 Đài các, thâm lâm, vương giả quý

Thanh kỳ, u cốc, đất trời ưa

 Hiền nhân, quân tử, tri âm cũ

 Mặc khách, tao ông, thanh khí xưa

Thiên hạ mắt xanh ai chẳng biết

 Lòng son, nhụy thắm tưởng như là...

 

NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI

 (xướng)

 Tri Âm

Thạch trúc, cao sơn mãi dạn dày

Thâm sơn, u cốc, bóng mình soi

Kín phong thân thế, làn mây trắng

Thác gởi cô tâm, mảnh nguyệt gầy

Chưa xẻ chiếu văn, tình cách biệt

Đập tan đàn cổ, tiếng ngân hoài

Trần ai mắt trắng? Tuồng chưa hẳn!

 Ly hận, bình không, chuốc chẳng đầy!

 

(Họa)

Hải sơn, tự cổ nghĩa sâu dày

Thế cách hai đường, nhất nguyệt soi

Suối lệ doanh hư, hờn biển mặn

Sóng xao hưng phế, xót non gầy

Túc nhân lỡ chuốt lời chia biệt

Tiện sĩ đành trau khúc cố hoài

Tia mắt xanh chừng như đọng lại

Vào tâm đầy? Hay giọt tình đầy?

 

NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI

(họa)

Trồng trọt trăm năm lại bắt đầu

Tan tành ruộng lúa với nương dâu

Mẫu đơn, lan, huệ đà phai sắc

La hán, tùng, thông cũng bạc màu

Lâu các, gạch vôi nằm ngổn ngổn

Mái tranh cỏ rác biến đâu đâu!

Gió mưa chạnh nhớ tình tri kỷ

Bão tố qua liền đến với nhau!

 

Một cơn mưa bão mới xuất đầu

Dập nát nương vườn lẫn bãi dâu

Cúc trổ hoa vàng đành xếp cánh

Liễu phô sắc biếc hết khoe màu

Thi gan, đá nọ còn trơ đó

Đọ sức, đất này có ngại đâu

Giông tố qua rồi trời sáng đẹp

Chuyện trò tri kỷ vẫn bên nhau!

 

ĐẠO SĨ HUYỀN LINH TỬ

(họa)

 Lan thất phồn hoa, phong giả hoa

 Bẩm sinh chung hợp với sơn hà

 Hương trời ngày tháng, thơm ngào ngạt

 Sắc nước gần xa, nét mến ưa

Tuy sống hồn nhiên noi dấu cũ

 Nhưng lòng thanh thoát nối niềm xưa

 Bụi hồng quyến rũ không gờn đọng

 Hỡi bạn tri âm, mới thật là...

 

NHÀ THƠ HOÀNG THIÊN MINH

 (họa)

Nhân cao nhân, đối hoa phong hoa

Hạnh ngộ nhau đây chớ nại hà?

Quốc sắc, gìn vàng, người chuộng mến

Thiên tài, giữ ngọc, kẻ chìu ưa

Xuân về, túy cũ, nức hương cũ

Thu lại, tinh xưa, nở nhị xưa

Chữ sắc, chữ tài, phương ý gởi

Trên dòng thiên cổ, có chi là...

 

 

NHÀ THƠ TRIỆU HANH

 (họa)

 Trời đất cung danh ẩn sĩ hoa

 Uyên nguyên đã trót với sơn hà

 Ngàn hồng nắng tỏa bao tình mến

 Vạn tía rừng thâm lắm ý ưa

 Ngọc phách trao hương như thế cựu

 Tuyết tâm giữ sắc vẫn thời xưa

 Duyên tùng nhập cuộc thân không tiếc

 Vương giả hồn trao ấy mới là...

 

NHÀ THƠ PHẤN HỒNG

(họa)

 Ngự uyển phi hoa? Linh thoại hoa?

 Quê ta nguyên thỉ chẳng đầu hà!

 Đài hương thanh khiết, người xem thích

 Cảnh sắc u nhàn, kẻ ngắm ưa

 Ngủ nghỉ thinh không, nguyên tánh cũ

 Ở ăn tịch mịch, bổn tâm xưa

 Khách trần quyến luyến mà không vướng

 Vướng cảnh như như chẳng bận là...

 

 

NHÀ THƠ BÙI KHÁNH ĐẢN

 (Tặng Nhà Văn Nhất Linh về ở ẩn và chơi phong lan tại Di Linh, Đà Lạt năm 1955)

Lan

 Kết tụ tinh anh giữa gió sương

 Muôn màu, muôn vẻ tỏa muôn hương

 Nắng hồng bóng lá, vàng xao xuyến

 Mưa ủ đài hoa, ngọc vấn vương

 Rừng thẳm, duyên trao người hẹn lối

 Non xanh, ý gởi khách mơ đường

 Hay chi say mối tình vương giả

 Mà nỡ đành quên nợ bốn phương?

 

CHÙA TĂNG QUANG

 Vui bước du xuân, ghé Phật đường

 Chúc lòng thanh tịnh, ngát thanh hương

 Mừng người hữu hạnh, niềm siêu thoát

 Mừng bậc vô ưu, nụ cát tường

 Mừng thắm thiết hoa, cây vạn phúc

 Mừng an nhiên tri, khí khinh dương

 Chúc sư, chúc cảnh, tình vô lượng

 Tâm nở hoa sen, pháp cúng dường!

-------------

Cỡi nhánh trầm thơm thơ dạo cõi

Rẽ luồng gió tía hạc chơi miền!

--------------

Đôi khi tụ khí hoa đầu đá

Lắm lúc phân thân quán vệ đường.

--------------

 

AI HAY VƯƠNG GIẢ!

 (họa)

 Tự tại non ngàn với giá sương

 Tinh ba anh tú, tự nhiên hương

 Cành khô, ngọc nở, hồn hoa mộng

 Nhụy thắm, vàng gieo, bóng nguyệt vương

 Duyên ấy hẹn hò người lạc bước

 Tình này thầm thì khách quên đường

 Ai đầu vương giả? Say vương giả?

 Thân thế đà quen chốn thảo phương!

 

CAO XANH NGỌA!

 Nắng dãi, mưa dầu lẫn tuyết sương

 Tinh hoa ẩn giả vẫn u hương

 Có đâu thắm thiết vườn nhân thế

 Chẳng phải mơ màng chốn đế vương

 Tình cũ tới lui, thương nết thảo

 Khách xưa qua lại, nhớ con đường

 Hỡi chăng, cao sĩ, cao xanh ngọa?

 Tri kỷ non ngàn, tuyệt lộ phương!

 

 

SƯ PHÁP TÔNG

 Duyên Nợ Mà Chi!

 Có một loài hoa dãi gió sương

 Mà trăm nghìn vẻ, vạn mùi hương

 Long lanh ngọc đọng, mưa như điểm

 Phơn phớt vàng phơi, nắng khẽ vương

 Có phải Tiên đồng chơi thế tục

 Hay là Ngọc nữ chán thiên đường

 Nhắc đâu mộng triệu nhân hoàn ấy

 Duyên nợ mà chi với bốn phương!

 

AN NHƯ

(Đề vườn cỏ)

 Vườn cỏ dáng khiêm từ

 Qua cầu bóng thảo lư

 Mấy mùa non tĩnh tại

 Bao độ đất an như

 Y bát tình nguyên thủy

 Thơ văn nghĩa cổ thư

 Tiêu tao phương ngoại vật

 Trăng gió luận đàm hư!

 

SƯ PHÁP TÔNG

(họa)

 Dòng Dành Nhành Mơ!

 Ai đem châu ngọc kết đài sương

 Cốt cách thanh kỳ lại ngát hương

 Dòng dành nhành ma chi bướm đậu

 Lung linh vẻ mộng để ai vương

 Non xanh, lũng quạnh mây choàng dấu

 Bóng cả, khe xưa nước đổi đường

 Có những chiều rơi đêm khuyết nguyệt

 Gió về thầm thì vọng hà phương!

 

ÁNH CỔ ĐĂNG

(Chùa Bửu Quang, Gò Dầu -Thủ Đức)

 Cây đứng đồi xưa, cao mây trượng?

 Chùa nằm đất cũ, lạnh bao trăng?

 Xôn xao nắng sớm, lời liêu khách!

 Thấp thoáng mây chiều, bóng lữ tăng!

 Dưỡng cỏ ngàn sau cho lá ngủ

 Nuôi cây vạn thuở để chim nằm

 Thiên niên lại tiếp thiên niên hậu

 Mái Bửu Quang ngời ánh cổ đăng!

 (Đông 1980)

 

NGƯỜI ÁO NÂU

 

(họa)

 Hạc Ngàn Phương

Đời hoa hong giũa mấy mùa sương

 Lưu dấu tiền thân một chút hương

 "Hiến hạ” lá lay chiều gió cuốn

 "Nghinh xuân” hoa hé sớm tơ vương

 Duyên trao mặc khách, rừng đưa lối

 Ý hẹn tao nhân, suối dẫn đường

 Thương vẫn thương, tình còn cuộc lữ

 Nợ tang bồng, cánh hạc ngàn phương!

 

HƯƠNG CỔ TỰ

Vô tận đạo vàng, vô tận Xuân

Tăng Quang cổ tự, ngát hương tâm

Thiền về cửa Phật, hoa an tĩnh

Thơ viếng hiên không, pháp diệu trần

Ngày tháng chuông ngân, duyên giác tuệ

Sớm hôm kinh vọng, hải triều âm

Chư tăng, thiện hữu, xuân du lãm

Thanh thản ngàn cao, thoảng xạ trầm!

 

MANG MANG CẢM BÚT

(Thăm chùa Bửu Long)

Một sớm ta về núi Bửu Long

Bụi hồng vai áo, bụi hồng hoang

Đồi mây thoang thoát, rong mây trắng

Rừng lá vi vu, điểm lá vàng

Thiền định hai bờ, cây điệp điệp

Pháp luận tám hướng, gió mang mang

Tình lên tháp mới, yên lòng cũ

Ý tợ hư không, dẫu bộn bàng!

(Trước tháp ngài Hộ Tông, Đông 1982)

 

TRĂNG BẢO TẠNG

(Chùa Pháp Bảo, Mỹ Tho)

Công ai khéo dựng địa linh này?

Nguồn báu, đức vàng nắn tượng xây

Gò, đống, mã mồ... lên biếc lá

Mương, khe, gai gốc... trở xanh cây

Tháp thiền, khuya sớm, cười sương gió

Điện Phật, trưa chiều, ngắm nước mây

Một cảnh, một đời, vui tuế nguyệt

Ngàn năm Bảo tạng, Pháp còn đây!

(Đông Tân Dậu)

 

CHÙA QUÊ

(Tự họa: Nham Biều thôn)

 Phương khách du nhàn đạo xóm quê

 Lòng nghe êm ả lối đi về

 Giọng hò sương sớm mơ màng quá

 Khói bếp nương chiều thắm thiết ghê

 Làng đẹp: Tình tâm, hương lý bưởi

 Chùa hiền: Hoa kiểng, mái tranh tre

 Eo Bầu, trái mọng càng thơm mọng

 Chẳng hỏi trần hồng giấc tỉnh mê!

 

BỨC TRANH QUÊ

 (Nham Biều thôn)

 Êm đềm sông nước, bức tranh quê

 Xóm nhỏ thương thương nối nhịp về

 Cầu đứng soi mình thanh thản lạ

Thuyền chèo nghiêng bóng dịu dàng ghê

 Eo Bầu, nắng mới ươm vườn trái

 Én Trắng, trăng vàng lượn ngõ tre

Hồn bướm nghe kinh choàng mộng triệu

 Lòng đời như nhẹ nỗi sinh mê!

(10/02/1990)

 

 

BỬU LONG TRƯỜNG THI

(12 bài thất ngôn liên hoàn vận)

 Ngàn dặm đường xa đến Bửu Long

 Dừng bên dốc núi, thở âm thầm

 Nhìn lên đồi cũ, ngôi chùa cũ

 Ngoảnh lại lòng không, mấy khoảng không!

 Thăm cảnh, thăm tình, thăm xế nguyệt

 Viếng cây, viếng lá, viếng tàn Đông

 Ngập ngừng cổng trước, đêm choàng lối

 Bóng đổ sau lưng, bóng lạnh lùng!

 

 Bóng đổ sau lưng, bóng lạnh lùng!

 Một vùng sáng nhỏ, nhỏ mênh mông

Tình tiêu hạo hạo, tình tiêu quá

Tâm tịch minh minh, tâm tịch đồng

 Là khách phù du bên cõi ngoại?

 Là thân lãng bạt tự đầu sông?

 Hắt hiu sương khói, lời sương khói

 Thoảng chiếc lá khô rớt lộn vòng!

 

 Thoảng chiếc lá khô rớt lộn vòng

 Bên nhau, huynh đệ cười như không

 Mắt đưa, ngơ ngác giờ tương ngộ

Tay nắm, bâng khuâng phút hội phùng

Trà đậm, tình sâu khôn biển vợi

Chuyện say, lòng nhẹ tợ mây rong

 Chư sư còn trẻ nhìn không nói

 Hoa nở từ đâu đóa đại đồng!

 

Hoa nở từ đâu đóa đại đồng

 Một đêm trời đất tấm tình chung

Thiên thu thấp thoáng, uy hiên hổ

Vĩnh cửu mập mờ, trấn cửa long

Giữa gió chuông rơi lời tịch lặng

Từ mây sương rụng ý hư không

Thầy đi từ độ bình minh cũ

Chùa vẫn, nhưng như thoảng lạnh lùng!

 

Chùa vẫn, nhưng như thoảng lạnh lùng!

Nói gì? Núi có nói gì không?

Còn kia, luận sĩ, óc ba tạng!

Còn nọ, pháp sư, ruột bảy lòng!

Xa mã ngược xuôi, đời tấp nập.

Lợi danh lui tới, đạo long đong

Núi cao nhìn xuống cười dâu biển

Tiếng vỗ trời tây, cánh hạc hồng!

 

Tiếng vỗ trời tây, cánh hạc hồng

Còn chi? Còn lại nụ cười không!

Kim ngôn, bụi bám càng cay mắt

Pháp vũ, mưa sa chắc bạc lòng

Đau lắm, đất khô còn rắn mặt!

Xót nhiều, cỏ dại cũng xơ lưng!

Ai hay, ai biết năm Tân Dậu?

Ta đến đề thơ dưới cội tùng!

 

Ta đến đề thơ dưới cội tùng

Còn đây tháp mới dựng đồi trăng

Mang mang sương trắng, buồn mây trắng

Bàng bạc lau ngàn, sầu gió ngàn

Mây vẽ bên trời, siêu lý tượng

Gió reo ngoài nội, thượng thừa môn

Mép môi kẻ chợ, lời lươn lẹo

Lòng dạ phường chài, bụng ễnh ương

Tăng chúng còn đây, tri sự đó

 Ra tay hàn gắn cuộc thê lương

 Ra tay hàn gắn cuộc thê lương!

 Ai bỏ đi! Trời đất cũng dường

 Triều hải lịch ba, du hải động?

 Lưu hà bôn mạch, tự hà xung?

 Pháp vân như giục lăng không khứ!

 Pháp vũ như tri tại địa hoàn!

 Nhược hữu, nhược vô, hà thuyết khả?

 Thiên đầu có nguyệt vị tằng ngôn!

 

Thiên đầu có nguyệt vị tằng ngôn

Tùng ơi! Tùng hỡi! Lạnh xuyên sơn!

 Mỏi chân ba cõi đi tìm cốt

 Kiệt gối trăm đời chạy kiếm xương

 Bão thổi truông hoang còn rát mặt

 Nắng nung lũng quạnh đã thâm lưng

 Còn cây, còn cội, còn non nước

 Xin thắm cho chùa nụ cỏ hường...

 

Xin thắm cho chùa nụ cỏ hường

Hãy cho hoa nở đóa đầy hương

Bát treo đầu gậy dầu trăng lặn

Y trải trên ngàn mặc gió vương

Chim đã xa rừng, xa chẳng luyến

Nước chưa bỏ núi, bỏ thì thương

Tim người ai rỉ hai dòng máu

Một ở cao hoang, một cuối đường!

 

Một ở cao hoang, một cuối đường

Ra đi lưu lạc tận mười phương

Độ sinh, sinh độ, lòng no cật

Quay pháp, pháp quay, ruột rối tràng

Thâm tận thâm khê, tình tải tuyết

Cao u cao ngạn, trí lưu sương

Biết đâu ảo thực mà tri xứ?

Thôi để cho đời chuyện đảo điên

 

Thôi đề cho đời chuyện đảo điên

Bửu Long xin mãi Bửu Long viên

Tâm triêu như cựu, hà vô tử!

Ý nhuận như tân, tức thị thường!

Duyên đã khốc khô, xem Bắc vũ

Đạo đang tàn mạt, ngắm Đông phong

Chấp tay xin lạy từ thiên cổ

Dệt mấy trang thơ, giọt lệ hồng!

 (Kỷ niệm Bách nhật

 Cố Đại Trưởng Lão Hộ Tông, 4.11, Tân Dậu)

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(xướng)

 Cầu Bạch Yến

 Cầu duyên từ thiện nối Tây Đông

 Cầu khởi nhân sinh bước đại đồng

 Cầu Phật tâm soi nguồn nước Tịnh

 Cầu Thiên đạo chứng cõi non Bồng

 Cầu đưa bác ái xuôi dòng biếc

 Cầu niệm từ bi lướt dặm hồng

 Cầu ngát hương xa, tình vạn lý

 Cầu ngời sắc thắm, tứ Huyền Không!

 (Họa)

Cầu cực Tây mà nối cực Đông

Cầu ơi! Tâm cảnh lý tương đồng

Cầu đưa mê lộ về phương Giác

Cầu chuyển thương sinh đến cõi Bồng

Cầu thắm hoa, chung dòng uế trược

Cầu cao tay, rủ áo trần hồng

Cầu hương, cầu đạo, cầu nhân ái

Cầu vẽ giữa trời sắc diệu không!

(20/2/1990)

 

SƯ TƯỜNG NHÂN

 (họa)

Cầu xinh bao nhịp bấy tình quê

Cánh trắng tung mây, én liệng về

Ngõ trúc, trẻ đùa vui vẻ nhỉ?

Vườn trăng, già ngắm thảnh thơi ghê!

Dạt dào câu hát, vàng nương bắp

Chan chứa điệu hò, xanh lũy tre

Nghe tiếng chuông chùa, lòng tự hỏi

Nợ duyên chi nữa, còn đam mê?

 

Đâu đây gió thoảng, thoảng hương quê

Í ới, chăn trâu rộn bước về

Ai dựng chùa tranh sao khéo thế?

Người xây cầu sắt thiệt tài ghê!

Ngày ngày bận bịu ngoài đồng ruộng

Tối tối vui vầy bên chõng tre

Bạch Yến dòng xanh trôi lặng lẽ

Nghe lòng thanh thản giấc trần mê!

 

CẦU ÉN TRẮNG

(Kỷ niệm

 ngày khánh thành cầu Bạch Yến)

 Ra công, gắng sức: Chiếc cầu xinh!

 Có chút thi thơ, chút đạo tình!

 Mấy nhịp vòm cong, dường yểu điệu

 Hai hàng trụ thẳng, vẻ trung trinh

 Đông Đoài, tay nối anh cùng chị

 Nam Bắc, lòng chung tớ với mình

 Én Trắng qua sông chao bóng trúc

 Đời đời tô rạng cảnh nhân sinh!

 

MỘNG HÓA SINH

(Tự họa: Cầu Bạch Yến)

Bởi đất và người lắm vẻ xinh

Cầu qua sông nước thắm bao tình

Xóm làng lợi lạc: Câu vinh phúc!

Già trẻ hân hoan: Chữ cát trinh!

Nối nghĩa, nối ân nên nối nhịp

Chung tâm, chung ý có chung mình

Mang mang thương hải, lòng trăng gió

Cảnh thực hay là mộng hóa sinh?

 

 

NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH

(họa)

 Khá khen ai vẽ nét xinh xinh

 Một chiếc cầu qua vạn tâm tình

 Bắc nhịp Đông Đoài vai tiết khí

 Nối dòng Nam Bắc dạ trung trinh

 Đường lên Thứu lĩnh sao soi bóng

 Nẻo xuống Hằng giang nguyệt rọi mình

 Én liệng chân mây, chiều hoá hóa

 Cá vờn mặt sóng mãi sinh sinh!

 

Nhà Thơ Nguyễn

(xướng)

 

HUYỀN KHÔNG TỨ QUÝ

1.Huyền Không Xuân Tứ

Vui bước du xuân lạc nẻo huyền

Chút tình phương khách, nhớ thiền duyên

Văn chương hưng thế, bừng thanh khí

Đạo lý thông thiên, cảm thánh hiền

Hoa ngát vân phong, thềm tịnh thất

Núi ngời tuyết nguyệt, mái thi hiên

Đường trần ngoảnh lại sương che khuất

Lãng đãng hài Tăng ngỡ bóng tiên!

(Huế, 26/10 -Bính Dần, 1986)

 

(họa)

Xuân xưa chánh pháp, mảnh trăng huyền!

Đạo lý, cơ căn, sẵn đủ duyên

Mượn nghĩa Thanh Tâm, bày tịnh cảnh

Vay tình Phương Thảo, đón minh hiền

Lan phô sắc nhã, hương thơm thất

Hồng nở tươi nhuần, bướm đẹp hiên

Cao sĩ du xuân, vi tiếu nhỉ

Rằng Tâm là Phật, hẳn đòi Tiên!

 

Ham vui, tài mọn, chút hư huyền!

Tâm cảnh mơ màng đợi túc duyên

Ai đến xin đừng mơ vọng giác!

Khách về chỉ nhớ mộng lương hiền!

Tình văn xanh biếc, thơ lưu gót

Sắc đạo trắng ngần, sương điểm hiên

Nét bút tung mây, vô ẩn hiện

 Xuân nào dấu tích Phật và Tiên!

 

SƯ TUỆ TÂM

(họa)

Xuân qua xuân lại chốn Không Huyền

Người đến đây rồi chắc hữu duyên

Suối đá, bối hoa, chờ tục khách

Trăng thơ, đạo lý, đón nhân hiền

Yên Hà, nhạc gió, hòa thanh vận

Phương Thảo, hương lan, tỏa đạm hiên

Một khoảng trời xuân dường đọng lại

Huyền Không, người cảnh, hẵng là Tiên!

 

2. Huyền Không Hạ Tứ

Chợt dậy sân thiền tiếng nhạc ve

Ô hay! Trời đất đã sang hè!

Huyền tâm mấy độ rêu phong núi

Không tứ bao lần nước lắng khe

Lên gác Yên Hà, vương ý khói

Xuống vườn Phương Thảo, cảm hồn tre

Cam lồ, hạ tứ, nghiêng bình rót

Phơ phất nam nồm lọng nắng hoe!

 (HK, mùa Hạ Đinh Mão, 1987).

 

(họa)

Đất trời đã rộn tiếng kêu ve

Mới thoáng xuân đi, đã đến hè

Mặc gió sân thiền lay bóng lá

Dẫu trăng vườn tịnh ẩn lòng khe

Ngày Yên Hà các, xao hoa đốm

Đêm Đạm Lư hiên, lặng ngõ tre

Bạn đạo, bạn thơ thưa thớt mãi

Vắng hoe thêm nỗi nắng loe hoe!

 

SƯ TUỆ TÂM

(họa)

Thinh không nhạc trổi, dậy hồn ve

Tạo hóa vần xoay, xuân đến hè

Sân trước, nắng hong vườn đá tảng

Hiên sau, trăng lượn đáy lòng khe

Một làn gió thoảng, xao tình liễu

Đôi cánh chuồn bay, lặng bóng tre

Mây trắng thong dong về cố quận

Trưa hè trời đất bỗng im hoe!

 

 

3.Huyền Không Thu Tứ

Huyền Không một thoáng nắng qua sân

Man mác hương lan quyện bước trần

Tịnh, lạc - tâm reo dòng pháp vũ

Ngã, thường - thân hiện cánh từ vân

Níu mây hỏi nẻo về vô thỉ

Đón gió thăm đường đến huyễn chân

Vằng tiếng thiền sư trên gác sách

Yên Hà, sắc áo, khởi thu phân! (Huế, 6/10/1986)

 

(họa)

Bàng bạc mây trời lả xuống sân

Ô hay! Thu tử đã du trần

Hồn thơ ví lạm màu thanh thủy

Ý đạo như dường đám bạch vân

Pháp Vũ, nào mơ trăng bát nhã !

Huyền Không, chẳng mộng đóa như chân!

Anh em tri tạ, tình thiên cổ

Sắc áo vàng pha, thu khởi phân!

 

SƯ TUỆ TÂM

(họa)

 Từng chiếc lá vàng rơi cuối sân

 Thu sang, thiên địa nhuốm phong trần

 Thanh Tâm, vườn biếc, xanh màu đất

 Hàm Nguyệt, hồ trong, chuyển sắc vân

 Ngõ trúc hoa vàng, ai thả mộng?

 Am tranh mây trắng, khách dừng chân

 Huyền Không muôn thuở tình như thử

 Nẻo đạo, đường đời, chẳng nệ phân!

 

4.Huyền Không Đông Tứ

 Gội làn mưa pháp buổi sơ Đông

 Vách đá mây chen sắc nõn hồng

 Tâm thức lắng trong nguồn tự tại

 Nghiệp duyên thấu suốt lẽ Huyền Không

 Đường mê, chân bấm, rêu che lối

 Suối Giải, tay khua, nước rẽ dòng

 Thánh thót mười phương vô lượng tứ

 Đạo tràng phơi phới bước hư phong

  (Huế, 19/11/1986)

 

SƯ TUỆ TÂM

(họa)

Thu đã qua rồi lại đến Đông

Cây trơ, sầu hứng giọt sương hồng

Đường mai, sương trắng, mờ nhân ảnh

Lối cũ, trăng cài, rợp cửa không

Mấy kẻ buông tay trên dốc thẳm?

Bao người quẩy gánh ngược xuôi dòng?

Anh em cố cựu còn ai nhỉ?

Vị tiểu hề! Nào ngại bát phong!

 

(họa)

Chừng mới Thu tàn đã trọng Đông

Cỏ cây chờ đợi ánh dương hồng

Mưa đàn nhịp loạn, hư dường thực?

Gió sáo ngân chùng, có tợ không!

Mây lạc gác đơn, chim cuộn tổ

Trăng về hồ lạnh, cá bươn dòng

Cảnh tâm vần vũ lâm li sự

Nhất niệm vong hề! Bặt quái phong!

 

Tuyết lãnh, cao sơn ngộ gió Đông

 Đã từng Thu biếc với Xuân hồng

 Bình nhiên đá tưởng, hàn ôn mặc

 Phiêu hốt mây tình, lai khứ không

 Tiên cảnh sầu Lưu, hoa nuối chiếc

 Thiền tâm tụ Nguyễn, bến khơi dòng

 Mựa cầu niên tuế thâm dường núi

 Chẳng ngại Yên Hà quái quái phong!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(xướng)

 Nhớ Huyền Không

Xa tít chân mây cánh nhạn hồng

Tây hồ nắng sớm nhớ Huyền Không

Nhớ Phong lan uyển, trời xanh mộng

Nhớ Tĩnh tâm viên, đất thắm bông

Nhớ núi, thênh thang duyên Pháp vũ

Nhớ thơ, bàng bạc ánh Thiền tông

Nhớ trang ấn sĩ đang trì giới

Kiếm mã sương nhòa bụi lắng trong!

 (Hà Nội 20/8/85)

 

(họa)

Nhớ như nước biếc, nhớ non hồng

Viếng cảnh Tây Hồ thứ lắm không?

Đình thảo, mê màng mơn lối cỏ

Phong lan, thơi thả thắm màu bông

Đất xưa lá ngủ, tình quê cội!

Rừng cũ chim về, nghĩa tổ tông

Tiểu ẩn quê mùa, chi kiếm mã?

Ngồi bên hồ gió mát trăng trong!

 

SƯ PHÁP TÔNG

(họa)

Cũng sông cũng núi cũng trời hồng

Chỉ cột ràng mà nhớ cửa không

Hay vẻ mơ màng sương ngậm cỏ

Hay màu thanh thoát đá chen bông

Hay lòng du tử xa nguồn cội?

Hay nợ hình hài nhớ tổ tông?

Hay dẫu, chiều sa cô lộ vỗ!

Vẳng phương nào tiếng sáo ngân trong!

(HK Nham Biều, 1986)

 

SƯ TUỆ TÂM

 (họa)

Về đây lòng nhẹ tự mây hồng

Phố thị hiên ngoài gió thoảng không

Hàm Nguyệt, nín chờ, trăng đuổi mộng

Thảo Đình, lặng ngắm, cỏ đơm bông

Dạt trôi góc biển, mơ nguồn cội

Phiêu dạt phương ngàn, nhớ tổ tông

Quê cũ, đệ huynh vui nếp đạo

Ngả lưng nằm ấm mảnh tình trong!

(HK Nham Biều, 1986)

 

NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI

(họa)

Phong nguyệt màn chi xanh với hồng

Không huyền hồi ảnh thị Huyền Không

Yên Hà các thượng, thi vờn họa

Pháp Vũ đường trung, đá trổ bông

Hàm Nguyệt, tĩnh tâm, ngời sắc phái

Giải Trần, lan uyển, ngát hương tông

Mây sương man mác tình tri kỷ

Tri kỷ mời nhau chén nước trong!

 

ĐƯỜNG XUÂN

(2 câu thơ đầu của Nhà Thơ Nguyễn)

Đường Xuân thơm ngát nụ Huyền Không

Một cõi vô ưu, một tấm lòng

Trân trọng thơ hoa, hương lặng lẽ

Hồn nhiên đá cỏ, nết khiêm cung

Đẹp đời, thắm thiết hồng phô sắc

Vui đạo, lơ thơ lan điểm bông

 Giữa cảnh giữa trần quên lý nghĩa

 Nằm nghe thân thể thoảng thiên thông!

 

ĐẠO SĨ HUYỀN LINH TỬ

(hoạ)

Tuy chưa may mắn viếng Huyền Không

Cảnh trí hình dung đã thấu lòng

Trầm nhụ ngạt ngào hồn hướng diệu

Đàm hoa thắm thía nét nghiêm cung

Cửa Thiền mát mẻ trần không bụi

Nhà Tịnh đằm tươi sắc đủ bông

Phật, Thánh, Tiên, Chơn đều nhất quán

Độ nhơn luyện kỷ phép thần thông!

 

NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH

(họa)

Tình quê ấp ủ nẻo Huyền Không

Rủ áo phong sương lắng hỏi lòng

Tự tại y vàng châu Phật điện

Xum Xòe bào tía chực hoàng cung!

Thiền viên cúc thắm, sương phong nhị

Đạo uyển mai gầy, tuyết điểm bông

Trường mộng chập chờn mây để khuyết

Bến bờ chơn ảo, gió ngàn thông!

 

Vườn thơ nguyệt bạch tỏa tầng không

Cỏ nội xanh non trải cõi lòng

Bút thảo tờ hoa cài ngõ trúc

Son đề bức lụa dán thiền cung

Tường vân nhẹ lãng, lan ươm nụ

Pháp vũ tươi nhuần, huệ trổ bông

Thi các Yên Hà, hồn mặc khách

Nhã vần ly tục... vút thiên thông!

 

NHÀ THƠ HOÀI TÂM

 (họa)

 Xuân về tưởng nhớ hội Huyền Không

 Gót cỏ đường xa chạnh nỗi lòng

 Mến đạo thương trăng miền ý thảo

 Nghĩ đời chán cảnh thuở yên cung

 Phật tay tục lụy dày oan trái

 Nhẹ bước liên đài thắm nhụy bông

 Núi cách sông ngăn, tâm chẳng cách

 Chút tình ngàn dặm tư viên thông

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(xướng)

 Không Đề

 Xa nhớ Huyền Không giục bước về

 Đường trần xao xuyến ngát hương quê

 Thảo phương, Lan uyển, xua tâm tục

 Lưu khiết, Giải kiều, tẩy gót mê

 Kinh truyện ngọt ngào, giao gió chuyển

 Thi văn lồng lộng, gởi mây đề

 Hài tăng sương đọng lay rèm trúc

 Thu tứ, Thu phong bỗng nhất tề!

 

 (họa)

Huyền Không ai nhớ, nhớ ai về!

Gởi khách tình thâm một chút quê

Hồn luyến "thảo phương” sao mựa tục?

Lòng qua "lưu khiết” nhẽ còn mê?

Thi văn lên núi, không hòa ý!

Kênh truyện xuống non, sắc chuyên đề!

Thanh khí phiêu nhiên hương vạn dặm

Thì tâm, thì tứ, tứ tâm tề!

Thì tâm, thì tứ, tứ tâm tề!

Cạn chén thanh trà, cạn chén quê

Vằng vặc bên trời, trăng Thiếu thất

Long lanh đầu cỏ, giọt Tào Khê

Gươm đàn nhẹ gánh, khôn vương hẹn

Sương gió đầy vai, chẳng lụy thề

Trúc bút, tăng thi giai điểm lộ

Mực Yên Hà mà ngẩn ngơ hề!

Mực Yên Hà mà ngẩn ngơ hề!

Tình vốn mê rồi, tứ cũng mê!

Mê ngủ vườn trăng, trăng bốn hướng

Tỉnh nằm gác gió, gió ba bề

Tình, thức quên lâu, khơi lửa ngọn!

Tứ từ lặn mãi, bíu nguồn quê

Tuyết trắng thêm sương, nghe trắng nhỉ?

Nhất sinh trường tiếu, mộng trường hê!

Nhất sinh trường tiếu, mộng trường hê!

Nê trọc, nê thanh, nê xuất nê!

Bèn dẫu, Thu phong mời bạn đến

Thì nhiên, Thu tứ gọi trăng về

Đông Pha viễn mộng, thất tình ngạo!

Phật Ấn minh tâm, tám gió đề!

Hạc trắng, người quen, thiên tài hiện!

Trầm lô thoang thoát tí hồn quê!

Trầm lô thoang thoát tí hồn quê

Bút vượt không hư, non lĩnh đề!

Tráng sĩ bên trời, vui kiếm ngựa

Đạo nhân góc núi, thú sơn khê

Chàng Vương thi Phật, mê... tỉnh?

Họ Lý thi Tiên, tỉnh... mê?

Hài cỏ phương Tây còn một chiếc

Nào quên, nào nhớ, khứ lai hề!

 

Nào quên, nào nhớ, khứ lai hề!

Trược đã chán rồi, thanh cũng chê!

Trần giải, nào người ôm hệ phược

Tâm thanh, ai kẻ đắm phiền nê

Gậy thiền Lâm Tế, đanh điên đảo

Kiếm tuệ Thần Quang, chém não nề

Dốc thẳm buông tay, ai đại trượng?

Tử sinh như thử, cứ đi về!

(Ngày 27, 28, 29, 01, 02 tháng 9,10 - 1986)

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(Viếng điếu thân mẫu tôi

mất ngày 6/10 Đinh Mão)

 Khóc Mẹ!

 Nhớ mới hôm nào đến vấn an

 Lòng mừng: Sức khỏe cụ chưa can

 Ra vườn cuốc cỏ, tay con dẻo

 Lên điện nghe kinh, bước vẫn nhàn

 Tiếng hạc chợt xa ngoài cõi tục

 Bóng loan thoáng hút khuất trùng san

 Ô hô! Chín chữ ơn từ mẫu

Vĩnh biệt nghìn thu, lệ chứa chan!

 

(họa)

Nào ai tử biệt vẫn nhiên an

Thịt nát xương lìa, xẻ phế can

Trọn kiếp tảo tần luôn bận bịu

Suốt đời vất vả chẳng thơi nhàn

Nhà huyện quạnh vắng trùm sương giá

Bóng hạc cô cùng khuất lĩnh san

Mẹ hỡi, ba xuân lòng tấc cỏ

Đất trời, cây lá lệ hòa chan!

 

KHÓC NGƯỜI

(Viết tại chân núi Yên Tử,

hành trang của Hương Vân Đầu Đà, 1990)

Lệ đỏ thành thơ, phải lệ trời?

Non xanh, hạc trắng, dấu chân người!

Lòng thiền vằng vặc trăng ba cõi

Rừng trúc mênh mông bạn một đời

Mở chốt càn khôn, bày tịnh cảnh

Nghiêng bầu nhật nguyệt, cạn trần khơi

Kính thương vỗ nhẹ vào sương khói

Giọt đọng mơ hồ, giọt rụng rơi!

 

KHÓC BẠN

(Ngày sư Thiện Quang

chùa Bửu Quang ra đi)

 Một thoáng nghìn thu vĩnh biệt rồi

 Chùa xưa, người cũ, lạnh lùng ôi!

 Gió lùa hiên vắng, hoa lay lắt

 Mây phủ sân không, lá ngậm ngùi

 Cỏ đá ủ tình, sương ngấn lụy

 Lan hồng phơi nghĩa, nắng vàng phôi

 Ngồi đây khóc bạn ngày đông lạnh

Tám hướng hư vô hút tiếng lời!

 (Sân chùa Bửu Quang, 1981)

 

BẾ MÔN THỜI NGẪU VỊNH

(Tặng thầy Giới Hương

Trụ trì chùa Diệu Đế)

Vị ái ti đài thâm cổ lục

Vị lân khô diệp mãn không viên

Môn phong, triêu mộ duy cầm điểu

Kinh bế, tiêu tà chỉ vụ sương

Tâm hạc minh minh du thế ngoại

Ý hồng hốt hốt lãng khung thương

Ninh vô tri kỷ, trà tuy độc

Cử ẩm nhất chung, nhật nguyệt thường!

(Chùa Diệu Đế, 1981)

 

MIỀN DI SẢN

Xứ Huế, dòng Hương lại ngát hương

Hương thơm văn hiến tỏa muôn phương

Giữ gìn di sản, tròn công tích

Bảo trọng gia tài, vẹn sử chương

Cái đẹp có bao giờ huyễn hoặc

Cái tâm thì cứ mãi chơn thường

Ba miền chung cội, cành xanh lá

Một cõi trời Nam sánh vạn cường!

 

TRÀ, THƠ VÀ HUẾ

Nâng chén trà sương, nhàn, tĩnh mặc

Ngâm câu thơ cổ, thú thanh tâm

Sắc xanh ánh bởi mây non Ngự

Vị đượm len từ hương giậu Xuân

Nước biếc pha trắng, thương Hạ chí

Thông ngàn níu gió, nhớ Thu phân

Mời nhau chi nệ trùng quan hỡi!

Ai bảo đế thành hiếm mỹ nhân!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (xướng)

 Tiếng Tơ Xao

Vượt bao non nước đến quê nhà

 Sao thấy như tìm lại chính ta

 Này bến sông thu vương nắng cũ

 Kìa hiên trúc biếc lặng chiều tà

 Lời thơ lạnh mộng tàn đêm nhớ

Tiếng nhạc buồn thương thoảng khói xa

 Dù gió mưa ngàn giăng sóng đục

 Cành sen thanh thoát vẫn như là...

 

(họa)

Sương khói mênh mang, nước lẫn nhà

Dặm trần hư ảo, chạnh lòng ta

Chơi vơi đỉnh Ngự, mây sầu lãng

Man mác dòng Hương, nguyệt xế tà

Có phải tiếng tơ xao vận cũ

Hay là lời gió gợi niềm xa

Bâng khuâng cổng khép, then cài lỏng

Lá đỏ thu rơi, cứ tưởng là...

 

NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH

 (xướng)

Hoài Niệm Cụ Ức Trai

Nắng hè vàng rực cảnh Côn Sơn

Lớp lớp thềm cao gối đã chồn

Bàn thạch lưng mây, không đến... dại?

Động rêu vách núi, cứ ngồi... khôn?

Quân trung, ngọn bút ngời kim cổ

Dã ngoại, đường đao ám thất tồn!

Thế thái nhân tình ai tỏ suốt?

Thôi thì đừng dại cũng đừng khôn!

(Côn Sơn, 29/6/86)

 

(họa)

Một chút lòng xưa viếng lĩnh sơn

Lưng mây đá xếp, gối chân chồn

Lên non tuyết nguyệt, bao người dại?

Xuống chợ, công hầu, bấy kẻ khôn?

Xót Tín mão vàng, đương thế lụy

Thương Lương áo vải, hậu danh tồn

Liễu thông xuất xử còn trêu mệnh

Côn đỉnh nào hay tiếng dại khôn!

 

NHÀ THỜ NGUYỄN

Thăm Côn Sơn

Lên đỉnh Côn Sơn giữa nắng hè

Đội trời, đạp đất bẻ cây che

Thênh thang xuất xử tròn hai nẻo

Đủng đỉnh khứ lai rộng bốn bề

Dõi mắt chờ mây xanh ý lá

Nghiêng tai đợi gió vẳng tin khe

Mải mê suối mát quên chiều xuống

Yên Tử xa xăm tạm trở về!

 

(họa)

Leo chơi Côn đỉnh giữa trưa hè

Trơ trọi trời cao chẳng bóng che

Cái trí hư tâm thông vạn nẻo

Chiếc thân ngoại vật biển trăm bề

Vị thiền nhàn đạm nhìn sương khói

Việc nước ôn hàn hỏi suối khe

Tiến động, thạch bàn, rêu cỏ úa

 Hồn ai, cánh hạc cỡi mây về!

 

 NHÀ THƠ NGUYỄN

 (xướng)

Thăm Kiếp Bạc

Kiếp Bạc uy linh nức tiếng truyền

Đất trời vần vũ khí gươm thiêng

Lục Đầu rực rỡ trong thần phả

Dược Lĩnh oai vang dấu thánh quyền

Trung hiếu ngàn năm ngời nhật nguyệt

Nghĩa nhân vạn cổ nức thanh thiên

Ngững nhìn thượng phụ chưa rời giáp

Thầm nguyện sơn hà bặt tiếng quyên!

 

(họa)

Núi sông nghe dậy tiếng gươm truyền

Anh khí Lạc Hồng tiếp khí thiêng

Vị quốc, bút châu phê lệnh hịch

Thương nòi, ấn ngọc mượn vương quyền

Cang thường, vị tất ly hành đạo!

Đức trí, hà như xuất thể thiên!

Vạn Kiếp, đền vàng, hương khói bạc

Mênh mông sóng nước bặt sầu quyên!

 

CỤ ĐỒ CHIỂU

 (nguyên vận)

Bút Chính Khí

Ba Vương, năm Đế dấu vừa qua

Mối đạo trời trao đức Thánh ta

Hai chữ cương thường dằn các nước

Một câu trung hiếu dựng muôn nhà

"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”  (1)

Căm bấy bầy ngu theo thói mọi

Trời gần chẳng kính, kính trời xa!

(1)Thơ Nguyễn Đình Chiểu

 

(họa)

Trang sử bao đời lướt lướt qua

Chợt gương Đồ Chiu động lòng ta

Thương dân ba tỉnh đau nim nước

 Khóc mẹ đôi mi rỏ lệ nhà

 Trung hiếu nuôi tâm, nuôi chính khí

 Nghĩa nhân thắng ác, thắng gian tà

 Rêu xanh, cảo lục màu trăng đọng

 Hương bút, hương lòng thơm ngát xa!

 

ĐIỂM THẠCH ĐẦU

 (Trân tặng Nhà Thơ Dạ Sĩ Thiện Trí,

 tức Cố Đại lão Hòa thượng Hiếu Quang)

 Ai bỏ hoa tài giữa biển dâu

 Đến nay sương tuyết lại thêm mầu

 Mai lâm thi hữu, chừng thưa vắng

 Ti trúc duyên cầm, hẵng thắm lâu

 Một mảnh thanh yên, lồng ánh nguyệt

 Một bầu băng khiết, rạng đêm thâu

 Non cao cô lẻ, khôn tầm nhạn

 Chỉ thấy giá đông điểm thạch đầu!

 

NHÀ THƠ DẠ SĨ THIỆN TRÍ

(họa đáp)

Từng nghe biển cả hóa nương dâu

Sanh diệt biến thiên lẽ nhiệm mầu

Tán tụ tùy cơ, vui thấm thoắt

Sắc không vô ngại, khỏe dài lâu

Tâm hồn khai phát mầm hoa đạo

Phẩm chất dung hòa ánh nguyệt thâu

Lắng sạch căn trần, siêu vọng niệm

Hóa nên ngoan thạch cũng nghiêng đầu!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

Trải non thế kỷ bể liền dâu

Vẫn giữ trong tim ánh đạo mầu

Nối vận tao ông, mây Ngự Lĩnh

Sợi dây cầm khách, nước Văn Lâu

Mười phương, ngọc đọng, tâm dàn rộng

Chín phẩm, vàng gieo, ý tóm thâu

Cung bậc ngàn xưa, nay lại thấy

Mai Lâm thanh khí tỏa sơn đầu!

(10/12/1987)

 

LÃO BỆNH KHÔNG

 (Vấn an Hòa thượng An Lạc, Sài Gòn)

Lão bệnh là không, sinh tử không!

Đốm hoa xao xác, ánh trăng lồng

Liễu như, cười mỉm, xoa trần mộng!

Tri huyễn, xem chơi, liếc nhược bồng!

Thềm đạo, nhàn thâm, hương tòng bách

Chõng thiền, u tĩnh, sắc Thu Đông

Bồ-đề tám lá, xuân ươm lộc

Sinh tử là không, lão bệnh không!

 (Đông Nhâm Thân)

 

CÔ TỊCH TỌA

Lãng đãng vô cùng thiên địa gian

Khống vi nhân tục, khống vi tiên!

Án đầu bát trí, phong trần tại

Lộc giác y huyền, nguyệt tuế miên

Di phố, giá ngôn thừa tích nhật

Trú đường, điêu sự vãng dư niên

Hỷ hồ! Tâm ngoại tâm tùy nhiệm!

Chúng dĩ không thằng, ngã tọa nhiên!

 (Yên Hà Các - 1981)

---------------------------------

Non tùng dựng bút sương pha mực

Lũng trúc phơi kinh vắng chép bài.

-------------------------

Danh lợi bơi sông thuyền thủng đáy

Sắc tài lặng suối cá đùa câu!

-----------------------------

NƯỚC VỀ ĐÔNG

 Lửa cháy ngàn dâu còn tỏ mặt

 Đời người muôn thuở nghĩ mà thương

 Nước cau gọn tí, màu trong đục

 Ruột quặn bào cơn, khúc đoạn trường

 Xa mã xuống lên, trò phế thịnh

 Thị phi sấp ngửa, lẽ vong hưng

 Cố nhân vọng biệt phương hà ngoại!

 Tri kỷ, tri âm mấy đổi đường!

 

Tri kỷ tri âm mấy đổi đường!

Tri âm tri kỷ mấy màu sương

 Nhìn nhau tư kiến vàng hay tím?

 Lòng với nghi tâm đỏ hóa hường?

 Mắt váng hồ xanh chao chiếc nhạn

 Đèn hoa bụi xám vấy màn gương

 Vô tâm mây trắng thong dong nhỉ?

 Đời tối, riêng ai muốn tỏ tường?

 

 Đời tối, riêng ai muốn tỏ tường?

 Với ai mòn trán lý chơn thường

 Bạc tiền bao nả, cay cay mắt

 Cơm áo đòi phen, xót xót lòng

 Phải trái nói năng đà mỏi miệng

 Chánh tà đi đứng đã đau lưng

 Muôn xưa hoa nở, hoa im lặng

 Một mảnh sao sa, rụng cuối đường!

 

Một mảnh sao sa, rụng cuối đường!

Với ai tri lý chẳng gì vương

Ngọc reo địch trổi say hồn bậu

Suối hát chim ca lạc phách nường

Thâm tận thâm khê tình tải tuyết

Cao ư cao lãnh trí lưu sương

Ải sương của tuyết trăng nhờn nhạt

 Soi tỏ trăm năm chắc dị thường!

 

Soi tỏ trăm năm chắc dị thường!

Thu mờ hiu hắt bến Tầm Dương

 Khúc ca "đình hậu” hồng nhan đoạn

 Tiếng hát "tỳ bà” bạc mệnh trường

 Văng vẳng "ly tao” chìm khí tiết

 Mang mang "quy khứ” thú điền viên

 Nào ai không phải, nào ai phải!

 Cuồn cuộn về Đông, nước lạnh lùng!

(HK, 1986)

 

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

 Cuộc thế bon chen bùn lấm gót

 Bể trần lai láng nỗi sầu thương

 Tử sinh đòi đoạn tuồng kinh cụ

 Suy thịnh đa đoan cảnh hí trường

 Ngược nẻo phù du trời biến ảo

 Xuôi dòng hư hoặc đất vong hưng

 Ngẩn ngơ đứng mãi bên bờ mộng

 Chỉ nhện nhặt thưa dệt vạn đường

 

Chỉ nhện nhặt thưa dệt vạn đường

 Ngàn sau ngàn trước lạnh tin sương

 Qua sông hỏi nắng: Nhân xanh mọng

 Xuống núi tìm trăng: Quả chín hường

Thơ thẩn bên trời buông tiếng hú

 Ngu ngơ cuối bãi níu tà gương

 Vỗ vai tục khách, mắt tròn gặng

 Kim cổ về đâu? Có tỏ tường?

 

Kim cổ về đâu? Có tỏ tường?

Không không, sắc sắc cảnh vô thường

Nao nao gió cuốn đìu hiu dạ

Man mác mây trôi quạnh quẽ lòng

Phú quí, vinh hoa chừng mỏi gối

Công hầu, khanh tướng những còm lưng

Núi xương, sông máu cao lồ lộ

 Lưu thủy, hành vân mấy dặm đường

 

Lưu thủy, hành vân mấy dặm đường

Chính tà bao kiếp dứt tơ vương

Bại thành: Mật đắng lời êm ả

Vinh nhục: Gừng cay sắc nõn nường

Lạc đạo, nào người xuôi bến gió

Thanh tâm, ai kẻ ngược bờ sương

Lý tình hai nẻo - duyên hằng tại

Tạo vật phù sinh lắm dị thường

 

Tạo vật phù sinh lắm dị thường

Phá vòng hạn hữu vượt tà dương?

Gươm từ vạch lối xua hư ảo?

Đuốc tuệ soi tâm xóa mộng trường?

Nguồn cội mơ màng treo ấn nguyệt

Cổ kim lồng lộng tỏa hương viên

Vô chung vô thủy - duyên tùy nghiệp

Một thoáng về Đông, nước lạ lùng!

 (Thăng Long, cuối Đông Ất Sửu)

 

 

NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI

(họa)

Gốc cũ mỗi khi nhìn tận mặt

Nhẹ nhàng cái chuyện ghét cùng thương

Trong vòng đối đãi, thanh ly trọc

Ngoài cuộc so đo, đoản hiệp trường

Sóng gợn bóng nhòa, thành khác hoại

Gió yên trăng tỏ, phế là hưng

Thảnh thơi năm cửa tiêu dao nhỉ?

Thúy trúc, hoàng hoa nửa đổi đường

 

Cuồn cuộn về đông ấy lẽ thường

Đông tàn ắt đến lúc tam dương

Tần Hoài một thuở lung sa nguyệt

Vũ Hán đòi phen lộng hý trường

Bá Trượng dã hồ nhân lạc, muội!

Tào Khê vô trú quả phương, viên!

Núi xanh còn đó chiều u tịch

Soi tỏ trăm năm nước lạnh lùng!

 

NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH

(Soạn, theo lối tập cổ)

Lửa cháy ngàn dâu còn tỏ mặt

Đời người muôn thuở nghĩ mà thương

Nhìn nhau tư kiến vàng hay tím

Lòng với nghi tâm đỏ hóa hường

Ngọc reo địch trổi say hồn bậu

Suối hát chim ca lạc phách nường

Một thoáng trăm năm rồi một kiếp

Tỳ bà, Đình hậu, hạc kêu sương!

 

(Đoạn 4)

Thần câu bon vó, thẳng lên đường

Chiếm cõi, công thành mộng Bá Vương

Tiếng khóc ải ngoài, gươm bạo chúa

Nụ cười đình hậu, phấn ca nương

Bại thành dâu bể, làn hơi khói

Danh lợi phù vân, hạt móc sương

Xót nỗi bụi hồng mờ bến giác

Bồn ca vỗ khúc gẫm vô thường!

(Rằm tháng 10 Ất Sửu).

 

NHÀ THƠ HOÀNG THIÊN MINH

 (mượn vận, hòa họa thuận nghịch độc)

Bể Dâu, Dâu Bể

Làu làu sóng thế để noi gương

Biến động muôn đời nghĩ cảm thương

Đau khổ lặng mờ trăng mộng ảo

Hận sầu ôm ngủ nước miên trường

Sau lo ruột héo, cơn suy thịnh

Trước nhớ lòng tê, chuyện phế hưng

Dâu bể cuộc đời phim tiếp diễn

Cầu tinh khói quyện mải mê đường!

 

(họa)

 Làu sạch lòng ai dẫu ố gương

 Mộng mê còn mãi nghĩ mà thương

 Đau ai bấy nỗi niềm đen bạc

 Xót kẻ cùng ranh rối đoạn trường

 Sau trước vẹn toàn, tình đạm nhã

 Sớm chiều tươi thắm, ý vinh hưng

 Dâu xanh chuyện lắm, chừ quanh quẩn

 Cầu trắng đợi thu mấy nẻo đường

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(xướng)

 Lại Nhớ Huyền Không

Lòng vẫn ung dung lai khứ hề!

Đời tuy vạn nẻo, chẳng nhiêu khê

Thi văn một túi, ba ngàn mộng

Đạo nghĩa hai vai, chín phẩm đề

Đủng đỉnh thuyền từ băng sóng tục

Nhởn nhơ mái nguyệt vượt dòng mê

Huyền Không tái ngộ bao giờ nhỉ?

Thầm hẹn, ngày xưa nhớ lại về!

 (Hà Nội, 15/8/86)

 

 (họa)

Khứ, Lai

Mang mang giả mộng khứ lai hề!

Nước tài tình, xao xuyến hổ khê!

Lận đận đường trần, phương mộng hẹn

Nghêu ngao quán nguyệt, nét mây đề

Thuyền từ biển bạc, người xuôi ngược

Đuốc tuệ đêm vàng, khách tỉnh mê

Tuyết giá non xưa, cao sĩ ngoạ!

Huyền Không lối cũ nhớ đi về!

 (Đông 87)

 

TRÂN TẶNG ĐẠI HUYNH

1. Đại Cổ Tùng

 Dáng đứng uy nghi vút tận trời

 Bạn cùng thanh khí, gió trăng thôi!

 Bão cuồng quạt mát thân ngàn trượng

 Nắng quái hong xanh lá vạn đời

 Duyên ngoại, tòng duyên, phi trạch xử

 Nghiệp trung, trạch nghiệp, bất tòng thời

 Hoàng mai hai nhánh vàng phương sử

 Một gốc tùng sao mãi nở chồi?

(HK- Nham Biều, 1979).

 

2. Tròn sáng

 Hạo hạo cao phong đứng một mình

Vầng trăng tròn sáng đóa viên minh

Chấm sơn, điểm thủy, thiền đôi nét

Phẩy hạc, lăng vân, đạo bấy tình

Cát tía, thơ rơi, thơm cảo lục

Bụi hường, sách đốt, sáng tân kinh

Bách tùng dựng núi, xanh muôn núi

Chẳng nọa phù sinh, lướt diệu sinh!

 (HK- Nham Biều, 2002)

 

3. Gốc Lão tùng

(Mừng Đại huynh sinh nhật lục tuần)

 Ngạo nghễ cao xanh mặc gió sương

 Càng thâm niên tuế, sắc an thường

 Tình chia Nam Bắc, tàn vươn nhánh

 Khí rợp càn khôn, nhựa tỏa hương

 Họa hứng, mây bay, thiền ẩn bút

 Thơ vui, trăng tỏ, chữ ngời chương

 Xuân thu, tịch mặc, chơi non đá!

 Vi tiếu hạo nhiên ngắm mộng trường!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

                 (họa)

 Cao ngự, an bình giữa tuyết sương

 Mặc bao dâu bể, mặc vô thường

 Tàn che đỉnh biếc, thiền ươm sắc

 Lá rợp triền xanh, đạo tẩm hương

 Mây trắng, duyên xưa, lừng hạo bút

 Hạc vàng, bạn cũ, nức thi chương

 Tâm không, rũ sạch trần hư mộng

 Bát ngát Viên Sơn cõi thọ trường!

 

TẶNG NHỊ ĐỆ

 

1. Chào Bay Thước

(Lúc đang xây dựng chùa HK, Xuân 1994)

Chữ, số loay hoay suốt mãn niên

Xi-măng, sắt, ngói... tỉnh giấc thiền!

Hoa văn xương kính, mòn tay bút

Điêu họa đan thanh, méo mặt tiền

Tùng bách nắng mưa, thân rắn lõi

Trúc mai sương tuyết, sắc thâm duyên

Vui xuân, thôi nhé, chào bay thước

Chuẩn bị trà xanh tiếp thiện hiền!

 

2. Trăm Hạc Trắng

 (Công đức kiến tạo chùa Huyền Không)

 

Ra tay kiến tạo cõi cao thanh

Công đức ngàn xưa, quả tự thành

Phật điện mây lồng, trăm hạc trắng

Bảo đài hương tụ, vạn tình xanh

Hay chăng trí giả vun căn cội

Có phải hiền nhân điểm nhánh cành

Cõi chợ, bụi hồng xao tục lụy

Phước tâm lan tỏa khí an lành!

 

An lành Phật nhật, nắng triêu dương

Tăng chúng an tri, liễu đạo thường

Thơ hứng, uyên thâm lời đạm thủy

Trà đàm, giản dị vị thanh lương

U nhàn, phẩy bút, xua mê vọng

Thanh thản, lật trang, tả hí trường

Vô ngại được thua, vô ngại sự

Hương thơm nhè nhẹ tỏa ngàn phương

 

Ngàn phương mát mẻ bóng thiện quang

Phơi phới xuân tâm, kết đạo tràng

Tín nữ cúng dường, hoa thượng giới

Thiện nam tô điểm, ngọc nhân gian

Chuông chiều lấp lánh, xua trần lụy

Kinh sớm lung linh, gõ mộng tàn

Phật sát, nguyên sơ, miền tuệ giác

Huyền Không trăng chiếu cõi thênh thang!

 (HK- Nham Biều, 1995)

 

 

3- Phương Trượng

Bao năm trụ trì tóc bạc

Trượng tùng, cỗi trúc, lão mai!

Trà bánh mấy chung tuế tóa

Cơm rau vài bát lai rai

Hán ngữ, Phạn, Anh... nhiều tạng

Trung văn, thơ, truyện... lắm tài

Phật sự trong ngoài bề bộn

Thanh nhàn gẫm chẳng thua ai!

 

  1. Tát Trần Khơi

 (Công đức mở Học viện)

Trên cát, bài thơ cứ viết hoài

Sa-môn đại trượng, tát trần khơi

Trí cao, tâm thượng, tàn xanh lá

Phước quý, lộc sung, gốc biếc chồi

Thanh tĩnh thưởng trà, hương cảo lục

Vô vi chuyển pháp, đức tinh khôi

Hạo nhiên đá sỏi, gầy mai tuyết

Phụng hiến nhân gian đóa vạn đời!

 

RUỘT BỂ ĐÔNG

(Tặng sư Hộ Tịnh,

 thế danh Hồ Ngọc Tịnh)

 Lòng đã đầy như ruột bể đông

 Rót thêm trời đất vẫn hoàn không

 Hạc vàng không nhớ bao nguồn suối

 Mây trắng còn trôi mấy dặm đồng

 Quán Tịnh, chừ vun cây hữu hạnh?

 Quê Hồ, bèn dựng mái vô công?

 Cõi xưa đã thắm đầy duyên đạo

 Vác cuốc, vai nghiêng đựng nắng hồng!

 

 Vác cuốc, vai nghiêng đựng nắng hồng

 Nhớ từ độ ấy kiếp long đong

 Mây bay, nước chảy - sầu bao núi

 Bèo dạt, hoa trôi - lạnh bấy sông

 Khi gặp, dăm câu thì vãn chuyện

 Lúc xa, vài chữ lại quên dòng

 Sương tầng, nguyệt khuyết mờ hay tỏ

 Cứ để non cao, mặc gió lồng

 

 Cứ để non cao mặc gió lồng

 Mới hay an tĩnh lặng vào trong!

 Khe sâu đoạn tưởng, lòng khe cạn

 Bể khổ lìa tình, đáy bể nông

 Trí hữu, lên thuyền, không hóa có

 Tuệ vô, vào cõi, có thành không

 Bát treo đầu trượng nằm non ngủ

 Vằng vặc cô ngàn, nguyệt tiếu ông!

(HK- Nham Biều, 1981)

 

LAN THẠCH

(Tặng sư Hộ Tịnh)

 Xa vắng bạn già, xuân thiếu ai!

 Thì thơ, thiệp thảo, gởi nhau chơi

 Bâng khuâng vườn cũ, tình lan thạch

 Man mác hiên ngoài, nghĩa trúc mai

 Đã uống giọt sương, trời phạm hạnh

 Đành đeo hạt bụi, gót Như Lai

 Chơn vọng, thị phi, con giáp khổ!

 Hương trà sơn cốc một mình vui!

 

TẶNG TAM ĐỆ

 

 (Sư Tuệ Tâm, chùa Pháp Luân và

 Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa)

1. Pháp Luân - Tuệ Tĩnh

 Sơn hạ Huyền Không - Tuệ Tĩnh đường

 Bao la nguồn khổ, tỏa tình thương

 Lương y nguyện lớn, non khôn sánh

Từ mẫu ân sâu, biển khó lường

 Đòi đoạn tử sinh đau hữu hạn

 Đa đoan lão bệnh cảm vô thường

 Noi tâm thánh đức, giương cao đuốc

Tận tụy giúp đời, hiến dược phương!

2. Bồ-tát Chợ Triền

Giống sao ông Phật Di Lặc

Mở mắt thấy nụ cười duyên

Phòng đầy kinh thư chữ nghĩa

Bụng no phương được thánh hiền

Lúc nào nghiên đề, giảng khóa?

Khi mô vận khí, tọa thiền?

Ngày ngày việc làm không ngớt

Đêm đêm bệnh réo đi liền

Báo chí, sách, tin  đủ cả

Y chang bồ - tát chợ triền!

 

3. Dốc Tịnh Bình!

 

 Mừng đệ khói sương thỏa chí mình

 Tay chèo, tay chống lướt phù sinh

 Chợ chiều, thắm đượm hoa nhân ái

 Cõi bụi, xanh mơn đóa đạo tình

 Đức tỏa tùng hương, trăng cổ tích

 Tâm ngời bối diệp, đuốc tân kinh

 Liên Hoa, Tuệ Tĩnh - miền cam lộ

 Thấy chúng sanh đau, dốc tịnh bình!

 

4- Nhất Đóa Xuân

Xuống núi gậy thiền đã mấy Xuân?

Sắc không hóa ngọc, biếc vô ngần

 Qua sông đò nặng, bền cao chí

 Gánh nghiệp đời đau, vững đạo tâm

 Biển bạc mênh mông, thuyền bát-nhã

 Lòng son bát ngát, áng từ vân

 Lãn Ông, Tuệ Tĩnh, tình quy Phật

 Muôn thuở nụ cười, nhất đóa Xuân!

 

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

Nụ cười nhân hậu ngát hương Xuân

Không sắc non cao tuyết trắng ngần

Lên thác, hân hoan chèo bát-nhã

Xuống ghềnh, rực rỡ ánh chân tâm

Đạo xanh thiền vị, mười phương Phật

Đời thắm lương y, vạn đóa vân

Tuệ Tĩnh - Sơn Phương vô lượng tứ

Nhâm Thân lộng lẫy một trời Xuân!

 

SƯ TUỆ TÂM

(họa lại)

Hạ sơn này đã chẵn mươi Xuân

Danh lợi xoa tay, bụi trắng ngần

Độ thế, đâu nài nơi uế trược

Thương đời, nào quản chốn mê tâm

Thuyền không, một nẻo về Tây trúc

Trần thế, trăm đường tỏa diệu vân

Cầu Phật, đuốc từ soi tỏ lối

Đóa mai thắm mãi nhất chi Xuân!

 

TRANG BỐI TỜ SƯƠNG

(Mến tặng thầy Phước Thành

và thầy Từ Phương)

Thiếu lâm cao tăng nhị vị

 Hèn lâu mới ghé sơn phương

 Mây trắng, đá xanh mở cõi

 Thông ngàn, trúc biếc đưa hương

 Trà chuyện câu thơ, nét bút

 Đạo tình trang bối, tờ sương

 Tiễn nhau, nụ cười bên suối

 Dám đâu "khe cọp” chận đường!

 

VÔ NGẠI

(Tặng thầy Phước Thành)

 Diệc vi thánh, diệc vi nhân!

 Thi bút, hoa trà nhất tuyệt Xuân!

 Mê ngộ bàn chi cho mỏi miệng

 Sắc không luận mãi chỉ tê lưng

 Chữ câu, ngày tháng, nhìn thêm thú

 Kinh kệ, sớm hôm, gẫm lại mừng

 Chéo áo cà-sa, buồn, túm lại!

 Đạo đời một bó, thế là xong!

 

TIÊU TAO

 (Tặng thầy Từ Phương)

Viết tặng ngàn chương lên bối diệp

 Đâu bằng phất bút quệt hư không

Làm thơ, chẻ đá mà thông suốt

Hóa bướm, tung mây lại liễu cùng

Chống gậy, non chơi hồn lãng đãng

Thõng tay, phố dạo trí thung dung

Tiêu tao hồ thi, Xuân pha áo

Chớ hỏi lão mai, hỏi lão tùng!

 

AM TRANH GÓC NÚI

 (Tặng thầy Chơn Phương)

Mái tranh, góc núi mấy lần Xuân?

Nhàn tịnh, vô vi thật tuyệt trần

Chẳng hỏi, vẫn quên bao tuế nguyệt

Chưa đi, đã hiểu mấy phong vân

Cõi riêng, hoa điểm tranh thiền cảnh

Cốc tĩnh, thơ hòa áng khánh vân

Thanh thản vui Xuân, vô ngại sự

Am không, tựa án, gió hương trầm!

 

TẶNG THẦY TRÍ TỰU

 

1. Hư Không Vỗ Đá

Tình đạo, tình trà, tự cảm Xuân

Thõng tay nhẹ hẫng cuộc phong trần

Áo chàm cửa Phật đeo tinh đẩu

Nón cỏ sân thiền đội bối vân

Nhàn nhã dạo vườn, hoa cỏ tĩnh

Thung dung tiếp khách, tuyết sương thâm

Hư không vỗ đá lời vô tận

Chợt nụ nguyên tiêu, tuyết trăng ngần!

 

2- Đá Cỏ Hư Tâm

Non Thứu, cao phong một thuở nào

Chừ đây Linh Mụ vẻ thanh cao

Tùng thông, thiền định, lời nghinh tiếp

Đá cỏ, hư tâm, ý đón chào!

Đốn tiệm, trăng hoa, đài vĩnh cửu

Thịnh suy, sương lá, giọt chiêm bao

Phiêu bồng cánh én, Xuân ừ nhỉ!

Chợt thấy hiên mây nở nụ đào!

 

3- Tiếng Hạc Linh

Giữa cõi không vô, gởi chút tình

Danh hương Linh Mụ đất Thần Kinh

Uy nghi tháp mới, ngời tôn đức

Tịch tịnh chuông vàng, tỏa phước vinh

 Một cõi nước mây, trăng hỏi đạo

 Một miền tùng trúc, gió reo kinh

 Khói sương thân thế dường hư mộng

 Chợt vẳng bên trời tiếng hạc linh!

 

THI ĐIẾU THẦY TÂY THIÊN

Phê đối, bình thơ, vĩnh biệt rồi

Tình ta đạm thủy, tuyết sương ôi!

Cảm cành lan biếc, hương đầu núi

Nhớ cỗi tùng xanh, lệ nửa vời

Hạo bút, bùi ngùi, nghiên mực cạn

Thiền tâm, chan chứa, giọt sương phơi

Chung trà khe Hổ mây che mặt

Câu chuyện non Lô, khói phủ lời

Mật nguyện, điểm hoa, hài dặm lữ

Tuệ hành, thắp đuốc, trượng trần khơi

Tây Thiên xa xót, thơ thương điếu

Chữ níu hư vô, chữ rụng rời!

 (Trọng Đông Ất Dậu, 2005)

 

 

CẢNH TRẮNG HOA

 (Tặng Sư Bà Diệu Đức)

Một cõi lâm thiền, bóng Trượng Ni

Dong thuyền bát-nhã độ vô vi

Diệu Nghiêm hoa trắng bày tâm cảnh

Diệu Đức trăng vàng dệt trí bi

Nhàn nhã nghi dung xem thế đạo

Cao thanh cốt cách ngắm liên trì

Hài mây, ngọc điểm lời viên giác

Trà bối, hương lừng áng cổ thi

Giọt nước cành dương tàng mật hạnh

Nụ hoa non Thứu hiển vô nghì

Sớm chiều tiêu sái màu sương tuyết

Vóc hạc, thần mai chẳng nói gì!

 

THĂM BẠN

 (Tặng sư Hộ Tịnh

và thầy Chơn Phương)

Anh em lâu ngày gặp lại

Tuổi già làm biếng thăm nhau

Cơm canh rạc rài mấy lửng

Chuyện trò xuế xóa dăm câu

Trà đậm đau tim, mất ngủ

Thuốc nhiều ung phổi, rát hầu

Tới lui nhìn hoa, ngắm kiểng

Ra về có hẹn được đâu!

 

THIỆP XUÂN

Chúc Tết, chúc Xuân rộn đất trời!

Chúc người văn vẻ, phúc ngàn nơi

Chúc xanh nhân ái vào non thẳm

Chúc thắm đạo tình đến biển khơi

Chúc cội bồ-đề cành mãi lớn

Chúc dòng sanh tử nước dần vơi

Chúc đá lăn đồi, rêu hóa ngọc

Cùng nghe chim tấu nhạc hòa vui!

----------------------

Buồn vui chẳng thiệt dăm tờ lịch

Thua được đâu hơn mấy cuộc trà?

---------------------

Bóng trúc trăng soi niềm nhã nhã

Cành lau chữ viết nét phơ phơ

-----------------------

 

REO CHIM KHÁCH

 

Mới đó mà Xuân đến nữa rồi

Chẳng ai hẹn ước, chẳng ai mời

Sơn lâm rộn rã, cây thay áo

Khí tiết hân hoan, gốc nẩy chồi

Mai tía mai vàng, tình bạn lữ

Đào phai đào thắm, nghĩa trần khơi

Trăng chơi mái đạo, sương xanh lá

Nắng dạo hiên thơ, chữ ấm lời

Kinh tụng, vén mây, nghe phải trái

Thiền hành, rẽ gió, ngắm đầy vơi

Hiên lan, khóm trúc reo chim khách

Trầm thoảng am không, đá mĩm cười!

 

HƯ VỌNG HẢI TRIỀU ÂM

 (Thất ngôn nhị bách cú,

quý thương tặng Phạm Phú Hải)

 

Tâm thức tàn tro cháy bập bùng

Vọng nghe hư vọng hải triều âm

Tinh hà, nhật nguyệt còn soi sáng

Sơn thủy, vân hoa vẫn ánh hồng

Đại địa bởi đầu sinh lửa gió

Thế gian nào chắc hết đao cung

Mịt mù bể Bắc mưa cuồng lũ

Bát ngát non Tây nắng quái lồng

 

Thuyền đạo muốn xuôi miền giác ngạn

Đò đời còn tấp chốn mê tân

Phật-đà thiện thuyết, kinh không chữ

Lão Tử hư ngôn, đạo chẳng trương

Nhiều lá trên tay, rừng nát trụi

Lắm lời trong óc, nghĩa tiêu vong

Ra đi chập choạng mây tri kiến

Trở lại lao thao lửa não phiền

 

Phiêu hốt lăng không, tình hóa hạc

Hư nhiên đề khí, bút thành chương

Tâm trung đại đạo, nào thưng đấu

Thế ngoại cao nhân, há xét lường

Vạch tóc, xem tai chàng hí luận

Banh da, xẻ thịt chú ngoan không

Gồm thâu ngày tháng, gieo mầm cải!

Chứa trọn đất trời, cấy hạt sương!

 

Tùng bách non cao, nêu khí tiết

Mai lan vườn lặng, giấu u hương

Ba kinh ngón trỏ, ngờ mắt cận

Trăm giới áo che, ngại bụi hường

Lên bộ, đội thuyền, thương gãy cổ

Qua sông, vác ngựa, tội còng lưng

Bờ kia ngơ ngác, hoa đeo đốm

Nẻo nọ bâng khuâng, rắn đội thừng

 

Hồ cạn, trạch lươn chui tận đáy

Nước đầy, tôm tép nhảy tràn mương

Thung sâu, cây lá màu tươi tắn

Thềm vắng, cỏ rêu sắc nõn nường

 Ngõ trúc, gió reo âm Phạm võng

Am tranh, mưa múa điệu Văn xương

Cảnh tâm cùng hợp không lầm mẹo

 

Nhân quả theo nhau chẳng lộn đường

Vân tụ cao sơn tàng kiếm vũ

Khí lưu thấp khẩu ẩn lôi phong

Rèn gươm trí tuệ Thần Quang sẵn

Luyện thuốc từ bi Tuệ Tĩnh phòng

Phiêu lãng sông dài, bèo cợt sóng

Trầm luân biển lớn, cá tranh rồng

Chóng chầy, mê ngộ, nào ai tỏ?

Sau trước, nên hư, bấy kẻ tường?

Nấu sạn thành cơm, suy cũng dại

Mài gương từ gạch, nghĩ càng thương

Chân không sắc tướng, siêu bằng tất

Diệu hữu thức tri, diệt tận cùng

Bát-nhã cớ sao che trước mặt?

Niết-bàn chẳng lẽ giấu sau lưng?

Ngữ ngôn bao thuở đà ngao ngán

Danh lý từ nay thiệt chán chường

 

Vẫy gọi chim rừng vầy bạn cũ

Đón mời gió núi kết tình chung

Núi rừng tri kỷ, không là bọn!

Chim gió tri âm, chẳng phải phường!

Ruộng rẫy vui cày, không lụy gạo

Cỏ rau siêng hái, chỉ cần tương

Tới lui rỗi rỗi leo vài đỉnh

Lên xuống thơi thơi dạo mấy đường

Khi hứng, họa thơ, trời rộng bút

Lúc lười, ngủ nghỉ, đất dài lưng

Chèo bơi, rung động bầu thanh khí

Núi quảy, nghiêng chao sức đại hùng

Thiền ý, trăng trong soi ngút cõi

 Đàm văn, gió mát chất đầy rương

Neo thuyền, sợi khói, chơi thôn dã

Buộc ngựa, cành lau, dạo cảnh vườn

Đại nguyện chi nề, câu nguyệt ảnh

 Hư tâm nào quản, tát trùng dương

 Kiếm quay chặt rắn, nhân kinh ngạc

 Cung bật săn hươu, quả dị thường

 Biển mộng, lao xao buồm viễn khách

 Mắt hồ, mờ mịt bụi biên cương

 Bại thành, âu dễ anh hùng luận?

 Khổ lạc, nào hay đạo sĩ bàn?

 

Tiện sĩ, sờ da, không dính thịt

Đại nhân, mút tủy, vứt luôn xương

Dẫm mòn đông độ, trừng mây khói

Đạp nát sơn đầu, vạch tuyết sương

Co ruỗi tự nhiên, chân thượng trí

Đến đi hào sảng, gót thiên lương

Đói ăn, khát uống, sờ ngay cửa!

 

Nóng quạt, rét run, đá trúng sườn!

La-hán hữu tình, đừng bỉ báng

Maya đại lục, chớ khinh thường

Hành, cầu lợi, bít tai bưng óc!

Tu, hiếu danh, diễn kịch hát tuồng!

Niệm loạn, hồn mê, Diêm sứ trợn

Thần an, linh giác, Thánh hiền thương

Việc lành, khí sạch lưu trong máu

Cái ác, gai đau ẩn vệ đường

 

Lựa chọn bạch bào, anh gởi gắm

Đổi thay hắc nghiệp, chị nhờ nương

Tay bồ-tát nở hoài sen thắm

Áo chúng sanh lấm mãi bụi hường

Lặng lẽ ra đi, tình chín dặm

Âm thầm cất bước, chí mười phương

Sông dài, ghềnh thác âu hồ ngại!

Biển lớn, phong ba há dễ lường?

 

Thế sự, sương gieo lay bóng lá

Mộng trần, tai mở lắng hồi chuông

Khinh khi, ám khói vây thì ngất

Cao ngạo, mù mê chụp sẽ khùng!

 

Khi thấy, não phiền không chỗ nắm

Lúc hành, sinh tử chỉ cần buông

Trí minh, lất phất khơi vài điểm!

Si độn, nhì nhằng tả vạn chương!

 

Bình bát, ngàn nhà, chim cúng trái

Cội cây, trăm suối, gió dâng hương

Giảng kinh, Đế Thích còn xoa xít

Hiểu đạo, Thiên Ma cũng nhún nhường

Giọt sữa, no lòng, ân pháp thánh

Lời vàng, vững dạ, đức từ vương

Xót xa bởi trẻ, tìm lương mễ

Cám cảnh vì đời, kiếm dược phương

 

Tô điểm tượng đài, oai phước tướng

Dựng xây điện tháp, thú thiên cung

Vẽ tranh, tạo cảnh không pha nhặm

Viết truyện, làm thơ, chẳng trộn gừng

Thiền định, chớ mê thiền biến hóa

Trí siêu, đừng trụ trí thần thông

Móc sương rơi xuống, hòa cam lộ

Sông suối gom về, cất tịnh dương

Gốc nẩy muôn cành, hoa rộ sắc

 

Trăng soi vạn khoảnh, nước phô gương

Không thành Phật Thánh, thành bồ-tát

Nếu xóa nhân thiên, xóa Niết-bàn

Người thiểu học, tai nghe lốp bốp

Kẻ đa nghi, óc giật lùng đùng

Vị lân cô điểu, thiên nhai tận!

Khước cảm nan chu, hải giác cùng!

 

Thất niệm, trọng tình, khai dục giới

Nhiếp tâm, khinh thức, đáo tiên đường

Cái ta, dễ xúi ta-điên-đảo

Cái biết, hay sinh biết-loạn-cuồng

Bắt bóng vẽ hình, người dại dột

Níu tre cột gió, kẻ ngu ngông

Khe mưa, cóc nhái kêu inh ỏi

Chợ lửa, tham sân cháy bập bùng

 

Đạo sĩ bỏ non, chim bỏ tổ

Tăng nhân xa núi, hổ xa rừng

Có nghe pháp giới trò luân chuyển

Có nhớ thế gian lẽ hoại thường

Vĩnh cửu, thắm xanh bao chiếc lá?

Vô biên, thơm ngát mấy chồi hương?

Bồng lai, lạc giới, người khôn khoái

Địa ngục, khổ đồ, kẻ dại vương

 

Hơi thở, thở hoài, hơi sẽ đứt

Lưỡi câu, câu mãi, lưỡi không buông

Trời trong, rồng nọ bèn bay biến?

Biển lặng, kình kia vội vẫy vùng?

Cắt ruột, việc đời, đau tượng đá

Bào gan, chuyện đạo, xót chân không

Lời hư, lời thiệt, lời lươn lẹo

Ý quấy, ý nên, ý tỏ tường

 

Ngựa xuống sông xưa, bơi thoải mái

Cá leo núi cũ, lủi lang thang

Rùa đeo cặp cánh, xuyên vô cực

Thỏ mọc đôi sừng, húc nhị nguyên

Bàng bạc Thiền mơ, trăng cố quận

Chập chờn Trang mộng, bướm quê hương

Nôn nao tình thức hòa cung bậc

Xào xạc tưởng tri họa điệu vần

 

Nam phái trời trong, màu tịnh thủy

Bắc tông nước lục, sắc trùng dương

Xuất gia, mây trắng bồng tâm giới

Tại thế, tơ son dệt thiện đường

Cư sĩ, ruộng nương trồng hữu hạnh

Tăng nhân, y bát hướng vô công

Hỷ hoan học pháp, nhân muôn trái

Lạc phúc tu tâm, quả vạn hồng

 

Khế ngọt, xin nàng là ngọt mãi!

Me chua, mời chị cứ chua luôn!

Ai nào tánh nấy đều tao tác

Cành nọ cây kia thảy líu lường!

Vào một sát-na, trôi ảo huyễn

Phí từng tằng kỷ, rượt thê lương

Hiền nhân chẳng thể tin hư ngụy

Thiện trí chưa hề chấp vọng huyên

 

Chốn đọa đày, nụ cười hỷ xả

Cõi trầm luân, bóng mát yêu thương

Vườn xưa, hoa đạo, tình son sắt

Bến cũ, đò đời, nghĩa thủy chung

Thắm thiết, cành sương lay nhật mộ

Yêu kiều, đọt nắng lóe triêu dương

 Mây bay, văn mặc, thơ non hạc

Nước chảy, tao đàn, nhạc cửa long

 

Cổn cổn đào ba hòa địch vận

Phiêu phiêu phong vũ tấu tiêu chương

Trúc tùng hạo hạo sum la sắc

Lan thảo phân phân bát nhã duyên

Chuyển thức, sâm thương soi vạn khoảnh

Hóa tâm, ngưu đầu chiếu muôn phương

Xanh xanh bối diệp, màu thiên cổ

Xếp lại, lung linh ngọc diệu thường!

(Làm tại Phong Trúc Am, 10 giờ đêm 13/5 đến 5 giờ chiều ngày 15/5 Tân Mùi, 1991. Thương thương và cảm ơn Phạm quân đã làm bài thơ Thất ngôn bách cú - trang sau - cùng những lời để từ thâm mặc, có cánh, có lửa, bất khả tư nghì; và cũng nhờ năng lượng chữ, năng lượng ngôn ngữ, năng lượng tâm linh ấy nên mới có được bài thơ đáp tạ hy hữu này).

 

TRANG THƠ KHÉP LẠI

Thất ngôn bách cú của Nhà Thơ Phạm Phú Hải

 (Hải viết: Bài thơ này đã được mang nặng đẻ đau từ tối 31/12/76, qua khuya đến sáng 01/01/77, đánh dấu cho những Trang Thơ được khép lại. Khép lại những Trang Thơ và mở ra những chân Trời; Chân Trời đồng nghĩa với Ảo Tưởng, nhưng nếu không có những Chân Trời thì cũng chẳng có những Bước Đi; Bước Đi để Nhìn Thấy được rằng: Đâu Đâu cũng là Chân Trời, ngay chỗ Đang Đi, hay Nơi Đã Đứng Để Bắt Đầu Đi, cũng đích thị là Chân Trời vậy. Mà, chưa bước đi thì khó biết được điều ấy"... mưa rơi trên chiếc lá đang rơi... hột bụi chiều kia dính đầy bụi...” Tha tha thiết thiết tặng Triều Tâm Ảnh và Vĩnh Lực).

 

Trang thơ sẽ khép lại vô cùng

Muôn hướng quy về một hướng chung

Mây tiễn trăng qua bờ Đạo Hội

Gió ru hoa ngủ bến Thi Phùng

Ly tình Tửu Ý - bầu đau đớn

Chuyển thức Trà Tâm - chén bão bùng

Mấy dạo Xuân tàn hoa đổi chỗ

Bao lần Thu tận nguyệt rời khung

 

Sương gieo chữ trắng nghiêng bờ sậy

Mưa phủ vần xanh lá ngọn tùng

Linh Thứu pháp âm còn cuộn dội

Tào Khê thiền khí vẫn tràn tuôn

Vương Duy dụi mắt vần đơn độc

Lý Bạch huơ tay chữ điệp trùng

Nuốt lưỡi, Đạt Ma cười đất sụp

Phun môi, Lâm Tế hét trời rung

 

Thi khê tuyền thấm hồn thanh thản

Đạo chấn lôi tan mộng hãi hùng

Ngày Lão Đam giăng mây huyền ảo

Đêm Trang Chu tỏa khói mông lung

U mê chất giữa lò than rực

Hôn ám đun trong bếp lửa hừng

Tam thế cháy tiêu ngày xuống núi

Thập phương rụi nát buổi lên rừng

 

Chim-không-cánh chóp trời tung lượn

Cá-chẳng-đuôi đáy biển vẫy vùng

Song lệ mông mông thanh thủy thượng

Bán ngôn hốt hốt bạch vân trung

Điệp đề hồng phấn oa thê thảm

Tượng hống u nê nịch não nùng

Trường kiếm đâm xuyên trời tiếu ngạo

Đại đao chọc thủng đất kiêu cuồng

 

Giang đầu thơ thần buông chèo lự

Sơn cốc nghêu ngao thả vó buồn

Rắn kiếm chân, trâu đi kiếm cánh

Rùa tìm lông, thỏ chạy tìm sừng

Người mài miệt kiếm trăng Diêm phủ

Ta mải mê tìm nắng Thủy cung

Hoa cái giữa đồng hoang mốc thếch

Thai bào trong bụng mẹ trần truồng

 

Hương tim Đoàn Dự tình ngây ngất

Máu ngực Tiêu Phong hận chập chùng

Ngọc Yến giếng sâu mưa khoái lạc

A Châu rừng thẳm gió thê lương

 

Râu Từ Hài rậm màu dâu biển

Mắt Thúy Kiều xanh khúc đoạn trường

Phủi sạch bụi dơ ngàn thế giới

Tát khô nước đục bốn trùng dương

 

Quỵ nguyên mòn mỏi hai bờ giấy

Đáo ngạn cô đơn bốn phía tường

Thân bọc cứt đầy hầm bất tịnh

Tâm manh giẻ rách xó vô thường

 Khát dòng sữa cạn lời kim khẩu

Đói chút cơm thừa đấng Pháp vương

Sát ý mệnh chung khai địa ngục

Dâm tâm thọ tận bế thiên đường

 

Ngó quanh đời lắm khi cay mắt

Ngẫm lại mình thêm lúc lạnh lòng

Đau mãi bao niềm đau hạt cải

Xót hoài mấy nỗi xót chân lông

Bước vội gai đâm đau mắt cá

Đi nhanh chân đạp nát xương rồng

Cử ngôn, khủng điều, ngôn thâm uất

Bạt ngữ, kình ngư, ngữ nộ trường

 

Mỗ vạch đất đen ngồi giữ chợ

Ông choàng mây trắng đứng đầu truông

Mây hiu hắt gọi người sơn lĩnh

Đất lạc loài kêu kẻ phố phường

Yên Đổ vuốt râu trong bóng tối

Thanh Quan đêm bước giữa chiều sương

Tầng mây ngõ trúc chưa quên khách

Mục tử, ngư ông có lộn đường

 

Giọt rượu tinh khôi môi bác Lý

Bầu trời xanh ngắt mắt chàng Vương

Đông Tây bỡ ngỡ mây phiêu hốt

Kim cổ hoang mang tuyết lạnh lùng

Chagall nắng ươm tia quyến luyến

Chopin sương ủ giọt vương vương

Ph. A., xao xuyến ngàn phương mộng

Ng.H., bâng khuâng một thoáng hương

 

Thấy sáng, Einstein không thấy tối

Nhìn tròn, Pavlov chẳng nhìn vuông

Cây khô bên mắt người xem kịch

Sắt rỉ trong tay kẻ diễn tuồng

Phản tượng tải lôi thiên đảo đột

Nghịch long thừa chấn địa di xung

Có vòng não lụy thiên sai có

Không gợn phiền ưu vạn biệt không

 

Ngày tháng trôi lăn tình, chớ chớ!

Phút giây buông thả thức, đừng đừng!

Biển sâu dục lạc bầy ma ngóng

Sông rộng u mê lũ quỷ trông

Cố đợi Sáng Bừng lay nát cũi

Gắng chờ Tươi Rạng tháo tung lồng

Tâm triêm đạo điển tàng triêu vũ

Ý nhuận thi từ tích mộ phong

 

Lạc tích yên lai thiên thảo lục

Biệt tung hà khứ bách ti hồng

Chấp hai tay cúi đầu im lặng

Khép lại trang thơ, Lửa Bập Bùng!

(Ghi chú: Làm xong bài thơ này, quả thật, tác giả bắt đầu đi vào im lặng, sự im lặng của một-cơn-tâm-thần-trầm-lặng suốt 30 năm! Lúc tôi tìm lại lưu cảo để trích đăng lên đây thì tác giả đã bắt đầu đi đứng, nói năng được, nhưng tựa như một lão-hài-nhi! Và cho đến bây giờ thì đã: Lạc tích yên lai thiên thảo lục. Biệt tung hà khứ bách ti hồng!).

 

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

Ước Vọng Từ Bi Âm

 

Tam muội Linh Sơn lửa cháy bùng

Càn khôn sáng rực, vọng huyền âm

Bờ mê nghi ngút làn mây đục

Bến giác lung linh ánh nhật hồng

"Nhất thiết chúng sanh vô sát nghiệp

Hà sầu thế giới động đao cung”

Xôn xao tâm chuyển, chân hầu nhảy

Lào đảo ý say vó ngựa lồng

 

Ghềnh thác trầm luân sương ảm đạm

Suối nguồn vi diệu cảnh thanh tân

Cuộc trần mấy thuở duyên khai phóng

Vườn đạo bao lần nghiệp chủ trương

Thần thức lâng lâng ngoài hệ lụy

Sắc thân thanh thản giữa hư vong

Bồ-để lắng bặt dòng ô trược

Bát-nhã lùi xa nẻo tục phiền

Tụng biến vô ngôn tìm hạo ý

 

Đọc dòng không tự kiếm linh chương

Phiêu bồng ba cõi tình ưu chuyển

Tự tại mười phương mộng ước lường

Nhật nguyệt miên trường không lại có

Vân hoa biến dịch có mà không

Bao la vũ trụ đầu lông mảnh

Bát ngát càn khôn nửa bóng sương

 

 Đá dựng triển mây, trời đượm sắc

 Lan treo gốc gió, đất lừng hương

 Thân ngoài danh lợi, ngời tiên cảnh

Dạ ngát phong vân, lảng thế trần

 Hạm ngoại rồng vây dù ngoảnh mặt

Tâm trung cọp hiện dễ xây lưng

Thần quy trao nỏ, tăm rùa ngậm

Tướng hạc dong xe, cánh hạc chùng

 

Thảm bấy thành nghiêng, mây tóc ả

Thương bao nước đồ, sóng môi nường

Chúng sanh, hố lửa, nhai tro thịt

Nhân loại, hầm chông, hút kiệt xương

Khổ nạn chập chùng ma dẫn lối

Tai ương trùng điệp quỷ đưa đường

Lê thê đá chạy triền tang hải

Mù mịt cát vù trận quái phong

Cõng ngựa, những thương đời Thủy Lạp

 

 

Vác thuyền, chạnh nhớ thuở Tày, Nùng

Lên non há tưởng hươu thành cọp

Xuống bể, nào hay cá hóa rồng

Mê ngộ, gương treo người diện bích

Căn cơ, danh chân khách thông tường

Từ bi chẳng luận ai cao thấp

Bác ái không bàn kẻ ghét thương

 

Rừng trúc, tu nhân, nhân vãi mọc

Núi đao, tạo quả, quả theo cùng

Chống trời, gậy thấp, khôn đâu mặt

Vạch đất, xương gù, khó khỏm lưng

Tham luyến, Sa Tăng gò má nhẵn

Đam mê, Bát Giới cánh môi chường

Tử sinh kết hợp ân tình rộng

Lão bệnh tài bồi quả nghiệp chung

 

Nhân nghĩa, ngược xuôi cùng một lẽ

Nguy an, lui tới chẳng hai phường

Xuân còn óng ả hoa ươm nụ

Đông đã bơ phờ sắc nát tương

Trộm cướp, nấp nom trò ngọt giấm

Say sưa, thấp thoáng bóng chua đường

Tà dâm, thè thụt dùi xuyên áo

Vọng ngữ, eo Xèo lửa bỏ lưng

 

Kim cổ xôn xao người thiện trí

Tang thương điên đảo khách tâm hùng

Chuông dồn ngũ giới thôi mê ngủ

Mõ giục tam quy hết lãng khừng

Vẫy bút tao ông mà ngoạn cảnh

Vẽ trang hồ điệp lại chơi vườn

Oan cừu chất ngất, tung non thẳm

Máu lệ tràn trề, lụt đại dương

 

Hưng phê sá chi tuồng ảo hóa

Bại thành âu cũng lẽ vô thường

Cỏ non há chịu trâu giàm mõ

Đường rộng chi đành ngựa khớp cương

 

Lập chí, trời cao nhìn Bắc đẩu

Tu thân, đất rộng hướng La bàn

Ba ngàn thế giới vang thần tụng

Bốn cõi tinh hà vọng thành chương

 

Thuyền đạo nhởn nhơ miền tuế nguyệt

Dòng đời lấp lánh ánh băng sương

Chèo từ quẩy nước qua thương hải

Gió trí căng buồm hướng thiện lương

Bôn ba bể ái - khiêng trần lụy

Lẽo đẽo nguồn ân - gánh khổ thường

Bào ảnh giàu sang, trò diễn kịch

Bóng gương quyền quý, khúc ca tuồng

 

Cái quay mù mịt, suy thầm xót

Chiếc bách lênh đênh nghĩ chạnh thương

Đuốc tuệ giương cao, hồn mấy nẻo?

Hoa đàm tỏa rộng, dạ bao đường?

Quả lành óng ả, xanh vườn tược

Phước báu tràn trề, mướt ruộng nương

Vân cầu xem tranh, đen hóa trắng

Hoàng lương tan giấc, tím thành hường

 

Kỳ khu gót rỗ tìm binh tướng

Tân khổ môi tê nghiệm dược phương

Đông độ lần qua, băng vạn ải

Tây phương bước tới, vượt muôn đường

Bùn pha sắc xám, tâm không nản

Nắng rám mùi dâu, chí chẳng buông

Quỷ chúa đao to khua giận dữ

Ma vương kiếm nhọn hét điên khùng

Kiên trì hành giả, mây đưa bước

Nhẫn nại, hiền nhân, gió tiễn chân

Nắm lá, tay đưa, tuôn pháp vũ

Niêm hoa, miệng mỉm, rợp kinh chương

Tuyết sương, áo trắng, đời ly khổ

Nam hải, sen xanh, đạo ngát hương

Gỗ đá hân hoan cung kính lạy

Chim muông hớn hở nép thân nhường

 

Thoát trần đủng đỉnh, Tâm là Đế

Ngoại vật thung dung, Đức ấy Vương

Am cỏ bóng che trùm tám cõi

Lều tranh mái rợp tỏa mười phương

Đâu màng mũ ngọc ngôi triều nội

Nào vướng đai vàng chủ điện cung

Mây núi vẽ tranh, tranh lẫm lẫm

Sương rừng họa cảnh, cảnh đường đường

 

Ngẫu vần Lý Đỗ trăng soi sáng

Hứng điệu Đào Chu suối chảy thông

Phật tính như nhiên, tơ thánh thót

Thiền phong tự tại, trúc du dương

Hành vân lồng lộng thiên thu sử

Lưu thủy mang mang vạn cổ gương

Thanh khí ngàn xưa về họp bạn

Tri âm kiếp trước đến chung bàn

Noi trời hóa đạo, không cờ rợp

Học đất an dân, chẳng pháo đùng

Cam lộ, ân Thiền tuôn bất tận

Cành dương, phép Phật, tỏa vô cùng

Pháp môn biến hiện tuy nghìn lối

Xích tử cưu mang chỉ một đường

Bồ-tát vốn thường giàu hỷ xả

Thương sinh đâu nỡ để mê cuồng

 

Sắc thanh, xót kẻ lòng u muội

Danh lý, thương người dạ hiểm ngông

Thế thái, tham sân, sa mạc bóng

Nhân tình, si hận, hỏa sơn bùng

Từ bi, nước mát sâu như biến

Bác ái, tàn im lớn tựa rừng

Túc trái lắng trong, khơi lạc tịnh

Tiền khiên gột sạch, khởi an thường

Sắc không thanh thản, đời xanh mộng

Nhật nguyệt chan hòa, đạo thắm bông

Lạc cảnh không xa, hiền trí tựa

Bồng lai chẳng ngái, thiện nhân nương

Vinh hoa, đồ khổ, thôi tàng giữ

Phú quý, phù vân, nhẹ thả buông

Mẹo bạc gian, móc câu khó vẫy

Thú ca nương, lưới sắt khôn vùng

Mồ hoang dế khóc, nghìn chung rỗng

Ngục tối tơ giăng, vạn đỉnh không

Dấu ngựa xe, rêu phong cuối ngõ

Bóng đài lâu, cỏ mọc quanh tường

Công hầu thấp thỏm đường lên cấp

Khanh tướng bàng hoàng bước xuống thang

Cợt tuyết, trăng ngàn soi dị hoặc

Cười sương, gió núi lộng uyên nguyên

 

Thiền sư, trúc gậy chơi non biếc

Thiện sĩ, mây hài lướt dặm hương

Mượn bút nhân hiền bàn diệu lý

Soi đèn trí đức luận tâm văn

Bạch Vân am, tỏa cao vầng nguyệt

Thiên nhận sơn, ngời khắp ánh dương

Yên Tử Trúc Lâm, chuông Thứu Lĩnh

Huyền Không, Hương Tích bóng linh đường

Vô ưu, vô ngã tình vô ngại

Hữu đức, hữu tài, quả hữu công

Khe suối, núi non cùng hỷ lạc

Cỏ cây, muông thú thảy hòa đồng

Phật không Nam Bắc, an như mãi

Đạo chẳng Tây Đông, tự tại luôn

Vĩ , tất - hai ngôi, tùy biến hiện

 

Sâm, thương - một thể, chuyển lưu thường

 Đinh, Lê gieo vãi xuân từ ái

Trần, Lý vun bồi gốc thiện lương

Gương gạch bâng khuâng niềm ảo hoặc

Sạn cơm man mác nỗi hư huyền

Muôn hình giăng lưới bao tê tái

Vạn tượng xây thành bấy xót thương

Mỉm miệng cười tan ân oán cũ

Phủi tay xóa sạch nợ nần chung

 

Mùi sen Bát-nhã lừng sơn lĩnh

Bóng nguyệt Lăng-già rạng hải dương

Phong Trúc Am hóa thân đại sĩ

Triều Sơn Phương hiện cảnh vân long

Thiên nga cốt cách chân hồng trạo

Linh phượng căn cơ, thị bạch chương

Câu cẩm tú mênh mông lý đạo

Nét đan thanh sực nức thiền duyên

 

Gieo tâm hỏa sáng ngời muôn cõi

Phóng tuệ đăng lừng chiếu vạn phương

"Pháp Thuận thi ca” hằng thánh trí

"Chân Lưu từ điệu” mãi phi thường!...

(15h, 9/7/1990)

 

TỰ TRÀO

 

Thấm thoắt bao chày đã bốn hai

Việc đời ôn gẫm thử xem chơi

Bước đi, không cúi, lưng mềm dẻo

Chuyện nói, chưa say miệng ngáp dài

Xây núi, dựng non – sương đề bút

Đào hồ, tạo cảnh – nguyệt so vai!

Hồn thơ, hồn đất, hồn khinh khoát

Sắc biến ra không mới thực tài

 

THU TRĂNG NHỚ BẠN

Gác gió phiêu nhiên bạn lữ phùng

Chút tình phương thảo, chút tình chung

Hạc xưa, sương gió... dầu, tuy vậy!

Mai cũ, băng hàn... thế, vẫn nhưng

Đời cũng lắm vui, cười xể xả

Đạo còn mấy chữ, nói lung tung

Nhớ như tóc trắng, đùn mây trắng

Trăng với thu thì ai lạnh hung?

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

Thiền khách, tao nhân cuộc hỷ phùng

Đạo đời thắm thiết mảnh tình chung

Vén mây, xanh biếc, trời, ừ nhỉ!

Quét lá, thơm nồng, đất, thế nhưng!

Nửa gánh tiêu dao lừng sự nghiệp

Một bầu tuế nguyệt thỏa hành tung

Ai ươm thu từ ngoài vô tận

Mà nẻo sông hồ bặt cát hung!

(20/10/86)

 

Vân du chạnh nhớ buổi tao phùng

Ý đạo, thơ hòa một nhịp chung

Mành hạc luyến lưu tình cố cựu

Nụ mai ấp ủ nghĩa nhiên nhưng

Mây phong áo nguyệt, chiều xuân đọng

Rêu phủ hài văn, ngõ bụi tung

Dằng dặc, hoàng ly, thu vắng bạn

Lòng nghe xao xuyến nỗi hoài hung!

(21/10/86)

 

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

(xướng)

Xuân Mộng

Trời đất cùng ta lại chuyền vần

Bao nhiêu tâm ý bấy nhiêu Xuân

Nước non thắm thiết ân tình rộng

Hoa cỏ nồng nàn cảnh sắc tân

Chén rượu tri âm lừng đạo nghĩa

Cung đàn thanh khí nức phong vân

Trăm năm trong cõi muôn hồng tía

Thanh thản tiêu dao, bút hứng thần!

 

(họa)

Xuân Khánh Vân

Năm vui, vui họa, bút vui vần

Xuân cảnh, Xuân người, xứ xứ Xuân

Đất bấy y nhiên, xưa chẳng cũ

Trời bao biến đổi, mới như tân

Huyền hồ hiển nguyệt, khai viên tạng

Không địch nghinh phong, chuyển diệu vân

Cây cỏ sinh sinh, hoan hỷ địa

Thì tâm, thì ý, khí hung thần!

Thêm thơ, thêm bút, họa thêm vần

Mến chúc chư hiền, thị pháp Xuân!

Sơn thủy tiêu dao, thân ngoại thế

Ý tình khinh khoát, sắc thanh tân

Khuê tỉnh, nhật tảo lai thư án

Văn các, niên trường hiện khánh vân

Ngõ trúc, không môn, long hổ phục

Can đầu hạo hạo, quỷ kinh thần!

(Đạm Lư Hiên, Xuân Đinh Mão)

 

ĐÁ NỞ HOA

 

Thuở xưa, đá ngủ trong lòng núi

Vì bạn yên hà, ghé cuộc chơi

Lau cỏ làm văn, không nệ bút

Trăng sao đọc sách, chẳng mê lời

Nhớ chàng du tử, tóc ngàn suối

Thương khách phong trần, áo dặm khơi

Gặp đạo, tình vong không nói nữa

Hốt hề! Đá lại nở hoa vui

 

KIỂNG ĐẠI THỤ

Ông đứng làm gì thế hở ông?

Trăm năm thân thụ uốn như rồng

Tầng tầng lá phủ dầu mưa dội

Hướng hướng tàn che mặc gió lồng

Tình cũ tới lui, chim vạn núi

Nghĩa xưa qua lại, khách nghìn sông

Ra uy cốt cách, vàng không đổi

Chậu nhỏ thu vào, cợt hóa công!

 

THÚ CỔ NGOẠN

Thanh thú làm sao, nét nhã tâm!

Hương xưa, nếp cũ, đóa tinh vân

Gìn vàng chưa đổi tình quân tử

Giữ ngọc nào phai hạnh mỹ nhân

Bảo vật chập chờn chim Lạc Việt

Anh hoa lấp loáng sắc Tân Xuân

Tri âm nguyệt đọng, phô muôn vẻ

Cổ ngoạn, niềm vui ướp xạ trầm !

 

THÔI XAO MẤY VẬN

 

 (Kỷ niệm sau 2 năm nhập thất)

Giữa mùa cư ẩn mở then sương

Đón khách phong vân mấy nẻo đường

Tay bắt mặt mừng, câu đạm nhã

Ý trao lòng gởi, nụ thanh phương

Lối mây thoang thoát, thiền tâm nguyệt

Hiên trúc mơ màng, đạo nghĩa hương

Lữ khách giang hồ treo kiếm mã

Tao nhân sơn thủy kết văn xương!

 

Hội thơ, phi tửu, không so đối?

Tiệc chữ, vô ngôn, chẳng đo lường!

Ngõ hẹp, Trang Chu, bồn lạc khúc

Rừng sâu, Vương Phật, nhạc đàm hương

Trăm năm thế sự xanh rờn mắt

Vạn kiếp nhân tình bạc ố gương

Ai tự cao sơn, cô tịch tọa?

Ai ly khổ hải, tuyệt sầu miên?

 

Vô tư có lúc rây bùn tía

Hữu ý đôi phen lâm cát hường

Những tưởng cõi riêng nhiều lợi lạc

Lo ngờ cốc vắng vẫn nhiêu nhương

Việc đời, quệt loãng làn mây nước

Chuyện đạo, phát lùa lớp khói sương

Đi đến thung dung tay diệu hóa

Mới lui thanh thản hạc vô lương

 

Trông cao, vững chãi thân tùng núi

Ngó thấp, an bần kiếp cỏ nương

Bút họa, tình không, lời chẳng ngại

Thơ gieo, vận trắng, chữ khôn lường

Sóng xao cát biển còn dư lực

Ý lấp trần mê vẫn dị thường

Có lại nói không, trời tổn hại

Không bèn nói có, đất tai ương

 

Bập bùng ngôn ngữ, thức thông tỏ?

Leo lét tưởng tư, trí khả lường?

Trăng xế non mờ, hoa vẫn sắc?

Muối tan biển mặn, khổ còn vương?

Hành tàng ngọng nghịu, tâm đưa lối

Ẩn hiện loay hoay, nghiệp dẫn đường

Tự cổ, dế giun ca mộng viễn

Ô hay! Trời đất nợ văn chương!

 (1979- 1980)

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 

 (họa)

Thiền sư nhập thất đức ngời sương

Năm thức mây phong cửa thiện đường

Gió đón tao nhân từ vạn hướng

Trăng mời mặc khách khắp ngàn phương

Lâng lâng nắng hạ, hồng phô nụ

Lãng đãng mưa thu, lan tỏa hương

Chi sá bể dâu trò phế huyễn

Nào hay thế thái khúc gia xương

 

Bể trần lai láng bao phi thị

Nguồn đạo thung dung bấy cát tường

Lên thác chịu sào, thơ mấy vận

Xuống ghềnh đứng mũi, truyện vài chương

Yên Hà tự tại năm canh nguyệt

Thảo Địa an nhiên sau khắc trường

Bắt chước Lục Du mà "hổ rống”

Nối điêu Trương Kế nhẽ sầu miên

 

Hỏi non, trầm mặc, um rêu đá

Thăm nước, uyên nguyên, rực khóm hường

Trần Giải, nhịp chèo qua bến lạc

Tĩnh Viên, khúc kệ vượt bờ nhương

Ba ngàn thế giới, ba ngàn mộng

Bốn nẻo sông hồ, bồn nẻo gương

Đông xuống, Đông an niềm tục lụy

Đoài lên, Đoài rạng ánh thiên lương

 

Mười hàng thanh khi trời tâm tựa

Dăm vận thôi xao gợi ý nương

Khanh tướng, giàm danh, bao kẻ vọng

Ngã thường, chân lợi, mấy ai đương

Cao sơn, khói động, sầu vô hạn

Đại hải mây un, não hữu thường

Không tứ, lời kinh, xua quỷ chướng

Huyền tâm, tiếng kệ, dứt ma vương

 

Dữ lành, tự nghiệp, lòng khôn biết

Họa phúc, tùy duyên, dạ khốn lường

Đạo dốc hồ trường, cam lộ ửng

Đời nghiêng bầu nậm, hận sầu vương

Tâm gieo nhân tốt, tâm đưa lối

Quả nở hoa thơm, quả lót đường

Hội ngộ, vấn phong, vàng nguyệt diễm

Mừng sư, xuất hạ, tiếp thiền chương!

(18/9 - Đinh Mão)

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 

(xướng)

Ngọn Giả Sơn Chùa Linh Mụ

Linh Phong cuồn cuộn nước về Đông

Gột sạch trần mê, lắng bụi hồng

Óng ả triền sương, xuân đỉnh Thứu

Long lanh vách đá, sắc non Bông

Gậy thiền quảy nguyệt, kinh soi tứ

Dép cỏ đùa hương, đạo điểm bông

Bát ngát tầng cao mây khói họp

Lâm tuyền riêng cõi, nức tâm không!

 (25/11- Tân Mùi, 1991)

 

(họa)

Linh Thứu Cao Phong

Nguồn từ Tây ngàn xuống biển Đông

Triền xa, thác bạc ửng non hồng

Suối mây tĩnh mặc, tranh thiền đạo

Hoa cỏ thanh u, sắc nhược bồng

Thấp thoáng ghềnh cao, am đợi khách

Cheo leo vực thấp, đá đơm bông

Cao phong Linh Thứu xưa hằng tại

Bàng bạc đất trời ý diệu không

(Yên Hà Các, Đông Tân Mùi).

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 

 (xướng)

Ngắm Ngọn Giả Sơn

 (Tặng thầy Trí Tựu, Hải Trang)

Phương trượng trông lên ngọn đỉnh trời

Biển mây lồng lộng tít mù khơi

Lan buông, hương nức đường lai, khứ

Cỏ biếc, sương phong nẻo đạo, đời

Cõi Phật, hồn nhiên chim múa hát

Dòng Thiền, trong suốt nước đầy vơi

Khách trần một thoáng qua Tăng thất

Không chữ, tâm kinh bỗng dậy lời

 

(họa)

Linh Phong

Cao cao hùng vĩ đứng bên trời

Vực thác, ghềnh mây tiếp biển khơi

Thanh thản hương trà, vui giữa mộng

An nhiên vị đạo, thú trong đời

Hồn về vô hạn, sương bay nhẹ

Thơ chảy muôn trùng, suối chẳng vơi

Qua lại lối xưa tìm cổ nguyệt

Linh Phong bia đá, tứ không lời!

 

CÂU LẠC BỘ CÂY KIỂNG

 

Một chỗ như ri thú vị rồi

Cần chi du ngoạn ở xa xôi

Vẻ hoa, sắc lá - tình ươm cảnh

Dáng đá, hình cây - nghĩa nẩy chồi

Tửu bút, tha hồ tung hứng, khoái!

Trà thi, mặc sức luận đàm, chơi!

Trước sau, chủ khách thành tri kỷ

Ai biết điền viên cõi tuyệt vời!

 

SINH VẬT CẢNH

 (Mừng hội Sinh Vật Cảnh Cố đô Huế)

 Phơi phới chào mừng: Cảnh Vật Sinh!

Thú chơi tao nhã cố đô mình

 Nghiên, chung, đồng, sứ... xưa và hiếm

Tranh, bút, tượng, bình... quý lại xinh

 Chim hót lồng tre, rừng thấp thoáng!

 Hoa chưng bình gốm, nắng lung linh!

 Nhàn du thoáng mắt, thu trời đất

Thiên cổ đồng tâm, bút nở tình!

 

CẢNH NON BỘ

Chênh vênh đứng giữa nước non trời

Năm tháng trơ lì ngạo biển khơi

Ghềnh đá, an nhiên tiên tử tọa

Triển mây, thanh thú đạo đồng chơi

Lều ai trăng gió mà khinh khoái

Thuyền khách sông hồ luống thảnh thơi

Một cõi tiêu tao thiên cổ tuyệt

Tặng người tri kỷ ngắm xem thôi!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

Sừng sững thanh uy một cõi trời

Tít xa ngàn dặm biển mù khơi

Ngư về đại hải lưng bầu nậm

Tiều vượt thâm sơn nhập cuộc chơi

Hoa cỏ nồng nàn hương nhã hứng

Nước mây chan chứa sắc hanh thơi

Ngại ngùng khách tục len chân đến

Sương tuyết đường lên biết mấy thôi!

(HK, 13/12/1987)

 

 

TÌNH THU

 

Mây trắng ngàn phương lặng lẽ về

Đường trần, quán trọ dậy tình quê

Gác khuya, khêu nhớ, trầm thơm tứ

Hiên vắng, chờ xem, nguyệt lặng đề

Lãng đãng, tao ông chơi tục phổ

Thảnh thơi, dật sĩ dạo bồng khê

Gió qua khóm trúc, tình muôn xứ

Hương thoảng vườn thơ, nghĩa bồn bể

Kinh tụng một vài, vui nhược mộng

Thiền hành đôi chút, phủi trường mê

Khói sương man mác lòng cô lữ

Mây trắng ngàn phương lặng lẽ về!

 

NẮNG CỎ HỒNG

 (Tặng huynh đệ, kỷ niệm ngày vào núi)

Một chút hư huyền trả núi sông

Từ nay phất nhẹ cánh chim bồng

Nỗi đời đã chán thân du tử

Việc đạo đà quên gậy mục đồng

Điểm ánh mắt xanh xem nguyệt hạ

Mượn màu tóc trắng đón sương đông

Mây lành gió ấm, tình phương địa

Huynh đệ tri âm, nắng cỏ hồng!

(Triều Sơn Phương, 1991).

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 

(họa)

Phong vân rộng mở lối đi về

Thu nhớ Huyền Không, mộng cảnh quê

Bát ngát hiên mây, tình núi dựng

Thênh thang gác gió, ý thơ đề

Đường trăng, thầm gợi hương thiền uyển

Ngõ nắng, chừng mơ sắc tiểu khê

Phơi phới đạo vàng ươm vạn cõi

Lung linh sương bạc dậy muôn bề

Hồ quên thế sự tuồng hư hóa

Mà bặt nhân hoàn cuộc tỉnh mê

Tiếng địch ai reo ngoài nội vắng

Phong vân rộng mở lối đi về!

 

HẠC VÀ THU

Nghe thoảng hơi thu viếng cửa ngoài

Chừng mây ngơ ngác nẻo đồi mai

Non tùng dựng bút, sương pha mực

Lũng trúc phơi kinh, nắng chép bài

Man mác hương ngàn len cốc rạ

Bâng khuâng gió lạnh hé phên sài

Mắt xanh đã mỏng phương trời khói

Chớp cánh mơ hồ, hạc nhớ ai?

(1993)

 

HIÊN LÃM THÚY

Mười  năm một thoáng, thoáng qua mau

Mái lá, phên tre rợp bí bầu

Vài cánh lan hoa, hương dạo ngõ

Mấy vần thi đạo, gió quay đầu

Nắng lên, nhẹ hẫng, mây trôi lướt

Mưa xuống, tươi nhuần, cỏ thắm lâu

Tuổi tác, thời gian, không nhớ nữa!

Ngắm xanh, Én Trắng thản qua cầu!

(Kỷ niệm 10 năm

Nham Biều, 1978-1989)

 

TIÊU NHIÊN

(Họa bài "Mái đầu sương tuyết”

của Ngọc Quế).

Non cao chi sá tuyết sương đầu

Bời bọt nhân tình, nước chảy mau

Đã gặp tiên nhơn, mây trắng áo

Còn thương hồ điệp, mộng xanh màu

Câu thơ hào sảng trăng pha sắc

Rừng trúc tiêu nhiên gió tượt sầu

Chẳng biết đời khô ai nhúm lửa

Cháy hai bờ, cháy suốt ngàn thâu!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (xướng)

 Ngoài Thể Sự

Một mình lặng lẽ trước gương trong

Nghe tiếng ai về gõ cửa không

Một thoáng hương bay mờ cánh nhạn

Bao mùa Xuân đến ngát hoa hồng

Vẫn tìm thanh tịnh bên vườn vắng

Đã thấy bình yên cuối gió Đông

Quên cả buồn vui ngoài thế sự

Hoàng hôn theo khói nhẹ xuôi dòng!

 

(họa)

 Niêm Bọt Sóng

Tình đạo ngàn xưa suối nước trong

 Duyên thơ đôi cánh nhẹ hư không

 Xuống non, líu ríu chân xao bụi

 Vào cõi, lênh thênh bước rẽ hồng

 Biển cả kết hoa, niêm bọt sóng

 Khe sâu phổ nhạc, tiễn lời Đông

 Gió qua khẽ chạm trăng đầu núi

 Để bóng buồn vui rớt giữa dòng!

 

ÁO PHÙ SINH

Dặm dài chiếc nhạn vút linh khinh

Nước gợn bèo chao dậy chút tình

Khói sóng mây pha màu lặng lẽ

Đốm hoa trắng dợn sắc lung linh

Lơ ngơ viễn mộng chim run cánh

Bớ ngớ quê hương lá trở mình

Tiếng gọi, thở dài phương lãng bạc

Vai gầy nhẹ khoác áo phù sinh!

 

Nhà Thơ Dạ Sĩ Thiện Trí

(Cố Đại Lão Hoà Thượng

 Chùa Hiếu Quang)

  1. Tra

Tuổi già lẩm cẩm chịu rằng hư

Hay giỏi mần chi với buổi chừ

Ăn nói lờ khờ nghe họ bực

Vui chơi biếng nhác thấy mình dư

Người quen trước mặt nhìn ngơ ngẩn

Vật nắm trong tay kiếm mệt đừ

Theo lẽ vô thường là phải rửa

Bà con những tưởng tớ đang cừ!

 

(họa)

Biết đâu là thực, biết đâu hư?

Hư thực khó phân, khó nghĩ chừ!

Nhìn cuốc hóa gà, mắt vẫn tỏ

Luận không thành có, trí còn dư

Hứng thơ lời vụng, đời khôn dễ

Thảo bút tay run, nét chẳng đừ

Lão hạc cỗi tùng, sương tuyết dạn

Cừ như Hòa thượng mấy ai cừ!

 

2- Nghề Chơi Chữ

Cái nghề chơi chữ cũng kỳ thay

Lao động thi thơ lụn tháng ngày

Thảo luận văn từ quên mỏi miệng

Điểm tô nghệ thuật chẳng rời tay

Cãi nhau vài nét, la khàn cổ

Thích ý đôi câu, sướng chửng mày

Thú vị như mình đâu dễ có

Cứ vui hoài, kẻ trả người vay!

 

(họa)

Đệ nhất phong lưu cũng phải thay!

Nghề chơi chữ nghĩa, tháng quên ngày

Gạo châu, củi quế nào lơi bút

Tứ gấm, lời hoa cứ trổ tay

Hơn kém vốn chưa hề chột dạ

Khen chê nào khá dễ chau mày

Thanh cao lạc thú, đời ai biết

Thõng ngoại ba ngàn chuyện trả vay!

 

3- Con Bò U

Có lẽ vì xưa nó vụng tu

Hóa nay đành thọ kiếp bò u

Kềnh càng xe nặng trườn cong cổ

Thúc giục đòn tươi vụt sả khu

Dáng mệt mề, chân lê chậm chạp

Thân cằm cụi, tánh vốn ngây ngô

Thương thay nghiệp chướng mô từ trước

Quả báo ngày nay phải chịu bù!

(họa)

Tu như bò rứa mới nên tu!

Tu ráng rồi đây sẽ hết u!

Cõng kéo đường xa thêm giãn cẳng!

Vọt đòn roi nặng lại êm khu!

Thảnh thơi năm cửa, chê rơm cỏ!

Thích thú bốn bề, tợp lúa ngô!

Chẳng muốn tranh giành nên chậm chạp!

Thương đời chạy vạy rối lu bù!

 

4- Hạ An Cư

Tuy rằng mùa hạ nắng như thiêu

Nhưng đặng an cư cũng khỏe nhiều

Bái Phật, tham thiền luôn dõng mãnh

Đàm kinh, luận đạo lắm cao siêu

Tiêu trừ phiền não bao đời kiếp

Tinh tiến công phu những sớm chiều

Ruộng phước tài bồi thiên vạn khoảnh

Từ bi giống báu vẫn thường gieo!

 

(họa)

Mùa hạ khắp trời lửa đốt thiêu

An cư, thiền cảnh thanh lương nhiều

Luận văn, tình lặng, non thành lão

Đàm đạo, tâm không, vụng hóa siêu

Bởi khách xôn xao lời nắng sớm

Vì người ngơ ngác bóng mây chiều

Sa-môn hiện tướng ngàn muôn hạnh

Dẫu biết bồ-đề hạt khó gieo!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 

 (xướng)

 Qua Những Mùa Đông

Gọi người núi thẳm lạnh hơi may

Vang vọng hồn xưa ánh nguyệt gầy

Khói tỏa ai về nghe tiếng gió

Sương mờ chiều xuống lặng ngàn cây

Vui làn suối nhẹ trôi ngày vắng

Nhớ cánh chim xa chở nắng đầy

Qua những mùa Đông tàn cát đá

Đầu non mây trắng vẫn còn bay!

 

(họa)

 Chữ Ngọn Cây

Hiu hắt rừng Đông ngọn cỏ may

Tiêu sơ, thủy mặc khóm lau gầy

Cành sương lặng lẽ, mai đầu núi

Hồn đá mơ màng, chữ ngọn cây

Trời đất duyên thiền mười cõi rộng

Nước non tình đạo một lòng đầy

Tri âm gõ nhẹ vào then trúc

Mở cánh thơ vàng, hạc trắng bay!

----------------------

Trăng khuya đọc sách đèn tri kỷ

Bạn cũ ẩm trà vị tĩnh cư!

------------------------

Lĩnh cao văn dẫn hồn thanh khí

Lũng thấp thơ vương gót thiện hài

---------------------------

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

( xướng)

Sóng Đời Trôi

Có tia nắng biếc đến thăm vườn

Như khẽ tâm tình với giọt sương

Mây trắng theo chiều im trước ngõ

Lá xanh gọi gió lặng bên đường

Trăm năm cơn mộng nào lưu luyến

Muôn thuở vầng trăng mãi vấn vương

Theo sóng đời trôi... trôi lấp lánh

Tình xa nhẹ gởi giấc mơ thường!

 

(họa)

Câu Chữ Chiêm Bao

Cây cỏ theo thu, lá rụng vườn

Đời như mây loãng thoảng ngàn sương

Đôi khi tụ khí, hoa đầu đá

Lắm lúc phân thân, quán vệ đường

Tình biển bạc, thuyền không chẳng ngại

Nghĩa non cao, áo khói nào vương

Sóng xao, cát nổi. Hai bờ mộng!

Câu chữ chiêm bao cũng lẽ thường!

Non thẳm, mênh mông một mảnh vườn

Đời qua lũng vắng, thoảng ngàn sương

Câu thơ nhã đạm, trang màu đá

Nét họa đan thanh, mực bụi đường

Suối mộng, trăng lay, con nước gợn

Cành mơ, chim ngủ, lá rừng vương

Gió chao dặm khói, tình sơn thủy

Sóng nổi lưng mây, nhật nguyệt thường!

 

XUÂN Y TIẾU

 (Đáp hoạ bài thơ Xuân

của Quãng Tường Cư Sĩ)

Lao xao bóng chớp dịch dời năm

Mê, tỉnh trăm sông, nước đổ thầm

Mơ lắm, thuyền trôi phương mịt mịt

Mộng nhiều, ngựa lạc hướng tăm tăm

Thủy chung tương hoán, hà phi xứ?

Lại khứ thường như, hà thị tâm?

Khép mở, vần xoay, sinh thủ uẩn

Xuân phong thêm mát núi mây hồng!

Xuân phong thêm mát núi mây hồng!

Bút cũ còn đem họa gió Đông

Lãng đãng muôn non nào biệt cội!

Lang thang nghìn chợ vẫn tìm tông!

Huyền đàm vấy bụi cay cay mắt

Không luận đùn vôi, bạc bạc lòng

Bồ-tát cao xanh còn mắc nạn

Huống chi thân cá chậu chim lồng!

 

Huống chi thân cá chậu chim lồng!

Hoa bướm ngày xuân muốn ghẹo ông

Dê bỏ rừng xưa tình ái nặng

Khỉ leo cành cũ dục tham nồng

Khứ lai chẳng lẽ là tiên hậu?

Tánh tướng rồi ra có dị đồng?

Vạn hải thiên san còn chỗ chật

Huyền Không thì cứ vẫn Huyền Không

 

Huyền Không thì cứ vẫn Huyền Không

Triêu mộ huy huy nhật nguyệt hồng

Phi cảnh, phi tâm - phi chánh giáo

Tức tâm, tức cảnh - tức tà tông

Mặn chay, cao thấp, rầu đo lượng!

Lớn nhỏ, ít nhiều, mệt đấu đong!

Sinh tử thị thường, hà viết chuyển

Xuân lai y cựu, tiếu sư ông!

Xuân lai y cựu, tiếu sư ông!

Năm thức dòm xem nguyệt chiếu song

Hoa úa, khinh cài thân ngọc nữ

Bút Cùn, hí họa dáng tiên đồng

Ấng thư thẹn mặt loài sâu mọt

Bồn kiểng trơ gan cỗi trúc tùng

Muốn biết hư không còn mấy nặng

Chỉ nhìn tri kiến trụ đầu lông!

 

Chỉ nhìn tri kiến trụ đầu lông

Dâu bể trò chơi của hóa công

Bút phóng thiên khung, trời bế tắc!

Thơ tràn địa đạo, đất hanh thông!

Hạc thành chở ngạo lầu Thôi tử (1)

Mai chợ, đừng khoe ngõ Ngũ ông (2)

Xưa mới, thị phi, im hỏi im!

Pháp không, không cả có cùng không!

Pháp không, không cả có cùng không!

 Mắt đá sao cay nỗi bụi hồng!

 Điêu nối, mới hay chim nối gió(3)

Vần tìm, vỡ lẽ cá tìm sông

Niết-bàn khôn được, trơ trân trố

Sinh tử mong lìa, vọng viễn vông

  • (1)Thôi Hiệu, nhà thơ đời Đường với bài thơ Đằng vương các nổi tiếng - có câu thơ: Tích niên dĩ thừa hoàng hạc khứ...
  • (2)Ngũ tổ Hoằng Nhẫn lập viện ở núi Hoàng Mai
  • (3)Xem "Điêu bất túc, cẩu vĩ tục".

Tiết dịch, nay ta còn dịch nữa

Thị thường răng hẳn thị thường long!

 

Thị thường răng hẳn thị thường long

Ai biết tâm thường thẳng hóa cong

Mưa lớn, lụt to mờ khí bốc

Nắng nhiều, hạn quá nghịt hơi xông

Hữu vô bao mối chung cùng bổn

Thiện ác hai đường chẳng khác tông

Lập hạnh có ai cầu trược hạnh!

Du Xuân, ai lại dại du Đông!

 

Du Xuân, ai lại dại du Đông!

Vào chợ còn nguyên dáng cáo đồng

Rừng rú thương Xuân bèn nở lá

Thị thành đón Tết cố chưng bông

Mây bay tuế nguyệt, vui non tịnh

Nước chảy khê tuyền, dạo cửa không

Vạn hóa đại toàn ai khá biết

Cổ lai muôn sự, đạo tùy trung!

 (1981)

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (xướng)

Sáng Mùa Xuân

Xuân ngát bình minh trên nhánh hoa

Tiếng thơ dâng nắng đến muôn nhà

Cánh đào năm ngoái, tươi mùa thắm

Đóa cúc ngày xưa, đẹp ý xa

Tìm chút mặt trời miền lữ thứ

Soi bao ánh ngọc cõi yên hà

Chén trà an tịnh bên vườn biếc

Khi đóa hoàng mai nở với ta!

 

(họa)

Chung Trà Thiên Cổ

Trước sân mai nở rực vàng hoa

Mượn ý thiền thi giữ nếp nhà

Thuở nọ lò trầm chờ bạn quý

Ngày nay nét trúc gởi lời xa

Chữ xanh vẹn vẻ câu sơn thủy

Mây trắng thong dong chuyện hải hà

Chim lạ phương Đông về núi sớm

Chung trà thiên cổ một mình ta!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (xướng)

 Khách Quê Xa

Yêu ánh trăng xưa lạc cuối vườn

Mỉm cười trên những giọt thu sương

Trời cao mây tỏa cành lan biếc

Suối vắng đêm trôi giấc mộng thường

Dù biết mưa qua bờ cát đá

Vẫn sầu gió thoảng cánh hoa hương

Lênh đênh làm khách phong trần mãi

Ngày hết quê xa vạn dặm trường!

 (họa)

 

GỬI LY KHÁCH

"Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách

Nhật vin gia hương vạn lý trình!”

                             (Trần Thái Tông)

Có màu hoa lạnh ở bên vườn

Như cánh Sao mờ đọng tuyết sương

Cội trúc lá reo lời tĩnh tại

Đầu non mây tỏa giấc an thường

Thư xa đâu dễ thơ phai sắc

Thu lạnh nào hay cúc thắm hương

Ly khách lênh đênh trời gió bụi

Trăng xưa, bạn cũ, quán chung đường!

 

ĐIỂM XUÂN

Gọi tuyết Đông về bên lũng vắng

Để nghe khí lạnh, buốt châu thân

Cho thơ càng trắng niềm hư ảo

Cho núi thêm ngời ánh tịch huân

Đã biết viễn phương là mộng mị

Nào hay cố quận cũng phong trần

Hoa quen băng giá, chào tin nắng

Một nụ đầu cành, điểm điểm Xuân!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

(xướng)

Nhánh Cỏ Mùa Đông

Sao tuyết phủ nhòa nhánh cỏ non

Như mùa đông lạnh kín tâm hồn

Thanh thanh lá gọi chiều xuân thắm

Tim tím hoa vương bụi nắng mòn

Nét bút lặng thầm khơi dĩ vãng

Giọt sương trầm mặc ngát hoàng hôn

Có chi chiếu rạng mười phương khói

Lấp lánh vàng pha cuối viễn thôn

 

(họa)

 Sương Vẽ Mắt

Nhánh đông rủ tuyết, ánh xanh non

Tỏa khí xuân dương bát ngát hồn

Cho nắng cài hoa mầm cỏ lạnh

Để sương vẽ mắt lối mây mòn

Lung linh sao tỏ miền quang rạng

Biêng biếc trăng soi cõi ám hôn

Nhã đạm duyên thiên, màu thủy mặc

Hóa văn bàng bạc phủ sơn thôn!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

(xướng)

 Qua Phong Trúc Am

 Mây tỏa đồi sương trắng một màu

 Nửa gian nhà cỏ khuất ngàn dâu

 Cúc lay ngoài giậu, hoa sao vắng

 Bóng ngã bên thềm, nắng mãi đâu

 Lặng lẽ sân rêu, ngày gọi nhớ

 Bâng khuâng ngõ trúc, gió nương sầu

 Chừng như người vẫn thường lên núi

 Hái nhánh hoàng hôn gởi cuối thâu

 

 (họa)

 V Ngàn Thâu

Dường như mây khói chẳng phai màu

Một thoáng lòng, thương mấy biển dâu

Thơ ghé đồi lan, hương để lại

Gió qua rừng trúc, tiếng tìm đâu

Mênh mông giọt nắng, vàng hiên nhớ

Bát ngát làn sương, trăng nỗi sầu

Có lúc cô liêu hồn đỉnh biếc

Bên trời, cánh nhạn vỗ ngàn thâu!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (xướng)

Trăng Nhớ Chiều Xa

Sương khói bâng khuâng nhuộm nắng tà

Quê mình mây trắng khuất ngàn xa

Ngày về bước mỏi... đâu còn mãi

Nẻo đến thu phai... vẫn cứ là

Chiều xuống lá rơi, sầu bến nước

Năm về gió thoảng, úa cành hoa

Bên hoàng hôn lạnh, vầng trăng lạnh

Có phải trăng kia cũng nhớ nhà!

 

(họa)

Thu Gầy

Non mây ngơ ngác bóng dương tà

Một thoáng bên trời cánh nhạn xa

Hạt ngọc bụi sương, màu cứ vẫn...

Câu thơ, bùn tuyết, ánh như là...

Hắt hiu núi xế, chim về tổ

Liu lắt thu gầy, cõi nở hoa

Hiên lạnh, long lanh vàng lá trúc

Mới hay trăng sáng mấy quê nhà!

 

VỤNG VỀ NGẪU BÚT

Non sâu, am vắng nhẹ niềm vui!

Rau muối, tương dưa, lạy Phật trời!

Trà sớm, trầm thơm, thơ cổ vịnh

Chợ chiều, gót bụi, gậy thiền chơi

Mấy trang văn vụng rơi đầy áng

Một mảnh trăng khuya lạc cuối đồi

Đọt trúc vươn cao, vàng ửng biếc

Thế tình, sương lá, giọt hàn rơi!

 (17/9 Nhâm Thân)

 

NHÀ THƠ TRƯƠNG QUÂN

 (họa).

Am trúc, rừng sim, vẫn sống vui!

Rau trồng, gạo giã, đón chim trời

Đỗ cành mai nhã, oanh chào hỏi

Nương cánh mây nhàn, hạc đến chơi

Kinh thả tình thơ, xuôi mộng suối

Chuông đưa hồn bướm, lượn hoa đồi

Sắc hương dịu thoảng không gian rộng

Nhỏ giọt thời gian, sương lá rơi!

(24/10/92)

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (họa)

Trên đỉnh bình minh chim hót vui

Hòa trong sương trắng ngát phương trời

Cành thông trầm mặc, nghe hương thoảng

Cánh bướm mơ màng, duỗi nắng chơi

Quên dáng thu xưa về cuối bãi

Gọi làn mây nổi lạc bên đồi

Có ai đi mãi ngoài muôn dặm

Còn lắng theo chiều tiếng lá rơi!

 

MẦM ĐÁ XANH

Lặng giữa non cao giấc tuế miên

Chợt nghe đất vỡ nức chồi duyên

Tình không, bút vẫy, xao mây đốm

Cành mộng, hoa khai, chớp mắt thiền

Cỡi nhánh trầm thơm, thơ dạo cảnh

Rẽ luồng gió tía, hạc chơi miền

Biết hay, lửa lạnh, xanh mầm đá!

Cát ngọc lung linh điểm chợ triền!

 

NHÀ THƠ THANH NHƠN

 (họa)

Rừng núi thênh thang giấc tịnh miên

Thông reo, chim hót, gió đưa duyên

Suối dâng ý đạo khơi mầm đá

Sương giáng tâm kinh vọng nẻo thiền

Y bát bốn mùa gieo vạn pháp

Bút hoa sớm tối điểm trăm miền

An nhiên một cõi yên hà tại

Gậy trúc chân như bóng cuối triền

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

Non cao êm ả giấc du miên

 Gậy trúc mơ màng bước hóa duyên

 Vách nguyệt, sương gieo vần kệ pháp

 Lũng mây, suối tụng khúc ca thiền

 Hương Lăng-già quyện thơm nghìn cõi

 Hoa Tuyết sơn ươm, thắm vạn miền

 Rạo rực men trăng cành lá động

 Áo xuân phơi phới khoác xanh triền

 

LÁ TÍA

Một phím tơ xưa thoảng cổ đồng

Vân du ghé lại quán thu phong

Hoa reo đinh biếc, hương ngàn gió

Trăng mọc chợ vàng, sắc úa đông

Mây trắng đường về, thương cố quận

Bút tre mực vẩy, hiển chơn không

Hoàng hôn lá tía ngời non thắm

Bóng hiện muôn trùng cõi nước sông!

 

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

(hòa họa)

Áng mây xưa nhớ cõi huyền đồng

Theo gió tìm về am Trúc Phong

Bóng núi sương che mờ quạnh vắng

Nhánh đồi xuân tỏa ngát mênh mông

Vui chung trà sớm, phai bờ khói

Đón ánh trăng chiều, lặng tiếng không

Cánh nhạn muôn trùng lên đỉnh biếc

Chừng quên chiếc bóng lạnh dòng sông

 

XANH MÁI CHỮ

Nhớ bến sông chiều, thơ viễn phương

 Đến đi phiêu hốt, gió ngàn hương

 Trăng xanh, mái chữ, màu lan nhã

 Hoa trắng, hiên văn, sắc thảo đường

 Khe lạnh, dế giun hòa ngữ điệu

 Bút cùn, mây khói dệt từ chương

 Vô tình chiếc nhạn mờ thu giá

 Cành trúc sân ngoài trĩu hạt sương!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

(họa)

Từng trang thơ biếc gởi muôn phương

Còn thoảng thêm hoa bát ngát hương

Núi tỏa làn mây hòa cuối khói

Thu cài tiếng gió lạnh bên đường

Tiếc xuân hồng nhạn vương bao mộng

Buồn nắng hoàng hôn lạc mấy chương

Vẫn biết ánh dương về mọi nẻo

Dù cho non thẳm có mù sương!

 

TÙNG XANH MỞ MẮT

Năm mới, vần thơ thắp cõi huyền

Tình không, nhã đạm, phúc dương thiên

Hai lần mai nở, xem thời khí

Mấy lượt đào rơi, hiểu thế duyên

Mở mắt, tùng xanh xem phố tục

Vén trăng, trúc biếc ngắm non tiên

Chữ câu thanh thoát, chờ cao sĩ

Bút nét tinh anh, tiếp trí hiền

Du tử khói sương, cười hệ lụy

Nhàn tăng y bát, mỉm ưu phiền

Càn khôn mở chốt, tâm thường tại

Thanh thản dòng xuân lướt bóng thuyền!

 

THU XA VẮNG

Nào nỡ sao thu trắng hững hờ?

Giọt trăng, giọt mực, giọt thờ ơ!

Nỗi mây vẽ mãi màu xa vắng

Phiến mộng cài thêm sắc lặng tờ

Lau cỏ bâng khuâng, ngây ngọn bút

Khói hương man mác, níu vần thơ

Non lam, đinh tía sầu thương hải

Chim lạc hoàng hôn, lạc cõi bờ!

 

VESAK

Đê đầu cung kỉnh nén thi hương

Phật Đản uy linh phụng cúng dường

Tâm cảnh chứa chan màu tịnh lạc

Thảo lan phơi phới sắc thanh lương

Nắng vàng rải mật, sơn kim tượng

Gió nhẹ gieo tơ, dệt thiện đường

Đất chuyển, chim ngân lời diệu pháp

Trời rung, nhạc trỗi khúc văn chương

Xoa tay lụy đỏ, lìa hư ảo

Nâng cánh sen xanh, hiểu mộng thường

Mây nước non ngàn thay áo mới

Vườn thơ, rừng chữ, khối châu sương!

 

QUÊN TRÂU

Tìm trâu chẳng thấy dấu trâu nào!

Sơn thủy hữu tình đẹp xiết bao!

Bến cũ, mây pha màu thủy lực

Vườn xuân, sương thắm nụ mai đào

Buông tay dốc thẳm, vui non lặng

Bỏ áo bụi hồng, ngủ núi cao!

Yên ả sông vàng, trăng gợn tí

Hương từ nguồn cội ngút ngàn sao!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

(họa)

Nhớ Về An Lạc

 Dõi ánh mây xa nhớ chốn nào

 Nhớ về chùa cũ biết là bao

 Người khơi trí tuệ, lời châu ngọc

 Bút tỏa từ bi, nhánh trúc đào

 Đưa kẻ bình yên lên đỉnh biếc

 Cho thơ thanh thoát vượt trời cao

 Dầu xa xôi quá, miền an lạc

 Mà ánh châu hương, vạn ánh sao!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 

 (xướng)

Cành Xuân

 Nắng mưa nào khép bóng thời gian

 Ngày tháng theo xuân nở đóa vàng

 Với cánh hương dâng hồn nắng cũ

 Cho mùa cỏ ngát tiếng thơ vang

 Cành lê nguyên đán mây nào nhớ

 Chiếc én hoài hương mộng chẳng tàn

 Như đã cùng xuân quen thuở trước

 Nụ cười nhẹ thoảng gấm hoa đan!

 

TIÊU SÁI

(họa)

Năm tháng hư hồ chuyện thế gian

Sứ xuân mang thiếp đóa tâm vàng

Để hương cửa động lay hình bóng

Để gió phương trời lặng tiếng vang!

Bút mở then sương, tình nắng ấm

Đêm chong nến chữ, lửa đông tàn

Duyên thiền tiêu sái màu sương tuyết

Hoa cỏ vườn chùa vẻ gấm đan!

 

VỠ TRẮNG BỜ

Một nửa hồn là một nửa thơ

Nửa thân hạc biển, nửa sương mờ

Mênh mang tâm cảnh, màu thanh nhẹ

Bát ngát trời mây, sắc lặng tờ

Bóng trúc trăng soi, niềm nhã nhã

Cành lau chữ viết, nét phơ phơ

Cô liêu chợt nở mầm hoa đá

Một thoáng thiên hư vỡ trắng bờ!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (họa)

Người đem mây nối kết thành thơ

Rồi thả ngàn phương cõi bụi mờ

Để núi đồi xanh, chiều lặng gió

Cho am mây biếc, nắng vương tờ

Đỉnh cao nhớ trúc, trăng vò võ

Mộng trắng tàn sương, tóc bạc phơ

Nào biết ai lên miền tĩnh mịch

Cho hoàng hôn trắng thoáng qua bờ!

 

NHỚ THẠCH ĐẦU

Có lúc mùa thu về đã lâu

Bóng ta xa hút chẳng tìm đâu

Lời vàng rụng xuống lao chao chữ

Tứ trắng bày lên lú nhú sầu

Sương khói lắt liu tình vạn quán

Tháng năm mê miết chuyện nghìn dâu

Về thôi! Liêu vắng, trăng thiền lạnh!

Cạn chén hư linh, nhớ thạch đầu! "

 

PHẬT VỀ!

Năm sắc mây lành rợp biển khơi

Phật về! Nắng lụa dệt khung trời

Xua bao tăm tối, cơn mơ kiếp

Xóa bấy thương đau, giấc mộng người

Tuệ sáng soi tâm, phiền lắng dịu

Trí trong dõi niệm, khổ xa rời

Diệu kinh vằng vặc, trăng lưu bóng

Thắng pháp lung linh, chữ hiện lời

Cát bụi, chân không - tình mấy thuở

Gió sương, áo mảnh - hạnh bao đời

Phạm vương, Thiên đế quỳ cung ngưỡng

Chiếu diệu hào quang mãi rạng ngời!

  • Tích “Ngoạn thạch điểm đầu”

 

THƠ THẨN

 (thơ song điệp)

Thẩn thẩn, thơ thơ suốt cả đời

 Bằng bằng, trắc trắc khổ công chơi

 Khi vui - tắn tắn, tươi tươi chữ

 Lúc bực - nhăn nhăn, nhó nhó lời

 Bọt bọt, bèo bèo - thương giọt mực

 Hoa hoa, đốm đốm - xót con người

 Ai còn nước nước, trăng trăng đó!

 Bút bút, nghiên nghiên chán quá trời!

 

NON XUÂN

 (thơ tiệt hạ)

Đẫy giấc non Xuân cứ ngỡ là...

Bốn mùa ngủ mộng lại thành ra...

Đào mai vườn cũ, dường như thế...

Tùng trúc hiện xưa, cứ thế mà...

Nét bút thênh thang, còn mãi hứng...

Câu thơ lấp lánh, hẵng chưa nhòa...

Một miền Sơn Thượng Huyền Không vẫn...

Đâu đó tình thiền hãy với ta...

 

GIÓ ĐƯA LẠI

 

Ô hay! Phong tống ngọc nhân lai!

Tiên tử, tao ông thản gót chơi

Lều cỏ, hoa hương rải lối

Hiên không, trắng gió đưa lời

Lĩnh cao, văn dẫn hồn thanh khí

Lũng thấp, thơ vương áo thiện hài

Nắng hạ, tàn che mây ngũ sắc

Ngờ đâu, trần thể hiện bồng nhai!

 

TRONG NGOÀI CÕI

Bụi cát lao xao mờ mắt tục

Ít thanh trong, lắm trò nhơ đục

Ao bùn xó chợ, chú loi ngoi!

Hố rác bên hè, thằng lúc nhúc!

Việc tốt chẳng làm: Lòng táo khô

Mầm xanh không dưỡng: Cây hư mục

Buông tay tám vạn có cần chi

Đại trí thảnh thơi lìa cõi dục

 

CHÚC VU VƠ

 

Vô lượng tiếng lời, vô lượng Xuân

Đất trời sông núi mới như tân

Thông tùng thay vỏ, uy cương cốt

Sỏi đá tróc rêu, hiển tục trần

Chúc giọt sương chiều đùa lữ quán

Chúc làn nắng sớm cợt phong vân

Chúc cành hoa dại vươn tràn suối

Chúc khóm trúc già tỏa rợp sân

Nhạc điệu dế giun cung hợp xướng

Ca từ cóc nhái nốt đồng ngân

Chúc ong hút nhụy đầy no mật

Chúc kiến tha mồi cứng mạnh chân

Nàng buớm hóa hình lìa mộng cảnh

Chị cò thoát kiếp hiểu tiền thân

Chợ vàng cá ngáp, tôm lên giá

Phố đỏ voi leo, chó thiệt phần

Thấy đĩa nhặng bu - thương trọc phú

Xem mâm ruồi đậu - mến thanh bần

Vu vơ lắm chuyện, vu vơ mãi

Xuân chúc làm người: Nhân vị nhân!

 

CÚNG PHẬT

(Đề bàn thờ Phật)

Phật tự xưa ngàn trú rỗng không

Chập chùng danh lý bước thong dong

Vẽ tâm, ngơ ngác, màu yên lặng

Họa tướng, mơ màng, sắc trắng trong

Mượn khóm lan vàng, trăng hé nụ

Đốt câu thơ cũ, khói đơm bông

Mực sương, bút trúc hòa hương bối

Níu áo mây qua tạc mấy dòng!

 

 NHÀ THƠ NGUYỄN

(họa)

Vàng son phù thế nhẹ bằng không

Kiền Trắc đêm vàng vụt ruỗi dong

Tám nẻo, hương sen, trần gạn đục

Bốn bề, mưa pháp, tục khơi trong

Đạo ươm thiền vị, xanh non Thứu

Lý tỏa vô ưu, thắm cõi Bồng

Sương tuyết ba nghìn, ơi hỡi mộng!

Từ phen bể khổ nước khơi dòng!

 

GIÓ ĐƯA LẠI

 ( Quý tặng cụ Trúc Lâm, chư thi hữu

 Nguyễn, Nguyệt Đình, Thùy Bảo)

 Ô hay! Phong tống ngọc nhân lai!

 Tiên từ, tao ông thản gót chơi

 Lều trúc, hiên tùng, hương có nội

 Cơm rau, trà sói, gió non vời

 Lĩnh cao, văn dẫn hồn thanh khí

 Lũng thấp, thơ vương gót thiện hài

 Nắng hạ, tàn che mây ngũ sắc

 Nào hay ở núi có Bồng Lai!

(23/3 Tân Mùi)

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

 Sơn Phương nào khác cảnh Bồng Lai

 Tiên tục hòa vui một cuộc chơi

 Gậy trúc, tao ông non tuyệt đỉnh

 Am tranh, thiền khách mộng cao vời

 Nắng vàng đủng đỉnh vương hướng núi

 Mây trắng thong dong vọng tiếng hài

 Chợt nhớ người xưa hoan hỷ đón

 Ô hay "bằng hữu viên phương lai”!

 

 

NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH

(họa)

Rủ nhau sửa túi dạo Bồng Lai

Hương đạo, tình văn nhớ ghé chơi

Nhà cỏ nằm nghe chim gáy thoảng

Thềm rêu ngồi lắng phiếm ngân vời

Bình thơ gió lộng tung con chữ

Vịnh cảnh, hoa gieo đóng dấu hài

Bình thủy tương giao mây thắm sắc

Non tiên nào dễ gót trần lai!

 

NHÀ THƠ THÙY BẢO

(họa)

Triều Sơn một cõi tựa Bồng Lai

Mặc khách ai người hãy viếng chơi

Gió thoảng hương rừng len núi thẳm

Trăng xanh ánh mộng dát non vời

Ngày lên, nắng vẽ tranh vân cẩu

Đêm xuống, chim nghe tiếng thảo hài

Thiền viện bốn mùa luôn rộng mở

Đón mời " tứ hải ngọc nhân lai”!

 

ĐÊM TRĂNG NHÀ CỎ

Thanh khí, tư lâu cách khói sương

 Hỏi thăm, ẩn giả vẫn an thường

 Bên trời, sao lẻ, hồn nhân sĩ

 Trên án, đèn khuya, bút thiện lương

 Xao xuyến, hồ trăng chao chiếc nhạn

 Bâng khuâng, nhà cỏ thoảng làn hương

 Lặng nhìn ngõ trúc vờn mây trắng

 Nằm mộng, đêm nay, hạc ghé vườn!

 

NHÀ THƠ TRƯƠNG QUÂN

 (họa)

 Trăng về lều cỏ nép rừng sương

 Nhắn hộ ai kia "giấc mộng thường”

 Tự tại thong dong đường lạc đạo

 Lụy trần vương vấn bước thừa lương

 Song thưa lồng nguyệt mờ nhân ảnh

 Gót nhẹ chờ hoa thoảng dạ hương

 Hai hướng đêm dài chung nỗi nhớ

 Nơi đây sao lẻ lạnh bên vườn !

       (Cư xá Thanh Đa, Sài Gòn)

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

Triều sơn một cõi trắng then sương

Chưa hẳn Linh Sơn đã khác thường

Am trúc, trăng in tình cố cựu

Thềm mây, gió thoảng khúc thừa lương

Chừng mơ dáng truyện, xuân ngời sắc

Thầm nhớ vần thơ, đạo ngát hương

 Hài cỏ thung dung về viện sách

 Như nhiên, thế sự thản qua vườn!

(16/05/1991)

 

NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI

 (họa)

 Một thuyền thanh khí gió cùng sương

Tô điểm trang nghiêm chữ thị thường

 Vào chốn bụi trần, nguồn pháp vũ

 Đến nơi nhà lửa, ngọn thanh lương

 Đá kia lắm lúc xuất kỳ ngọc

 Xạ nọ nhiều khi tỏa dị hương

 Nắng đã lên rồi, hoa đã thắm

 Muôn chim giục giã hót quanh vườn!

 

NHÀ THƠ THÚY BẢO

 (họa)

Mơ màng nhà cỏ lẫn trong sương

Trăng bạc lung linh ánh diệu thường

Áng sách hoài mong người tiết khí

Đèn trăng mãi vọng khách hiền lương

Lao xao gió núi, xui mơ nhạc

Thoang thoảng hoa rừng, gợi nhớ hương

Bóng trúc nghiêng nghiêng lay cổng trúc

Tưởng ai, thi khách ghé thăm vườn!

 

NHÀ THƠ MẠNH HỒ

 (họa)

Rằng nghe chốn ấy đẹp mù sương

Lũng thấp, đồi cao - cảnh lạc thường

Thanh khí chứa chan xao mộng mị

Nhàn vân bàng bạc dứt từ lương

Lều tranh đêm xuống, trăng nghiêng bóng

Ngõ trúc chiều lên, gió thoảng hương

Muốn viếng Triều Sơn, tâm, họa bút!

Đành thôi, thiếp nhận ghé thăm vườn!

 

CHÙA MIẾN

Tham quan chùa Miến-điện

Chừ thắp hương cầu nguyện

Xin Phật mãi thiêng linh

Mong đời còn thánh thiện

Bạt sơn dựng tháp hoa

Khắc đá lưu kinh điển

Hạnh phúc một lần đi

Trăm năm buông quyến niệm!

 

THU CHỜ

Chờ mãi chờ ai giữa biển dâu

Chờ tâm ngọc trắng, tuyết thêm mầu

Chờ chàng lãng tử quăng hồ nậm

Chờ khách phong trần cởi dép lau

Chờ bạn giang hồ vong dặm lữ

Chờ trang hảo hán hạ cương đao

Chờ tay kiếm mã tung yên giáp

Chờ chí anh hùng buộc vó câu

Chờ gió tri âm xao vạn thuở

Chờ hương tri kỷ tỏa nghìn thâu

Thế gian bấy kẻ lòng muôn trượng

Phẩy bút hư không, phóng thoại đầu!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

Thu Hẹn

Hẹn khi lửa hạ xế ngành dâu

Hẹn lúc kim phong chuyển ý mầu

Hẹn nước luân lưu dòng ngọc biếc

Hẹn non rực rỡ bóng cờ lau

Hẹn hương minh nguyệt lên thiền các

Hẹn sắc thiên thanh tỏa giới đao

Hẹn cánh ngân hà tung viễn mộng

Hẹn gây lãng khách giục thần câu

Hẹn mưa cam lộ năm châu rải

Hẹn nậm hồ lô bốn bể thâu

Giữa cõi càn khôn, tâm chẳng trụ

Lung linh mặt nhật chiếu sơn đầu!

 

------------------------

Lòng thiền vằng vặc trăng ba cõi

Rừng trúc mênh mông bạn một đời!

------------------------

Chấm sơn điểm thủy thiền đôi nét

Phẩy hạc lăng vân đạo bấy tình

-------------------------

 

TỨ HAIKU!

 (Tặng học giả Phan Minh Trị)

Tứ haiku ít chữ

Thếp vàng, cổ kính tâm

 Phượng, ngô đồng, La Thập

 Sáo, ti trúc, Thế Thân

 Rừng sách, trăng ẩn sĩ

 Vườn văn, hương mặc lan

 Chái đông, tình bút lặng

 Vô vật, vĩnh vô trần!

 

KHÔ MỘC

 (Tặng Võ Văn Quân)

Lữ khách lên non, áo trắng mây

Đá nằm khô mộc hóa xanh cây

Qua miền trí nhớ, trăng đeo mắt

Đến cõi tình quên, bụi phủi tay

Ý bút đỉnh cao, sương khói ngại

Hồn hoa núi vắng, sắc hương bay

Giữa lòng sơn thủy, du du ngoại

Cõi cánh thơ xưa dạo cuộc nầy!

 

XUÂN NGỰA

Khai bút đầu xuân lấy vận hên

Năm nỉ mã đáo, thiếu chi tiền?

Năm qua, việc nghĩa mần đôi chút!

Năm tới, chuyện đời hất một bên!

Thành bại, buồn vui - so thử kiếm

Nhục vinh, thua được - tập loan khiên

Thung dung dép cỏ, trăng đầu trượng

Sương mực, trang trời, thú bút nghiên!

 

CHÁY CHỮ

 (Mến tặng Song Nguyên

Mặc Vị Nhân, Tú Rưa)

Lỡ quen hạc chiếc chơi non quạnh

Lại mến trăng gầy lạc phố khuya

Thơ đã khóc thơ, hồn đá vỡ!

Bút còn vẫy bút, giọt sương chia!

Gieo hoài ý thắm, hoa mây nọ

 Rỉ mãi tim hồng, ngõ chợ kia

 Nhớ bạn, nến soi tìm chữ cháy

 Hóa ra lửa lạnh táp biên bìa!

 

 

GỐI CHỮ

Chợt đâu chim khách reo ngàn trúc

Cây cỏ quanh vườn mở hội ha?

Nắng ấm vén mây xem đào chợ

Sương xanh phủi bụi ngắm lan nhà

Buồn vui chẳng thiệt dăm tờ lịch

Thua được đâu hơn mấy cuộc trà

Bàn sách gầy hương chờ bạn quý

Then cài, gối chữ đón xuân qua!

 

GÀ CON

 Xuân, chú gà con đã nở rồi

 Bao năm vỏ trứng bít bùng ôi!

 Dày sâu lạnh tối, càng ươm lực

 Ngốt chật uế phàm, vẫn nén phôi

 Sương gió, rỉa lông, chân cứng cựa

 Nắng mưa, mở mắt, bụng no mồi!

Tung tăng, chíp chíp, vui ngày tháng

 Lượm hạt hồn nhiên sống tuyệt vời!

------------------------

 

 

THƯ PHÁP

Bút quậy mãi hoài lông rụng hết

Gỗ tre trơ cán, mực trườn đau

Nét ngang hóa đá, tình trơn nhẫy.

Sổ dọc thành gai, nghĩa trượt nhàu

Danh lợi bơi sông, thuyền thủng đáy

Từ từ lặn suối, cá đùa câu!

Sương rừng rơi giọt, khe gom lại

Xuân viết non cao, chữ bạc đầu!

 

VĂN SÁCH

Ba cục trầm, hương một chút nhen

Chừ xuân điếc lãng, Tết ho hen

Quyển xưa lần giở, trang rây mọt

Sách mới dò xem, nghĩa vấy ghèn

Hàng hiệu, tìm mua, kinh trộn rác

Đồ thùng, rao bán, đạo bôi đen

Thì thôi, giấy trắng, trăng là chữ

Thơm sánh thiên văn? Cũng bỏ bèn!

 

 

TUỆ MÂY CHIỀU

Lá vẫy, đông tàn, nắng ấm sân

Rừng thay áo mới, sắc thanh tân

Đào mai nở thắm, hoa tươi rạng

Tùng trúc vươn xanh, lá biếc ngần

Núi sớm định thiền, tâm lắng lại

Mây chiều tuệ quán, trí trong dần

Vui thay trời đất, xuân vô lượng

Tình đạo muôn nơi, quý bội phần!

 

TRIỀU SƠN PHƯƠNG

 (Đề cảnh Huyền Không Sơn Thượng)

Cảnh ẩn bên trời, khói lẫn sương

Chầu quanh ba ngọn: Triều Sơn Phương

Chập chờn triền đá, thơ lưu khách

Róc rách lưng đồi, suối dẫn hương

Đứng giữa sim mua, tùng đại trượng

 Hòa cùng tràm chổi, trúc hiền lương

 Một lều đọc sách đầy trăng gió

 Dép cỏ, nón lau, giấc mộng thường!

 

TRANG TƠ BỐI

(Đề thự phòng)

Hoa cỏ ngàn phương, hương thoảng về

Phòng văn, lãng đãng mây sơn khê

Lời thơ lấp lánh, trăng hòa bút

Ý đạo vi vu, gió khởi đề

Kim cổ, vô tình, qua trước ngõ

Mộng chơn, bất hoặc, hiện đầu mi

Đèn mờ, sao tỏ, trang tơ bối

Bụi trắng còn thương mực hữu vi!

 

SƯƠNG TRONG

(Tặng tác giả Ngọn Cỏ Mặt Trời)

Mỗi giọt sương trong, một mặt trời!

Ai hay ngọn cỏ, nắng tim người!

Bóng hình mây nước loang từng chữ

Mày mặt hoa gương rạng nỗi đời

Bèo nở sông hồ, hương ngát núi

Lá reo gió cát, mộng xanh khơi

Về trăng tròn khuyết miền tao ngộ

Tiếng nhạc thiên thu lộng tự vời!

 

GIỌT ẢNH

(Tặng Nhà thơ Huyền Chân Ảnh)

Xuân phùng tri kỷ bấy cùng nay

Đất Á, trời Âu chợt cõi này

Mai tuyệt lung linh, cành một điểm

Trúc phong phơi phới, lá nghìn bay

Tình thơ mây trắng hòa tâm cảnh

Ý đạo hương thiền lướt tỉnh say

Am cỏ đông hàn, sương ngọc tụ

Giọt Chân, giọt Ảnh lạ lùng thay!

 

TAM HỢP

Mừng ngày Tam Hợp ghé nhân gian

Chúc cõi thương sinh nhẹ khổ nàn

Chúc luống cày sâu gieo mạ tốt

Chúc vườn cây ốm nở hoa vàng

Chúc nhà thiện hữu thơm hiền đức

Chúc mái thiền môn âm đạo tràng

Chúc pháp trong tâm màu tươi tắn

Chúc người giữa chợ phước thênh thang

Chúc tăng, chúc tục câu thường lạc

Chúc bạn, chúc người chữ diệu an

Chúc khắp năm châu vui thắng hội

Mừng mùa Vesak hiển vinh quang!

 

TRANG NGHIÊM MỘNG

(Đề phòng ngủ)

Vẫn biết đến đi, sinh tử thường!

Trang nghiêm tình thức, khí thanh lương

Vào chơi ngục lửa, mắt hun khói

Đến viếng nhà lan, áo ướp hương

Ngủ giấc chân nhân, hồn bướm mộng?

Sống đời lãng tử, tóc mây vương?

Lòng trong, cảnh lặng, miền nhiên đạm

Hồ điệp, Trang Chu thản cuối vườn!

 

NHÀ THƠ MẶC VỊ NHÂN

 (hòa họa)

Đến, đi thanh thoát bước vô thường

Rẽ gió rong thuyền hướng thiện lương

Áo tỏ màu trăng bừng lối cỏ

Gậy khua rừng trúc dậy ngàn hương

Tâm không nhẹ lướt trên đầu sóng

 Mầm đạo căng đầy giữa hạt sương

 Đá lạnh bâng khuâng tình núi thẳm

 Hồn thơ nở trắng mộng soi đường...

 

BÓNG TÌM GƯƠNG

Một cành hoa núi đón tinh sương

Lặng lẽ sắc thu, nhật nguyệt thường!

Gọi gió, non xanh, lời lữ khách?

Hỏi mây, biển tím, sóng tha hương?

Phiêu bồng cánh én, chào xuân cũ

Phơi phới đồi lau, vẫy nắng hường

Muốn vẽ chữ tâm trời tự tại

Chợt nghe ngơ ngác bóng tìm gương!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (họa)

Bên núi xuân nào lạnh khói sương

Chờ ai hoa nở đóa chân thường

Cành lê trắng điểm, đồi dâng nắng

Giậu cúc vàng bay, gió tỏa hương

Phương cũ đã qua bờ mộng thắm

Rừng xưa còn ngát nhánh lan hường

Bình minh trở giấc trên làn suối

Một thoáng phiêu bồng rạng ánh gương

 

AM MÂY GIÓ

Suối đổ ầm ầm vách núi đông

Sấm ngang, chớp dọc xé tầng không

Biển sâu, sóng cuộn, oai kinh ngạc!

Non lạnh mưa tuôn, ngạo hạc hồng!

Cỏ dại an nhiên nương cột đá

Chim ngàn tự tại núp đồi thông

Am mây, mây gió tình quen biết

Xin hãy vào chơi chớ bận lòng!

 

NHÀ THƠ TRƯƠNG QUÂN

 (họa)

Mặc ráng hồng tây, mưa trắng đông

Nâu sòng ẩn dật chốn non không

Pháp thiền xóa nghiệp thân hồ hải

Cửa Phật cầm chân kiếp nhạn hồng

Thả bước nhìn trăng cài ngọn trúc

Ngâm thơ cười sóng gợn đồi thông

Am mây bầu bạn cùng mây gió

Cao giọng kinh đưa, tịnh cõi lòng!

 

LUMBINI

Vin cành lộc thắm - mẹ khai duyên

Bảy bước, nhân gian trổ phước điền

Ngưỡng vọng, Phạm thiên che lọng trắng

Tín thành, Long chúa cúng mưa tiên

Cỏ cây bát ngát hương tinh khiết

Mây nước lung linh sắc diệu huyền

Mở chốt càn khôn, thông hữu hạn

Nắm vầng nhật nguyệt, tỏ vô biên

Hoa đơm mật hạnh thơm ba cõi

Pháp thắp bi tâm sáng sáu miền

Mệnh hậu, Mãyã chơi Đẩu Suất

Vô ưu từ đó nở không viên!

 

ĐIẾU THI

(Bà cụ thân sinh Nguyễn thi gia)

Bút khai hòa điếu lệ tang đường

Một chữ thâm tình, một nén hương

Thang thuốc chưa nguôi niềm hiếu hạnh

Cháo cơm khôn tiếp mệnh diên trường

Vị ân dưỡng dục, buồn sinh tử

Cảm nghĩa cù lao, hận tuế sương

Nghiên đọng tri âm vầng nguyệt đọng

Ngàn thu man mác vọng cung thương!

 (HK, 15/7/Đinh Mão)

 

DANH RẠNG TỔ ĐƯỜNG

 (Kính tặng Đại gia đình

 Nguyệt Đình, Miên Như)

Danh rạng muôn thu phúc Tổ đường

Hỷ hòa, phụng họa khúc văn chương

Tông môn, son ấn Vinh Xuân hiển

Gia hệ, thanh lưu Kế Võ trường

Tiên thế, thiện tài, đương hưởng lộc

Kim nhân, đức chủng, hậu thừa lương

Xương minh trăm vẻ, khôi tinh tại

Phương thảo sinh từ tâm địa hương!

 

THANH NHÀN CHỮ NGŨ

 

 (Tặng Ngũ Xa Thơ tiên sinh)

 Xuân về mừng tuổi bác Vinh An

 Mừng mái tóc xanh, trăng điểm vàng

 Mừng cháu con nhiều, lan quế biếc

 Mừng văn tự rộng, biển trời quang

 Mừng câu thi xã, khi cười phầy!

 Mừng áng thư hương, lúc bút đàm!

 Tết đến ngồi khà, chân chữ ngũ!

 Rượu tiên, thơ thánh thú thanh nhàn!

 

HIỀN SĨ MAI VÀNG

 (Tặng Hoàng thi gia)

Hồn nhiên thanh khí tỏa lâng lâng

Nhả ngọc, phun hương phải một lần!

Cẩm tú ươm hoa, xưa y cựu

Tinh ba nẩy lộc, mới như tân

Tao ông hạc trắng, thơ lưu cảnh

Hiền sĩ mai vàng, trắng điểm sân

Tịnh mãn hư không, phương bút họa

Tờ văn, ý thảo - chúc tâm xuân!

 

NHÀ THƠ TRƯƠNG THIỀU

 (xướng)

Thơ Xuân

Huy hoàng xuân mới trở về đây

Lịch nhã đầy trang rộng tháng ngày

Én cũ trời xưa tung cánh lượn

Mai già đất cỗi thả hương bay

Đã xanh non cỏ sầu dâu biển

Còn trắng hồn thơ mộng gió mây

Nâng chén mừng nhau mùa ước hội

Men nồng hy vọng nhấp cho say!

 (Cư xá Thanh Đa, Sài Gòn)

 

XUÂN BIẾNG LƯỜI

 (họa)

Núi cũ, am xưa - vẫn ở đây!

Bên nhau vui vẻ tháng năm ngày

Nước sương mặc sức màu non vẽ

Hoa cỏ tha hồ hương gió bay

Đã thỏa suối trong, xa bụi chợ

Còn vương bóng mộng, dạo trăng mây

Tơ đồng rung phím, thơ ai đó?.

 Có kẻ biếng lười, xuân ngủ say!

 

TẶNG THI HỮU NGUYỄN

 

1. Mai Lão Ngọa

Xuân về chợt nhớ gác Khuê Văn

Lặng lẽ mài nghiên, tả mấy vần

Thắm thiết hoa thơ, hương đức trạch

Mênh mông thảo trúc, sắc cao lâm

Ấn son trung hậu trao trời biếc

Chữ trắng vô biên gởi gió ngàn

Tuyết điểm non cao, mai lão ngọa

Tri âm đầu núi, khí thênh thang!

 

2. Trăng Ẩn Sĩ

 

Lồng lộng gác Khuê gió thoảng trầm

Văn xương tinh đầu kết thư tâm

Xiển minh thi cảo, lòng khiêm, hiếu

Bảo trọng gia tàng, ngọc trí, nhân

Đủng đỉnh, trúc tùng, chơi Khổng miếu

Thong dong, vân hạc, dạo Thiền lâm

U nhã, thanh hư, trăng ẩn sĩ

Bút đề, sương khói, áng linh vân

 

3. Giếng Cổ

Vui xuân lòng giếng cổ !

Hoa, đá, chiên đàn hương!

Nắng mới chào khách quý

Tình xanh ẩn lộc hường

Cõi hiền nhân đạm nhã

Gác quân tử thanh lương

Đạo đời tình đẩu rạng

An Hỷ đáo phúc đường!

               (Xuân Mậu Dần)

 

TẶNG THI HỮU NGUYỆT ĐÌNH

1. Bút Nguyệt

Xuân về chợt nhớ Nguyệt Đình quân

Vội vã tờ hoa thảo mấy vần

Tiên tửu bạn già vui huyễn mộng

Thảo hài dấu tuyết cợt hư vân

Cỗi mai hữu dụng, cây ươm lộc

Khóm trúc vô vi, bút hiển thần

Thanh khí đời này ai biết nhỉ!

Đất trời thơm ngát tỏa phân phân!

 

 

2. Gởi Nguyệt Đình Trang

 Xuân nay Thôi Hiệu lên không cốc

 Kế viếng Đình Trăng, văn các chơi

 Chỉ bút mấy câu, hoa nở đá

 Đạo đàm vài cuộc, nước về khơi

 Hạc vàng phiêu hốt, hồn tung cánh

 Giấy trắng lung linh, chữ mỉm cười

 Lão hủ tóc mây, thơ mộng nhỉ!

 Sư già áo bạc, khói sương ôi!

 Văn chương thanh khí, tình như núi

 Phong vận tài hoa, lộc của trời

 Tiêu sái, sơn liêu, mai hạc hữu

 Kình nghê đông hải, quẫy càng vui!

 

HƯƠNG CỔ MỘC

(Tặng Nhà Thơ Lê Văn Lợi)

Xuân về thiếp thảo gửi Lê quân

Năm mới tửu tiên, cốc liễu trần

Lan quế thềm văn, cành thịnh mãn

Phúc tài tổ ấm, nụ thanh tân

Ung dung, thanh cảnh thu tầm mắt

Nhàn nhã, hư danh phất cuối sân

Đằm thắm, vẻ nhà hương cổ mộc

Bức tranh thủy mặc xuyết hoa vân

 

GỌI ĐÒ

(Tặng thi ông Quách Tấn)

 Tao ông tịch mịch cõi đông phương

 Hun hút ngàn mây quảy mộng trường

 Dòng thế đục lờ, đau nửa mắt

 Hình nhân sáng rỡ, lộ toàn gương

 Hư tình văn mặc hòa châu lệ

 Cổ mộc bách tùng xuất dị hương

 Hoa đốm lung linh màu cố quận

 Gọi đò một tiếng lạnh tà dương!

 

NHÀ THƠ QUÁCH TẤN

 (nguyên vận)

1. Nguyên Tiêu Ất Mão

Từ sớm, mây mưa ủ bóng chiều

Gió trăng đành phụ tiết nguyên tiêu

Sân mai ngấn lệ, hương gầy gõ

Đài sáp ngời thu, bút hắt hiu

Mắt nghẹn, nhớ thương nghìn dặm bấc

Đời riêng, ấm lạnh một cành liêu

Đoàn viên tưởng lại bao năm cũ

Lai láng trang thơ, ngọn thủy triều!

 

THẢN HƯ TRIỀU

 (họa)

Tà dương, bóng trúc, áng mây chiều

Lặng lẽ xa ngàn vọng tiếng tiêu

Bút vẽ mảnh hồn, trăng biếc biếc

Thơ cài cành mộng, gió hiu hiu

Sâm thương, vạn khoảnh, soi trường vọng

Ngưu đẩu, muôn đời, chiếu tịch liêu

Bão loạn xôn xao ngoài dặm hải

Quay lưng, sơn thạch, thản hư triều!

(1980)

2- Giọt Tơ Đồng

Lầu xuân, máu rỉ giọt tơ đồng

Thổi lạnh từng cơn ngọn sóc phong

Gầy gọ, trăng treo cành chạng vạng

Ngập ngừng, sương rụng má hừng đông

Thương đời khó nỗi dằn ly hận

Nén lệ chờ khi khóc tái phùng

Điệu dứt, thanh âm còn chửa dứt

Trời mây bốn mặt sóng lung linh

 

CHUNG GIAI ĐIỆU

 (họa)

Vận cũ, trúc ti ứa lệ đồng

Còn thương mây bạc nỗi thu phong

Nến thơ, đạo nghĩa, trăng non Thứu

Mực bút, nhân tình, nước bể Đông

Những ước hoàng hoa vườn hạnh ngộ

Lại mong thúy trúc cõi tương phùng

Tiếng lòng thiên cổ chung giai điệu

Thánh thót tơ vàng động hiển linh!

(1980)

 

3. Điểm Canh

 

Giọt lệ Tiên Điền khóc Tiểu Thanh

 Mình riêng nhỏ lệ khóc riêng mình

 Nửa đời ngọn thép un mây thắm

Một nhoáng lòng dâu trút biển xanh

Trăng nước có thương vần độc tỉnh

Lửa hương đành phụ giá liên thành

Tìm về núi cũ xem mai nở

Mộng bén ngàn xa, hạc điểm canh!

 

VÔ THANH

 (họa)

Ba trăm năm hậu, khúc vô thanh

Cổ lục, khói hương thoảng bóng mình

Ngọn bút huyễn hư, dâu ruộng biếc

Trang mây ảo hóa, biển ngàn xanh

Níu trăng, sóng hỡi, mơ đành chịu

Quét bụi, trúc ơi, mộng chửa thành

Đêm vắng, rừng tùng xao tán lá

Am không, giun dế điểm tàn canh!

(1980)

 

4- Viếng Mộ Hàn Mặc Tử

Khói hương phảng phất nẻo u huyền

Cỏ ấm lưng ghềnh giấc cửu nguyên

Nghiệp vững nghìn thu, văn hữu mệnh

Tình xe chín khúc, mối vô duyên

Chờ trăng cổ độ vương cành trúc

Ngăn giọt tùng rơi lệ đỗ quyên

Lòng biển thêm sâu ngày tháng cũ

Ven mây thấp thoáng bóng du thuyền

 

GIỌT LỆ HUYỀN

 (họa)

Rỉ máu khóc trăng giọt lệ huyền

Hỡi ơi! Muôn thuở khối tình nguyên

Gió mây hờ hững chao ngàn sóng

Sương nước ơ thờ lạc bến duyên

Nào phải Trang Chu hồn mộng bướm

Cũng không Thục Đế dạ sầu quyên

Bên đàng nắm cỏ, xưa còn vẫn

Hương khói ghềnh cao, khách lữ thuyền!

(1980)

 

VÂN HẠC HỮU

 (Tặng đạo sĩ Huyền Linh Tử)

 Xuân chừ chuyết bút tặng mừng ôn

 Niên tuế tuyết sương, thọ mãi còn!

 Đạo pháp, vô biên, trăng tịnh hải

 Chơn tâm, diệu trạm, khói huyền môn

 Áo tiên khinh khoát chơi bồng nhược

 Thơ thánh ung dung phất diệu hồn

 Trời đất Đường thi, vân hạc hữu

 Mai già tiêu sái, nụ cao sơn!

 (1980)

 

ĐÔNG ĐÀM HÀN MÃN THIÊN

 (Tặng Ngũ Xa Thơ tiên sinh)

Tứ đại bất hòa chưa viếng bác

Mà nay thi lão tặng tình thơ

Vắt tim, chữ giọt, trúc lòng rồng

 Bóp trán, vẫn gieo, nguyệt ý mờ

Sau trước, loay hoay cây lẫn đá

Trong ngoài, lẩn thẩn mộng cùng mơ

 Nỗi đời khắc khoải, non xa thẳm

Việc đạo trở trăn, biển lặng tờ

Núi cũ, người xưa, chân hạc luyến

Sân xưa, bạn cũ, cội mai chờ

Mưa Đông, che chắn, thương hoa mảnh

Gió bấc, ngăn rào, xót cỏ tơ!

Đời luận chẳng thông, thông khế lý

Đạo đàm khôn được, được duyên cơ

Vĩnh vô hồi thủ, trường giang thủy

Mấy cuộc tao phùng, thiên địa sơ!

Chữ về cửa Phật, thơ thanh tĩnh

Bút đến thềm văn, nét diệu trần

Phố chợ ngược xuôi, lòng tịnh thủy!

Đường đời lui tới, áng nhàn vân!

Thuyền qua "bến trúc”, trăng tròn vạnh

Bát ngát gia trang nức xạ trầm! 

 

KHÓI SƯƠNG VĂN MẶC

 (Đề tặng Huế trong thơ Nguyệt Đình)

Gươm đàn quẩy gói dạo non sông

Bầu rượu, túi thơ cuộc lữ bồng

Phong nhã vẫn quen mùi gió bụi

Hào hoa chưa thẹn khách Tây Đông

So tơ, u khoát xao Tiền Hán

Phóng bút, khinh phiêu lướt Thịnh Đường

Thả bước nhàn du thăm Khổng, Thích

Khói sương văn mặc dáng tao ông!

 

HƯƠNG ƯNG BÌNH

 (Tặng Nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương)

Sao văn, sao khúc chiếu thư trang

Bát ngát trời thanh, nguyệt dặm hàng

Rung phím đàn xưa, tơ điệp điệp

Lẩy câu thơ cũ, dạ mang mang

Giọng hò Vĩ Dạ, tình viên cảnh

Tiếng hát Ưng Bình, nghĩa đế quan

Lá ngọc, cành vàng, son dấu ấn

Lò trầm Tuy Lý, ngát Hương giang!

 

 

XUÂN GIÁO NGHIỆP

(Tặng Nhà Thơ Tường Nguyên)

Xuân về mừng Tết bác Tường Nguyên

 Khoác áo Lão Trang, mũ thánh hiền

 Mừng đóa vô ưu, cài thiện nghiệp

 Mừng trang hạnh phúc, nối tân niên

 Thư nhàn hoa đốm, câu hành đạo

 Tịch tịnh gương trăng, chữ tọa thiền

 Thơ thảo trà xanh, vui họp mặt

 Nụ cười trung hậu tặng vô biên!

 

PHƯƠNG ĐỊA HỮU

(Tặng Nhà Thờ Mạnh Hồ)

 Xuân về chúc Tết Mạnh Hồ quân

 Xa cách lâu lâu gặp lại mừng

 Nhớ thuở lội rừng, phương địa hữu

 Mừng đêm họa bút, thảo vân am

 Đậm đà lộc thắm, mai thêm nụ

 Thanh thản tâm vui, ý trổ vàng

 Tiếng pháo chào Xuân thơm khói lạ

 Thềm hoa, thơ mới, tứ thênh thang!

 

NỤ VĨNH XƯƠNG

 (Tặng Nhà Thơ Thùy Bảo)

Một cõi phúc môn, một ấm đường!

Vàng mai rực rỡ, ngát trầm hương

 Phải kia câu Tết, điều pha tía

 Hay đấy cành Xuân, đỏ thắm hường

 Ơn Phật vợ hiền, gương hiếu hạnh

 Phúc trời con thảo, khí thanh dương

 Non cao, tuyết mẫu, tùng niên thọ

 Mừng chúc toàn gia nụ vĩnh xương!

 

DỆT CÁT TƯỜNG

 (Tặng thầy Phú)

 Thanh thản ai người viếng thảo phương!

 Chừ nay lại nhớ vóc mai sương!

 Giữa trần, vô sự, nhìn thêm tỏ

 Góc núi, an vi, ngẫm lại thường

 Chúc Tết hạo nhiên, tùng trúc cốt

 Chúc Xuân văn vẻ, quế lan hương

 Đào hoa Nguyên đán thêu phong độ

Chữ đức, chữ tâm dệt cát tường!

 

KINH CHỮ

 (Tặng Nhà Thơ Tĩnh Mặc)

 Cánh thiệp sắc Xuân, mừng Tĩnh Mặc

 Hạo nhiên, Nguyên đán nở chơn không

 Chưa về, cánh én, mai đầy lộc

 Đã nhớ, bài thơ, đạo thắm hồng

 Trên gác sách, hoa tâm mãn hạnh

 Tại thềm văn, đóa tuệ viên thông

 Có khi thử vẽ lên dòng suối

 Một chữ là kinh, vạn chữ đồng!

 

ĐẠO TÌNH

(Tặng cụ Phan Trúc Lâm)

 Xuân đáo nhân gian,Tết đáo đường

 Đất trời óng ả khí thanh dương

 Phúc dày trổ lá chào hoan hỷ

 Đất rộng dang tay đón cát tường

 Nhân ái muôn đời thêu gấm vóc

 Đạo tình vạn thuở dệt hoa hương

 Nắng vàng ấm áp thềm lan quế

 Chim đậu cành vui hót líu lường!

 

BỤI NGỌC

(Tặng chị Khoa Việt)

 Xuân về xa vợi khách tri tâm

 Lan thiệp, bối thư thoảng xạ trầm

 Tứ tuyệt, thơ gieo câu Phạm vũ

 Bút sương, trăng dệt chữ viên âm

 Thiền đàm, vô ngại, tâm hư tĩnh

 Thế luận, an nhiên, trí ngoại trần

 Hạt bụi tuyết mai trong tựa ngọc

 Thong dong viễn mộng, cựu nghinh tân!

 

TRÀ XUÂN

 

Xuân đến với đời, lại cả ta!

Tóc xanh chưa bạc lại mau già

Phất lèo bỏ nặng, thơ càng nhẹ

Quẳng tít xin thua, trí đặng hòa

Ý khí trời cho, nên giữ tiết

Cỏ cây đất tặng, cố ươm hoa

Dặm trần sương khói màu khinh khoát

Một núi! Một non! Nhất ẩm trà!

 

VỀ THỔ NGỌA

 

(Tặng Nhà Thơ Linh Giang Tử)

Thổ Ngọa, chừ Xuân, chắc phải vui

Trong ta có Phật, dĩ nhiên rồi!

Dâng đăng, tỏ suốt, lòng bao chuyện

Phụng trái, đầy no, phước mấy đời

Chữ lợi, chữ tài, lầm thua được

Chữ văn, chữ tuệ, hiểu đầy vơi

 Duyên thiên hỷ lạc, an vị tại

 Bát-nhã tâm kinh nở biển trời!

 

TỨ THẬP DƯ NIÊN CẢM VỊNH

Đã bốn mươi tư mượn tuổi trời

Cũng mừng trong đục, nước dòng trôi

Phúc gầy mà nhận nhiều ân đạo

Đức mỏng lại xen lắm việc đời

Đắc thất, canh trường, tâm chiếu một

Thị phi, giấc vắn, trí lìa đôi

Cỗi tùng gió động, tình tân ngộ

 Khóm trúc trăng lay, nghĩa cố hồi

 Đá đứng, cỏ nằm, thường tại cả

 Chim reo, hoa nở, tự nhiên thôi

 Xuân nhân khởi vọng, xao tìm vận

 Hiền hữu, chư quân bỏ quá lời!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

 Chẳng thẹn trăm năm giữa đất trời

 Công hầu khanh tướng mặc dòng trôi

 Mười phương đủng đỉnh hai vai đạo

Tám nẻo ung dung nửa gánh đời

 Đắc thất, lắng tâm ngoài cửa tục

 Thị phi, đoạn ý ngoại vòng đôi

Trúc xưa, Linh Thứu, sương bao độ

 Tùng cũ, Già Lam, tuyết mấy hồi

 Nhuần đức, bội lan, duyên đá cỏ

 Thắm tình, phương thảo, bút xao thôi

 Bốn mươi lẻ bốn, xuân thường tại

 Đinh Mão, mừng sư, kính họa lời

(7/3 Đinh Mão)

 

CHỮ HOA ĐỐM

(Tặng Nhà Thơ Tĩnh Mặc,

 cảm tạ mấy bài thiền thi chữ Hán)

 Tình không, xao hoa đốm

 Bút vọng vẫy nên Xuân

 Chữ - phi hư, phi thực

 Nghĩa - vô Phật, vô tâm

 Mai đào hoa y cựu

 Lan trúc lộc như tân

 Gác bên sông "tĩnh mặc”

 Thơ thiền tỏa khánh vân!

-----------------

Chờ gió tri âm xao vạn thuở

Chờ hương tri kỷ tỏa nghìn thâu!

-------------------

Đứng giữa sim mua tùng đại trượng

Hòa cùng tràm chổi trúc hiền lương

------------------

 

 XUÂN ẨN MẶC

(Năm 47 Tuổi)

Ôn gẫm năm qua thử được chi?

Được chi rồi cũng có ra gì

Đã gần hố huyệt, thêm bao nả?

Lại sắp da mồi, chẳng mấy khi?

Phải trái, miệng câm như ngố dại

Thiệt hơn, tai điếc tợ trơ lì

Năm nay ngựa đến thành công cả

Ta rút vào non để ngủ khì!

 

Ta rút vào non để ngủ khì

Phong trần, cỏ rác cũng sân si!

Xun xoe xe ngựa, Xuân thiên hạ

Thanh thản thơ văn, bạn cố tri

Nhân nghĩa, nước cau bờ hữu hạn

Đạo thiền, mây rợp núi vô vi

Dẫu thương, dẫu trọng, bờ môi cả

Ta khổ riêng ta, tích sự gì!

 

Ta khổ riêng ta tích sự gì!

Tủi thân đại trượng, chí nam nhi

Gánh chơi trời đất, vai gầy guộc

Uống thử sông hồ, bụng tí ti

Thẹn Lão, non huyền, dòm cửa khói

Hổ Trang, bướm mộng, khép rèm mi

Nửa đêm thức giấc, sương đầu gối

Giun dế quanh rừng réo rỉ ri!

 

Giun dế quanh rừng réo rỉ ri!

Giữa dòng trong đục, có sao hi?

Đạo đời nghĩa trọng, cay cay mắt

Tăng tục tình thâm, xót xót mi

Đá đứng non cao, sương tuyết phủ!

Cỏ nằm lũng thấp, gió mưa khi!

Thương ta tuổi xế, nhìn chưa tỏ

Xuất xứ, vào ra, có lỗi gì?

 

Xuất xứ, vào ra, có lỗi gì?

Tùng đông sương đọng giọt li ti

Túi thơ nửa cuộc, trăng trường mộng

Đãy sách chung đường, gió hữu vi

Đâu biết tọa vong là vẫn tỉnh?

Nào hay nhĩ thuận cứ còn đi?

Núi chầu, rồng ẩn - tranh phong thủy

Phủi cuộc, nằm khoeo, ấy cũng kỳ!

Phủi cuộc, nằm khoeo, ấy cũng kỳ!

Chẳng đâu cố quận để an tri

Xao con nước cũ, đôi lần bởi...

Buông mái chèo xưa, một bến vì...

Bới nát cổ thư, gom cảo lục?

Dẫm mòn Đông độ, gánh tà huy?

Nhạn qua hồ lặng, ai in bóng?

Ngữ thoại đá đeo, óc nặng chì!

 

Ngữ thoại đá đeo, óc nặng chì

Bởi tham, bởi kiến, bởi ưu bi?

Công thành, nắng quái, khô can phế!

Thân thoái, mưa thâm, lạnh cốt bì!

Trăng rải vần thơ, sương ngại xóa?

Chim ngân điệu hát, gió buồn ghi?

Mây hôm xuống thấp lòng man mác

Sao lẻ bên ngàn, chút kỷ tri!

 

Sao lẻ bên ngàn, chút kỷ tri!

Trần gian xong nợ sẽ ra đi

Gác chèo, thuyền ngủ, quên muôn sự

Chống gậy, non chơi, thú bốn bề

Bạn cũ, nước trong, khe suối đá

Rừng xưa, canh ngọt, cọng rau vi

Đạo ta, một chữ, tìm không thấy

Tâm cảnh như như, có huyễn gì!

 (Triều Sơn Phương, kỷ niệm ngày vừa xây dựng hoàn thành cầu Bạch Yến, 1991)

 

HUYỀN CHÂN ẢNH

 (Tặng nhà thơ Ngọc Quế)

Cũng tình, cũng cảnh, cũng chơn không!

Như biển lên nguồn lướt dặm sông

Chẻ đá "hoa khai” viên ngọc trắng

Vén trăng "vi tiếu” sợi thơ hồng

Tuổi xanh hạo khí treo đầu núi

Tóc bạc u nhàn ngủ cội thông

Một giọt sương huyn, chân ảnh hiện

Lung linh mây nước mặt trời Đông!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

(họa)

Cõi Huyền Không

Ai biết người về với biển không

Biển nào tiếp nhận những dòng sông

Bến hư vô ngỡ là cơn gió

Khói hạo nhiên như nở đóa hồng

Thanh thản chiều vui bên mái cỏ

Bình yên ngày lặng dưới đồi thông

Sóng triều lớp lớp nghìn tâm ảnh

Vẫn thấy mặt trời hiện cuối Đông!

 

HỒ HẢI

(Tặng họa sĩ Dương Cẩm Chương

 phu quân Nhà Thơ Ngọc Quế)

 Dạo gót phong trần trải bốn phương

 Lãng du hồ hải, tuyết pha sương

 Tài hoa ngọc điểm, trăng mài cọ

 Lộc phúc vàng trau, cẩm dệt chương

 Mai trúc, sân văn, tìm bắc đẩu

 Quế hòe, hiên hiếu, tiếp triêu dương

 Cửu tuần thượng thọ đùa niên tuế

 Vui nghĩa, vui tình, vui cố hương!

 

CẢM TẠ

Cảm tạ đất trời, cảm tạ Xuân

Cảm hiền quân tử, quý tri âm

Cảm thời đông giá, mây cao lãnh

Cảm tiết xuân ôn, khí cố nhân

Cảm đá, cảm gai, chân đại trượng

Cảm thơ, cảm bút, khí lăng vân!

Cảm người, cảm vật, tình muôn loại

Cảm tạ vui buồn, gió thế tâm!

 

TIỂU HỔ

Đại hổ hung hăng, tiểu hổ hiền

Bây chừ Xuân đến núi non tiên

Hồn như cánh bướm, thênh thang cõi

Lòng tợ đài gương, lấp lánh miền

Mượn hạt cát thô mài đóa ngọc

Mượn làn khói tía vẽ trăng thiền

Rừng xưa đại định nhờ ơn Phật

Chút cảnh, chút tình, thượng đẳng duyên!

 

MỘNG HÓA!

Ta thương sư Phật Ân

Ta cảm Tô Đông Pha

Gió bụi trêu thi khách

Mưa nắng cợt đốm hoa

Chàng Vương thiền họa với...

Bác Lý tửu tiên và...

Mai Lâm bày quán trọ

Hô biến, mộng hóa ra!

 

TỰ CẢM

Đường mây phất nhẹ áo hư không

Phước báu thế gian, ngọn cỏ bồng

Hoa trái lợi danh, người hái lộc

Vàng son tài đức, kẻ tranh công

Sớm hôm gió mát, ân ngàn trúc

Ngày tháng non xanh, nghĩa vạn tòng

Đã đến, đã đi, không mảy bụi

Hành tàng như thị thảy đầu lông!

 

MỘNG TRUNG LẠC BÚT

Trong mộng, thơ ai thấy dị thường

Tài hoa thiên cổ mấy ai đương?

Nghiêm trung ngọn bút - từ, bi mẫn

Ý ngoại hồn văn - tuệ, kiếm thương

Nhật nguyệt bạt ngàn, tâm chiếu rọi

Cổ kim lồng lộng, đức noi gương

Hạo nhiên nốc cạn sầu, ai, ố

Tự tại ngâm tràn tuyết, vụ, sương

Vào chợ, thõng tay đùa lão hủ

Dạo thuyền, nâng phím nhạo tiên nương

So tơ, quân tử dây chùng ngón

Tuốt kiếm, anh hùng ngựa rối cương

Choáng núi, che sông, cao vạn trượng

Thôi hàng, xao chữ, rộng nghìn chương

Gọi so Đường Hán không người đáp

Vẫy đọ Lý Trần chẳng kẻ đương

Bút Việt, Lạc long ngời nhuệ khí

Hồn thiền Đông độ ngát thanh hương

Đối nhân, nào há mùi danh lắm

Xử thế, chưa hề bá lợi vương

Một chí, một tình, trời đất biết

Một tâm, một dạ, biển sông lường

Vu vơ thăng giáng đùa long, hổ

Vi vút khứ lai cợt Lãi, Trương

 

Gót gió tiêu dao chơi mộng cảnh

Áo trăng nhàn nhã khoác thiên lương

Tịch không, nước chảy trôi xao xác

Tĩnh lặng, mây bay trượt nhố nhương

Có lúc mắt xanh, vui bạn lữ

Có lần mắt trắng, liếc đô phường

Bạc vàng, xưa đã đem đùm rác

Thân thế, nay chừ tấp hố mương

Đường thế nghêu ngao, thơ cộm túi

Phòng văn phấp phới, nguyệt đầy rương

Khi chuyền cành gãy, quên nguyên quán

Vượn hú rừng sâu, vọng cố hương

Để mặc người ngu, tranh thượng hạ

Để dành kẻ trí, luận nhu cương

Gió mây mờ mịt trò tang hải

Sương khói bơ ngơ lẽ đoạn thường

 

Biển lớn lao xao thuyền viễn mộng

Sông dài khinh khoát gió thanh lương

Hứng hàm, phẩy bút tung ma chướng

Phỉ chí, lăng tâm chấp quỷ vương

Tuy thế, nghĩ cùng, còn mộng mị

Bèn như, tính tận, vẫn lươn ương

Là nhân, là quả, tâm trong suốt

Là xấu, là nên, trí tỏ tường

Lão Tử, trâu xanh du ngoại xứ

Đạt Ma, dép cỏ lạc hà phương

Tùy thiền, tùy định, bùng cao tuệ

Bởi bệnh, bởi đời, tỏa dược hương

Không ngã, không nhân, không chỗ đoạn

Chẳng hư, chẳng thực, chẳng duyên thường

Vốn nòi thơ thẩn ưa du hí

Xướng vận cho vui, ấy cũng dường!...

 

SƯ TUỆ TÂM

(hòa ý)

Cưu mang chi nữa, hỡi ơi đời!

Đã nặng kiếp người giữa biển khơi

Cuộc thế khen ai còn đuổi bóng

Trần gian thương kẻ vẫn rình mồi!

Ba sinh duyên nợ âu là thế

Cơm áo gạo tiền hẵng tại trời!

Ai kẻ phất tay xua ảo mộng

Kìa nom dâu bể, một trò cười!

 

XUÂN SƠN PHƯƠNG

( Thuận nghịch đọc)

Mây trời nhẹ thoáng cảnh Sơn Phương

Phật xứ vui nhàn khí tỏa hương

Cây lá hoa thơ tâm tĩnh tại

Sách đèn kinh pháp trí an thường

Bay vờn khói tía tùng khêu bút

Động khẽ trăng xanh trúc viết chương

Đầy chữ đốm lan sân cỏ ướt

Tây hiên gió lạnh đá xao sương!

 

(đọc ngược)

Sương xao đá lạnh gió hiên Tây

Ướt cỏ sân lan đốm chữ đầy

Chương viết trúc xanh trăng khẽ động

Bút khêu tùng tía khói vờn bay

Thường an trí pháp kinh đèn sách

Tại tĩnh tâm thơ hoa lá cây

Hương tỏa khí nhàn vui xứ Phật

Phương Sơn cảnh thoáng nhẹ trời mây!

 (Có thể đọc thành trên dưới 100 bài khác nhau, theo loại thơ 6 chữ, 5 chữ, 4 chữ, 3 chữ. Nếu là 6 chữ thì bỏ chữ đầu, đọc thuận; bỏ chữ sau, đọc nghịch. Và cứ tuần tự như thế. Ví dụ: Thuận: Trời nhẹ thoáng, cảnh Sơn Phương. Xứ vui nhàn, khí tỏa hương... Nghịch: Xao đá lạnh, gió hiên Tây. Cỏ sân lan, đốm chữ đầy... Sau khi đọc loại 6 chữ xuống 3 chữ hết rồi, ta có thể bỏ chữ thứ 2, đọc xuôi, bỏ chữ thứ 2, đọc ngược. Ví dụ: Bỏ chữ thứ 2: Thuận - Sương đá lạnh, gió hiện Tây. Ướt sân lan, đốm chữ đầy... Nghịch - Mây nhẹ thoáng, Cảnh Sơn Phương. Phật vui nhàn, khí tỏa hương...

Rồi cứ tuần tự bỏ chữ thứ 3, bỏ chữ thứ 4, bỏ chữ thứ 5 - đọc xuôi ngược. Cuối cùng là đọc 1 chữ cách 1 chữ, cách 2 chữ, đọc bỏ 2 chữ cách 1 chữ,cách 2 chữ... rồi cũng đọc xuôi ngược như thế. Ví dụ: Bỏ chữ thứ 2, bỏ chữ thứ 4 - đọc thuận: Mây nhẹ, cảnh Sơn Phương. Phật vui, khí tỏa hương... Đọc nghịch: Sương đá, gió hiên Tây. Ướt sân, đốm chữ đầy...)

 

KHÚC TIÊU TAO

 (Khoản thủ thi Tặng nghệ sĩ Thanh Hải)

 Tiếng lời ai vỗ khúc tiêu tao

 Hồ hải còn không sóng dạt dào?

 Ánh nguyệt đá vàng phơi lũng quạnh

 Nỗi lòng mây trắng phủ non cao

 Hoặc thơ góp gởi tình biêng biếc

 Hay núi xây nên chỉ dạt dào

 Ai hỡi! ngàn sau hoàng hạc khứ

 Im nghe đất vũ phụng hoàng lâu!

(Sài Gòn, 1982)

 

XUÂN GIÁP THÂN, TỰ VỊNH

(Vĩ tam thanh)

Sáu mươi sương tuyết rỉ rì ri

Cái tuổi, cái xuân khí khỉ khì

Lóng thẳng, trúc vươn tưng tửng tửng

Mắt vui, hoa nở hỉ hì hi

Chuyện đời sẽ phải tất tần tật

Việc đạo còn vương tí tỉ tì

Đóng cửa non sâu phe phẻ phẻ

Thưa rằng chẳng hiểu chỉ chì chi!

 

HOÀI CỐ TRI TIẾU TÁC

(Tặng Minh Trần đạo nhân)

 Minh Trần Đới, đạo sĩ, hề hề!

 Phố thị ni lâu, quảy gót quê!

 Tóc núi mấy tầng, bay lãng ngãng!

 Râu rừng bao sợi, rủ le phe!

 Mộng về, nhấc Đá, quăng tràn biển

 Tình đến, xoay Trần, tống lụt khe

 Linh Thứu, phất tay, cười rổn rảng

 Gánh thơ vào chợ, nhậu vài be!

 

Xuống chợ lên non cũng "dzậy” hề!

 Biết đâu là mộng, biết đâu quê?

 Ăn no, dạ có rầu rưng rức?

Quạt mát, lòng không phất phẩy phe

 Đá dựng Lô Sơn, che diện mục!

 Trần về tục phố, lấp Tào Khê

 Lân la cõi cõi đùa chơi một

 Sư Giới làm sao nhấc nổi be?

 

Một gói càn khôn nhẹ hễnh hề!

Sá gì viễn mộng, sá gì quê!

Mãnh sư xuống núi, không vầy bọn

Cô hạc xa nguồn, chẳng họp phe

Bụi đá Tây ngươn dày cổ lục

Rêu trần Đông độ phủ triều khê

Thi tăng tiếu vấn Minh Tam Lão

Lý Bạch mò trăng nhắp mấy be?

(1980)

 

VIÊN PHƯƠNG

 (Mng cư sĩ Thông Diếu, Hội trưởng

Hội Phật Học, Tam Bảo, Đà Nẵng)

 

Thấm thoắt bao chày đã tuyết sương

 Bảy tư tuổi hạc cũng phi thường

 Đời phô mái tóc, thanh dường bạch

 Đạo ẩn trong hồn, viên thị phương!

Trí vượt Tu Di, cầu Phạm Đế

 Phúc vàng Hy Mã, nguyện Thiên Vương

 Lòng trong chẳng gợn, hoa y sắc

Ý thắm khôn phai, nhụy tự hương

 Pháp tại nhãn tiền, vô cố ngộ!

 Bảo trầm thủy để, hữu duyên phùng!

 Khoanh tay thế đạo, non xanh mãi

 Khánh hỷ lòng ai nhật nguyệt hường!

 (1982)

 

TIẾU SINH NHƯ THỬ

 (Tặng GĐ Hưng Tiếu, Liên Huê)

Hết bảy tư xuân, thú một đời

Ưa thơ ưa bạn, tiếu sinh thôi !

Nghĩ cơn phù thế còn bao cuộc?

Gẫm cái vinh gia được mấy hồi?

 

Tựa bóng câu nhòa, chân gió thoảng !

In hình nước gợn, đáy sông trôi!

Ê a ba chữ, trăng hầu vịnh

Ú ớ dăm ly, chữ tiếp bồi

 

Lặng lẽ trong ngoài, thân chẳng luỵ

Im lìm sau trước, lạc khôn vơi

Êm êm ngày lại ngày lương tiết

Nhè nhẹ năm qua năm hỷ thời

 

Huyền sắc non ngàn ai mượn chốn

U hương rừng thẳm kẻ lần nơi

Êm hòa hạ bút, văn ngưng tứ

Khiêm ái nâng chung, tửu tuyệt lời

Hiền tử chẳng duyên, ngư điều nói?

 Anh tôn vô cớ, lá hoa cười?

 Nết trong dáng thúy, tâm trau rạng

 Hạnh ngoại gương nga, ngọc trác ngời

 

Nước chảy ngàn năm hình núi dọi

Hồ nằm thiên cổ bóng lòng soi

An nhàn những đóa Liên Huê ấy

Trụ lý thường như Hưng Tiếu hoài!

 

NHỚ NÚI

Dựng núi mà sao nhớ núi ghê!

 Nhớ sương, nhớ nước, nhớ trăng về

 Nhớ chiều lãng đãng, vân tùng họa

 Nhớ sớm thong dong, lan trúc đề

 Nhớ chiếc hài đơn, chân dặm mộng

 Nhớ con ngựa ký, vó đường mê!

 Nhớ thơ tri kỷ, hương trà quyện

 Nhớ khí, nhớ thần, nhớ cố quê!

 

TỰ VUI

(Đề Phong Trúc Am)

Thanh tĩnh vô vi một cõi này

 Làm thơ, vẽ núi tặng cho mây

 Lúc co, hạt cải xem còn rộng

 Lúc duỗi, trăm phương đọ chẳng tày

 Mảy bụi phiền lao, không dám giữ

 Đầu lông kiến hoặc, thả trôi bay

 Khách hiền ghé lại ly trà ấm

 Bạn tốt thăm chơi bát nước đầy

 Gió sớm thảnh thơi qua ngõ trúc

 Trăng vàng tĩnh lặng ngủ non tây

 Xuân thu kinh kệ không còn nhớ

 Ơn Phật, tươi vui chữ hiển bày!

 

TÌNH NON LẶNG

Huyền diệu, càn khôn, không hết nhẽ

Vần xoay, luân chuyển, xuân thời lai!

Duyên thơ, hóa bướm tung phương khách

Nghiệp bút, tung mây lướt dặm hài

Thiền đã cho mình soi mộng triệu

Đời còn giúp bạn hiểu trần ai

Gặp nhau núi cũ, tình non lặng

Lấp lánh nắng vàng dạo ngõ mai!

 

XUÂN BẠN CŨ

 (Đề chúc thầy giáo khóa 2 SPQN

 và các khóa khác)

 Già tuổi, vầng trăng nửa

 Thơ xuân, chữ mỉm cười

 Tuế sương vui bao bấy

 Nhật nguyệt hưởng nhiều thôi

 Mầm nảy, sân hòe quế

 Lộc đơm, thềm trúc mai

 Xoa tay cùng nhĩ thuận!

 Giáo án mực son tươi!

 

THI HƯƠNG

Tân niên khai bút, bút khai chương

 Linh khí Huyền sơn, ý diệu thường

Cao vút lưng mây, Thìn thoái vị

Thẳm sâu lòng đất, Tỵ lên vương

Thuyền từ đủng đỉnh chơi trăm cõi

 Kiếm tuệ thung dung dạo mấy đường

 Đế đạo non thiền rung ngũ nhạc

 Huy hoàng phụng hiến tứ thi hương.

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

Hiên mây rực rỡ sắc văn chương

Thi, họa giao duyên đẹp lạ thường

Hoa nở thềm Tăng, tâm tức Phật

Đạo ngời vườn Pháp, ý như Vương

Ba ngàn lãng đãng trăng Tiền Hán

Một cõi thênh thang nắng Thịnh Đường

Bát ngát non xa tình thoảng gió

Huyền Không, Nguyên đán, tứ Xuân hương!

 

XUÂN THANH

Xuân báo tin vui cửa mọi nhà

Đất trời nắng mới giọt vàng sa

Đào xưa hào phóng bung trăm nụ

Mai cũ ân cần rắc vạn hoa

Trải áo Yên Hà mời bạn lữ

Choàng vai Phương Thảo tiếp thi ca

Cửa không, thiền ý, Xuân vô tận

Tình dẫu thanh trong, tứ đậm đà!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 

 (họa)

Gót ngọc Đông quân thắm vạn nhà

Lộc trời vô tận, phúc hà sa

Én đùa sóng bạc, xua tang hải

Diều vút mây xanh, điểm mộng hoa

Rực rỡ đào hồng, Xuân hỷ tụng

Mượt mà nắng mới, Tết hoan ca

Đỉnh trầm Nguyên đán, xôn xao tứ

Tình ý lâng lâng, bút chuyển đà...

(25/01/1989)

 

NGUYỄN THI GIA

 (xướng)

 Thu Khoái

Chợt dừng ngựa sắt ở bên sông

Lắt lẻo cầu qua, mưa điểm bông

Mây bạc xôn xao dòng thệ thủy

Lá vàng rải rắc quán thu phong

Hỏi Sư, hồ núi sương um trắng

Thăm Điệu, hồng lan nụ thoảng không

 Mượn bút tiên ông đề mấy vận

 Hồn thơ khinh khoát giữa non Bồng!

 (10/8/1988)

 

THU ỨNG

 (họa)

Nhìn thấy mây ngàn thoảng quá sông

Biết rằng thu khách, áo pha bông

Ngao du chiếc ngạc, đùa thương hải

Khinh khoái thân hồng, vẫy quái phong

Hồ núi phơi tâm, tình cố quận

Lan hồng nở nụ, nghĩa chơn không

Nhã hoa, thanh thảo hòa tao vận

 Đầu bút hương bay ngát Nhược Bồng!

 

THU CẢM

Nắng quái qua sân đã nhạt màu

Thời gian lặng lẽ bước thiên thâu

Vàng dăm chiếc lá, mùa ấp ủ

Quạnh bấy vườn sương, cỏ dãi dầu

Bàng bạc mây trôi, thân vạn tượng

Mơ màng nước chảy, bóng nghìn dâu

Dặm hồng nhân thế, phong trần khách

Cổ độ tình Thu, khói thoảng sầu!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (họa)

Trời đất sang Thu đã nhạt màu

Nằm nghe lá rụng suốt canh thâu

Tuyết sương một mái, tâm dường đã...

Đạo nghĩa hai vai, sức mặc dầu...

Ngựa ruỗi Hoành sơn khi bút sử

Rồng qua Đông hải thuở cung dâu

Lên cao đủng đỉnh mây đầu trượng

Ngoảnh lại nhân gian sạch bụi sầu!

 

Ý ĐÔNG

Bút phóng bên trời chợt hóa mây

Ý tung vần vũ, gió ngàn bay

Vàng về lá nắng, mưa như sắt

Lạnh phủ cành đêm, nguyệt trở gầy

Lối cỏ, hương thiền, lan mấy nẻo

Hiên không, bóng núi, lửng ngànTây

Trần ai thánh thót, tình sương nước

Tiếng hạc sa đông, giếng cổ đầy!

 

NÚI MỘNG, GƯƠNG HỒ

 (Thi điếu Nữ sĩ Mộng Tuyết)

Ôi thôi! Núi Mộng lặn gương Hồ!

Tứ tuyệt(1) theo nhau chắp cánh thơ

Hương ngát huệ lan, hồn Bách Thảo(2)

Sắc tươi đào lý, vẻ Tiên Cô(3)

Thư trang văn mặc duyên Nàng Út (5)

Học xá (6) quỳnh lâm kết bút tơ

Tình sử hạo nhiên trăng tỏ rạng

Hà Tiên giai thoại nức Tây đô!

  • Mộng Tuyết là một trong bốn nhà thơ lớn ở Hà Tiên, được gọi là Hà Tiên tứ tuyệt. (2) Bách Thảo Sương là bút hiệu của bà. (3) Hà tiên cô cũng là một bút hiệu nữa. (4) Yễm Yễm thư trang (5) Bút hiệu. (6) Học xá Trí Đức

 

LƯỚT DÒNG PHIỀN

 (Thi điếu, bạn của Nguyễn thi gia)

Đành thôi vĩnh biệt dáng thanh hiền

Nặng áo đường trần, nhẹ cánh tiên

Lạnh lẽo Tây ngàn, sương rỉ bút

Ngậm ngùi Đông thẳm, nguyệt soi nghiên

Nghiệp thân lãng bạc, mây tang hải

Thế mệnh phiêu bồng, gió ải biên

Gởi nén tâm hương, thơ điếu tiễn

Cầu qua sinh tử, lướt dòng phiền!

 

CÕI VÔ VI

(Tặng sư cụ Nhất Tâm)

 Xưa nghe thất thập cổ lai hy

 Sư cụ trăm năm có nghĩa gì

 Óc sáng, nói năng còn đĩnh đạc

Thân gầy, lui tới vẫn uy nghi

Rỗng rang, ý đạo, đâu người sánh?

Dí dỏm, câu thơ, chẳng kẻ bì

Chữ có, chữ không, mây trắng nhẹ

Mỉm cười hoa nở cõi vô vi!

 

MAI LÃO TUYẾT SƯƠNG

 (Tặng Nữ sĩ Ngọc Quế)

Mây lành, cánh thiệp sắc tươi vui

Nữ sĩ, kinh hoa bát ngát lời

Điểm ánh sao xanh, treo mấy cõi

Chia nguồn nước biếc, tặng bao người

Từ trong cát tía, rêu hoang cỏ

Đến tận non vàng, lũng thẳm khơi

Mai lão tuyết sương, phương bối ngọc

Chừ xuân viên mãn, nguyệt tâm cười!

 

THÍCH NỮ VÔ ƯU

(Họa 5 vận bài dịch thơ chữ Hán

 "TN.TM thọ tuế... " của Nguyễn)

 Vô ưu thơm ngát đóa thơ ca

 Thích Nữ Vô Ưu chẳng trẻ già

 Chuông sớm, xót thương đời tự kỷ

 Kinh chiều, nuôi dưỡng đức duy tha

 Hai bờ tịch lặng, tâm gom lại

 Một cõi an bình, trí mở ra

Thọ tuế sơn cao, tinh đầu rạng

 Hương xông thiền uyển tỏa la đà!

 

NHÀ THƠ NGUYỄN

 (xướng)

Thăm Nguồn Tả Trạch

 Sông thơm, mạch cả, ngược thăm nguồn

 Tả Trạch, dòng ngân, bát ngát tuôn

 Ghềnh đá, nghìn năm trơ nắng gió

 Cỏ cây muôn thuở thắm vui buồn

 Mặc trời hưng phế, non vươn thẳng

 Kệ đất phong trần, nước chảy suôn

Trăm dặm thuyền bồng qua bến bãi

 Hương giang óng ả khói mây luồn

 

(họa)

 Một buổi rong chơi đến tận nguồn

 Dòng xanh cuồn cuộn, suối ngàn tuôn

 Chim ca thánh thót, rơi dòng lặng

 Sóng đập lao xao, vỡ giọt buồn

 Sương khói đầu non, hồn lướt mãi

 Trời mây đáy nước, bóng theo suôn

 Nhạt nhòa sơn thủy, tranh văn mặc

 Đàn sáo vi vu, nhạc gió luồn!

 

XUÂN HÓC KHE

Thượng Liêu, Xuân Tết có chi mô

Buốt giá non cao, cảnh lặng tờ

Cửa rách, cột dây ngăn gió chướng

Bếp tro, đốt lửa xóa mây mờ

Mắt đau, thế sự, chưa nhìn tỏ

Bụi vẩn, trần gian, chỉ dẵm hờ

Mai ngủ hóc khe chờ nắng ấm

Bút huờ đôi chữ, gọi rằng thơ!

(Kỷ niệm 2 năm nhập thất tại

Tinh Thượng Liêu, Hòn Vượn, 1993-1994)

 

CÁNH THƠ HOA

 (Họa 5 vận bài thơ của Nguyễn thi gia)

 Một mảnh vườn tâm, nhất đẳng hoa

 Thanh không chiếu diệu ánh huy tà

 Kinh xưa phơi phới màu tinh nguyệt

 Thơ mới mênh mông tứ hải hà

 Cốt trúc tươi xanh làn gió đến

 Thần mai sáng đẹp giọt sương qua

 Tân Xuân khánh thọ, duyên tròn phúc

  Hương nụ đàm huê cứ ngỡ là...

 

AN VỊ PHẬT

 (HK,15/2/ Xuân Bính Tý)

Thanh thoát, tôn nghiêm đấng Pháp vương

Hào quang diệu trí tỏa muôn phương

Bàn tay bi mẫn, lời trăng ngọc

Đôi mắt khiêm từ, ý tuyết sương

Vầng trán cao siêu ngời tuệ đạo

Nụ cười trầm tĩnh ngát tâm hương

Luật nghi, giới định ba ngàn cõi

Kinh pháp, giáo truyền tám vạn chương

Ngoại giáo, quay đầu miền chánh hạnh

Tà ma, trở gót nẻo thiên lương

Trời yên, biển lặng nhờ ơn Phật

Mây trắng thung dung hội cát tường!

 

CẢM ĐỀ

 

(Tập thơ Sắc thời gian

của thi lão Cao Đăng Tòng)

Trượng phu liễu ngộ cuộc thăng trầm

Muôn việc rồi ra quý chữ tâm

Gươm súng xông pha miền hỏa địa

Bút nghiên để lại gác văn lâm

Trái tim trăn trở niềm trung hiếu

Đáy mắt bập bùng lửa nghĩa nhân

Hưu trí, điền viên nuôi chính khí

Cư nhàn, xướng họa dưỡng thiên chân

Trăng trong, gió mát, vui hiền hữu

Ý nhẹ, lời đau, xót thứ dân

Lạc đạo, an bần, sương tuyết thắm

Cung đàn khiết nhã tấu tri âm!

 (1995)

 

DẤU THU

Dăm bảy sợi thu vắt cửa ngoài

Chừng sương đọng giọt giữa lòng ai

Non tùng dựng bút, mây choàng áo

Rừng trúc vươn cành, nắng lễnh vai

Dưng bỗng hương ngàn len cốc rạ

Hèn chi gió lạnh hé phên sài

Bạn bè nửa cuộc, phương trời khói

Mắt trắng hư tình, hạc nhớ mai!

 

NGỌN GIÓ LÀNH

Mừng đón tha phương ngọn gió lành

Tăng về vàng rực mái hiên tranh

Thanh Tâm cỏ biếc đùa sương nước

 Hàm Nguyệt trăng trong giỡn bóng hình

 Nắng sớm hồng lan khai diệu đóa

 Hồ khuya giun dế tụng tâm kinh

 Ngàn xưa hạc trắng về đâu nhỉ

 Cổ lục, cảo thơm gợi chút tình!

 

HỘI ĐOÀN

Huyền Không không hội cũng không đoàn

Đã tự đầu non, quẳng kiếm đàn

Ý đạo vài câu len khói trắng

Tình thơ đôi chữ kết hoa vàng

Hình soi nước lặng, trăng đùa bóng

Âm thoảng trúc ngàn, gió cợt vang

Buông bút, suối vui, reo vỡ đá

Nhạc trời, chim tấu khúc hòa chan!

 

THANH TAO NẾP SỐNG

(Thuận nghịch độc)

Họa thơ Tú Rua, tức Ngọc Bảo,

đăng báo số 130 Văn Nghệ TP.HCM)

Cành xanh lá gió mát đêm

Rộng thoáng hiên đường sạch bụi xe

Dành sẵn cõi trăng tình nhớ bút

Giữ luôn hồn nhạc tứ thương ve

Lành vui trống ngược khua tòm tõi

Ác xấu kèn xuôi thổi tít te

Thành sự ắt thêm trang đổi mới

Thanh tao nếp sống đã đời nghe!

 (Đọc ngược)

Nghe đời đã sống nếp cao thanh

Mới đổi trang thêm ắt sự thành

Te tít thổi xuôi kèn xấu ác

Tõi tòm khua ngược trống vui lành

Ve thương tứ nhạc hồn luôn giữ

Bút nhớ tình trăng cõi sẵn dành

Xe bụi sạch đường hiên thoáng rộng

đêm mát gió lá xanh cành!

 

PHỤNG HÒA XUÂN

(Tặng một Cành Tuyết phương trời xa)

Cành tuyết phương trời sắc trắng pha

Thi hương mấy độ ngát phương nhà

Biển xưa, sen nở, trăng tìm bút

Am cũ, xuân về, đá vẽ hoa

Ý hạt sương trong, chồi quế ngọc

Mắt màu nắng mới, nụ mai già

Én trao cánh thiếp, tung vô tận

Thanh nhã niềm vui, tứ phụng hòa!

 (Cuối Đông Quý Dậu)

 

VỊNH GỐC ĐÀO

(Đề thi Xuân)

 Bừng bừng sức sống, khí vươn cao

 Giữa cõi non xanh, nức cội đào

 Hoa khoác áo hồng, thêu bướm lụa

 Lộc đơm mắt biếc, ửng trời sao

 Bài thơ Thôi Hộ sương mờ đọng

 Câu chuyện Lưu Thần gió nhẹ xao

 Am cỏ đón Xuân vui chút mộng

 Hương tàn, sắc nhạt hóa chiêm bao!

 

HỌA ĐÁP VẬN

(với Nhà thơ Cam Lĩnh)

Tuyết ngủ non cao, tuyết chẳng già

Mù sương nửa cõi, nửa là ta

Trăng chơi ngõ trúc, Xuân vườn lặng

Gió viếng phòng hương, Tết cảnh xa

Mực suối, thơ trong, reo lách tách

Am trăng, mây tía, lượn la đà

Nụ mai biếng nở, không nhuần bút

Lại khất với thầy cái vận "la”!

(Hai bài được giải thưởng)

1. Của Sự Tánh Thuận

Một thân đào nhỏ ở Sơn Phương

Đón Tết, vui Xuân đẹp lạ thường

Hoa mởn, cánh hồng, trăng điểm ngọc

Lá non, thân tía, gió pha sương

Đào nguyên, mộng cảnh, Tăng hòa chuyện?

Tiên giới, mơ niềm, đạo tỏa hương?

Tình ấy,sắc này tươi thắm mãi

Để cho nhân thế hóa thiên đường!

 

2- Của Sư Chơn Hữu

Xuân về ửng thắm sắc đào hoa

Lộc biếc, chồi non điểm ngọc ngà

E ấp hồng nhan, chờ mộng đến?

Cợt đùa quân tử, đợi đông qua?

Biển trần cội cũ, nào ai biết?

Cuộc thế, nguồn xưa, mấy kẻ là?

Dâng tặng cho đời bao ước vọng

Tỏa hương thanh khiết khắp gần xa!

 

QUA LINH GIANG

Sông núi chiêm bao cũng ngỡ ngàng

Qua phà du Bắc vượt Linh Giang

Hoành sơn vạn đại um mây trắng

Đông hải thiên thu trải cát vàng

Mấy cuộc phụng thăng, trời nhạc vũ

Bao lần long giáng, đất ca xang

Ngược xuôi bao độ, bao hưng phế

Xanh lạnh dòng xa, sóng cuộn ngàn!

 

HẠNH XƯA

Thơ đối, đào mai - một am hoa

Xuân này cảnh vật giống năm qua

Phước duyên đạm nhã, tình bao thuở

Hạnh nguyện thanh u, nghĩa bốn mùa

Chiếc lá hiên sương, gìn nếp cũ

Câu văn áng sách, giữ nề xưa

Thầy trò, mái tóc pha xanh bạc

Kinh pháp đêm hôm, mặc gió lùa!

 

HƯƠNG THANH NHẸ

 (Trang tặng Hưng Tiếu, Liên Huê,

 đáp tạ bài thơ "Chân thành”, 19/5/82)

Vó câu giục giã bấy nhiêu năm

Trăm cuộc rồi ra chỉ một tâm

Mỏi mắt, trần xoay, nhìn chẳng tỏ

Váng đầu, cảnh đổi, biết bao lầm

Hồ xanh sen nở, hương thanh nhẹ

Núi thẳm lan phô, sắc lặng thầm

Chửa chẳng hài mây sao nhẹ gót?

Nhớ, còn - tên gọi trúc mai lâm?

 

Nhớ, còn - tên gọi trúc mai lâm?

Tuế nguyệt còn đây, sương tuyết ngâm!

Đã mỏi đường danh - trăng cợt bóng

Đã mòn gót lợi - bụi vờn tâm

Non cười Hưng Tiếu, lòng thanh thản

Hồ nụ Liên Huê, ý thậm thâm

Hai chữ chân thành, xin quý trọng,

Thả vời cao lãnh, vọng triều âm!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (xướng)

Dâng Tấm Y Vàng

Đường may hồn nhẹ những ưu phiền

Dâng tấm y vàng ngát thiện duyên

Kết sợi thời gian trầm quán niệm

Cho hương trí tuệ lắng tham thiền

Chân kim nắng xế phương chiều lạnh

Ánh mắt xuân phai bóng dáng hiền

Rồi áo có theo Người bến giác

Để thơ mây trắng cũng đoàn viên!

 

DẠO CỐ VIÊN

 (họa)

Ngồi lặng, xoa tay phủi bụi phiền

Chút tâm, chút tuệ đoạn phàm duyên

Dẫu không sợi chỉ đan y pháp

Cũng tợ đường kim dệt thảm thiền

Chưng giữa phòng thơ cành cỏ ốm

Vẽ bên khóm trúc mảnh trăng hiền

Tình văn mấy độ, nhân xanh lá

Nương cánh thơ vàng dạo cố viên!

 

ĐIỀN VIÊN

(Họa vận thơ của Linh Giang Tử).

Vô minh lửa cháy, khởi đao cung

Lửa đạn, thương ôi! Giọt máu Hùng!

Đòi đoạn núi sông, sầu nghĩa cả

Tang thương vườn ruộng, xót tình chung

Loạn ly, gió bão, rừng xa hổ

Tan tác, trời mây, biển vắng rồng

Ai thuở hạ ngươn, đời hỏi đạo,

Thử coi nhân loại mấy tâm đồng!

 

Thanh bình sông núi, bỏ đao cung

Trăng gió điền viên cuộc hỷ phùng

Khanh tướng, bèo mây phơi hải ngạn

Lợi danh, hoa đốm, lóe hư trung

Mênh mang thế sự, lòng sao lẻ!

Bát ngát nhân tình, mặt nhật chung!

Phúc đức gìn vàng, tâm giữ ngọc

Tuế hàn tam hữu: Trúc, mai, tùng!

 

HỌA ĐÁP

(Với Nhà thơ Cao Xuân Chiểu)

Một nửa hương trầm, nửa đế kinh

Nửa tâm sen báu, nửa thức, tình

Vẫn trang bối diệp, trăng thiên cổ

Vẫn mái vương cung, bút thiếp đình

Một nụ lão mai, Xuân thắm thiết?

Một vườn phương thảo, ác chênh chênh

Hạc chiều, mây trắng, nhàn Hương Ngự

Cánh chở theo hồn lướt dặm xanh!

 

HÒA DĂM VẬN

(Với Nhà Thơ Mai Khắc Ứng)

Thọ tuế bảy mươi chẳng đã ư?

Rong chơi vi vút đến bi chừ?

Cửa mây hí hửng thằng leo ngựa!

Chợ bụi xun xoe đứa cỡi lừ!

Kiếm lụt, chém sâu, đời đã tợm!

Bút cùn, múa chữ, óc chưa nhừ!

Vụng hòa với bác, vui Xuân vậy

Trăng gió cao sơn, khí thặng dư!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (xướng)

Nắng Theo Người

Trăm năm sỏi đá lạc về đâu

Đời lặng, nghiêng vai gánh chút sầu

Cơn gió chưa tàn, cơn huyễn mộng

Giọt mưa còn đọng, giọt thiên thâu

Có ai về suối nguồn vi diệu

Cho bóng vương ánh lửa nhiệm mầu

Nhánh cỏ phất phơ đùa nắng mới

Nắng theo người, nắng mãi ngàn sau!

 

(họa)

Dáng khói, hình mây để lạc đâu?

Mà nay mây khói lại vương sầu?

Cỏ hoa lạnh lẽo, cành sương sớm

Sỏi đá mơ màng, chiếc bóng thâu

Còn mãi vầng trăng, đời mãi đẹp

Khêu thêm ánh lửa, đạo thêm mầu

Có bao nhiêu nắng trên nguồn cũ

Sưởi ấm thơ thiền tặng kiếp sau!

 

NHÀ THƠ NGỌC QUẾ

 (xướng)

Nắng Theo Người

Trăm năm sỏi đá lạc về đâu

Đời lặng, nghiêng vai gánh chút sầu

Cơn gió chưa tàn, cơn huyễn mộng

Giọt mưa còn đọng, giọt thiên thâu

Có ai về suối nguồn vi diệu

Cho bóng vương ánh lửa nhiệm mầu

Nhánh cỏ phất phơ đùa nắng mới

Nắng theo người, nắng mãi ngàn sau!

 

(họa)

 Dáng khói, hình mây để lạc đâu?

 Mà nay mây khói lại vương sầu?

 Cỏ hoa lạnh lẽo, cành sương sớm

 Sỏi đá mơ màng, chiếc bóng thâu

 Còn mãi vầng trăng, đời mãi đẹp

 Khêu thêm ánh lửa, đạo thêm mầu

 Có bao nhiêu nắng trên nguồn cũ

 Sưởi ấm thơ thiền tặng kiếp sau!

 

NHÀ THƠ MỘNG TÙNG

 (xướng)

Túy Vân Sơn

Túy Vân phong cảnh lạ lùng thay

Tạo hóa từ xưa đã sẵn bày

Ngoài bể, trong sông, đôi mặt nước

Trước đình, sau các, một am mây

Núi rồng hẳn thấy quay đầu lạy

Non phụng nhìn xem chắp cánh bay

Thi khách, tao ông thường lịch lãm

Chạnh lòng hoài cổ bấy lâu nay!

 

(họa)

Thắng cảnh Túy Vân đẹp đẽ thay

Sum la vạn tượng, ngoại tâm bày?

Thanh giang, thúy hải chung làn gió

Không các, huyền đình một cụm mây

Pháp thuyết, thông reo, nghe gió chuyển

Thiền hành, đá đứng, ngắm chim bay

Cảnh tâm vẹn vẻ tình non Thứu

Thức tỉnh nhân tình tự thuở nay!

Cảnh "núi mây say” cũng lạ thay!

Từ trong "không tạng” huyễn hư bày!

 Bãi phơi muối mặn, đùn thêm muối!

 Đỉnh soải mây xanh, chắp tiếp mây!

 Rắn núp hang sâu, thò vảy cựa!

 Rồng nằm biển cạn, nhướn chân bay!

 Túy Vân sơn mộng hay người mộng?

 Hư thực cuồng tâm khách bấy nay!

 

HẠT MÓC TRONG

Bỏ thuyền, bẻ gậy bước qua sông

Cởi áo thời gian quẳng giữa dòng

Ví dẫu son xuân khuyên ý bút

Nề chi sư núi quảy tình không

Sắc hương, trâu nội, tên chăn ốm

Hoa cỏ, trắng ngàn, hạt móc trong

Bụi trắng đầu lông xem vũ trụ

Huống hồ ba cõi tám phương hồng!

 

NHÀ THƠ TRẦN LỮ VŨ

 (họa vần)

Xuân Cảm

Mình người khách trọ đứng bên sông

Ngơ ngác nhìn con nước lạ dòng

Xuân đến mặc lòng Xuân diệu hữu

Ta về cảm nhận ý chơn không

Đôi bờ đâu biết, bờ hư thực!

Một bến nào hay, bến đục trong!

Lệ nến chảy quanh vòng chữ vạn

Thương chi thể sắc đóa mây hồng!

 

BÚT TRÍ

 (Tặng GS. Vũ Ngọc Khánh)

Sương tuyết thêm màu, đẹp thế chăng?

Đất trời không giảm, cũng không tăng

Mục tâm, tiêu sái, hòa hương Bối

Bút trí, phiêu bồng, lướt suối Văn

Chợ nắng, trơ vơ tàn cổ thụ!

Non mây, leo lét ngọn thiền đăng!

Chuyết hòa vận cũ, tình chưa cũ

Hiền sĩ, ai người, chữ điểm trăng?

 (Am Mây Tía - 6/2004)

----------------------

Hoa đơm một hạnh thơm ba cõi

Phát thắp bi tâm sáng sáu miền

------------------------

Ý khí trời cho nên giữ tiết

Cỏ cây đất tặng cố ươm hương

-------------------------

 

TUYẾT BĂNG VỠ

Xanh xanh cánh lá, xanh vô tận

Hiện giữa thiên thu, lả rụng thềm

Gợn sóng thuyền bồng, mây gió lại

Mờ sao lối mộng, khói sương thêm

Sông xuân ai vẽ màu trăng ướt

Ngựa ký người trao sợi buộc mềm

Thơ với giao thừa, hong bút lửa!

Bâng khuâng non vỡ tuyết băng đêm!

|

SÓNG LƯNG MÂY

Non thẳm, mênh mông một mảnh vườn

Đời qua lũng vắng, thoảng ngàn sương

Câu thơ đạm nhã, pha màu đá

Nét họa đan thanh, điểm chút hương

Suối mộng, trăng lay, con nước gợn

Cành mơ, chim ngủ, lá rừng vương

Gió chao dặm khói, tình sơn thủy

Sóng nổi lưng mây, nhật nguyệt thường!

 

PHỤNG HỌA

 (Năm vận của Nhà Thơ Nguyễn)

Tủi thẹn đức, tài - trốn biệt phương!

 Dám đâu tuệ trí vạch con đường

 Đồng Chầm, xa vắng, chân đời ngại!

 Hòn Vượn, trơ cằn, khói núi vương

 Lau lách che lều, trăng cười nhạt!

 Trúc tre viết chữ, gió đùa hương!

 Phật cho sống thọ qua sương tuyết

 Trắng bạc tóc râu, ngẫm cũng thường!

 

TÂM TRỜI ĐẤT

(Xuân Quý Tỵ, 2013)

Tạc một hòn non, đá dựng vời

Xanh um đại thụ, bạn ngàn khơi

Ân cha, lặng lẽ, trời không nói

Tình mẹ, mênh mông, đất chẳng lời

Hiến tặng hồng vàng, tâm tú mậu

Quý trao hồng trắng, tuệ tinh khôi

Mưa ngâu man mác, Vu Lan hội

Đạo hiếu nhân gian mãi rạng ngời.

 

NGẪU BÚT

(Đọc "Ngọn cỏ chỉ” của Thanh Nhơn)

Đọc thơ tự sự, biếm trào ôi!

Cỏ chỉ sương gieo, đẫm lệ trời!

Tát cạn dòng khơi, hao sức quá!

Vuốt bằng đuôi chó, uổng công thôi!

Níu tre cột gió, đau tay lắm!

Mò nước tìm trăng, ướt áo rồi!

"Lụt nổi, kiến sâu đeo cụm nổi!

Lũ trôi, rều rác kết bè trôi!”(1)

Cáo chồn lớn mật leo "tra” ở!

Chim chuột to gan léo "rượng” ngồi!

Nhân nghĩa rứa răng, bàn tụt lưỡi!

Thương ai mòn bút lại khô hơi!

(2009)

(1)Mượn ý cặp thực trong bài thơ Vịnh lũ lụt của Cố Đại Lão Hòa Thượng Hiếu Quang: " Sâu kiến bất tài đeo cụm nồi. Rác rều vô dụng kết bè trôi!"

 

KÍNH VIẾNG ĐIẾU GIÁC LINH

Cố hòa thượng trụ trì chùa Từ Hiếu

Thấm thoắt trăm năm một thoáng trôi
Thầy đi, Từ Hiếu lạnh bao người

Phương danh cổ tự, công gìn giữ

Thắng địa thiền lâm, đức tiếp bồi

Nắng quái, thêm xanh Tùng cội đá

Gió cuồng, càng vững Trượng thuyền khơi

Nhân gian, mắt đục, đời tăm tối

Phạm vũ, trăng trong, đạo rạng ngời

Phải trái, tụng kinh, rời bát nạn

Hơn thua, niệm kệ, học Ba ngôi

Ngắm xem sinh tử bày hoa đốm

Tự tại xoa tay, Phật mỉm cười!

(Mùa An cư Kỷ Sửu, 6/2009)

 

THI ĐIẾU GIÁC LINH

Cố Đại lão hòa thượng Thích Trí Chơn

 

Một cội tùng xưa lại ngã rồi!

Tông môn, pháp lữ lạnh lùng ôi!

Nước mây Bát Nhã, trời xao xuyến

Sông núi Hà Khê, đất bồi hồi

Bán kỷ huân tu vun tuệ đạo

Bát tuần mãn thọ hiến duyên đời

Đệ huynh, tình nghĩa trăng non lĩnh

Thiện tín, nghiêm từ đức biển khơi

Chim ghé hồ ao không để bóng

Gió lìa lau trúc chẳng tăm hơi

Gốc xưa Linh Mụ sinh tài tuấn

Đất khách Kỳ Hoa hiểu tiết thời

Tự tại thân không rời trăm mối

Thong dong hạc chiếc dạo muôn nơi

Sa-môn, mạt pháp gìn thanh hạnh

Phụng tiễn giác linh vụng chữ lời!

 (26/3 Tân Mão | 28/4/2011)

 

CẢO THƠM CỎ LỤC

Thắm tươi vẻ đẹp, đóa Đông phương

Báo hiếu song thân, hội Phật đường

Tục ngữ, bóng cha, xanh vạn khoảnh

Ca dao, lòng mẹ, biếc ngàn chương

Cảo thơm vi diệu, thêu vàng nguyệt

Cổ lục nhiệm mầu, dệt gấm hương

Tấc cỏ ba xuân, khôn trả vẹn

Nhân thiên các cõi, nguyện tròn gương.

 

ĐÁ MỈM CƯỜI

Nắng vắt hiên đông, đá mỉm cười

Chờ xuân năm mới ghé đây chơi\

Bộn bàng, chuyện cũ chôn hang hốc

Tươi tắn, cành khô nẩy tượt chồi

Gót bụi xa quê đà mỏi gối?

Đàn chim trốn lạnh hẵn tìm nơi?

Thoáng giây, núi lạnh, sương bay loãng

Chợt khắc, sông dài, sóng nhẹ lơi

Tao tác não phiền, chùm đốm rã

Lắt liu buồn giận, nhúm tro rơi

Then mây, ngày tháng, trăng quên chốt

Để mặc, thung dung, gió thản vời!

 

ẨN CƯ

 

Xuân chẳng thưởng đào, chẳng ngắm mai!

Ẩn cư hang núi, chốt sương cài

Cảm thương nghiệp nước, mây đùn khói

Đau xót tình người, đá sởn gai

Phước mỏng, đâu kham đời dịch hoạ?

Thân gầy, nào chịu cảnh thiên tai?

Tiếc tâm, không đủ nhân lành, tốt!?

Tủi đức, chưa dung chuyện xấu, sai!?

Cửa hẹp, vắng tanh, trăng ngủ mệt

Phòng đơn, lạnh lẽo, dế rên dài

Dòng văn, ngơ ngác, hoa trơ đốm!

Câu chữ, thẹn thùng, mọt nghiến tai!

Điên đảo nhân sinh, điên đảo mãi

Ngửa nghiêng thế đạo, ngửa nghiêng hoài

Bi từ đức Phật, nguồn vô lượng

Nhen lửa trái tim, ấm một vài!

 

 

GÓC NÚI!

Chút xuân, chút Tết, chút tình quê

Ngày tháng lui cui quẳng xó hè

Đối, mượn làn mây giăng dọc núi

Liễn, tìm tấm đá dựng triền khe

Thơ không hương vị, bòn tinh chữ

Trà thiếu sắc mùi, lọc cợn mê

Cảnh đốm, mắt nhoè, cười xể xả

Lời hoe, tai ngãng, nói ngu nghê

Bớt tham, bớt việc, lòng vui lễnh

Bỏ giận, bỏ phiền, bụng khỏe re

Rắn đến, rồng đi - bò loẳng ngoẳng

Súc sinh, con giáp, khác chi nề!

 

XUÂN TỨC CẢNH

Xuân của đất trời, xuân của ai?

Mà nơi non lạnh, liếp thưa cài

Mù mây lững thững chơi đồi vắng

Sương khói lơ thơ dạo lũng dài

Nắng mới nể tình hong ấm tóc

Gió lành vị nghĩa thổi vui tai

Đá nằm vườn cỏ, công bao độ

Hoa nở hiên lan, đức mấy vài

Thơ vụng mượn vần, đùa trúc biếc

Bút cùn khoe chữ, cợt đào phai

Lộc non phơi phới, rừng thay áo

Đón khí thanh dương, mở cửa sài!

 

XUÂN TỰ SỰ.

Gẫm chuyện năm qua, Phật mỉm cười

Làm nhiều, nghỉ khỏe, lãng du chơi

Dựng xây chùa cảnh, duyên lo vốn

Sáng tác thơ văn, chữ kiếm lời

Việc được, việc chưa, nghe pháp nói

Điều hay, điều dở, ngắm hoa rơi

Bụi mê, bỏ quét, xoa rồi phủi!

Thuyền giác, buông chèo, chống lại bơi!

 Lòng rỗng, phiền ưu không khoái chỗ

 Óc nhàn, tham giận chẳng thèm nơi

 Đã về, đã tới quê hương cũ

 Then khóa tử sinh, lỏng chốt rồi!

 

XUÂN TRÍ TUỆ

Giác tính muôn xưa vẫn tịch thường

Xuống trần, quang rạng một vầng dương

Soi lòng khô mục, bung hoa lộc

Chiếu óc trơ lì, biết hiểu thương

Tăm tối nghe kinh, trăng dọi bóng

U mê học pháp, nước mài gương

Mắt mù, mò mẫm tìm chân thực

Thân tật, lần dò gặp cố hương

Sanh, già - vỡ đất, trồng cây trái

Bệnh, chết - lấp mồ, cấy ruộng nương

Phản chiếu, hồi đầu, nguyên diện mục

Thế gian như thị, Tuệ-Con-Đường!

 

XUÂN TỪ BI

Xuân Phật, thương ai khổ, đói, nghèo

Lại thêm đạo lý tóp rồi teo!.

Trông lên, bao kẻ xơi vàng lá

Nhìn xuống, lắm người xực cám heo

Túng quẩn, giết bừa, tù khóa buộc

Đói cuồng, cướp cạn, tội cùm đeo

Cánh đồng tình nghĩa, cây khô nỏ

Sa mạc nhân luân, lửa cháy xèo

Xấu ác quen nề, không biết thẹn

Tốt lành tủi phận, phải nằm queo

Cao hiền, trí giả, tâm vô lượng

Thuyền nhỏ, từ bi, vẫn ráng chèo!

 

XUÂN RỪNG THIỀN

Rừng thiền diện mục thị thường thôi!

Đông khứ, xuân lai, vận tự hồi!

Hang đá, đùn len làn khói núi

Triền non, vun thả đám mây trời

Nắng mưa biến đổi theo mùa tiết

Vui khổ vần xoay đúng nghiệp thời

Hoa nẩy nụ mầm, ươm biếc thắm

Cây vươn cành nhánh, hiến xanh tươi

Bài thơ thuận pháp bày câu chữ

Nét bút duyên tâm mở ý lời

Trí giả, hiền nhân trăm dặm lữ

Hoát nhiên tao ngộ cố hương rồi!

 

 

XUÂN BI TÂM

Ngựa, dê đồng loại súc sanh thôi

Năm mới nghe qua thấy nực cười!

Tâm cũ, tham sân vây bủa gốc

Nghiệp xưa, tánh tật vẫn đeo chồi

Sắc tài, mắt nhặm, hoa lầm rác

Danh lợi, tay chùn, đĩa phải vôi

Phố đỏ, đèn vàng phô tục cảnh

Lòng đen, óc trắng vấy trần khơi

Câu kinh ngọng nghịu va hang núi

Tiếng kệ ngu ngơ lạc chợ đời

Muốn khởi bi tâm, bi cúi mặt

Nghe rừng mai trúc, giọt sương rơi!

 

XUÂN TỰ NGẪM

Mỗi Tết, mỗi Xuân - Phật tự lòng

Thế nên trăm việc thả ngàn đông

Một bầu trăng gió, màu quê quán

Ba cõi trời mây, sắc lữ bồng

Thế sự, triền non, làn khói nhẹ

Nhân tình, đầu lá, giọt sương trong

Liễu thiền, chẳng bận trò hư, thực

Ngộ đạo, đâu màng chuyện có, không

Duyên tụ, duyên tan đùa đốm mắt

Pháp sinh, pháp diệt cợt trăng sông

Thương ai cuộc mộng còn mê mải

Kẻ nổi, người trôi - bọt giữa dòng!

 

XUÂN TỰ TRÀO

Đã tuổi bảy mươi, cộng một hai

Cửa kho cạn vốn, chốt tiêu xài

Óc cùn, tìm chữ đều "qua đát!”

Túi rỗng, mò kim thảy "bái bai!”

Mắt mỏi, chán nhìn, đâu loạn sắc

Chân run, mệt bước, chẳng lầm gai

Biếng lười lui tới, xa hung hiểm

Nhác nhớm nói năng, đỡ hoạ tai

Gậy chống, thẳng lưng, không luỵ gối

Kiếng đeo, rõ bụi, chẳng nhờ ai

Thoáng nghe bóng ngựa rời non vắng

 Nhẫm tính trăm năm chẳng ngắn dài!

 

 

NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH

 (Kính hoạ)

Xuân Tự Trào

Bảy mươi tuổi lẽ, đẹp bằng hai

Trăng nước trời ban, mặc sức xài

Thi phú đầy kho chưa quá "đát”

Kinh thư chật áng chẳng hề "bai"

Mục kính đổi màu còn rõ nét

Gậy thiền chống pháp nỏ vương gai

Đêm đông ngồi thảo mươi trang sách

Sớm hạ nằm nghe gió thoảng tai

Lên dốc am mây nào mỏi gối

Qua bờ suối đá khỏi phiền ai

Trăm năm một thoáng trời non nước

Vạn sự rồi ra ngắn vẫn dài!

(HKST- 10/1/2015)

 

XUÂN CÁT TƯỜNG

Am không, tiết ấm phún đàn hương

Cây lá xôn xao phụng cúng dường

Vẫy nét thiền thi gom tịnh thủy

Mở trang bối diệp ngắm trùng dương

Cảm ai mắt đục, xua mây bụi

Xót kẻ dặm mờ, vẹt khói sương

Xấu ác bẻ mầm, tiêu ghét hận

Tốt lành ươm hạt, nẩy yêu thương

Thênh thang gót tuệ, chơi cao ngạn

Phơi phới hoa tâm, dệt thiện đường

Đời đạo cân phân, vui nhật nguyệt

Người hiền, trang mới, cát tường chương!

(Mai Trúc Am, Xuân 2015)

 

CHÚC TRANG MELA PHẬT GIÁO –

THƯ VIỆN HOA SEN XUÂN GIÁP NGỌ

(Đón giao thừa)

Thư Viện Hoa Sen - đón Ngựa Trời

Hoa Xuân trang Web. đóa tinh khôi

Hệ, tông nghiên cứu, rừng muôn lá

Kinh, giáo sưu tầm, nước vạn khơi

"Xây” (1) nạp kiến văn, vườn biếc thắm

"Can” (2) thu quan điểm, núi xanh tươi

Lối về trung đạo, công trong sáng

Nẻo đến chân tri, đức rạng ngời

Đốm phủi khen, chê, nhìn ác ngủ!

Mộng xoa phải, trái, ngắm trăng cười!

Nghiệp căn trần thế, câu chiêm nghiệm

Mệnh phận nhân gian, bút cảm hoài

Cám cảnh thương sinh, văn mệt thở!

Xót xa khổ nạn, chữ mòn hơi!

Chúc bao trí giả bền duyên đạo

Chúc bấy hiền nhân vững phúc đời

Đây đó gian tà, làn gió thoảng!

Nọ kia xấu quấy, giọt sương rơi!

Tuệ không, tâm lặng - vui siêu thoát

Mặt mũi cố hương đẹp tuyệt vời!

 

MỪNG KHÁNH NHẬT

 (73 tuổi và 50 hạ lạp, ngày 04/2 Bính Thân

 của ngài Viên Minh, Sơ tổ Huyền Không)

Phủi bụi phồn hoa, chốn thị phường

Về nơi non lặng, nhẹ mù sương

Sau lưng dựa núi, mây cao lĩnh

Trước mặt vỗ bờ, sóng đại dương

Cọp trắng, đá chầu, xây cảnh sách

Rồng xanh, suối lượn, chở kinh chương

Cỏ cây u nhã, nhen tri kỷ

Trăng nước tiêu dao, duỗi mộng trường

Đạm bạc, thanh bần, vươn duệ trí

Nghiêm dung, dị giản, toả đàn hương

Thân mai, rắn rỏi, dầm mưa nắng

Vóc hạc, khô gầy, vỡ rẫy nương

Lui tới, lục hoà, vun đạo hạnh

Vào ra, tứ nhiếp, gánh yêu thương

Vén rừng tham giận, nhìn chân thật

Mở ngục phiền lao, thấy tỏ tường

Thần khí, an như, chơi bốn biển

Ngôn hành, tự tại, dạo mười phương

Lợi danh, trước ngõ, trăng rơi đốm

Phải trái, đầu cây, lá rụng vườn

Mù mịt kiến tri, soi ngọn đuốc

Tối tăm ái chấp, rọi con đường

Trí tài siêu việt, tâm dâng hiến

Thiền pháp bình nhiên, tuệ cúng dường

Chi ngại gai đâm, chân đại trượng

Nỏ hay lửa hực, áo thanh lương

Ngẫm trò được mất, cười hư thực

Ngắm cuộc đầy vơi, mỉm nhược cường

Xả kỷ, bỏ nhân, không đối sánh

Vị tha, buông ngã, chẳng so lường

Nước trong, hạc nội, nào lưu luyến?

Cội cũ, chim ngàn, nhẽ vấn vương?

Đại dụng, càn khôn, thơm cội đức

Quyền cơ, nhật nguyệt, sáng đài gương

Ra tay lập địa, vô vi hạnh

Huyền mấy cõi Không, "chẳng thị thường!”

 

BỒ ĐỀ XUÂN THƯỜNG TẠI

 

 (Xuân Ất Mùi, tặng Thư Viện Hoa Sen,

 BBT cùng chư thiện hữu cộng tác viên)

Viện Sách Hoa Sen thêm tuổi trời

Mới trang, mới trí - chữ tinh khôi

Con tằm nhả kén, tình xao xót

Chiếc bách qua sông, dạ bổi hồi

Nguyện lớn, nghìn trùng, mây gió cuộn

Hạnh cao, trăm trượng, tuyết sương phơi

Thiền tâm chân thực luôn quang rạng

Giác tuệ an nhiên mãi sáng ngời

Bi cảm sinh linh mơ huyền ảo

Thương đau nhân thế mộng trần khơi

Bồ-đề rắn rỏi, xuân thường tại

Cành nhánh đàn hương phụng cuộc người!

 

CHÚC XUÂN

Sơn Thượng Huyền Không, Tết đến rồi

Chúc người, chúc cảnh, chúc muôn nơi

Cây khô, trở tiết, chồi xanh biếc

Thân mục, nẩy mầm, nhựa thắm tươi

Rều rác, hoa đơm, thơm vạn khoảnh

Rong bèo, trăng chiếu, biếc ngàn khơi

Tốt lành, nương tựa, dày duyên đạo

Xấu ác, xả buông, đẹp nghiệp thời

Lạnh khổ, chăn đơn, thêm áo mặc

Đói nghèo, bếp nguội, đủ cơm xơi

Trơ lì khối óc, sinh thương cảm

Buốt giá con tim, ấm tiếng lời

Học Phật, an vui, tâm nhẹ hẫng

Hành Thiền, giải thoát, tuệ cao vời

Thênh thang xuân mới, lòng tươi mới

Chúc cả sinh linh phúc rạng ngời!

(Mai Trúc Am, Bính Thân, 2016)

 

TẠ TỪ THƠ

Khép lại trang thơ, khép cuộc chơi

"Đường Thi Sương Khói” lễnh non vời

Vén mây, vạch chữ, đau lưng lắm!

Chẻ đá, tìm trăng, bể búa rồi!

Cổ lục, xanh xao, đùn mối mọt?

Cảo thơm, trắng bệch, rắc tro vôi”

Cảm thương, năm vận, đùm mưa nắng!

Đau xót, tám câu, gói núi đồi

Kiếm múa, cột tay, tung chính khí!

Ngựa phi, cùm cẳng, lướt trần khơi!

Lại còn nhãn tự, thôi xao nữa

Tuyệt lắm, dù sao, chỉ một thời!

 

THIÊN NHAI CHIẾT BÚT

 (Từ ngày 16, tháng giêng, Đinh Dậu, 2017

 đến 16, tháng giêng, Canh Tý, 2020)

 

 Hai lần "nhập thất” ở hai nơi

 Một ở làng quê, một núi đồi

 Đúng hẹn lại lên, ba tuế nữa

 Đến kỳ phải ẩn, bảy tư rồi

 Bệnh, già, thần chết, không tha mạng!

 Danh, lợi, ông câu, chẳng chán mồi?

 Bao tủ sách, kinh, không đọc nữa

 Mấy gùi bút, giấy, quẳng đi thôi

 

 Được thua, chèo quẫy, tay run mỏi

 Phải trái, nghĩ lung, óc rối bời

 Lá trúc qua sông, câu chữ đắm!

 Bè lau vượt biển, tứ từ trôi!

Cửa mây, khoá mãi, mây ngăn chướng

Động đá, khép hoài, đá hoá vôi!

Gắng đọc con tâm, không lụy nghĩa

Cố tìm cái thực, chẳng mê lời

Năm canh, niệm giác, xem dê, khỉ

Sáu khắc, tinh không, ngắm vận, thời

Thiền toạ tê chân, đau chớ ráng!

Kinh hành mỏi cẳng, mệt bèn ngơi!

Tự do chốc lát, miền trong trẻo

Giải thoát khắc giây, cõi rạng ngời

Cho chú lằn nâu, ti kẹo, bánh

Tặng đàn kiến đỏ, chút cơm, xôi

 

Mắt nghe, rõ rệt, làn mi động

Tai thấy, mơ hồ, hạt móc rơi

Tham vọng trong ngoài, đều lặng tiếng

Si cuồng đây đó, thảy im hơi

Rừng "tư”, khám phá, "lòi” ma, quỷ

Núi "hoặc”, điều nghiên, "chộ” ngợm, người

Luống thẹn tròn đầu, dây tóc bẩn

Ngùi thương vuông áo, lấm thân hôi

 

Xênh xang xe ngựa, tham càng đắm

Hý hửng sang giàu, dục chẳng vơi

Đã sợ gieo nhân, ươm giống loại?

Còn lo thọ quả, cấy mầm phôi?

Vài giây thả rỗng, vui thơ thới

Bao kiếp bíu vin, mệt rã rời

Ngọ nguậy kiến tri, đùn mối gặm

Lắc lư trí tưởng, gãy dầm bơi

 

Khung xanh, vén khói, trăng đùa mỉm

Nước đục, bỏ lừ, cá giỡn chơi!

Lưới nhện dày, thưa, trùm đã chặt?

Sợi hồng tơ, mảnh, buộc còn lơi?

Thênh thang giải thoát, lìa ưu hận

Bát ngát tự do, đọ biển trời

"Đọc sách” ba năm, ta "diện bích”

Sát-na, mỗi mới, mới tinh khôi!

(Kỷ niệm ngày bỏ thơ, bỏ văn, bỏ nghiên cứu, bỏ đọc kinh sách, bỏ thư pháp, bỏ giao tiếp... chỉ còn "đọc quyển sách tâm” mà thôi!)

--------------

Chèo bơi rung động bầu thanh khí

Núi quảy nghiêng chao sức đại hùng

----------------------

Rong chơi ba cõi mười phương Phật

Để biết hư vô đạọ có tình

 

 

.

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.
.
.