NGÕ VÀO
Then sương mở chốt, đón chư quân
Chợt nhớ người xưa, chữ ngại ngần
Đá dựng sân không, chào thượng sĩ
Mây chờ ngõ lạnh, tiếp hiền nhân
Chim quen gác trúc, mưa hòa nhạc
Hương nhớ phong thu, gió nhã trầm
Đọng đáy mắt xanh, hồn vũ trụ
Bốn mùa cổ độ chẳng biên phân!
VƯỜN THIỀN
Vườn Thiền trầm lặng xuyết hoa vân
Trăng nước thanh thanh, vẽ tuyệt ngần
Gió thoáng lối thơ, vờn thủy mặc
Sương vương áo cỏ, đọng chơn tâm
Thái hư lá vỗ, chao tinh đẩu
Đại mộng, hương bay, ngợp diệu trần
Huyền hựu đón xuân, vô lượng nghĩa
Rừng xưa, chim cũ hót nghinh tân!
NHẤT MỘNG SƯƠNG
Nửa mái am thiền, nhất mộng sương
Nửa kia, nắng sớm vọng trăm đường
Lòng mây trắng chữ, thơ càng nhẹ
Mắt lá xanh màu, khói dễ vương
Lắm lúc chim ngàn, thương luyến núi
Đôi lần hạc nội, dạo chơi vườn
Xa xăm dặm biếc, lời vô hạn
Bút nguyệt, nghiên trầm, mực xạ hương!
GẬY QUA BỜ
Một thuở qua bờ, chiếc gậy tre
Gõ vang trên đá, khối u mê!
Rơi vào vực thẳm, muôn con chữ
Lạc giữa vườn hoang, một lá đề
Lãng đãng chim trời, vui dặm khách
Mơ hồ quán trọ, luyến niềm quê
Đến đi khinh khoát, trăng cài áo!
Cho dẫu cô liêu vướng bốn bề!
THANH KHÍ
Khói mây liễu mộng, ngoại trần chơi!
Trăng nước hoa gương, ngẫm lại cười
Nhân ái đề huề, sao tỏ rạng
Đạo tình vẹn vẻ, ngọc phô tươi
Non cao, hạc cũ gầy sương tuyết
Động vắng, mai xưa lặng tiếng lời
Một thoáng tơ vàng rơi giếng cổ
Ngàn sau thanh khí, lạnh trần khơi!
ĐẠO CÓ TÌNH
Đò nhẹ lên nguồn, cơn mộng trắng
Ghé qua suối ngọt, cá say kinh
Hương trời gió thoảng, không thành có
Sắc nước trăng pha, bóng lẫn hình
Mượn mái non xanh, vui tiểu ẩn
Xoa tay bụi đỏ, mỉm phù sinh
Rong chơi ba cõi, mười phương Phật
Để biết hư vô, đạo có tình!
CHÂN BÈO HOA
Cây rừng, ríu rít tiếng chim reo
Đêm lặng, ngày trôi, gió thoảng vào
Chiếc lá thời gian, sắc biếc thắm
Cành hoa hiện tại, nụ trong veo
Bâng khuâng núi lạnh, trăng không ngủ
Ngơ ngác thuyền bồng, sóng nhổ neo
Vọng tưởng lênh đênh trời tía đỏ
Tưởng đâu hoa đốm nở chân bèo!
TAY RUN VIẾT
Một buổi trà sương, chung ẩn sĩ!
Một câu thơ cổ, hương tri âm !
Màu chim cánh khói, thương trời hạ
Giọt nắng hình hoa, luyến giậu xuân
Chộn rộn trăm sông, thuyền đạo lý
Lao nhao mấy côi, chợ nhân luân
Thường như viết mãi, tay run mãi
Nhắp cạn tứ trăng, bút chuyển vần!
VI TIẾU
Còn ai vi tiếu, thú trên đời?
Ngắm nước mây trôi, thơ cũng trôi
Như đã nghêu ngao chơi mệnh vận
Như từng vi vút cỡi không thời
Bối hương, tao ngộ tình non thẳm
Hạo khí, đạo đàm sóng biển khơi
Ví thử cảo thơm rây bụi trắng
Chừng nghe tịch mịch núi non cười!
TRÊN ĐỈNH TÂN BA
Ngửa mặt, bơ ngơ giữa cuộc đời
Ta về đỉnh nguyệt, núi mây chơi
Đông phương, Hà Bá nằm che mất!
Tây thổ, Đạt Ma đứng chật rồi!
Huyễn giới ba ngàn như sợi khói
Ảo trần tám vạn tợ nùi hơi
Gió vàng khẽ động chùm sao quế
Ngâm sảng câu thơ, Phật mỉm cười!
(Tịnh xá Sãla, thu 1975)
HUYỀN KHÔNG CẢM TÁC
(Kỷ niệm ngày đến HK, đèo Hải Vân - Lăng Cô)
Lãng bước du phương lạc chốn này
Huyền Không ai dựng giữa triền mây
Trời xa, biển ngậm lòng nhân tục
Rừng quạnh, non phơi dấu hạc gầy
Hai nẻo suối về, xanh bể Bắc
Một giàn lan tỏa, ngát đồi Tây
Hồn chiều trải rộng mười phương đạo
Ngợp giấc thiền, quên kiếp cỏ cây
(Đầu năm 1974).
Ngợp giấc thiền, quên kiếp cỏ cây
Phong sương, y đã bạc vai gầy
Lối lên bát ngát hương đàm quyện
Nẻo xuống mịt mùng lửa não vây
Tịnh Thuỷ, nước reo mùi giác tỉnh
Thanh Tâm, lòng lắng vị trần say
Giữa hồ Hàm Nguyệt, trăng thiên cổ
Gởi Bạch Vân sơn chút vọng này!
(Cuối năm 1974)
TỊNH XÁ SÃLA
Chùa nghèo dựng giữa một hoang đồi
Muốn viếng Sãla, trán đổ hôi!
Đạo đến xóm gầy, nghe lá thở
Sư về rừng quạnh, ngắm non cười
Rằng vui mỗi sớm, cây vươn lộc
Hẵng sáng từng đêm, sao đổi ngôi!
Khói tỏa nửa vời, chim nhớ tổ
Ngàn năm sống thọ, cảnh quy hồi!
(Đông Ất Mão, 1975).
VÔ THANH ĐIỆU
(Nhớ Nhà Thơ Trà Giang Tử, Kathina 1975 tại tịnh xá Sāla)
Tri bỉ hề! Tri kỷ! Cố nhân!
Gặp nhau như thử hội phù vân
Mò trăng, bác Lý, mơ tầm huyễn
Gảy khúc, chàng Vương, giả níu chân!
Thơ đến non trần, men suối ái
Đạo về núi tịnh, ngoảnh triền ân
Bao giờ thiền tứ, vô thanh điệu
Đáo bỉ, câu thơ chẳng nệ vần!
ĐỀ THÁP
Cố Đại Sư Giới Nghiêm
1. Nguồn Trong Lặng
Tùng trúc non cao khẽ cúi đầu
Nhớ ai, sương đọng lệ ngàn thâu
Mang ân tế độ, kinh mầm ngọc
Đội phúc khai truyền, pháp hạt châu
Cây cũ nầy hoa, tươi thắm mãi
Nhánh xưa vươn lá, biếc xanh lâu
Giữ gìn suối ngọt, nguồn trong lặng
Phụng hiến nhân gian giọt nhiệm mầu
2. Thắp Chữ
Một thuở rừng xưa, dáng cổ tòng
Tàn cao, bóng cả rợp hư không
Dịch kinh, giữ vẹn lời nguyên thủy
Giảng pháp, gìn tròn nghĩa chánh tông
Đuốc trí, an nhiên soi chướng ngại
Gót từ, thanh thản lướt gai chông
Đá vàng ghi tạc ân vô lượng.
Thắp chữ, lung linh ngọn nến hồng
3. Giọt Lệ Trời
Bảo tháp tôn nghiêm, tưởng niệm Người
Gương trăng đạo hạnh rạng trần khơi
Xây chùa, lập viện, tâm nào quản
Tiếp chúng, độ tăng, chí chẳng dời
Bóng đã qua đi, xanh vạn khoảnh
Hương còn để lại, ngát muôn đời
Đức dày, ân trọng, nghìn non nhẹ
Kinh chữ vô ngôn, giọt lệ trời!
4. Trăng Soi Bóng
Từ độ ngài đi, lạnh mái chùa
Cỏ cây gầy ốm, lá lưa thưa
Nhớ thương, uy đức, nghiêm bao chúng
Kính cảm, từ dung, nhiếp mấy thừa
Cấy hạt bồ-đề, tùy phước mới
Chèo thuyền bát-nhã, thuận duyên xưa
Tướng rồng, dáng phượng, trăng soi bóng
Bảo tháp trầm hương phụng bốn mùa!
TRƯỢNG TÒNG
(Kính dâng Ngài Hộ Nhẫn)
Một cõi Thiền Lâm, bóng trượng tòng
Quang minh tinh đầu chiếu hư không
Đầu phơi mưa nắng, gìn thanh hạnh
Chân dẫm xóm làng, giữ chánh tông
Rủ bụi, thung dung vầng nguyệt tỏ
Xả tài, phơi phới mảnh gương trong
Mây lành năm sắc che tàn lọng
Hương ngát ba ngàn tỏa núi sông
Thiện tín trầm hoa, nhân thắng tuệ
Tăng ni kinh pháp, quả viên thông
Bi từ, giới trí ngời uy đức
Đạp sóng, thênh thang cuộc lữ bồng!
THÁP XÁ LỢI CẢM TÁC
(Tại chùa Thiền Lâm)
Phật đi, để lại nắm tro thôi!
Hóa đạo, hóa văn đẹp tuyệt vời
Mã não, "thịt xương”, hương tú diệu
Lưu ly, "tủy não”, sắc tinh khôi
Phúc ươm, bạch ngọc, "da" trong sáng
Đức tụ xích châu, "huyết” rạng ngời
Sữa thánh no lòng, thương trẻ dại
Cháo thiền đỡ dạ, cảm con côi
Thiện nam trỉa hạt cầu công quả
Tín nữ gieo nhân hưởng lộc trời
Vằng vặc đỉnh trăng, tinh đẩu phục
Linh thiêng xá-lợi vượt không thời...
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Mượn thân giả tạm cứu đời thôi
Suốt tám mươi năm sống tuyệt vời
Vương tử, chẳng màng ngôi cửu ngũ
Đạo sư, đạt thấu bậc nguyên khôi
Pháp mầu giải thoát, danh thơm nức
Anh diệu từ bi, đúc rạng ngời
Lớp lớp sóng thiền, xua khổ não
Trùng trùng mưa pháp, bạt đơn côi
An bình rộng tỏa bao la đất
Hạnh phúc cao dâng bát ngát trời
Đảnh lễ, ngưỡng trông tòa tháp báu
Toàn chân, nhớ mãi đức muôn đời!
THIỀN LÂM THÁNH THÁP
Lừng lững uy nghi vút tận trời
Trang nghiêm bảo tháp nhiếp trần khơi!
Thiền Lâm, rồng báu, công tôn tạo
Quảng Tế, trăng vàng, đức chiếu soi
Hằng sản, hằng tâm, hương vạn khoảnh
Thường tu, thường giới, phúc muôn đời
Gốc xưa tự tại, cây xanh lá
Cành cũ an nhiên, lộc biếc chồi
Thiền quán, cung nghinh, đèn tứ chúng
Kinh cầu, lễ bái, đuốc ba ngôi
Vinh quang, đạo hạnh, trăng thiên đế
Vĩnh cửu, hồng ân, nghẹn chữ lời!
(Am Mây Tía, Xuân Ất Dậu, 2005)
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Bóng tháp tôn nghiêm vượt đỉnh trời
Mây lành chầu ngự, tịnh trần khơi
Uy nghi, cổ kính, thân vàng chiếu
Vững chãi, quyền năng, móng ngọc soi
Phật cốt thiêng liêng truyền vạn thuở
Kim quang mầu nhiệm tỏa muôn đời
Hoa nhuần ánh tuệ, trân châu nụ
Lá thắm hương tâm, bạch tuyết chồi
Quảng Tế kỳ quan, thiền chủ thượng
Cố đô văn vật, đạo cao ngôi
Pháp duyên chợt động ba nghìn cõi
Xuân mở trang kinh, gió dậy lời!
(01/3 Ất Dậu, 2005)
VÔ NGÔN THÂN GIÁO
(Kính dâng đức Tăng trưởng)
Đức của đất trời, bặt trí tri!
Trang nghiêm một cõi, nhiếp nhân vi
Ngàn nhà cơm bánh, thân nào quản
Tám tiết nắng mưa, hạnh sá gì
Nhỏ nhẻ nói cười, tâm đại độ
Dịu dàng đi đứng, giới oai nghi
Bao năm độ chúng, vô ngôn giáo
Hoằng pháp, lợi sanh bất khả nghì!
TÙNG BÁCH HƯƠNG
(Chúc thọ Ôn Trúc Lâm)
Xuân nay phụng bút, kính mừng Ôn
Tuổi hạc tuyết sương, thọ tự tồn
Thiền khí, quỷ ma gờm tích trượng
Đạo từ, tâm nguyệt động nghiên son
Trang nghiêm, bích nhãn nhìn Tăng sự
Tự tại, thảo hài dạo Bối môn
Tùng bách ngàn năm, hương hóa cốt
Tào Khê nước chảy, biếc đầu non!
BỤT HỶ XẢ
(Chúc thọ Ôn Từ Quang)
Thiều quang sương tuyết, tám mươi xuân
Chúc thọ mừng Ôn, nhất điểm tâm!
Tôn tạo chùa xưa, ân phúc mệnh
Dựng xây điện mới, áng thiền vân
Độ đời, trầm lắng hồi chuông vọng
Hành đạo, u nhàn tiếng khánh ngân
Hỷ xả nụ cười, vui đất Bụt
Sơn môn, bát-nhã tỏa phân phân!
VUI VĂN SÁCH
(Quý dâng Ôn Từ Quang)
Hưởng thọ, mừng Ôn, tùng bách niên
Ngát ngào lan thảo toả bên hiên
Thanh nhàn sớm tối đùa văn sách
Thơi thả tháng ngày dạo tứ viên
Phước lớn, đủ đầy cơm cháo ngọc
Đức dày, vẹn vẻ chúng đồ hiền
Trăm năm hỷ xả, lòng vô chấp
Tục diệm tam thừa đựng kế duyên!
TRĂNG RỪNG TRÚC
(Kính điếu Giác linh Ôn Trúc Lâm)
Thiên cổ, lung linh ngọn nến hồng
Người đi, sương nước lệ ngàn không
Kim cương, gậy gõ miền lau trắng
Viên giác, trăng đeo vạt áo sồng
Đáo bỉ, thung dung thuyền mật độ
Nhập triền, thanh thản hạnh chơn tông
Nhiên nhiên, pháp khí bừng trăm trượng
Hạo hạo, tâm hương tỏa vạn tòng
Hiên lạnh, hài xơ, thiền xóa chữ
Liêu nghèo, mái dột, đạo đơm bông
Gió qua rừng trúc, an vị sự
Vọng giữa hư vô, trống cổ đồng!
THẮP THƠ TRỪ TỊCH
(Dâng Đại huynh)
Bút chuyển tình xuân chở đạo vàng
Nửa đêm trừ tịch nhớ mang mang
Chân trời, huynh rải lòng vô nhiễm
Góc biển, đệ nuôi lửa hữu hằng
Đại nguyện khiến hiền nhân xuống núi
Tiểu tâm xui ác hữu chuồn hang
Dù cho nắng quái đùn phương trượng
Cổ thụ che chung vẫn một tàn!
(HK - Lăng Cô, 1976).
LẠC KHỨ HỒI!
(Mến tặng Nhà Thơ Phạm Phú Hải)
Bạn đến thăm ta đã trễ rồi!
Tìm thơ, thơ lãng giữa dòng trôi
Lối về cửa tục, mây lầm khói
Nẻo đến am không, núi trở đồi
Y bát tha hương chưa ráo nợ
Cửa nhà cố quận đã trơ vôi
Quay lưng phương trượng mờ thiên cổ
Một chiếc thân hư, lạc khứ hồi !
(HK, Lăng Cô, 1976).
ĐỒI TÂY CÁT LẤP
Đời nửa lưng mây thở khói vàng
Nương trần chim mỏi cánh về hoang
Gió sương ngăn mộng còn nghi ngút
Thi bút se duyên đã bẽ bàng
Thống khổ non mê vầy điệp điệp
Bi thương biển huyễn trải mang mang
Gương soi trăng mộng chìm hư ảo
Cựu lý mờ sau bóng biệt ngàn....
Cựu lý mờ sau bóng biệt ngàn...
Ngựa phi thiên lý, rượt quan san!
Áo hàn che kín thân gầy guộc
Da tuyết bao quanh dáng võ vàng
Mộng mị đã quên giờ tựu hội
Bọt bèo còn nuối khắc ly tan
Đò ai khách muộn chờ trăng xế
Cuộc lữ đêm đau vẫn rỡ ràng!
Cuộc lữ đêm đau vẫn rỡ ràng
Muôn lần mê trú bến gian nan.
Rừng phơi mộ, mộ phơi từng lớp
Biển đắm sương, sương đắm mây hàng
Đất động muôn sau rền tiếng vọng
Suối reo nghìn trước dậy âm vang
Nhìn mông tám hướng, người khôn tỏ
Cát lấp đổi Tây, đã trở vàng...!
(Núi Lớn - Vũng Tàu, 1973)
PHONG LAN
Ẩn sĩ chi hoa? Vương giả hoa?
Thuở xưa quê quán chốn yên hà
Sắc hương thanh nhã, bao người mến
Cốt cách kiêu kỳ, ít kẻ ưa
Uống móc, ăn sương y nết cũ
Gìn vàng, giữ ngọc vẫn nòi xưa
Hồng trần lỡ đọa thì không tiếc
Chỉ tiếc tri âm ít ỏi là!...
NHÀ THƠ PHẠM PHÚ HẢI
(họa - thương kính tặng TTA)
Ánh trăng đầu buổi đã tan rồi!
Bọt trắng hai bờ lạnh lẽo trôi
Hùm rống tà huân, đau đớn núi
Vượn gào nhật mộ, tái tê đồi
Tìm thơ, nguồn cũ, rêu um sắc
Thăm bạn, tường xưa, gạch vữa vôi
Ai biết, ai kia không biết nhỉ
Khổng Khâu mà cũng khóc Nhan Hồi!
Khói tan rồi! Lửa tắt rồi!
Tro tàn trôi giữa tháng ngày trôi
Biển sâu, sầu hỡi, sâu hơn biển
Đồi lạnh, tình ơi, lạnh lắm đồi
Động gió, đá còn nguyên dáng đá
Am mây, vôi đã trở màu vôi
Nghe chừng vẳng vẳng chuông năm ngoái
Lạnh lạnh theo sương nhịp đổ hồi
Vần thơ năm trước lại quên rồi
Một chữ bồng bềnh, hai chữ trôi
Tóc bạc, sương chiều rơi trắng núi
Mắt xanh, khói sóng phủ lam đồi
Anh hoa bách tuế: Tờ thư mọt!
Hài cốt thiên thu: Nhúm bột vôi!
Mực cạn, bút cùn, năm tháng lụn
Đèn khuya nhảy múa bóng bồi hồi
Rồi sẽ cười vang tóc bạc rồi
Thuyền đời nhẹ lễnh, mặc đò trôi
Đứng khoanh tay, ngắm mưa tràn biển
Nằm duỗi chân, xem nắng lụt đồi
Sao sớm nhập nhòa đầu mái ngói
Trăng khuya loang lổ cuối tường vôi
Cười nghiêng kim cổ, Đông Tây nhé
Cho lạnh thiên khung phút vãn hồi!
(Đà Nẵng - 1977)
LẠNH HƯ KHÔNG
Một thoáng bao năm biệt cửa thầy
Về thăm, lòng tự khói ngàn mây
Cây xưa, đứng đội tình sương tuyết
Mái cũ, nằm nghe nghĩa tháng ngày
Bạn ở hoàng thành, chắc vẫn tỉnh?
Tôi tìm thâm xứ, lẽ còn say?
Tỉnh-say mấy cuộc, trò dâu mộng!
Nghe giữa hư không gió lạnh đầy!
(Phật Bảo tự, Phú Thọ Hòa, 1977)
CƠN BÃO SỐ 8
Đại thụ trăm năm gãy gục đầu
Đất trời quằn quại, biển thương dâu!
Chơ vơ đá dựng, da bung vảy
Tơi tả lan phơi, sắc tượt màu
Góc hẹp, cỏ nằm, vô sự nhỉ?
Thân mềm, liễu đứng, có gì đâu!
Bão qua vẫn lắm nhà không nát
Tạo hóa ai ngờ thiên vị nhau!
ĐÁO BỈ BỈ ĐÁO
(Gởi Phạm quân)
Vốn cách đường thiên lý hỡi ai!
Muốn đi thăm, ngại lối sương dày
Ngóng vời ải lãnh, thương tình nhạn
Trông mút sơn đầu, luyến nghĩa mây
Dặm phố, thân gầy hơi thuốc đắng
Góc vườn, mắt đỏ khói thiền cay
Họa long, điểm nhãn còn chăng tá?
Tung cánh trời xanh hội cuộc này!
Tung cánh trời xanh hội cuộc này?
Huyền đàm, hí luận, mặc đời say!
Thiền phong, dậy gió, sông dài ngợp
Đạo khí, bung hơi, núi lớn lay
Tô Thức thương thời, thơ cảm mộng
Đào Tiềm xót thế, phú buồn lây
Mang mang Tiềm - Thức, mang mang cõi!
Bỉ đáo ta? Ta đáo bỉ đây! ?
(HK- Lăng Cô, 1978)
HUYỀN KHÔNG THẤT CẢNH
1. Pháp Vũ Đường
(Đề nhà giảng, học kinh pháp)
Duyên thiền ghé lại cõi trầm luân
Hiện pháp như lôi, như vũ vân
Nở đóa hữu tình trên sỏi đá
Trồng cây vô niệm giữa tham sân
Phiêu phiêu, mây nhẹ nâng tình thức
Hốt hốt, mưa lành tưới đạo tâm
Thi bút tiêu tao phương ngoại vật
Lời sương, tứ đọng, hải triều âm!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Uy đức mười phương hiện pháp luân
Đất trời nhuần gội ánh từ vân
Hương đàm chuyển gió xua mê ác
Kiếm tuệ vần mây bạt não sân
Sắc tỏa hồn nhiên hoa kiến tánh
Không ngời tự tại đá minh tâm
Ba ngàn, triêu mộ, kinh hồi hướng
Thánh thót mưa lành, khởi diệu âm!
NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH
(họa)
Pháp vô thường như chuyển pháp luân
Sắc không huyễn hóa, áng hồng vân
Vỡ non muôn khoảnh, gieo hoa lạc
Xới đất nghìn vuông, xót cỏ sân
Ươm hạt vô ưu, nương hạnh đạo
Nắn cành nghiệp thức, dưỡng từ tâm
Chuông sương, tỉnh giấc, ba nghìn cõi
Vang vọng muôn đời sóng hải âm!
2. Thanh Tâm Viên
(Đề hồ cảnh, vườn cỏ đá).
Lối nhỏ qua cầu, bóng thảo lư
Vườn thơ, vườn cỏ, dáng khiêm từ!
Mấy mùa tĩnh mặc, màu thanh thủy
Bao độ u nhân, nghĩa cổ thư
Trăng ghé hồ trăng, không lại có!
Gió xao cành gió, thiệt rồi hư
Hốt nhiên, trời đất đàm hương quyện
Sao tỏ trời chiều, một chữ Như!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Lung linh sương khói quyện bồng lư
Trần Giải, cầu qua, bước dậy từ
Nước biếc, xôn xao gương cổ nguyệt
Non xanh, vằng vặc dấu thiên thư
Mây chầu, thầm tưởng trời vân uyển
Đá tạc, chừng mơ đất thái hư
Điệu trúc, gió ngân, phiền tục lãng
Rằng tâm tức Phật, cảnh hồ như...
NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH
(họa)
Một chiếc hồ trăng, một thảo lư
Lối quanh, bờ cỏ, dạo hiên từ
Mây trôi lặng lẽ, trang hồ điệp
Gió thoảng thanh nhàn, ý cổ thư
Lác đác vàng rơi, dòng huyễn hóa
Thong dong sương rụng, lạch doanh hư
Thanh Tâm một thoáng, trần tâm sạch
Rủ bụi qua cầu, gót thản như!
3. Phương Thảo Địa
(Đề vườn phong lan, địa lan)
Có phải bên đời một chút tiên?
Mà sao nhẹ lễnh giấc ưu phiền
Hoa rơi cảnh Bụt, trăng đưa lối
Thơ thoảng vườn Thiền, đạo gởi duyên
Ngõ trúc, sương len hồn trí giả
Cửa không, mây níu áo nhân hiền
Bốn mùa u nhã, tình phương thảo
Chim hót đất lành, nghĩa cố viên!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Xanh um một cõi nước non tiên
Gót tục lâng lâng rũ sạch phiền
Gió thoảng u lan, hồn khởi sắc
Sương in phương thảo, dạ ngời duyên
Đài thơ, mực đọng, tình cao sĩ
Cánh bướm, son phô, dáng đại hiền
Ríu rít vườn hương, chim điểm đạo
Chồi Từ, nụ Lạc rợp thiền viên!
4. Yên Hà Các
"Nghêu ngao vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ, hạc là người quen”
(Nguyễn Du)
Ráng khói ngàn xưa nét huyễn hư!
Yên hà, mai hạc, Tố Như ư?
Trăng khuya, đọc sách, đèn tri kỷ
Bạn cũ, ẩm trà, vị tĩnh cư
Qua lại gác văn, mây mặc khách
Tới lui thềm đạo, bóng thiền sư
Giấy trời, sương mực, thơ vô tận
Bút trúc pha tình, vạn quyền thư!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Mái nguyệt, thềm mây vút cõi hư
Đằng Vương cao các chốn này ư?
Long lanh khe Hổ, nghiên thanh tú
Chót vót non Lô, bút tịnh cư
Hoa thảo nồng nàn, duyên mặc khách
Phong vân thắm thiết, đức chân sư
Nghìn xưa khói ráng còn bay mãi
Đạo lý, văn chương bạn lữ thư!
NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH
(họa)
Sương khói Bồng doanh vẫn ảo hư!
Bạch Am, Yên Tử, chốn này ư?
Tùng xanh, hạc trắng, chiều tri ngộ
Trúc biếc, mai vàng, sớm ẩn cư
Gác gió, thơ đề, tình thiện hữu
Thềm mây, bút thảo, dáng thiền sư
Cỏ cây vô ngã, trời vô ngã
"Liên phát lô trung”, hóa nghĩa thư!
. Hứa Nhất Thiên
"Vấn quân kim hà xứ
Mang mang thiên địa biên
Thùy tri thời tái kiến
Chỉ tín Hứa Nhất Thiên!”
(Viên Minh)
Chỉ tín tao phùng "Hứa Nhất Thiên”!
Cổng tre, lối cỏ, tứ điền viên
Chân trời góc bể, chung tàn thụ
Trăm núi nghìn sông, một cảnh thiền
Cổ độ, doanh hư bày đủ vẻ
Phong trần, hưng phế góp thêm duyên
Đệ huynh phiêu lãng phương hà ngoại
Dáng đá, hình cây nhớ bạn hiền!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Lồng lộng cao vời: Hứa Nhất Thiên!
Hẹn xưa, lời tạc giữa Không Huyền
Tình huynh, rực rỡ, trăng sơn lữ
Nghĩa đệ, sắt son, sóng hải thiền
Bằn bặt mây ngàn, xuôi viễn mộng
Mịt mù hạc nội, ngược tiền duyên
Cuộc trần tan hợp, tâm vô trú
Lồng lộng cao vời: Hứa Nhất Thiên!
6. Thi Hiên
(Đề hiên thơ thư pháp)
Bốn mùa thơ nở chái hiên sương
Mây khói xôn xao, chữ cúng dường
Như phụng múa trăng, dâng tứ điệu
Như rồng cỡi sóng, lướt từ chương
Thênh thang hạc trắng, trời vô ngã
Bát ngát hoa vàng, đất phạm vương
Thiên cổ lưu hương, tâm tại Phật
Mưa lành, nước ngọt, hiển cành dương!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Phơi phới tờ hoa ngát khói sương
Rồng bay, phụng múa nét như dường
Hân hoan, nguyệt tụng, trang thần cú
Lãng đãng, mây hòa, khúc thánh chương
Hữu ý, thơ xuyên dòng tục đế
Vô ngôn, đạo tỏa ánh thiền vương
Nguồn thiêng lấp lánh, tâm từ Phật
Bút dựng đài sen, pháp hiền dương!
7. Vọng Giác Sao
(Đề mái tổ trên cây, canh gác đêm)
Vọng giác hay là chân giác sào?
Là hư, là thực, hỡi chiêm bao?
Gìn tâm nên quá nhiều thao thức?
Giữ cảnh chi mà lắm khổ lao?
Bóng mát, tha hồ chim tíu tít
Tàn im, hí hửng trẻ xôn xao
Năm canh bất trắc, đời xa đạo
Chi uổng tình trăng chảy dạt dào!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Bão táp, trầm luân, đứng chịu sào
Khiêm cung, thanh nhã đẹp dường bao
Bốn chân chổng gọng, xuân thường trụ
Hai mái tốc tranh, hạ giải lao
Cảnh dựng, tường Đông, lừng khiết tĩnh
Lan treo, giậu Bắc, nức thôi xao
Bồ-đề bóng mát, chim cu hội
Thấp thoáng cành trăng mộng dạt dào!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
"Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,
Thiên hạ hà nhân bất thức quân”
(Cao Thích)
Vốn nòi ẩn sĩ giữa trăm hoa
Hương tỏa non cao, ngát hải hà
Đài các, thâm lâm, vương giả quý
Thanh kỳ, u cốc, đất trời ưa
Hiền nhân, quân tử, tri âm cũ
Mặc khách, tao ông, thanh khí xưa
Thiên hạ mắt xanh ai chẳng biết
Lòng son, nhụy thắm tưởng như là...
NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI
(xướng)
Tri Âm
Thạch trúc, cao sơn mãi dạn dày
Thâm sơn, u cốc, bóng mình soi
Kín phong thân thế, làn mây trắng
Thác gởi cô tâm, mảnh nguyệt gầy
Chưa xẻ chiếu văn, tình cách biệt
Đập tan đàn cổ, tiếng ngân hoài
Trần ai mắt trắng? Tuồng chưa hẳn!
Ly hận, bình không, chuốc chẳng đầy!
(Họa)
Hải sơn, tự cổ nghĩa sâu dày
Thế cách hai đường, nhất nguyệt soi
Suối lệ doanh hư, hờn biển mặn
Sóng xao hưng phế, xót non gầy
Túc nhân lỡ chuốt lời chia biệt
Tiện sĩ đành trau khúc cố hoài
Tia mắt xanh chừng như đọng lại
Vào tâm đầy? Hay giọt tình đầy?
NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI
(họa)
Trồng trọt trăm năm lại bắt đầu
Tan tành ruộng lúa với nương dâu
Mẫu đơn, lan, huệ đà phai sắc
La hán, tùng, thông cũng bạc màu
Lâu các, gạch vôi nằm ngổn ngổn
Mái tranh cỏ rác biến đâu đâu!
Gió mưa chạnh nhớ tình tri kỷ
Bão tố qua liền đến với nhau!
Một cơn mưa bão mới xuất đầu
Dập nát nương vườn lẫn bãi dâu
Cúc trổ hoa vàng đành xếp cánh
Liễu phô sắc biếc hết khoe màu
Thi gan, đá nọ còn trơ đó
Đọ sức, đất này có ngại đâu
Giông tố qua rồi trời sáng đẹp
Chuyện trò tri kỷ vẫn bên nhau!
ĐẠO SĨ HUYỀN LINH TỬ
(họa)
Lan thất phồn hoa, phong giả hoa
Bẩm sinh chung hợp với sơn hà
Hương trời ngày tháng, thơm ngào ngạt
Sắc nước gần xa, nét mến ưa
Tuy sống hồn nhiên noi dấu cũ
Nhưng lòng thanh thoát nối niềm xưa
Bụi hồng quyến rũ không gờn đọng
Hỡi bạn tri âm, mới thật là...
NHÀ THƠ HOÀNG THIÊN MINH
(họa)
Nhân cao nhân, đối hoa phong hoa
Hạnh ngộ nhau đây chớ nại hà?
Quốc sắc, gìn vàng, người chuộng mến
Thiên tài, giữ ngọc, kẻ chìu ưa
Xuân về, túy cũ, nức hương cũ
Thu lại, tinh xưa, nở nhị xưa
Chữ sắc, chữ tài, phương ý gởi
Trên dòng thiên cổ, có chi là...
NHÀ THƠ TRIỆU HANH
(họa)
Trời đất cung danh ẩn sĩ hoa
Uyên nguyên đã trót với sơn hà
Ngàn hồng nắng tỏa bao tình mến
Vạn tía rừng thâm lắm ý ưa
Ngọc phách trao hương như thế cựu
Tuyết tâm giữ sắc vẫn thời xưa
Duyên tùng nhập cuộc thân không tiếc
Vương giả hồn trao ấy mới là...
NHÀ THƠ PHẤN HỒNG
(họa)
Ngự uyển phi hoa? Linh thoại hoa?
Quê ta nguyên thỉ chẳng đầu hà!
Đài hương thanh khiết, người xem thích
Cảnh sắc u nhàn, kẻ ngắm ưa
Ngủ nghỉ thinh không, nguyên tánh cũ
Ở ăn tịch mịch, bổn tâm xưa
Khách trần quyến luyến mà không vướng
Vướng cảnh như như chẳng bận là...
NHÀ THƠ BÙI KHÁNH ĐẢN
(Tặng Nhà Văn Nhất Linh về ở ẩn và chơi phong lan tại Di Linh, Đà Lạt năm 1955)
Lan
Kết tụ tinh anh giữa gió sương
Muôn màu, muôn vẻ tỏa muôn hương
Nắng hồng bóng lá, vàng xao xuyến
Mưa ủ đài hoa, ngọc vấn vương
Rừng thẳm, duyên trao người hẹn lối
Non xanh, ý gởi khách mơ đường
Hay chi say mối tình vương giả
Mà nỡ đành quên nợ bốn phương?
CHÙA TĂNG QUANG
Vui bước du xuân, ghé Phật đường
Chúc lòng thanh tịnh, ngát thanh hương
Mừng người hữu hạnh, niềm siêu thoát
Mừng bậc vô ưu, nụ cát tường
Mừng thắm thiết hoa, cây vạn phúc
Mừng an nhiên tri, khí khinh dương
Chúc sư, chúc cảnh, tình vô lượng
Tâm nở hoa sen, pháp cúng dường!
-------------
Cỡi nhánh trầm thơm thơ dạo cõi
Rẽ luồng gió tía hạc chơi miền!
--------------
Đôi khi tụ khí hoa đầu đá
Lắm lúc phân thân quán vệ đường.
--------------
AI HAY VƯƠNG GIẢ!
(họa)
Tự tại non ngàn với giá sương
Tinh ba anh tú, tự nhiên hương
Cành khô, ngọc nở, hồn hoa mộng
Nhụy thắm, vàng gieo, bóng nguyệt vương
Duyên ấy hẹn hò người lạc bước
Tình này thầm thì khách quên đường
Ai đầu vương giả? Say vương giả?
Thân thế đà quen chốn thảo phương!
CAO XANH NGỌA!
Nắng dãi, mưa dầu lẫn tuyết sương
Tinh hoa ẩn giả vẫn u hương
Có đâu thắm thiết vườn nhân thế
Chẳng phải mơ màng chốn đế vương
Tình cũ tới lui, thương nết thảo
Khách xưa qua lại, nhớ con đường
Hỡi chăng, cao sĩ, cao xanh ngọa?
Tri kỷ non ngàn, tuyệt lộ phương!
SƯ PHÁP TÔNG
Duyên Nợ Mà Chi!
Có một loài hoa dãi gió sương
Mà trăm nghìn vẻ, vạn mùi hương
Long lanh ngọc đọng, mưa như điểm
Phơn phớt vàng phơi, nắng khẽ vương
Có phải Tiên đồng chơi thế tục
Hay là Ngọc nữ chán thiên đường
Nhắc đâu mộng triệu nhân hoàn ấy
Duyên nợ mà chi với bốn phương!
AN NHƯ
(Đề vườn cỏ)
Vườn cỏ dáng khiêm từ
Qua cầu bóng thảo lư
Mấy mùa non tĩnh tại
Bao độ đất an như
Y bát tình nguyên thủy
Thơ văn nghĩa cổ thư
Tiêu tao phương ngoại vật
Trăng gió luận đàm hư!
SƯ PHÁP TÔNG
(họa)
Dòng Dành Nhành Mơ!
Ai đem châu ngọc kết đài sương
Cốt cách thanh kỳ lại ngát hương
Dòng dành nhành ma chi bướm đậu
Lung linh vẻ mộng để ai vương
Non xanh, lũng quạnh mây choàng dấu
Bóng cả, khe xưa nước đổi đường
Có những chiều rơi đêm khuyết nguyệt
Gió về thầm thì vọng hà phương!
ÁNH CỔ ĐĂNG
(Chùa Bửu Quang, Gò Dầu -Thủ Đức)
Cây đứng đồi xưa, cao mây trượng?
Chùa nằm đất cũ, lạnh bao trăng?
Xôn xao nắng sớm, lời liêu khách!
Thấp thoáng mây chiều, bóng lữ tăng!
Dưỡng cỏ ngàn sau cho lá ngủ
Nuôi cây vạn thuở để chim nằm
Thiên niên lại tiếp thiên niên hậu
Mái Bửu Quang ngời ánh cổ đăng!
(Đông 1980)
NGƯỜI ÁO NÂU
(họa)
Hạc Ngàn Phương
Đời hoa hong giũa mấy mùa sương
Lưu dấu tiền thân một chút hương
"Hiến hạ” lá lay chiều gió cuốn
"Nghinh xuân” hoa hé sớm tơ vương
Duyên trao mặc khách, rừng đưa lối
Ý hẹn tao nhân, suối dẫn đường
Thương vẫn thương, tình còn cuộc lữ
Nợ tang bồng, cánh hạc ngàn phương!
HƯƠNG CỔ TỰ
Vô tận đạo vàng, vô tận Xuân
Tăng Quang cổ tự, ngát hương tâm
Thiền về cửa Phật, hoa an tĩnh
Thơ viếng hiên không, pháp diệu trần
Ngày tháng chuông ngân, duyên giác tuệ
Sớm hôm kinh vọng, hải triều âm
Chư tăng, thiện hữu, xuân du lãm
Thanh thản ngàn cao, thoảng xạ trầm!
MANG MANG CẢM BÚT
(Thăm chùa Bửu Long)
Một sớm ta về núi Bửu Long
Bụi hồng vai áo, bụi hồng hoang
Đồi mây thoang thoát, rong mây trắng
Rừng lá vi vu, điểm lá vàng
Thiền định hai bờ, cây điệp điệp
Pháp luận tám hướng, gió mang mang
Tình lên tháp mới, yên lòng cũ
Ý tợ hư không, dẫu bộn bàng!
(Trước tháp ngài Hộ Tông, Đông 1982)
TRĂNG BẢO TẠNG
(Chùa Pháp Bảo, Mỹ Tho)
Công ai khéo dựng địa linh này?
Nguồn báu, đức vàng nắn tượng xây
Gò, đống, mã mồ... lên biếc lá
Mương, khe, gai gốc... trở xanh cây
Tháp thiền, khuya sớm, cười sương gió
Điện Phật, trưa chiều, ngắm nước mây
Một cảnh, một đời, vui tuế nguyệt
Ngàn năm Bảo tạng, Pháp còn đây!
(Đông Tân Dậu)
CHÙA QUÊ
(Tự họa: Nham Biều thôn)
Phương khách du nhàn đạo xóm quê
Lòng nghe êm ả lối đi về
Giọng hò sương sớm mơ màng quá
Khói bếp nương chiều thắm thiết ghê
Làng đẹp: Tình tâm, hương lý bưởi
Chùa hiền: Hoa kiểng, mái tranh tre
Eo Bầu, trái mọng càng thơm mọng
Chẳng hỏi trần hồng giấc tỉnh mê!
BỨC TRANH QUÊ
(Nham Biều thôn)
Êm đềm sông nước, bức tranh quê
Xóm nhỏ thương thương nối nhịp về
Cầu đứng soi mình thanh thản lạ
Thuyền chèo nghiêng bóng dịu dàng ghê
Eo Bầu, nắng mới ươm vườn trái
Én Trắng, trăng vàng lượn ngõ tre
Hồn bướm nghe kinh choàng mộng triệu
Lòng đời như nhẹ nỗi sinh mê!
(10/02/1990)
BỬU LONG TRƯỜNG THI
(12 bài thất ngôn liên hoàn vận)
Ngàn dặm đường xa đến Bửu Long
Dừng bên dốc núi, thở âm thầm
Nhìn lên đồi cũ, ngôi chùa cũ
Ngoảnh lại lòng không, mấy khoảng không!
Thăm cảnh, thăm tình, thăm xế nguyệt
Viếng cây, viếng lá, viếng tàn Đông
Ngập ngừng cổng trước, đêm choàng lối
Bóng đổ sau lưng, bóng lạnh lùng!
Bóng đổ sau lưng, bóng lạnh lùng!
Một vùng sáng nhỏ, nhỏ mênh mông
Tình tiêu hạo hạo, tình tiêu quá
Tâm tịch minh minh, tâm tịch đồng
Là khách phù du bên cõi ngoại?
Là thân lãng bạt tự đầu sông?
Hắt hiu sương khói, lời sương khói
Thoảng chiếc lá khô rớt lộn vòng!
Thoảng chiếc lá khô rớt lộn vòng
Bên nhau, huynh đệ cười như không
Mắt đưa, ngơ ngác giờ tương ngộ
Tay nắm, bâng khuâng phút hội phùng
Trà đậm, tình sâu khôn biển vợi
Chuyện say, lòng nhẹ tợ mây rong
Chư sư còn trẻ nhìn không nói
Hoa nở từ đâu đóa đại đồng!
Hoa nở từ đâu đóa đại đồng
Một đêm trời đất tấm tình chung
Thiên thu thấp thoáng, uy hiên hổ
Vĩnh cửu mập mờ, trấn cửa long
Giữa gió chuông rơi lời tịch lặng
Từ mây sương rụng ý hư không
Thầy đi từ độ bình minh cũ
Chùa vẫn, nhưng như thoảng lạnh lùng!
Chùa vẫn, nhưng như thoảng lạnh lùng!
Nói gì? Núi có nói gì không?
Còn kia, luận sĩ, óc ba tạng!
Còn nọ, pháp sư, ruột bảy lòng!
Xa mã ngược xuôi, đời tấp nập.
Lợi danh lui tới, đạo long đong
Núi cao nhìn xuống cười dâu biển
Tiếng vỗ trời tây, cánh hạc hồng!
Tiếng vỗ trời tây, cánh hạc hồng
Còn chi? Còn lại nụ cười không!
Kim ngôn, bụi bám càng cay mắt
Pháp vũ, mưa sa chắc bạc lòng
Đau lắm, đất khô còn rắn mặt!
Xót nhiều, cỏ dại cũng xơ lưng!
Ai hay, ai biết năm Tân Dậu?
Ta đến đề thơ dưới cội tùng!
Ta đến đề thơ dưới cội tùng
Còn đây tháp mới dựng đồi trăng
Mang mang sương trắng, buồn mây trắng
Bàng bạc lau ngàn, sầu gió ngàn
Mây vẽ bên trời, siêu lý tượng
Gió reo ngoài nội, thượng thừa môn
Mép môi kẻ chợ, lời lươn lẹo
Lòng dạ phường chài, bụng ễnh ương
Tăng chúng còn đây, tri sự đó
Ra tay hàn gắn cuộc thê lương
Ra tay hàn gắn cuộc thê lương!
Ai bỏ đi! Trời đất cũng dường
Triều hải lịch ba, du hải động?
Lưu hà bôn mạch, tự hà xung?
Pháp vân như giục lăng không khứ!
Pháp vũ như tri tại địa hoàn!
Nhược hữu, nhược vô, hà thuyết khả?
Thiên đầu có nguyệt vị tằng ngôn!
Thiên đầu có nguyệt vị tằng ngôn
Tùng ơi! Tùng hỡi! Lạnh xuyên sơn!
Mỏi chân ba cõi đi tìm cốt
Kiệt gối trăm đời chạy kiếm xương
Bão thổi truông hoang còn rát mặt
Nắng nung lũng quạnh đã thâm lưng
Còn cây, còn cội, còn non nước
Xin thắm cho chùa nụ cỏ hường...
Xin thắm cho chùa nụ cỏ hường
Hãy cho hoa nở đóa đầy hương
Bát treo đầu gậy dầu trăng lặn
Y trải trên ngàn mặc gió vương
Chim đã xa rừng, xa chẳng luyến
Nước chưa bỏ núi, bỏ thì thương
Tim người ai rỉ hai dòng máu
Một ở cao hoang, một cuối đường!
Một ở cao hoang, một cuối đường
Ra đi lưu lạc tận mười phương
Độ sinh, sinh độ, lòng no cật
Quay pháp, pháp quay, ruột rối tràng
Thâm tận thâm khê, tình tải tuyết
Cao u cao ngạn, trí lưu sương
Biết đâu ảo thực mà tri xứ?
Thôi để cho đời chuyện đảo điên
Thôi đề cho đời chuyện đảo điên
Bửu Long xin mãi Bửu Long viên
Tâm triêu như cựu, hà vô tử!
Ý nhuận như tân, tức thị thường!
Duyên đã khốc khô, xem Bắc vũ
Đạo đang tàn mạt, ngắm Đông phong
Chấp tay xin lạy từ thiên cổ
Dệt mấy trang thơ, giọt lệ hồng!
(Kỷ niệm Bách nhật
Cố Đại Trưởng Lão Hộ Tông, 4.11, Tân Dậu)
NHÀ THƠ NGUYỄN
(xướng)
Cầu Bạch Yến
Cầu duyên từ thiện nối Tây Đông
Cầu khởi nhân sinh bước đại đồng
Cầu Phật tâm soi nguồn nước Tịnh
Cầu Thiên đạo chứng cõi non Bồng
Cầu đưa bác ái xuôi dòng biếc
Cầu niệm từ bi lướt dặm hồng
Cầu ngát hương xa, tình vạn lý
Cầu ngời sắc thắm, tứ Huyền Không!
(Họa)
Cầu cực Tây mà nối cực Đông
Cầu ơi! Tâm cảnh lý tương đồng
Cầu đưa mê lộ về phương Giác
Cầu chuyển thương sinh đến cõi Bồng
Cầu thắm hoa, chung dòng uế trược
Cầu cao tay, rủ áo trần hồng
Cầu hương, cầu đạo, cầu nhân ái
Cầu vẽ giữa trời sắc diệu không!
(20/2/1990)
SƯ TƯỜNG NHÂN
(họa)
Cầu xinh bao nhịp bấy tình quê
Cánh trắng tung mây, én liệng về
Ngõ trúc, trẻ đùa vui vẻ nhỉ?
Vườn trăng, già ngắm thảnh thơi ghê!
Dạt dào câu hát, vàng nương bắp
Chan chứa điệu hò, xanh lũy tre
Nghe tiếng chuông chùa, lòng tự hỏi
Nợ duyên chi nữa, còn đam mê?
Đâu đây gió thoảng, thoảng hương quê
Í ới, chăn trâu rộn bước về
Ai dựng chùa tranh sao khéo thế?
Người xây cầu sắt thiệt tài ghê!
Ngày ngày bận bịu ngoài đồng ruộng
Tối tối vui vầy bên chõng tre
Bạch Yến dòng xanh trôi lặng lẽ
Nghe lòng thanh thản giấc trần mê!
CẦU ÉN TRẮNG
(Kỷ niệm
ngày khánh thành cầu Bạch Yến)
Ra công, gắng sức: Chiếc cầu xinh!
Có chút thi thơ, chút đạo tình!
Mấy nhịp vòm cong, dường yểu điệu
Hai hàng trụ thẳng, vẻ trung trinh
Đông Đoài, tay nối anh cùng chị
Nam Bắc, lòng chung tớ với mình
Én Trắng qua sông chao bóng trúc
Đời đời tô rạng cảnh nhân sinh!
MỘNG HÓA SINH
(Tự họa: Cầu Bạch Yến)
Bởi đất và người lắm vẻ xinh
Cầu qua sông nước thắm bao tình
Xóm làng lợi lạc: Câu vinh phúc!
Già trẻ hân hoan: Chữ cát trinh!
Nối nghĩa, nối ân nên nối nhịp
Chung tâm, chung ý có chung mình
Mang mang thương hải, lòng trăng gió
Cảnh thực hay là mộng hóa sinh?
NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH
(họa)
Khá khen ai vẽ nét xinh xinh
Một chiếc cầu qua vạn tâm tình
Bắc nhịp Đông Đoài vai tiết khí
Nối dòng Nam Bắc dạ trung trinh
Đường lên Thứu lĩnh sao soi bóng
Nẻo xuống Hằng giang nguyệt rọi mình
Én liệng chân mây, chiều hoá hóa
Cá vờn mặt sóng mãi sinh sinh!
Nhà Thơ Nguyễn
(xướng)
HUYỀN KHÔNG TỨ QUÝ
1.Huyền Không Xuân Tứ
Vui bước du xuân lạc nẻo huyền
Chút tình phương khách, nhớ thiền duyên
Văn chương hưng thế, bừng thanh khí
Đạo lý thông thiên, cảm thánh hiền
Hoa ngát vân phong, thềm tịnh thất
Núi ngời tuyết nguyệt, mái thi hiên
Đường trần ngoảnh lại sương che khuất
Lãng đãng hài Tăng ngỡ bóng tiên!
(Huế, 26/10 -Bính Dần, 1986)
(họa)
Xuân xưa chánh pháp, mảnh trăng huyền!
Đạo lý, cơ căn, sẵn đủ duyên
Mượn nghĩa Thanh Tâm, bày tịnh cảnh
Vay tình Phương Thảo, đón minh hiền
Lan phô sắc nhã, hương thơm thất
Hồng nở tươi nhuần, bướm đẹp hiên
Cao sĩ du xuân, vi tiếu nhỉ
Rằng Tâm là Phật, hẳn đòi Tiên!
Ham vui, tài mọn, chút hư huyền!
Tâm cảnh mơ màng đợi túc duyên
Ai đến xin đừng mơ vọng giác!
Khách về chỉ nhớ mộng lương hiền!
Tình văn xanh biếc, thơ lưu gót
Sắc đạo trắng ngần, sương điểm hiên
Nét bút tung mây, vô ẩn hiện
Xuân nào dấu tích Phật và Tiên!
SƯ TUỆ TÂM
(họa)
Xuân qua xuân lại chốn Không Huyền
Người đến đây rồi chắc hữu duyên
Suối đá, bối hoa, chờ tục khách
Trăng thơ, đạo lý, đón nhân hiền
Yên Hà, nhạc gió, hòa thanh vận
Phương Thảo, hương lan, tỏa đạm hiên
Một khoảng trời xuân dường đọng lại
Huyền Không, người cảnh, hẵng là Tiên!
2. Huyền Không Hạ Tứ
Chợt dậy sân thiền tiếng nhạc ve
Ô hay! Trời đất đã sang hè!
Huyền tâm mấy độ rêu phong núi
Không tứ bao lần nước lắng khe
Lên gác Yên Hà, vương ý khói
Xuống vườn Phương Thảo, cảm hồn tre
Cam lồ, hạ tứ, nghiêng bình rót
Phơ phất nam nồm lọng nắng hoe!
(HK, mùa Hạ Đinh Mão, 1987).
(họa)
Đất trời đã rộn tiếng kêu ve
Mới thoáng xuân đi, đã đến hè
Mặc gió sân thiền lay bóng lá
Dẫu trăng vườn tịnh ẩn lòng khe
Ngày Yên Hà các, xao hoa đốm
Đêm Đạm Lư hiên, lặng ngõ tre
Bạn đạo, bạn thơ thưa thớt mãi
Vắng hoe thêm nỗi nắng loe hoe!
SƯ TUỆ TÂM
(họa)
Thinh không nhạc trổi, dậy hồn ve
Tạo hóa vần xoay, xuân đến hè
Sân trước, nắng hong vườn đá tảng
Hiên sau, trăng lượn đáy lòng khe
Một làn gió thoảng, xao tình liễu
Đôi cánh chuồn bay, lặng bóng tre
Mây trắng thong dong về cố quận
Trưa hè trời đất bỗng im hoe!
3.Huyền Không Thu Tứ
Huyền Không một thoáng nắng qua sân
Man mác hương lan quyện bước trần
Tịnh, lạc - tâm reo dòng pháp vũ
Ngã, thường - thân hiện cánh từ vân
Níu mây hỏi nẻo về vô thỉ
Đón gió thăm đường đến huyễn chân
Vằng tiếng thiền sư trên gác sách
Yên Hà, sắc áo, khởi thu phân! (Huế, 6/10/1986)
(họa)
Bàng bạc mây trời lả xuống sân
Ô hay! Thu tử đã du trần
Hồn thơ ví lạm màu thanh thủy
Ý đạo như dường đám bạch vân
Pháp Vũ, nào mơ trăng bát nhã !
Huyền Không, chẳng mộng đóa như chân!
Anh em tri tạ, tình thiên cổ
Sắc áo vàng pha, thu khởi phân!
SƯ TUỆ TÂM
(họa)
Từng chiếc lá vàng rơi cuối sân
Thu sang, thiên địa nhuốm phong trần
Thanh Tâm, vườn biếc, xanh màu đất
Hàm Nguyệt, hồ trong, chuyển sắc vân
Ngõ trúc hoa vàng, ai thả mộng?
Am tranh mây trắng, khách dừng chân
Huyền Không muôn thuở tình như thử
Nẻo đạo, đường đời, chẳng nệ phân!
4.Huyền Không Đông Tứ
Gội làn mưa pháp buổi sơ Đông
Vách đá mây chen sắc nõn hồng
Tâm thức lắng trong nguồn tự tại
Nghiệp duyên thấu suốt lẽ Huyền Không
Đường mê, chân bấm, rêu che lối
Suối Giải, tay khua, nước rẽ dòng
Thánh thót mười phương vô lượng tứ
Đạo tràng phơi phới bước hư phong
(Huế, 19/11/1986)
SƯ TUỆ TÂM
(họa)
Thu đã qua rồi lại đến Đông
Cây trơ, sầu hứng giọt sương hồng
Đường mai, sương trắng, mờ nhân ảnh
Lối cũ, trăng cài, rợp cửa không
Mấy kẻ buông tay trên dốc thẳm?
Bao người quẩy gánh ngược xuôi dòng?
Anh em cố cựu còn ai nhỉ?
Vị tiểu hề! Nào ngại bát phong!
(họa)
Chừng mới Thu tàn đã trọng Đông
Cỏ cây chờ đợi ánh dương hồng
Mưa đàn nhịp loạn, hư dường thực?
Gió sáo ngân chùng, có tợ không!
Mây lạc gác đơn, chim cuộn tổ
Trăng về hồ lạnh, cá bươn dòng
Cảnh tâm vần vũ lâm li sự
Nhất niệm vong hề! Bặt quái phong!
Tuyết lãnh, cao sơn ngộ gió Đông
Đã từng Thu biếc với Xuân hồng
Bình nhiên đá tưởng, hàn ôn mặc
Phiêu hốt mây tình, lai khứ không
Tiên cảnh sầu Lưu, hoa nuối chiếc
Thiền tâm tụ Nguyễn, bến khơi dòng
Mựa cầu niên tuế thâm dường núi
Chẳng ngại Yên Hà quái quái phong!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(xướng)
Nhớ Huyền Không
Xa tít chân mây cánh nhạn hồng
Tây hồ nắng sớm nhớ Huyền Không
Nhớ Phong lan uyển, trời xanh mộng
Nhớ Tĩnh tâm viên, đất thắm bông
Nhớ núi, thênh thang duyên Pháp vũ
Nhớ thơ, bàng bạc ánh Thiền tông
Nhớ trang ấn sĩ đang trì giới
Kiếm mã sương nhòa bụi lắng trong!
(Hà Nội 20/8/85)
(họa)
Nhớ như nước biếc, nhớ non hồng
Viếng cảnh Tây Hồ thứ lắm không?
Đình thảo, mê màng mơn lối cỏ
Phong lan, thơi thả thắm màu bông
Đất xưa lá ngủ, tình quê cội!
Rừng cũ chim về, nghĩa tổ tông
Tiểu ẩn quê mùa, chi kiếm mã?
Ngồi bên hồ gió mát trăng trong!
SƯ PHÁP TÔNG
(họa)
Cũng sông cũng núi cũng trời hồng
Chỉ cột ràng mà nhớ cửa không
Hay vẻ mơ màng sương ngậm cỏ
Hay màu thanh thoát đá chen bông
Hay lòng du tử xa nguồn cội?
Hay nợ hình hài nhớ tổ tông?
Hay dẫu, chiều sa cô lộ vỗ!
Vẳng phương nào tiếng sáo ngân trong!
(HK Nham Biều, 1986)
SƯ TUỆ TÂM
(họa)
Về đây lòng nhẹ tự mây hồng
Phố thị hiên ngoài gió thoảng không
Hàm Nguyệt, nín chờ, trăng đuổi mộng
Thảo Đình, lặng ngắm, cỏ đơm bông
Dạt trôi góc biển, mơ nguồn cội
Phiêu dạt phương ngàn, nhớ tổ tông
Quê cũ, đệ huynh vui nếp đạo
Ngả lưng nằm ấm mảnh tình trong!
(HK Nham Biều, 1986)
NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI
(họa)
Phong nguyệt màn chi xanh với hồng
Không huyền hồi ảnh thị Huyền Không
Yên Hà các thượng, thi vờn họa
Pháp Vũ đường trung, đá trổ bông
Hàm Nguyệt, tĩnh tâm, ngời sắc phái
Giải Trần, lan uyển, ngát hương tông
Mây sương man mác tình tri kỷ
Tri kỷ mời nhau chén nước trong!
ĐƯỜNG XUÂN
(2 câu thơ đầu của Nhà Thơ Nguyễn)
Đường Xuân thơm ngát nụ Huyền Không
Một cõi vô ưu, một tấm lòng
Trân trọng thơ hoa, hương lặng lẽ
Hồn nhiên đá cỏ, nết khiêm cung
Đẹp đời, thắm thiết hồng phô sắc
Vui đạo, lơ thơ lan điểm bông
Giữa cảnh giữa trần quên lý nghĩa
Nằm nghe thân thể thoảng thiên thông!
ĐẠO SĨ HUYỀN LINH TỬ
(hoạ)
Tuy chưa may mắn viếng Huyền Không
Cảnh trí hình dung đã thấu lòng
Trầm nhụ ngạt ngào hồn hướng diệu
Đàm hoa thắm thía nét nghiêm cung
Cửa Thiền mát mẻ trần không bụi
Nhà Tịnh đằm tươi sắc đủ bông
Phật, Thánh, Tiên, Chơn đều nhất quán
Độ nhơn luyện kỷ phép thần thông!
NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH
(họa)
Tình quê ấp ủ nẻo Huyền Không
Rủ áo phong sương lắng hỏi lòng
Tự tại y vàng châu Phật điện
Xum Xòe bào tía chực hoàng cung!
Thiền viên cúc thắm, sương phong nhị
Đạo uyển mai gầy, tuyết điểm bông
Trường mộng chập chờn mây để khuyết
Bến bờ chơn ảo, gió ngàn thông!
Vườn thơ nguyệt bạch tỏa tầng không
Cỏ nội xanh non trải cõi lòng
Bút thảo tờ hoa cài ngõ trúc
Son đề bức lụa dán thiền cung
Tường vân nhẹ lãng, lan ươm nụ
Pháp vũ tươi nhuần, huệ trổ bông
Thi các Yên Hà, hồn mặc khách
Nhã vần ly tục... vút thiên thông!
NHÀ THƠ HOÀI TÂM
(họa)
Xuân về tưởng nhớ hội Huyền Không
Gót cỏ đường xa chạnh nỗi lòng
Mến đạo thương trăng miền ý thảo
Nghĩ đời chán cảnh thuở yên cung
Phật tay tục lụy dày oan trái
Nhẹ bước liên đài thắm nhụy bông
Núi cách sông ngăn, tâm chẳng cách
Chút tình ngàn dặm tư viên thông
NHÀ THƠ NGUYỄN
(xướng)
Không Đề
Xa nhớ Huyền Không giục bước về
Đường trần xao xuyến ngát hương quê
Thảo phương, Lan uyển, xua tâm tục
Lưu khiết, Giải kiều, tẩy gót mê
Kinh truyện ngọt ngào, giao gió chuyển
Thi văn lồng lộng, gởi mây đề
Hài tăng sương đọng lay rèm trúc
Thu tứ, Thu phong bỗng nhất tề!
(họa)
Huyền Không ai nhớ, nhớ ai về!
Gởi khách tình thâm một chút quê
Hồn luyến "thảo phương” sao mựa tục?
Lòng qua "lưu khiết” nhẽ còn mê?
Thi văn lên núi, không hòa ý!
Kênh truyện xuống non, sắc chuyên đề!
Thanh khí phiêu nhiên hương vạn dặm
Thì tâm, thì tứ, tứ tâm tề!
Thì tâm, thì tứ, tứ tâm tề!
Cạn chén thanh trà, cạn chén quê
Vằng vặc bên trời, trăng Thiếu thất
Long lanh đầu cỏ, giọt Tào Khê
Gươm đàn nhẹ gánh, khôn vương hẹn
Sương gió đầy vai, chẳng lụy thề
Trúc bút, tăng thi giai điểm lộ
Mực Yên Hà mà ngẩn ngơ hề!
Mực Yên Hà mà ngẩn ngơ hề!
Tình vốn mê rồi, tứ cũng mê!
Mê ngủ vườn trăng, trăng bốn hướng
Tỉnh nằm gác gió, gió ba bề
Tình, thức quên lâu, khơi lửa ngọn!
Tứ từ lặn mãi, bíu nguồn quê
Tuyết trắng thêm sương, nghe trắng nhỉ?
Nhất sinh trường tiếu, mộng trường hê!
Nhất sinh trường tiếu, mộng trường hê!
Nê trọc, nê thanh, nê xuất nê!
Bèn dẫu, Thu phong mời bạn đến
Thì nhiên, Thu tứ gọi trăng về
Đông Pha viễn mộng, thất tình ngạo!
Phật Ấn minh tâm, tám gió đề!
Hạc trắng, người quen, thiên tài hiện!
Trầm lô thoang thoát tí hồn quê!
Trầm lô thoang thoát tí hồn quê
Bút vượt không hư, non lĩnh đề!
Tráng sĩ bên trời, vui kiếm ngựa
Đạo nhân góc núi, thú sơn khê
Chàng Vương thi Phật, mê... tỉnh?
Họ Lý thi Tiên, tỉnh... mê?
Hài cỏ phương Tây còn một chiếc
Nào quên, nào nhớ, khứ lai hề!
Nào quên, nào nhớ, khứ lai hề!
Trược đã chán rồi, thanh cũng chê!
Trần giải, nào người ôm hệ phược
Tâm thanh, ai kẻ đắm phiền nê
Gậy thiền Lâm Tế, đanh điên đảo
Kiếm tuệ Thần Quang, chém não nề
Dốc thẳm buông tay, ai đại trượng?
Tử sinh như thử, cứ đi về!
(Ngày 27, 28, 29, 01, 02 tháng 9,10 - 1986)
NHÀ THƠ NGUYỄN
(Viếng điếu thân mẫu tôi
mất ngày 6/10 Đinh Mão)
Khóc Mẹ!
Nhớ mới hôm nào đến vấn an
Lòng mừng: Sức khỏe cụ chưa can
Ra vườn cuốc cỏ, tay con dẻo
Lên điện nghe kinh, bước vẫn nhàn
Tiếng hạc chợt xa ngoài cõi tục
Bóng loan thoáng hút khuất trùng san
Ô hô! Chín chữ ơn từ mẫu
Vĩnh biệt nghìn thu, lệ chứa chan!
(họa)
Nào ai tử biệt vẫn nhiên an
Thịt nát xương lìa, xẻ phế can
Trọn kiếp tảo tần luôn bận bịu
Suốt đời vất vả chẳng thơi nhàn
Nhà huyện quạnh vắng trùm sương giá
Bóng hạc cô cùng khuất lĩnh san
Mẹ hỡi, ba xuân lòng tấc cỏ
Đất trời, cây lá lệ hòa chan!
KHÓC NGƯỜI
(Viết tại chân núi Yên Tử,
hành trang của Hương Vân Đầu Đà, 1990)
Lệ đỏ thành thơ, phải lệ trời?
Non xanh, hạc trắng, dấu chân người!
Lòng thiền vằng vặc trăng ba cõi
Rừng trúc mênh mông bạn một đời
Mở chốt càn khôn, bày tịnh cảnh
Nghiêng bầu nhật nguyệt, cạn trần khơi
Kính thương vỗ nhẹ vào sương khói
Giọt đọng mơ hồ, giọt rụng rơi!
KHÓC BẠN
(Ngày sư Thiện Quang
chùa Bửu Quang ra đi)
Một thoáng nghìn thu vĩnh biệt rồi
Chùa xưa, người cũ, lạnh lùng ôi!
Gió lùa hiên vắng, hoa lay lắt
Mây phủ sân không, lá ngậm ngùi
Cỏ đá ủ tình, sương ngấn lụy
Lan hồng phơi nghĩa, nắng vàng phôi
Ngồi đây khóc bạn ngày đông lạnh
Tám hướng hư vô hút tiếng lời!
(Sân chùa Bửu Quang, 1981)
BẾ MÔN THỜI NGẪU VỊNH
(Tặng thầy Giới Hương
Trụ trì chùa Diệu Đế)
Vị ái ti đài thâm cổ lục
Vị lân khô diệp mãn không viên
Môn phong, triêu mộ duy cầm điểu
Kinh bế, tiêu tà chỉ vụ sương
Tâm hạc minh minh du thế ngoại
Ý hồng hốt hốt lãng khung thương
Ninh vô tri kỷ, trà tuy độc
Cử ẩm nhất chung, nhật nguyệt thường!
(Chùa Diệu Đế, 1981)
MIỀN DI SẢN
Xứ Huế, dòng Hương lại ngát hương
Hương thơm văn hiến tỏa muôn phương
Giữ gìn di sản, tròn công tích
Bảo trọng gia tài, vẹn sử chương
Cái đẹp có bao giờ huyễn hoặc
Cái tâm thì cứ mãi chơn thường
Ba miền chung cội, cành xanh lá
Một cõi trời Nam sánh vạn cường!
TRÀ, THƠ VÀ HUẾ
Nâng chén trà sương, nhàn, tĩnh mặc
Ngâm câu thơ cổ, thú thanh tâm
Sắc xanh ánh bởi mây non Ngự
Vị đượm len từ hương giậu Xuân
Nước biếc pha trắng, thương Hạ chí
Thông ngàn níu gió, nhớ Thu phân
Mời nhau chi nệ trùng quan hỡi!
Ai bảo đế thành hiếm mỹ nhân!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Tiếng Tơ Xao
Vượt bao non nước đến quê nhà
Sao thấy như tìm lại chính ta
Này bến sông thu vương nắng cũ
Kìa hiên trúc biếc lặng chiều tà
Lời thơ lạnh mộng tàn đêm nhớ
Tiếng nhạc buồn thương thoảng khói xa
Dù gió mưa ngàn giăng sóng đục
Cành sen thanh thoát vẫn như là...
(họa)
Sương khói mênh mang, nước lẫn nhà
Dặm trần hư ảo, chạnh lòng ta
Chơi vơi đỉnh Ngự, mây sầu lãng
Man mác dòng Hương, nguyệt xế tà
Có phải tiếng tơ xao vận cũ
Hay là lời gió gợi niềm xa
Bâng khuâng cổng khép, then cài lỏng
Lá đỏ thu rơi, cứ tưởng là...
NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH
(xướng)
Hoài Niệm Cụ Ức Trai
Nắng hè vàng rực cảnh Côn Sơn
Lớp lớp thềm cao gối đã chồn
Bàn thạch lưng mây, không đến... dại?
Động rêu vách núi, cứ ngồi... khôn?
Quân trung, ngọn bút ngời kim cổ
Dã ngoại, đường đao ám thất tồn!
Thế thái nhân tình ai tỏ suốt?
Thôi thì đừng dại cũng đừng khôn!
(Côn Sơn, 29/6/86)
(họa)
Một chút lòng xưa viếng lĩnh sơn
Lưng mây đá xếp, gối chân chồn
Lên non tuyết nguyệt, bao người dại?
Xuống chợ, công hầu, bấy kẻ khôn?
Xót Tín mão vàng, đương thế lụy
Thương Lương áo vải, hậu danh tồn
Liễu thông xuất xử còn trêu mệnh
Côn đỉnh nào hay tiếng dại khôn!
NHÀ THỜ NGUYỄN
Thăm Côn Sơn
Lên đỉnh Côn Sơn giữa nắng hè
Đội trời, đạp đất bẻ cây che
Thênh thang xuất xử tròn hai nẻo
Đủng đỉnh khứ lai rộng bốn bề
Dõi mắt chờ mây xanh ý lá
Nghiêng tai đợi gió vẳng tin khe
Mải mê suối mát quên chiều xuống
Yên Tử xa xăm tạm trở về!
(họa)
Leo chơi Côn đỉnh giữa trưa hè
Trơ trọi trời cao chẳng bóng che
Cái trí hư tâm thông vạn nẻo
Chiếc thân ngoại vật biển trăm bề
Vị thiền nhàn đạm nhìn sương khói
Việc nước ôn hàn hỏi suối khe
Tiến động, thạch bàn, rêu cỏ úa
Hồn ai, cánh hạc cỡi mây về!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(xướng)
Thăm Kiếp Bạc
Kiếp Bạc uy linh nức tiếng truyền
Đất trời vần vũ khí gươm thiêng
Lục Đầu rực rỡ trong thần phả
Dược Lĩnh oai vang dấu thánh quyền
Trung hiếu ngàn năm ngời nhật nguyệt
Nghĩa nhân vạn cổ nức thanh thiên
Ngững nhìn thượng phụ chưa rời giáp
Thầm nguyện sơn hà bặt tiếng quyên!
(họa)
Núi sông nghe dậy tiếng gươm truyền
Anh khí Lạc Hồng tiếp khí thiêng
Vị quốc, bút châu phê lệnh hịch
Thương nòi, ấn ngọc mượn vương quyền
Cang thường, vị tất ly hành đạo!
Đức trí, hà như xuất thể thiên!
Vạn Kiếp, đền vàng, hương khói bạc
Mênh mông sóng nước bặt sầu quyên!
CỤ ĐỒ CHIỂU
(nguyên vận)
Bút Chính Khí
Ba Vương, năm Đế dấu vừa qua
Mối đạo trời trao đức Thánh ta
Hai chữ cương thường dằn các nước
Một câu trung hiếu dựng muôn nhà
"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” (1)
Căm bấy bầy ngu theo thói mọi
Trời gần chẳng kính, kính trời xa!
(1)Thơ Nguyễn Đình Chiểu
(họa)
Trang sử bao đời lướt lướt qua
Chợt gương Đồ Chiểu động lòng ta
Thương dân ba tỉnh đau niềm nước
Khóc mẹ đôi mi rỏ lệ nhà
Trung hiếu nuôi tâm, nuôi chính khí
Nghĩa nhân thắng ác, thắng gian tà
Rêu xanh, cảo lục màu trăng đọng
Hương bút, hương lòng thơm ngát xa!
ĐIỂM THẠCH ĐẦU
(Trân tặng Nhà Thơ Dạ Sĩ Thiện Trí,
tức Cố Đại lão Hòa thượng Hiếu Quang)
Ai bỏ hoa tài giữa biển dâu
Đến nay sương tuyết lại thêm mầu
Mai lâm thi hữu, chừng thưa vắng
Ti trúc duyên cầm, hẵng thắm lâu
Một mảnh thanh yên, lồng ánh nguyệt
Một bầu băng khiết, rạng đêm thâu
Non cao cô lẻ, khôn tầm nhạn
Chỉ thấy giá đông điểm thạch đầu!
NHÀ THƠ DẠ SĨ THIỆN TRÍ
(họa đáp)
Từng nghe biển cả hóa nương dâu
Sanh diệt biến thiên lẽ nhiệm mầu
Tán tụ tùy cơ, vui thấm thoắt
Sắc không vô ngại, khỏe dài lâu
Tâm hồn khai phát mầm hoa đạo
Phẩm chất dung hòa ánh nguyệt thâu
Lắng sạch căn trần, siêu vọng niệm
Hóa nên ngoan thạch cũng nghiêng đầu!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Trải non thế kỷ bể liền dâu
Vẫn giữ trong tim ánh đạo mầu
Nối vận tao ông, mây Ngự Lĩnh
Sợi dây cầm khách, nước Văn Lâu
Mười phương, ngọc đọng, tâm dàn rộng
Chín phẩm, vàng gieo, ý tóm thâu
Cung bậc ngàn xưa, nay lại thấy
Mai Lâm thanh khí tỏa sơn đầu!
(10/12/1987)
LÃO BỆNH KHÔNG
(Vấn an Hòa thượng An Lạc, Sài Gòn)
Lão bệnh là không, sinh tử không!
Đốm hoa xao xác, ánh trăng lồng
Liễu như, cười mỉm, xoa trần mộng!
Tri huyễn, xem chơi, liếc nhược bồng!
Thềm đạo, nhàn thâm, hương tòng bách
Chõng thiền, u tĩnh, sắc Thu Đông
Bồ-đề tám lá, xuân ươm lộc
Sinh tử là không, lão bệnh không!
(Đông Nhâm Thân)
CÔ TỊCH TỌA
Lãng đãng vô cùng thiên địa gian
Khống vi nhân tục, khống vi tiên!
Án đầu bát trí, phong trần tại
Lộc giác y huyền, nguyệt tuế miên
Di phố, giá ngôn thừa tích nhật
Trú đường, điêu sự vãng dư niên
Hỷ hồ! Tâm ngoại tâm tùy nhiệm!
Chúng dĩ không thằng, ngã tọa nhiên!
(Yên Hà Các - 1981)
---------------------------------
Non tùng dựng bút sương pha mực
Lũng trúc phơi kinh vắng chép bài.
-------------------------
Danh lợi bơi sông thuyền thủng đáy
Sắc tài lặng suối cá đùa câu!
-----------------------------
NƯỚC VỀ ĐÔNG
Lửa cháy ngàn dâu còn tỏ mặt
Đời người muôn thuở nghĩ mà thương
Nước cau gọn tí, màu trong đục
Ruột quặn bào cơn, khúc đoạn trường
Xa mã xuống lên, trò phế thịnh
Thị phi sấp ngửa, lẽ vong hưng
Cố nhân vọng biệt phương hà ngoại!
Tri kỷ, tri âm mấy đổi đường!
Tri kỷ tri âm mấy đổi đường!
Tri âm tri kỷ mấy màu sương
Nhìn nhau tư kiến vàng hay tím?
Lòng với nghi tâm đỏ hóa hường?
Mắt váng hồ xanh chao chiếc nhạn
Đèn hoa bụi xám vấy màn gương
Vô tâm mây trắng thong dong nhỉ?
Đời tối, riêng ai muốn tỏ tường?
Đời tối, riêng ai muốn tỏ tường?
Với ai mòn trán lý chơn thường
Bạc tiền bao nả, cay cay mắt
Cơm áo đòi phen, xót xót lòng
Phải trái nói năng đà mỏi miệng
Chánh tà đi đứng đã đau lưng
Muôn xưa hoa nở, hoa im lặng
Một mảnh sao sa, rụng cuối đường!
Một mảnh sao sa, rụng cuối đường!
Với ai tri lý chẳng gì vương
Ngọc reo địch trổi say hồn bậu
Suối hát chim ca lạc phách nường
Thâm tận thâm khê tình tải tuyết
Cao ư cao lãnh trí lưu sương
Ải sương của tuyết trăng nhờn nhạt
Soi tỏ trăm năm chắc dị thường!
Soi tỏ trăm năm chắc dị thường!
Thu mờ hiu hắt bến Tầm Dương
Khúc ca "đình hậu” hồng nhan đoạn
Tiếng hát "tỳ bà” bạc mệnh trường
Văng vẳng "ly tao” chìm khí tiết
Mang mang "quy khứ” thú điền viên
Nào ai không phải, nào ai phải!
Cuồn cuộn về Đông, nước lạnh lùng!
(HK, 1986)
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Cuộc thế bon chen bùn lấm gót
Bể trần lai láng nỗi sầu thương
Tử sinh đòi đoạn tuồng kinh cụ
Suy thịnh đa đoan cảnh hí trường
Ngược nẻo phù du trời biến ảo
Xuôi dòng hư hoặc đất vong hưng
Ngẩn ngơ đứng mãi bên bờ mộng
Chỉ nhện nhặt thưa dệt vạn đường
Chỉ nhện nhặt thưa dệt vạn đường
Ngàn sau ngàn trước lạnh tin sương
Qua sông hỏi nắng: Nhân xanh mọng
Xuống núi tìm trăng: Quả chín hường
Thơ thẩn bên trời buông tiếng hú
Ngu ngơ cuối bãi níu tà gương
Vỗ vai tục khách, mắt tròn gặng
Kim cổ về đâu? Có tỏ tường?
Kim cổ về đâu? Có tỏ tường?
Không không, sắc sắc cảnh vô thường
Nao nao gió cuốn đìu hiu dạ
Man mác mây trôi quạnh quẽ lòng
Phú quí, vinh hoa chừng mỏi gối
Công hầu, khanh tướng những còm lưng
Núi xương, sông máu cao lồ lộ
Lưu thủy, hành vân mấy dặm đường
Lưu thủy, hành vân mấy dặm đường
Chính tà bao kiếp dứt tơ vương
Bại thành: Mật đắng lời êm ả
Vinh nhục: Gừng cay sắc nõn nường
Lạc đạo, nào người xuôi bến gió
Thanh tâm, ai kẻ ngược bờ sương
Lý tình hai nẻo - duyên hằng tại
Tạo vật phù sinh lắm dị thường
Tạo vật phù sinh lắm dị thường
Phá vòng hạn hữu vượt tà dương?
Gươm từ vạch lối xua hư ảo?
Đuốc tuệ soi tâm xóa mộng trường?
Nguồn cội mơ màng treo ấn nguyệt
Cổ kim lồng lộng tỏa hương viên
Vô chung vô thủy - duyên tùy nghiệp
Một thoáng về Đông, nước lạ lùng!
(Thăng Long, cuối Đông Ất Sửu)
NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI
(họa)
Gốc cũ mỗi khi nhìn tận mặt
Nhẹ nhàng cái chuyện ghét cùng thương
Trong vòng đối đãi, thanh ly trọc
Ngoài cuộc so đo, đoản hiệp trường
Sóng gợn bóng nhòa, thành khác hoại
Gió yên trăng tỏ, phế là hưng
Thảnh thơi năm cửa tiêu dao nhỉ?
Thúy trúc, hoàng hoa nửa đổi đường
Cuồn cuộn về đông ấy lẽ thường
Đông tàn ắt đến lúc tam dương
Tần Hoài một thuở lung sa nguyệt
Vũ Hán đòi phen lộng hý trường
Bá Trượng dã hồ nhân lạc, muội!
Tào Khê vô trú quả phương, viên!
Núi xanh còn đó chiều u tịch
Soi tỏ trăm năm nước lạnh lùng!
NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH
(Soạn, theo lối tập cổ)
Lửa cháy ngàn dâu còn tỏ mặt
Đời người muôn thuở nghĩ mà thương
Nhìn nhau tư kiến vàng hay tím
Lòng với nghi tâm đỏ hóa hường
Ngọc reo địch trổi say hồn bậu
Suối hát chim ca lạc phách nường
Một thoáng trăm năm rồi một kiếp
Tỳ bà, Đình hậu, hạc kêu sương!
(Đoạn 4)
Thần câu bon vó, thẳng lên đường
Chiếm cõi, công thành mộng Bá Vương
Tiếng khóc ải ngoài, gươm bạo chúa
Nụ cười đình hậu, phấn ca nương
Bại thành dâu bể, làn hơi khói
Danh lợi phù vân, hạt móc sương
Xót nỗi bụi hồng mờ bến giác
Bồn ca vỗ khúc gẫm vô thường!
(Rằm tháng 10 Ất Sửu).
NHÀ THƠ HOÀNG THIÊN MINH
(mượn vận, hòa họa thuận nghịch độc)
Bể Dâu, Dâu Bể
Làu làu sóng thế để noi gương
Biến động muôn đời nghĩ cảm thương
Đau khổ lặng mờ trăng mộng ảo
Hận sầu ôm ngủ nước miên trường
Sau lo ruột héo, cơn suy thịnh
Trước nhớ lòng tê, chuyện phế hưng
Dâu bể cuộc đời phim tiếp diễn
Cầu tinh khói quyện mải mê đường!
(họa)
Làu sạch lòng ai dẫu ố gương
Mộng mê còn mãi nghĩ mà thương
Đau ai bấy nỗi niềm đen bạc
Xót kẻ cùng ranh rối đoạn trường
Sau trước vẹn toàn, tình đạm nhã
Sớm chiều tươi thắm, ý vinh hưng
Dâu xanh chuyện lắm, chừ quanh quẩn
Cầu trắng đợi thu mấy nẻo đường
NHÀ THƠ NGUYỄN
(xướng)
Lại Nhớ Huyền Không
Lòng vẫn ung dung lai khứ hề!
Đời tuy vạn nẻo, chẳng nhiêu khê
Thi văn một túi, ba ngàn mộng
Đạo nghĩa hai vai, chín phẩm đề
Đủng đỉnh thuyền từ băng sóng tục
Nhởn nhơ mái nguyệt vượt dòng mê
Huyền Không tái ngộ bao giờ nhỉ?
Thầm hẹn, ngày xưa nhớ lại về!
(Hà Nội, 15/8/86)
(họa)
Khứ, Lai
Mang mang giả mộng khứ lai hề!
Nước tài tình, xao xuyến hổ khê!
Lận đận đường trần, phương mộng hẹn
Nghêu ngao quán nguyệt, nét mây đề
Thuyền từ biển bạc, người xuôi ngược
Đuốc tuệ đêm vàng, khách tỉnh mê
Tuyết giá non xưa, cao sĩ ngoạ!
Huyền Không lối cũ nhớ đi về!
(Đông 87)
TRÂN TẶNG ĐẠI HUYNH
1. Đại Cổ Tùng
Dáng đứng uy nghi vút tận trời
Bạn cùng thanh khí, gió trăng thôi!
Bão cuồng quạt mát thân ngàn trượng
Nắng quái hong xanh lá vạn đời
Duyên ngoại, tòng duyên, phi trạch xử
Nghiệp trung, trạch nghiệp, bất tòng thời
Hoàng mai hai nhánh vàng phương sử
Một gốc tùng sao mãi nở chồi?
(HK- Nham Biều, 1979).
2. Tròn sáng
Hạo hạo cao phong đứng một mình
Vầng trăng tròn sáng đóa viên minh
Chấm sơn, điểm thủy, thiền đôi nét
Phẩy hạc, lăng vân, đạo bấy tình
Cát tía, thơ rơi, thơm cảo lục
Bụi hường, sách đốt, sáng tân kinh
Bách tùng dựng núi, xanh muôn núi
Chẳng nọa phù sinh, lướt diệu sinh!
(HK- Nham Biều, 2002)
3. Gốc Lão tùng
(Mừng Đại huynh sinh nhật lục tuần)
Ngạo nghễ cao xanh mặc gió sương
Càng thâm niên tuế, sắc an thường
Tình chia Nam Bắc, tàn vươn nhánh
Khí rợp càn khôn, nhựa tỏa hương
Họa hứng, mây bay, thiền ẩn bút
Thơ vui, trăng tỏ, chữ ngời chương
Xuân thu, tịch mặc, chơi non đá!
Vi tiếu hạo nhiên ngắm mộng trường!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Cao ngự, an bình giữa tuyết sương
Mặc bao dâu bể, mặc vô thường
Tàn che đỉnh biếc, thiền ươm sắc
Lá rợp triền xanh, đạo tẩm hương
Mây trắng, duyên xưa, lừng hạo bút
Hạc vàng, bạn cũ, nức thi chương
Tâm không, rũ sạch trần hư mộng
Bát ngát Viên Sơn cõi thọ trường!
TẶNG NHỊ ĐỆ
1. Chào Bay Thước
(Lúc đang xây dựng chùa HK, Xuân 1994)
Chữ, số loay hoay suốt mãn niên
Xi-măng, sắt, ngói... tỉnh giấc thiền!
Hoa văn xương kính, mòn tay bút
Điêu họa đan thanh, méo mặt tiền
Tùng bách nắng mưa, thân rắn lõi
Trúc mai sương tuyết, sắc thâm duyên
Vui xuân, thôi nhé, chào bay thước
Chuẩn bị trà xanh tiếp thiện hiền!
2. Trăm Hạc Trắng
(Công đức kiến tạo chùa Huyền Không)
Ra tay kiến tạo cõi cao thanh
Công đức ngàn xưa, quả tự thành
Phật điện mây lồng, trăm hạc trắng
Bảo đài hương tụ, vạn tình xanh
Hay chăng trí giả vun căn cội
Có phải hiền nhân điểm nhánh cành
Cõi chợ, bụi hồng xao tục lụy
Phước tâm lan tỏa khí an lành!
An lành Phật nhật, nắng triêu dương
Tăng chúng an tri, liễu đạo thường
Thơ hứng, uyên thâm lời đạm thủy
Trà đàm, giản dị vị thanh lương
U nhàn, phẩy bút, xua mê vọng
Thanh thản, lật trang, tả hí trường
Vô ngại được thua, vô ngại sự
Hương thơm nhè nhẹ tỏa ngàn phương
Ngàn phương mát mẻ bóng thiện quang
Phơi phới xuân tâm, kết đạo tràng
Tín nữ cúng dường, hoa thượng giới
Thiện nam tô điểm, ngọc nhân gian
Chuông chiều lấp lánh, xua trần lụy
Kinh sớm lung linh, gõ mộng tàn
Phật sát, nguyên sơ, miền tuệ giác
Huyền Không trăng chiếu cõi thênh thang!
(HK- Nham Biều, 1995)
3- Phương Trượng
Bao năm trụ trì tóc bạc
Trượng tùng, cỗi trúc, lão mai!
Trà bánh mấy chung tuế tóa
Cơm rau vài bát lai rai
Hán ngữ, Phạn, Anh... nhiều tạng
Trung văn, thơ, truyện... lắm tài
Phật sự trong ngoài bề bộn
Thanh nhàn gẫm chẳng thua ai!
(Công đức mở Học viện)
Trên cát, bài thơ cứ viết hoài
Sa-môn đại trượng, tát trần khơi
Trí cao, tâm thượng, tàn xanh lá
Phước quý, lộc sung, gốc biếc chồi
Thanh tĩnh thưởng trà, hương cảo lục
Vô vi chuyển pháp, đức tinh khôi
Hạo nhiên đá sỏi, gầy mai tuyết
Phụng hiến nhân gian đóa vạn đời!
RUỘT BỂ ĐÔNG
(Tặng sư Hộ Tịnh,
thế danh Hồ Ngọc Tịnh)
Lòng đã đầy như ruột bể đông
Rót thêm trời đất vẫn hoàn không
Hạc vàng không nhớ bao nguồn suối
Mây trắng còn trôi mấy dặm đồng
Quán Tịnh, chừ vun cây hữu hạnh?
Quê Hồ, bèn dựng mái vô công?
Cõi xưa đã thắm đầy duyên đạo
Vác cuốc, vai nghiêng đựng nắng hồng!
Vác cuốc, vai nghiêng đựng nắng hồng
Nhớ từ độ ấy kiếp long đong
Mây bay, nước chảy - sầu bao núi
Bèo dạt, hoa trôi - lạnh bấy sông
Khi gặp, dăm câu thì vãn chuyện
Lúc xa, vài chữ lại quên dòng
Sương tầng, nguyệt khuyết mờ hay tỏ
Cứ để non cao, mặc gió lồng
Cứ để non cao mặc gió lồng
Mới hay an tĩnh lặng vào trong!
Khe sâu đoạn tưởng, lòng khe cạn
Bể khổ lìa tình, đáy bể nông
Trí hữu, lên thuyền, không hóa có
Tuệ vô, vào cõi, có thành không
Bát treo đầu trượng nằm non ngủ
Vằng vặc cô ngàn, nguyệt tiếu ông!
(HK- Nham Biều, 1981)
LAN THẠCH
(Tặng sư Hộ Tịnh)
Xa vắng bạn già, xuân thiếu ai!
Thì thơ, thiệp thảo, gởi nhau chơi
Bâng khuâng vườn cũ, tình lan thạch
Man mác hiên ngoài, nghĩa trúc mai
Đã uống giọt sương, trời phạm hạnh
Đành đeo hạt bụi, gót Như Lai
Chơn vọng, thị phi, con giáp khổ!
Hương trà sơn cốc một mình vui!
TẶNG TAM ĐỆ
(Sư Tuệ Tâm, chùa Pháp Luân và
Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa)
1. Pháp Luân - Tuệ Tĩnh
Sơn hạ Huyền Không - Tuệ Tĩnh đường
Bao la nguồn khổ, tỏa tình thương
Lương y nguyện lớn, non khôn sánh
Từ mẫu ân sâu, biển khó lường
Đòi đoạn tử sinh đau hữu hạn
Đa đoan lão bệnh cảm vô thường
Noi tâm thánh đức, giương cao đuốc
Tận tụy giúp đời, hiến dược phương!
2. Bồ-tát Chợ Triền
Giống sao ông Phật Di Lặc
Mở mắt thấy nụ cười duyên
Phòng đầy kinh thư chữ nghĩa
Bụng no phương được thánh hiền
Lúc nào nghiên đề, giảng khóa?
Khi mô vận khí, tọa thiền?
Ngày ngày việc làm không ngớt
Đêm đêm bệnh réo đi liền
Báo chí, sách, tin đủ cả
Y chang bồ - tát chợ triền!
3. Dốc Tịnh Bình!
Mừng đệ khói sương thỏa chí mình
Tay chèo, tay chống lướt phù sinh
Chợ chiều, thắm đượm hoa nhân ái
Cõi bụi, xanh mơn đóa đạo tình
Đức tỏa tùng hương, trăng cổ tích
Tâm ngời bối diệp, đuốc tân kinh
Liên Hoa, Tuệ Tĩnh - miền cam lộ
Thấy chúng sanh đau, dốc tịnh bình!
4- Nhất Đóa Xuân
Xuống núi gậy thiền đã mấy Xuân?
Sắc không hóa ngọc, biếc vô ngần
Qua sông đò nặng, bền cao chí
Gánh nghiệp đời đau, vững đạo tâm
Biển bạc mênh mông, thuyền bát-nhã
Lòng son bát ngát, áng từ vân
Lãn Ông, Tuệ Tĩnh, tình quy Phật
Muôn thuở nụ cười, nhất đóa Xuân!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Nụ cười nhân hậu ngát hương Xuân
Không sắc non cao tuyết trắng ngần
Lên thác, hân hoan chèo bát-nhã
Xuống ghềnh, rực rỡ ánh chân tâm
Đạo xanh thiền vị, mười phương Phật
Đời thắm lương y, vạn đóa vân
Tuệ Tĩnh - Sơn Phương vô lượng tứ
Nhâm Thân lộng lẫy một trời Xuân!
SƯ TUỆ TÂM
(họa lại)
Hạ sơn này đã chẵn mươi Xuân
Danh lợi xoa tay, bụi trắng ngần
Độ thế, đâu nài nơi uế trược
Thương đời, nào quản chốn mê tâm
Thuyền không, một nẻo về Tây trúc
Trần thế, trăm đường tỏa diệu vân
Cầu Phật, đuốc từ soi tỏ lối
Đóa mai thắm mãi nhất chi Xuân!
TRANG BỐI TỜ SƯƠNG
(Mến tặng thầy Phước Thành
và thầy Từ Phương)
Thiếu lâm cao tăng nhị vị
Hèn lâu mới ghé sơn phương
Mây trắng, đá xanh mở cõi
Thông ngàn, trúc biếc đưa hương
Trà chuyện câu thơ, nét bút
Đạo tình trang bối, tờ sương
Tiễn nhau, nụ cười bên suối
Dám đâu "khe cọp” chận đường!
VÔ NGẠI
(Tặng thầy Phước Thành)
Diệc vi thánh, diệc vi nhân!
Thi bút, hoa trà nhất tuyệt Xuân!
Mê ngộ bàn chi cho mỏi miệng
Sắc không luận mãi chỉ tê lưng
Chữ câu, ngày tháng, nhìn thêm thú
Kinh kệ, sớm hôm, gẫm lại mừng
Chéo áo cà-sa, buồn, túm lại!
Đạo đời một bó, thế là xong!
TIÊU TAO
(Tặng thầy Từ Phương)
Viết tặng ngàn chương lên bối diệp
Đâu bằng phất bút quệt hư không
Làm thơ, chẻ đá mà thông suốt
Hóa bướm, tung mây lại liễu cùng
Chống gậy, non chơi hồn lãng đãng
Thõng tay, phố dạo trí thung dung
Tiêu tao hồ thi, Xuân pha áo
Chớ hỏi lão mai, hỏi lão tùng!
AM TRANH GÓC NÚI
(Tặng thầy Chơn Phương)
Mái tranh, góc núi mấy lần Xuân?
Nhàn tịnh, vô vi thật tuyệt trần
Chẳng hỏi, vẫn quên bao tuế nguyệt
Chưa đi, đã hiểu mấy phong vân
Cõi riêng, hoa điểm tranh thiền cảnh
Cốc tĩnh, thơ hòa áng khánh vân
Thanh thản vui Xuân, vô ngại sự
Am không, tựa án, gió hương trầm!
TẶNG THẦY TRÍ TỰU
1. Hư Không Vỗ Đá
Tình đạo, tình trà, tự cảm Xuân
Thõng tay nhẹ hẫng cuộc phong trần
Áo chàm cửa Phật đeo tinh đẩu
Nón cỏ sân thiền đội bối vân
Nhàn nhã dạo vườn, hoa cỏ tĩnh
Thung dung tiếp khách, tuyết sương thâm
Hư không vỗ đá lời vô tận
Chợt nụ nguyên tiêu, tuyết trăng ngần!
2- Đá Cỏ Hư Tâm
Non Thứu, cao phong một thuở nào
Chừ đây Linh Mụ vẻ thanh cao
Tùng thông, thiền định, lời nghinh tiếp
Đá cỏ, hư tâm, ý đón chào!
Đốn tiệm, trăng hoa, đài vĩnh cửu
Thịnh suy, sương lá, giọt chiêm bao
Phiêu bồng cánh én, Xuân ừ nhỉ!
Chợt thấy hiên mây nở nụ đào!
3- Tiếng Hạc Linh
Giữa cõi không vô, gởi chút tình
Danh hương Linh Mụ đất Thần Kinh
Uy nghi tháp mới, ngời tôn đức
Tịch tịnh chuông vàng, tỏa phước vinh
Một cõi nước mây, trăng hỏi đạo
Một miền tùng trúc, gió reo kinh
Khói sương thân thế dường hư mộng
Chợt vẳng bên trời tiếng hạc linh!
THI ĐIẾU THẦY TÂY THIÊN
Phê đối, bình thơ, vĩnh biệt rồi
Tình ta đạm thủy, tuyết sương ôi!
Cảm cành lan biếc, hương đầu núi
Nhớ cỗi tùng xanh, lệ nửa vời
Hạo bút, bùi ngùi, nghiên mực cạn
Thiền tâm, chan chứa, giọt sương phơi
Chung trà khe Hổ mây che mặt
Câu chuyện non Lô, khói phủ lời
Mật nguyện, điểm hoa, hài dặm lữ
Tuệ hành, thắp đuốc, trượng trần khơi
Tây Thiên xa xót, thơ thương điếu
Chữ níu hư vô, chữ rụng rời!
(Trọng Đông Ất Dậu, 2005)
CẢNH TRẮNG HOA
(Tặng Sư Bà Diệu Đức)
Một cõi lâm thiền, bóng Trượng Ni
Dong thuyền bát-nhã độ vô vi
Diệu Nghiêm hoa trắng bày tâm cảnh
Diệu Đức trăng vàng dệt trí bi
Nhàn nhã nghi dung xem thế đạo
Cao thanh cốt cách ngắm liên trì
Hài mây, ngọc điểm lời viên giác
Trà bối, hương lừng áng cổ thi
Giọt nước cành dương tàng mật hạnh
Nụ hoa non Thứu hiển vô nghì
Sớm chiều tiêu sái màu sương tuyết
Vóc hạc, thần mai chẳng nói gì!
THĂM BẠN
(Tặng sư Hộ Tịnh
và thầy Chơn Phương)
Anh em lâu ngày gặp lại
Tuổi già làm biếng thăm nhau
Cơm canh rạc rài mấy lửng
Chuyện trò xuế xóa dăm câu
Trà đậm đau tim, mất ngủ
Thuốc nhiều ung phổi, rát hầu
Tới lui nhìn hoa, ngắm kiểng
Ra về có hẹn được đâu!
THIỆP XUÂN
Chúc Tết, chúc Xuân rộn đất trời!
Chúc người văn vẻ, phúc ngàn nơi
Chúc xanh nhân ái vào non thẳm
Chúc thắm đạo tình đến biển khơi
Chúc cội bồ-đề cành mãi lớn
Chúc dòng sanh tử nước dần vơi
Chúc đá lăn đồi, rêu hóa ngọc
Cùng nghe chim tấu nhạc hòa vui!
----------------------
Buồn vui chẳng thiệt dăm tờ lịch
Thua được đâu hơn mấy cuộc trà?
---------------------
Bóng trúc trăng soi niềm nhã nhã
Cành lau chữ viết nét phơ phơ
-----------------------
REO CHIM KHÁCH
Mới đó mà Xuân đến nữa rồi
Chẳng ai hẹn ước, chẳng ai mời
Sơn lâm rộn rã, cây thay áo
Khí tiết hân hoan, gốc nẩy chồi
Mai tía mai vàng, tình bạn lữ
Đào phai đào thắm, nghĩa trần khơi
Trăng chơi mái đạo, sương xanh lá
Nắng dạo hiên thơ, chữ ấm lời
Kinh tụng, vén mây, nghe phải trái
Thiền hành, rẽ gió, ngắm đầy vơi
Hiên lan, khóm trúc reo chim khách
Trầm thoảng am không, đá mĩm cười!
HƯ VỌNG HẢI TRIỀU ÂM
(Thất ngôn nhị bách cú,
quý thương tặng Phạm Phú Hải)
Tâm thức tàn tro cháy bập bùng
Vọng nghe hư vọng hải triều âm
Tinh hà, nhật nguyệt còn soi sáng
Sơn thủy, vân hoa vẫn ánh hồng
Đại địa bởi đầu sinh lửa gió
Thế gian nào chắc hết đao cung
Mịt mù bể Bắc mưa cuồng lũ
Bát ngát non Tây nắng quái lồng
Thuyền đạo muốn xuôi miền giác ngạn
Đò đời còn tấp chốn mê tân
Phật-đà thiện thuyết, kinh không chữ
Lão Tử hư ngôn, đạo chẳng trương
Nhiều lá trên tay, rừng nát trụi
Lắm lời trong óc, nghĩa tiêu vong
Ra đi chập choạng mây tri kiến
Trở lại lao thao lửa não phiền
Phiêu hốt lăng không, tình hóa hạc
Hư nhiên đề khí, bút thành chương
Tâm trung đại đạo, nào thưng đấu
Thế ngoại cao nhân, há xét lường
Vạch tóc, xem tai chàng hí luận
Banh da, xẻ thịt chú ngoan không
Gồm thâu ngày tháng, gieo mầm cải!
Chứa trọn đất trời, cấy hạt sương!
Tùng bách non cao, nêu khí tiết
Mai lan vườn lặng, giấu u hương
Ba kinh ngón trỏ, ngờ mắt cận
Trăm giới áo che, ngại bụi hường
Lên bộ, đội thuyền, thương gãy cổ
Qua sông, vác ngựa, tội còng lưng
Bờ kia ngơ ngác, hoa đeo đốm
Nẻo nọ bâng khuâng, rắn đội thừng
Hồ cạn, trạch lươn chui tận đáy
Nước đầy, tôm tép nhảy tràn mương
Thung sâu, cây lá màu tươi tắn
Thềm vắng, cỏ rêu sắc nõn nường
Ngõ trúc, gió reo âm Phạm võng
Am tranh, mưa múa điệu Văn xương
Cảnh tâm cùng hợp không lầm mẹo
Nhân quả theo nhau chẳng lộn đường
Vân tụ cao sơn tàng kiếm vũ
Khí lưu thấp khẩu ẩn lôi phong
Rèn gươm trí tuệ Thần Quang sẵn
Luyện thuốc từ bi Tuệ Tĩnh phòng
Phiêu lãng sông dài, bèo cợt sóng
Trầm luân biển lớn, cá tranh rồng
Chóng chầy, mê ngộ, nào ai tỏ?
Sau trước, nên hư, bấy kẻ tường?
Nấu sạn thành cơm, suy cũng dại
Mài gương từ gạch, nghĩ càng thương
Chân không sắc tướng, siêu bằng tất
Diệu hữu thức tri, diệt tận cùng
Bát-nhã cớ sao che trước mặt?
Niết-bàn chẳng lẽ giấu sau lưng?
Ngữ ngôn bao thuở đà ngao ngán
Danh lý từ nay thiệt chán chường
Vẫy gọi chim rừng vầy bạn cũ
Đón mời gió núi kết tình chung
Núi rừng tri kỷ, không là bọn!
Chim gió tri âm, chẳng phải phường!
Ruộng rẫy vui cày, không lụy gạo
Cỏ rau siêng hái, chỉ cần tương
Tới lui rỗi rỗi leo vài đỉnh
Lên xuống thơi thơi dạo mấy đường
Khi hứng, họa thơ, trời rộng bút
Lúc lười, ngủ nghỉ, đất dài lưng
Chèo bơi, rung động bầu thanh khí
Núi quảy, nghiêng chao sức đại hùng
Thiền ý, trăng trong soi ngút cõi
Đàm văn, gió mát chất đầy rương
Neo thuyền, sợi khói, chơi thôn dã
Buộc ngựa, cành lau, dạo cảnh vườn
Đại nguyện chi nề, câu nguyệt ảnh
Hư tâm nào quản, tát trùng dương
Kiếm quay chặt rắn, nhân kinh ngạc
Cung bật săn hươu, quả dị thường
Biển mộng, lao xao buồm viễn khách
Mắt hồ, mờ mịt bụi biên cương
Bại thành, âu dễ anh hùng luận?
Khổ lạc, nào hay đạo sĩ bàn?
Tiện sĩ, sờ da, không dính thịt
Đại nhân, mút tủy, vứt luôn xương
Dẫm mòn đông độ, trừng mây khói
Đạp nát sơn đầu, vạch tuyết sương
Co ruỗi tự nhiên, chân thượng trí
Đến đi hào sảng, gót thiên lương
Đói ăn, khát uống, sờ ngay cửa!
Nóng quạt, rét run, đá trúng sườn!
La-hán hữu tình, đừng bỉ báng
Maya đại lục, chớ khinh thường
Hành, cầu lợi, bít tai bưng óc!
Tu, hiếu danh, diễn kịch hát tuồng!
Niệm loạn, hồn mê, Diêm sứ trợn
Thần an, linh giác, Thánh hiền thương
Việc lành, khí sạch lưu trong máu
Cái ác, gai đau ẩn vệ đường
Lựa chọn bạch bào, anh gởi gắm
Đổi thay hắc nghiệp, chị nhờ nương
Tay bồ-tát nở hoài sen thắm
Áo chúng sanh lấm mãi bụi hường
Lặng lẽ ra đi, tình chín dặm
Âm thầm cất bước, chí mười phương
Sông dài, ghềnh thác âu hồ ngại!
Biển lớn, phong ba há dễ lường?
Thế sự, sương gieo lay bóng lá
Mộng trần, tai mở lắng hồi chuông
Khinh khi, ám khói vây thì ngất
Cao ngạo, mù mê chụp sẽ khùng!
Khi thấy, não phiền không chỗ nắm
Lúc hành, sinh tử chỉ cần buông
Trí minh, lất phất khơi vài điểm!
Si độn, nhì nhằng tả vạn chương!
Bình bát, ngàn nhà, chim cúng trái
Cội cây, trăm suối, gió dâng hương
Giảng kinh, Đế Thích còn xoa xít
Hiểu đạo, Thiên Ma cũng nhún nhường
Giọt sữa, no lòng, ân pháp thánh
Lời vàng, vững dạ, đức từ vương
Xót xa bởi trẻ, tìm lương mễ
Cám cảnh vì đời, kiếm dược phương
Tô điểm tượng đài, oai phước tướng
Dựng xây điện tháp, thú thiên cung
Vẽ tranh, tạo cảnh không pha nhặm
Viết truyện, làm thơ, chẳng trộn gừng
Thiền định, chớ mê thiền biến hóa
Trí siêu, đừng trụ trí thần thông
Móc sương rơi xuống, hòa cam lộ
Sông suối gom về, cất tịnh dương
Gốc nẩy muôn cành, hoa rộ sắc
Trăng soi vạn khoảnh, nước phô gương
Không thành Phật Thánh, thành bồ-tát
Nếu xóa nhân thiên, xóa Niết-bàn
Người thiểu học, tai nghe lốp bốp
Kẻ đa nghi, óc giật lùng đùng
Vị lân cô điểu, thiên nhai tận!
Khước cảm nan chu, hải giác cùng!
Thất niệm, trọng tình, khai dục giới
Nhiếp tâm, khinh thức, đáo tiên đường
Cái ta, dễ xúi ta-điên-đảo
Cái biết, hay sinh biết-loạn-cuồng
Bắt bóng vẽ hình, người dại dột
Níu tre cột gió, kẻ ngu ngông
Khe mưa, cóc nhái kêu inh ỏi
Chợ lửa, tham sân cháy bập bùng
Đạo sĩ bỏ non, chim bỏ tổ
Tăng nhân xa núi, hổ xa rừng
Có nghe pháp giới trò luân chuyển
Có nhớ thế gian lẽ hoại thường
Vĩnh cửu, thắm xanh bao chiếc lá?
Vô biên, thơm ngát mấy chồi hương?
Bồng lai, lạc giới, người khôn khoái
Địa ngục, khổ đồ, kẻ dại vương
Hơi thở, thở hoài, hơi sẽ đứt
Lưỡi câu, câu mãi, lưỡi không buông
Trời trong, rồng nọ bèn bay biến?
Biển lặng, kình kia vội vẫy vùng?
Cắt ruột, việc đời, đau tượng đá
Bào gan, chuyện đạo, xót chân không
Lời hư, lời thiệt, lời lươn lẹo
Ý quấy, ý nên, ý tỏ tường
Ngựa xuống sông xưa, bơi thoải mái
Cá leo núi cũ, lủi lang thang
Rùa đeo cặp cánh, xuyên vô cực
Thỏ mọc đôi sừng, húc nhị nguyên
Bàng bạc Thiền mơ, trăng cố quận
Chập chờn Trang mộng, bướm quê hương
Nôn nao tình thức hòa cung bậc
Xào xạc tưởng tri họa điệu vần
Nam phái trời trong, màu tịnh thủy
Bắc tông nước lục, sắc trùng dương
Xuất gia, mây trắng bồng tâm giới
Tại thế, tơ son dệt thiện đường
Cư sĩ, ruộng nương trồng hữu hạnh
Tăng nhân, y bát hướng vô công
Hỷ hoan học pháp, nhân muôn trái
Lạc phúc tu tâm, quả vạn hồng
Khế ngọt, xin nàng là ngọt mãi!
Me chua, mời chị cứ chua luôn!
Ai nào tánh nấy đều tao tác
Cành nọ cây kia thảy líu lường!
Vào một sát-na, trôi ảo huyễn
Phí từng tằng kỷ, rượt thê lương
Hiền nhân chẳng thể tin hư ngụy
Thiện trí chưa hề chấp vọng huyên
Chốn đọa đày, nụ cười hỷ xả
Cõi trầm luân, bóng mát yêu thương
Vườn xưa, hoa đạo, tình son sắt
Bến cũ, đò đời, nghĩa thủy chung
Thắm thiết, cành sương lay nhật mộ
Yêu kiều, đọt nắng lóe triêu dương
Mây bay, văn mặc, thơ non hạc
Nước chảy, tao đàn, nhạc cửa long
Cổn cổn đào ba hòa địch vận
Phiêu phiêu phong vũ tấu tiêu chương
Trúc tùng hạo hạo sum la sắc
Lan thảo phân phân bát nhã duyên
Chuyển thức, sâm thương soi vạn khoảnh
Hóa tâm, ngưu đầu chiếu muôn phương
Xanh xanh bối diệp, màu thiên cổ
Xếp lại, lung linh ngọc diệu thường!
(Làm tại Phong Trúc Am, 10 giờ đêm 13/5 đến 5 giờ chiều ngày 15/5 Tân Mùi, 1991. Thương thương và cảm ơn Phạm quân đã làm bài thơ Thất ngôn bách cú - trang sau - cùng những lời để từ thâm mặc, có cánh, có lửa, bất khả tư nghì; và cũng nhờ năng lượng chữ, năng lượng ngôn ngữ, năng lượng tâm linh ấy nên mới có được bài thơ đáp tạ hy hữu này).
TRANG THƠ KHÉP LẠI
Thất ngôn bách cú của Nhà Thơ Phạm Phú Hải
(Hải viết: Bài thơ này đã được mang nặng đẻ đau từ tối 31/12/76, qua khuya đến sáng 01/01/77, đánh dấu cho những Trang Thơ được khép lại. Khép lại những Trang Thơ và mở ra những chân Trời; Chân Trời đồng nghĩa với Ảo Tưởng, nhưng nếu không có những Chân Trời thì cũng chẳng có những Bước Đi; Bước Đi để Nhìn Thấy được rằng: Đâu Đâu cũng là Chân Trời, ngay chỗ Đang Đi, hay Nơi Đã Đứng Để Bắt Đầu Đi, cũng đích thị là Chân Trời vậy. Mà, chưa bước đi thì khó biết được điều ấy"... mưa rơi trên chiếc lá đang rơi... hột bụi chiều kia dính đầy bụi...” Tha tha thiết thiết tặng Triều Tâm Ảnh và Vĩnh Lực).
Trang thơ sẽ khép lại vô cùng
Muôn hướng quy về một hướng chung
Mây tiễn trăng qua bờ Đạo Hội
Gió ru hoa ngủ bến Thi Phùng
Ly tình Tửu Ý - bầu đau đớn
Chuyển thức Trà Tâm - chén bão bùng
Mấy dạo Xuân tàn hoa đổi chỗ
Bao lần Thu tận nguyệt rời khung
Sương gieo chữ trắng nghiêng bờ sậy
Mưa phủ vần xanh lá ngọn tùng
Linh Thứu pháp âm còn cuộn dội
Tào Khê thiền khí vẫn tràn tuôn
Vương Duy dụi mắt vần đơn độc
Lý Bạch huơ tay chữ điệp trùng
Nuốt lưỡi, Đạt Ma cười đất sụp
Phun môi, Lâm Tế hét trời rung
Thi khê tuyền thấm hồn thanh thản
Đạo chấn lôi tan mộng hãi hùng
Ngày Lão Đam giăng mây huyền ảo
Đêm Trang Chu tỏa khói mông lung
U mê chất giữa lò than rực
Hôn ám đun trong bếp lửa hừng
Tam thế cháy tiêu ngày xuống núi
Thập phương rụi nát buổi lên rừng
Chim-không-cánh chóp trời tung lượn
Cá-chẳng-đuôi đáy biển vẫy vùng
Song lệ mông mông thanh thủy thượng
Bán ngôn hốt hốt bạch vân trung
Điệp đề hồng phấn oa thê thảm
Tượng hống u nê nịch não nùng
Trường kiếm đâm xuyên trời tiếu ngạo
Đại đao chọc thủng đất kiêu cuồng
Giang đầu thơ thần buông chèo lự
Sơn cốc nghêu ngao thả vó buồn
Rắn kiếm chân, trâu đi kiếm cánh
Rùa tìm lông, thỏ chạy tìm sừng
Người mài miệt kiếm trăng Diêm phủ
Ta mải mê tìm nắng Thủy cung
Hoa cái giữa đồng hoang mốc thếch
Thai bào trong bụng mẹ trần truồng
Hương tim Đoàn Dự tình ngây ngất
Máu ngực Tiêu Phong hận chập chùng
Ngọc Yến giếng sâu mưa khoái lạc
A Châu rừng thẳm gió thê lương
Râu Từ Hài rậm màu dâu biển
Mắt Thúy Kiều xanh khúc đoạn trường
Phủi sạch bụi dơ ngàn thế giới
Tát khô nước đục bốn trùng dương
Quỵ nguyên mòn mỏi hai bờ giấy
Đáo ngạn cô đơn bốn phía tường
Thân bọc cứt đầy hầm bất tịnh
Tâm manh giẻ rách xó vô thường
Khát dòng sữa cạn lời kim khẩu
Đói chút cơm thừa đấng Pháp vương
Sát ý mệnh chung khai địa ngục
Dâm tâm thọ tận bế thiên đường
Ngó quanh đời lắm khi cay mắt
Ngẫm lại mình thêm lúc lạnh lòng
Đau mãi bao niềm đau hạt cải
Xót hoài mấy nỗi xót chân lông
Bước vội gai đâm đau mắt cá
Đi nhanh chân đạp nát xương rồng
Cử ngôn, khủng điều, ngôn thâm uất
Bạt ngữ, kình ngư, ngữ nộ trường
Mỗ vạch đất đen ngồi giữ chợ
Ông choàng mây trắng đứng đầu truông
Mây hiu hắt gọi người sơn lĩnh
Đất lạc loài kêu kẻ phố phường
Yên Đổ vuốt râu trong bóng tối
Thanh Quan đêm bước giữa chiều sương
Tầng mây ngõ trúc chưa quên khách
Mục tử, ngư ông có lộn đường
Giọt rượu tinh khôi môi bác Lý
Bầu trời xanh ngắt mắt chàng Vương
Đông Tây bỡ ngỡ mây phiêu hốt
Kim cổ hoang mang tuyết lạnh lùng
Chagall nắng ươm tia quyến luyến
Chopin sương ủ giọt vương vương
Ph. A., xao xuyến ngàn phương mộng
Ng.H., bâng khuâng một thoáng hương
Thấy sáng, Einstein không thấy tối
Nhìn tròn, Pavlov chẳng nhìn vuông
Cây khô bên mắt người xem kịch
Sắt rỉ trong tay kẻ diễn tuồng
Phản tượng tải lôi thiên đảo đột
Nghịch long thừa chấn địa di xung
Có vòng não lụy thiên sai có
Không gợn phiền ưu vạn biệt không
Ngày tháng trôi lăn tình, chớ chớ!
Phút giây buông thả thức, đừng đừng!
Biển sâu dục lạc bầy ma ngóng
Sông rộng u mê lũ quỷ trông
Cố đợi Sáng Bừng lay nát cũi
Gắng chờ Tươi Rạng tháo tung lồng
Tâm triêm đạo điển tàng triêu vũ
Ý nhuận thi từ tích mộ phong
Lạc tích yên lai thiên thảo lục
Biệt tung hà khứ bách ti hồng
Chấp hai tay cúi đầu im lặng
Khép lại trang thơ, Lửa Bập Bùng!
(Ghi chú: Làm xong bài thơ này, quả thật, tác giả bắt đầu đi vào im lặng, sự im lặng của một-cơn-tâm-thần-trầm-lặng suốt 30 năm! Lúc tôi tìm lại lưu cảo để trích đăng lên đây thì tác giả đã bắt đầu đi đứng, nói năng được, nhưng tựa như một lão-hài-nhi! Và cho đến bây giờ thì đã: Lạc tích yên lai thiên thảo lục. Biệt tung hà khứ bách ti hồng!).
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Ước Vọng Từ Bi Âm
Tam muội Linh Sơn lửa cháy bùng
Càn khôn sáng rực, vọng huyền âm
Bờ mê nghi ngút làn mây đục
Bến giác lung linh ánh nhật hồng
"Nhất thiết chúng sanh vô sát nghiệp
Hà sầu thế giới động đao cung”
Xôn xao tâm chuyển, chân hầu nhảy
Lào đảo ý say vó ngựa lồng
Ghềnh thác trầm luân sương ảm đạm
Suối nguồn vi diệu cảnh thanh tân
Cuộc trần mấy thuở duyên khai phóng
Vườn đạo bao lần nghiệp chủ trương
Thần thức lâng lâng ngoài hệ lụy
Sắc thân thanh thản giữa hư vong
Bồ-để lắng bặt dòng ô trược
Bát-nhã lùi xa nẻo tục phiền
Tụng biến vô ngôn tìm hạo ý
Đọc dòng không tự kiếm linh chương
Phiêu bồng ba cõi tình ưu chuyển
Tự tại mười phương mộng ước lường
Nhật nguyệt miên trường không lại có
Vân hoa biến dịch có mà không
Bao la vũ trụ đầu lông mảnh
Bát ngát càn khôn nửa bóng sương
Đá dựng triển mây, trời đượm sắc
Lan treo gốc gió, đất lừng hương
Thân ngoài danh lợi, ngời tiên cảnh
Dạ ngát phong vân, lảng thế trần
Hạm ngoại rồng vây dù ngoảnh mặt
Tâm trung cọp hiện dễ xây lưng
Thần quy trao nỏ, tăm rùa ngậm
Tướng hạc dong xe, cánh hạc chùng
Thảm bấy thành nghiêng, mây tóc ả
Thương bao nước đồ, sóng môi nường
Chúng sanh, hố lửa, nhai tro thịt
Nhân loại, hầm chông, hút kiệt xương
Khổ nạn chập chùng ma dẫn lối
Tai ương trùng điệp quỷ đưa đường
Lê thê đá chạy triền tang hải
Mù mịt cát vù trận quái phong
Cõng ngựa, những thương đời Thủy Lạp
Vác thuyền, chạnh nhớ thuở Tày, Nùng
Lên non há tưởng hươu thành cọp
Xuống bể, nào hay cá hóa rồng
Mê ngộ, gương treo người diện bích
Căn cơ, danh chân khách thông tường
Từ bi chẳng luận ai cao thấp
Bác ái không bàn kẻ ghét thương
Rừng trúc, tu nhân, nhân vãi mọc
Núi đao, tạo quả, quả theo cùng
Chống trời, gậy thấp, khôn đâu mặt
Vạch đất, xương gù, khó khỏm lưng
Tham luyến, Sa Tăng gò má nhẵn
Đam mê, Bát Giới cánh môi chường
Tử sinh kết hợp ân tình rộng
Lão bệnh tài bồi quả nghiệp chung
Nhân nghĩa, ngược xuôi cùng một lẽ
Nguy an, lui tới chẳng hai phường
Xuân còn óng ả hoa ươm nụ
Đông đã bơ phờ sắc nát tương
Trộm cướp, nấp nom trò ngọt giấm
Say sưa, thấp thoáng bóng chua đường
Tà dâm, thè thụt dùi xuyên áo
Vọng ngữ, eo Xèo lửa bỏ lưng
Kim cổ xôn xao người thiện trí
Tang thương điên đảo khách tâm hùng
Chuông dồn ngũ giới thôi mê ngủ
Mõ giục tam quy hết lãng khừng
Vẫy bút tao ông mà ngoạn cảnh
Vẽ trang hồ điệp lại chơi vườn
Oan cừu chất ngất, tung non thẳm
Máu lệ tràn trề, lụt đại dương
Hưng phê sá chi tuồng ảo hóa
Bại thành âu cũng lẽ vô thường
Cỏ non há chịu trâu giàm mõ
Đường rộng chi đành ngựa khớp cương
Lập chí, trời cao nhìn Bắc đẩu
Tu thân, đất rộng hướng La bàn
Ba ngàn thế giới vang thần tụng
Bốn cõi tinh hà vọng thành chương
Thuyền đạo nhởn nhơ miền tuế nguyệt
Dòng đời lấp lánh ánh băng sương
Chèo từ quẩy nước qua thương hải
Gió trí căng buồm hướng thiện lương
Bôn ba bể ái - khiêng trần lụy
Lẽo đẽo nguồn ân - gánh khổ thường
Bào ảnh giàu sang, trò diễn kịch
Bóng gương quyền quý, khúc ca tuồng
Cái quay mù mịt, suy thầm xót
Chiếc bách lênh đênh nghĩ chạnh thương
Đuốc tuệ giương cao, hồn mấy nẻo?
Hoa đàm tỏa rộng, dạ bao đường?
Quả lành óng ả, xanh vườn tược
Phước báu tràn trề, mướt ruộng nương
Vân cầu xem tranh, đen hóa trắng
Hoàng lương tan giấc, tím thành hường
Kỳ khu gót rỗ tìm binh tướng
Tân khổ môi tê nghiệm dược phương
Đông độ lần qua, băng vạn ải
Tây phương bước tới, vượt muôn đường
Bùn pha sắc xám, tâm không nản
Nắng rám mùi dâu, chí chẳng buông
Quỷ chúa đao to khua giận dữ
Ma vương kiếm nhọn hét điên khùng
Kiên trì hành giả, mây đưa bước
Nhẫn nại, hiền nhân, gió tiễn chân
Nắm lá, tay đưa, tuôn pháp vũ
Niêm hoa, miệng mỉm, rợp kinh chương
Tuyết sương, áo trắng, đời ly khổ
Nam hải, sen xanh, đạo ngát hương
Gỗ đá hân hoan cung kính lạy
Chim muông hớn hở nép thân nhường
Thoát trần đủng đỉnh, Tâm là Đế
Ngoại vật thung dung, Đức ấy Vương
Am cỏ bóng che trùm tám cõi
Lều tranh mái rợp tỏa mười phương
Đâu màng mũ ngọc ngôi triều nội
Nào vướng đai vàng chủ điện cung
Mây núi vẽ tranh, tranh lẫm lẫm
Sương rừng họa cảnh, cảnh đường đường
Ngẫu vần Lý Đỗ trăng soi sáng
Hứng điệu Đào Chu suối chảy thông
Phật tính như nhiên, tơ thánh thót
Thiền phong tự tại, trúc du dương
Hành vân lồng lộng thiên thu sử
Lưu thủy mang mang vạn cổ gương
Thanh khí ngàn xưa về họp bạn
Tri âm kiếp trước đến chung bàn
Noi trời hóa đạo, không cờ rợp
Học đất an dân, chẳng pháo đùng
Cam lộ, ân Thiền tuôn bất tận
Cành dương, phép Phật, tỏa vô cùng
Pháp môn biến hiện tuy nghìn lối
Xích tử cưu mang chỉ một đường
Bồ-tát vốn thường giàu hỷ xả
Thương sinh đâu nỡ để mê cuồng
Sắc thanh, xót kẻ lòng u muội
Danh lý, thương người dạ hiểm ngông
Thế thái, tham sân, sa mạc bóng
Nhân tình, si hận, hỏa sơn bùng
Từ bi, nước mát sâu như biến
Bác ái, tàn im lớn tựa rừng
Túc trái lắng trong, khơi lạc tịnh
Tiền khiên gột sạch, khởi an thường
Sắc không thanh thản, đời xanh mộng
Nhật nguyệt chan hòa, đạo thắm bông
Lạc cảnh không xa, hiền trí tựa
Bồng lai chẳng ngái, thiện nhân nương
Vinh hoa, đồ khổ, thôi tàng giữ
Phú quý, phù vân, nhẹ thả buông
Mẹo bạc gian, móc câu khó vẫy
Thú ca nương, lưới sắt khôn vùng
Mồ hoang dế khóc, nghìn chung rỗng
Ngục tối tơ giăng, vạn đỉnh không
Dấu ngựa xe, rêu phong cuối ngõ
Bóng đài lâu, cỏ mọc quanh tường
Công hầu thấp thỏm đường lên cấp
Khanh tướng bàng hoàng bước xuống thang
Cợt tuyết, trăng ngàn soi dị hoặc
Cười sương, gió núi lộng uyên nguyên
Thiền sư, trúc gậy chơi non biếc
Thiện sĩ, mây hài lướt dặm hương
Mượn bút nhân hiền bàn diệu lý
Soi đèn trí đức luận tâm văn
Bạch Vân am, tỏa cao vầng nguyệt
Thiên nhận sơn, ngời khắp ánh dương
Yên Tử Trúc Lâm, chuông Thứu Lĩnh
Huyền Không, Hương Tích bóng linh đường
Vô ưu, vô ngã tình vô ngại
Hữu đức, hữu tài, quả hữu công
Khe suối, núi non cùng hỷ lạc
Cỏ cây, muông thú thảy hòa đồng
Phật không Nam Bắc, an như mãi
Đạo chẳng Tây Đông, tự tại luôn
Vĩ , tất - hai ngôi, tùy biến hiện
Sâm, thương - một thể, chuyển lưu thường
Đinh, Lê gieo vãi xuân từ ái
Trần, Lý vun bồi gốc thiện lương
Gương gạch bâng khuâng niềm ảo hoặc
Sạn cơm man mác nỗi hư huyền
Muôn hình giăng lưới bao tê tái
Vạn tượng xây thành bấy xót thương
Mỉm miệng cười tan ân oán cũ
Phủi tay xóa sạch nợ nần chung
Mùi sen Bát-nhã lừng sơn lĩnh
Bóng nguyệt Lăng-già rạng hải dương
Phong Trúc Am hóa thân đại sĩ
Triều Sơn Phương hiện cảnh vân long
Thiên nga cốt cách chân hồng trạo
Linh phượng căn cơ, thị bạch chương
Câu cẩm tú mênh mông lý đạo
Nét đan thanh sực nức thiền duyên
Gieo tâm hỏa sáng ngời muôn cõi
Phóng tuệ đăng lừng chiếu vạn phương
"Pháp Thuận thi ca” hằng thánh trí
"Chân Lưu từ điệu” mãi phi thường!...
(15h, 9/7/1990)
TỰ TRÀO
Thấm thoắt bao chày đã bốn hai
Việc đời ôn gẫm thử xem chơi
Bước đi, không cúi, lưng mềm dẻo
Chuyện nói, chưa say miệng ngáp dài
Xây núi, dựng non – sương đề bút
Đào hồ, tạo cảnh – nguyệt so vai!
Hồn thơ, hồn đất, hồn khinh khoát
Sắc biến ra không mới thực tài
THU TRĂNG NHỚ BẠN
Gác gió phiêu nhiên bạn lữ phùng
Chút tình phương thảo, chút tình chung
Hạc xưa, sương gió... dầu, tuy vậy!
Mai cũ, băng hàn... thế, vẫn nhưng
Đời cũng lắm vui, cười xể xả
Đạo còn mấy chữ, nói lung tung
Nhớ như tóc trắng, đùn mây trắng
Trăng với thu thì ai lạnh hung?
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Thiền khách, tao nhân cuộc hỷ phùng
Đạo đời thắm thiết mảnh tình chung
Vén mây, xanh biếc, trời, ừ nhỉ!
Quét lá, thơm nồng, đất, thế nhưng!
Nửa gánh tiêu dao lừng sự nghiệp
Một bầu tuế nguyệt thỏa hành tung
Ai ươm thu từ ngoài vô tận
Mà nẻo sông hồ bặt cát hung!
(20/10/86)
Vân du chạnh nhớ buổi tao phùng
Ý đạo, thơ hòa một nhịp chung
Mành hạc luyến lưu tình cố cựu
Nụ mai ấp ủ nghĩa nhiên nhưng
Mây phong áo nguyệt, chiều xuân đọng
Rêu phủ hài văn, ngõ bụi tung
Dằng dặc, hoàng ly, thu vắng bạn
Lòng nghe xao xuyến nỗi hoài hung!
(21/10/86)
NHÀ THƠ NGUYỄN
(xướng)
Xuân Mộng
Trời đất cùng ta lại chuyền vần
Bao nhiêu tâm ý bấy nhiêu Xuân
Nước non thắm thiết ân tình rộng
Hoa cỏ nồng nàn cảnh sắc tân
Chén rượu tri âm lừng đạo nghĩa
Cung đàn thanh khí nức phong vân
Trăm năm trong cõi muôn hồng tía
Thanh thản tiêu dao, bút hứng thần!
(họa)
Xuân Khánh Vân
Năm vui, vui họa, bút vui vần
Xuân cảnh, Xuân người, xứ xứ Xuân
Đất bấy y nhiên, xưa chẳng cũ
Trời bao biến đổi, mới như tân
Huyền hồ hiển nguyệt, khai viên tạng
Không địch nghinh phong, chuyển diệu vân
Cây cỏ sinh sinh, hoan hỷ địa
Thì tâm, thì ý, khí hung thần!
Thêm thơ, thêm bút, họa thêm vần
Mến chúc chư hiền, thị pháp Xuân!
Sơn thủy tiêu dao, thân ngoại thế
Ý tình khinh khoát, sắc thanh tân
Khuê tỉnh, nhật tảo lai thư án
Văn các, niên trường hiện khánh vân
Ngõ trúc, không môn, long hổ phục
Can đầu hạo hạo, quỷ kinh thần!
(Đạm Lư Hiên, Xuân Đinh Mão)
ĐÁ NỞ HOA
Thuở xưa, đá ngủ trong lòng núi
Vì bạn yên hà, ghé cuộc chơi
Lau cỏ làm văn, không nệ bút
Trăng sao đọc sách, chẳng mê lời
Nhớ chàng du tử, tóc ngàn suối
Thương khách phong trần, áo dặm khơi
Gặp đạo, tình vong không nói nữa
Hốt hề! Đá lại nở hoa vui
KIỂNG ĐẠI THỤ
Ông đứng làm gì thế hở ông?
Trăm năm thân thụ uốn như rồng
Tầng tầng lá phủ dầu mưa dội
Hướng hướng tàn che mặc gió lồng
Tình cũ tới lui, chim vạn núi
Nghĩa xưa qua lại, khách nghìn sông
Ra uy cốt cách, vàng không đổi
Chậu nhỏ thu vào, cợt hóa công!
THÚ CỔ NGOẠN
Thanh thú làm sao, nét nhã tâm!
Hương xưa, nếp cũ, đóa tinh vân
Gìn vàng chưa đổi tình quân tử
Giữ ngọc nào phai hạnh mỹ nhân
Bảo vật chập chờn chim Lạc Việt
Anh hoa lấp loáng sắc Tân Xuân
Tri âm nguyệt đọng, phô muôn vẻ
Cổ ngoạn, niềm vui ướp xạ trầm !
THÔI XAO MẤY VẬN
(Kỷ niệm sau 2 năm nhập thất)
Giữa mùa cư ẩn mở then sương
Đón khách phong vân mấy nẻo đường
Tay bắt mặt mừng, câu đạm nhã
Ý trao lòng gởi, nụ thanh phương
Lối mây thoang thoát, thiền tâm nguyệt
Hiên trúc mơ màng, đạo nghĩa hương
Lữ khách giang hồ treo kiếm mã
Tao nhân sơn thủy kết văn xương!
Hội thơ, phi tửu, không so đối?
Tiệc chữ, vô ngôn, chẳng đo lường!
Ngõ hẹp, Trang Chu, bồn lạc khúc
Rừng sâu, Vương Phật, nhạc đàm hương
Trăm năm thế sự xanh rờn mắt
Vạn kiếp nhân tình bạc ố gương
Ai tự cao sơn, cô tịch tọa?
Ai ly khổ hải, tuyệt sầu miên?
Vô tư có lúc rây bùn tía
Hữu ý đôi phen lâm cát hường
Những tưởng cõi riêng nhiều lợi lạc
Lo ngờ cốc vắng vẫn nhiêu nhương
Việc đời, quệt loãng làn mây nước
Chuyện đạo, phát lùa lớp khói sương
Đi đến thung dung tay diệu hóa
Mới lui thanh thản hạc vô lương
Trông cao, vững chãi thân tùng núi
Ngó thấp, an bần kiếp cỏ nương
Bút họa, tình không, lời chẳng ngại
Thơ gieo, vận trắng, chữ khôn lường
Sóng xao cát biển còn dư lực
Ý lấp trần mê vẫn dị thường
Có lại nói không, trời tổn hại
Không bèn nói có, đất tai ương
Bập bùng ngôn ngữ, thức thông tỏ?
Leo lét tưởng tư, trí khả lường?
Trăng xế non mờ, hoa vẫn sắc?
Muối tan biển mặn, khổ còn vương?
Hành tàng ngọng nghịu, tâm đưa lối
Ẩn hiện loay hoay, nghiệp dẫn đường
Tự cổ, dế giun ca mộng viễn
Ô hay! Trời đất nợ văn chương!
(1979- 1980)
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Thiền sư nhập thất đức ngời sương
Năm thức mây phong cửa thiện đường
Gió đón tao nhân từ vạn hướng
Trăng mời mặc khách khắp ngàn phương
Lâng lâng nắng hạ, hồng phô nụ
Lãng đãng mưa thu, lan tỏa hương
Chi sá bể dâu trò phế huyễn
Nào hay thế thái khúc gia xương
Bể trần lai láng bao phi thị
Nguồn đạo thung dung bấy cát tường
Lên thác chịu sào, thơ mấy vận
Xuống ghềnh đứng mũi, truyện vài chương
Yên Hà tự tại năm canh nguyệt
Thảo Địa an nhiên sau khắc trường
Bắt chước Lục Du mà "hổ rống”
Nối điêu Trương Kế nhẽ sầu miên
Hỏi non, trầm mặc, um rêu đá
Thăm nước, uyên nguyên, rực khóm hường
Trần Giải, nhịp chèo qua bến lạc
Tĩnh Viên, khúc kệ vượt bờ nhương
Ba ngàn thế giới, ba ngàn mộng
Bốn nẻo sông hồ, bồn nẻo gương
Đông xuống, Đông an niềm tục lụy
Đoài lên, Đoài rạng ánh thiên lương
Mười hàng thanh khi trời tâm tựa
Dăm vận thôi xao gợi ý nương
Khanh tướng, giàm danh, bao kẻ vọng
Ngã thường, chân lợi, mấy ai đương
Cao sơn, khói động, sầu vô hạn
Đại hải mây un, não hữu thường
Không tứ, lời kinh, xua quỷ chướng
Huyền tâm, tiếng kệ, dứt ma vương
Dữ lành, tự nghiệp, lòng khôn biết
Họa phúc, tùy duyên, dạ khốn lường
Đạo dốc hồ trường, cam lộ ửng
Đời nghiêng bầu nậm, hận sầu vương
Tâm gieo nhân tốt, tâm đưa lối
Quả nở hoa thơm, quả lót đường
Hội ngộ, vấn phong, vàng nguyệt diễm
Mừng sư, xuất hạ, tiếp thiền chương!
(18/9 - Đinh Mão)
NHÀ THƠ NGUYỄN
(xướng)
Ngọn Giả Sơn Chùa Linh Mụ
Linh Phong cuồn cuộn nước về Đông
Gột sạch trần mê, lắng bụi hồng
Óng ả triền sương, xuân đỉnh Thứu
Long lanh vách đá, sắc non Bông
Gậy thiền quảy nguyệt, kinh soi tứ
Dép cỏ đùa hương, đạo điểm bông
Bát ngát tầng cao mây khói họp
Lâm tuyền riêng cõi, nức tâm không!
(25/11- Tân Mùi, 1991)
(họa)
Linh Thứu Cao Phong
Nguồn từ Tây ngàn xuống biển Đông
Triền xa, thác bạc ửng non hồng
Suối mây tĩnh mặc, tranh thiền đạo
Hoa cỏ thanh u, sắc nhược bồng
Thấp thoáng ghềnh cao, am đợi khách
Cheo leo vực thấp, đá đơm bông
Cao phong Linh Thứu xưa hằng tại
Bàng bạc đất trời ý diệu không
(Yên Hà Các, Đông Tân Mùi).
NHÀ THƠ NGUYỄN
(xướng)
Ngắm Ngọn Giả Sơn
(Tặng thầy Trí Tựu, Hải Trang)
Phương trượng trông lên ngọn đỉnh trời
Biển mây lồng lộng tít mù khơi
Lan buông, hương nức đường lai, khứ
Cỏ biếc, sương phong nẻo đạo, đời
Cõi Phật, hồn nhiên chim múa hát
Dòng Thiền, trong suốt nước đầy vơi
Khách trần một thoáng qua Tăng thất
Không chữ, tâm kinh bỗng dậy lời
(họa)
Linh Phong
Cao cao hùng vĩ đứng bên trời
Vực thác, ghềnh mây tiếp biển khơi
Thanh thản hương trà, vui giữa mộng
An nhiên vị đạo, thú trong đời
Hồn về vô hạn, sương bay nhẹ
Thơ chảy muôn trùng, suối chẳng vơi
Qua lại lối xưa tìm cổ nguyệt
Linh Phong bia đá, tứ không lời!
CÂU LẠC BỘ CÂY KIỂNG
Một chỗ như ri thú vị rồi
Cần chi du ngoạn ở xa xôi
Vẻ hoa, sắc lá - tình ươm cảnh
Dáng đá, hình cây - nghĩa nẩy chồi
Tửu bút, tha hồ tung hứng, khoái!
Trà thi, mặc sức luận đàm, chơi!
Trước sau, chủ khách thành tri kỷ
Ai biết điền viên cõi tuyệt vời!
SINH VẬT CẢNH
(Mừng hội Sinh Vật Cảnh Cố đô Huế)
Phơi phới chào mừng: Cảnh Vật Sinh!
Thú chơi tao nhã cố đô mình
Nghiên, chung, đồng, sứ... xưa và hiếm
Tranh, bút, tượng, bình... quý lại xinh
Chim hót lồng tre, rừng thấp thoáng!
Hoa chưng bình gốm, nắng lung linh!
Nhàn du thoáng mắt, thu trời đất
Thiên cổ đồng tâm, bút nở tình!
CẢNH NON BỘ
Chênh vênh đứng giữa nước non trời
Năm tháng trơ lì ngạo biển khơi
Ghềnh đá, an nhiên tiên tử tọa
Triển mây, thanh thú đạo đồng chơi
Lều ai trăng gió mà khinh khoái
Thuyền khách sông hồ luống thảnh thơi
Một cõi tiêu tao thiên cổ tuyệt
Tặng người tri kỷ ngắm xem thôi!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Sừng sững thanh uy một cõi trời
Tít xa ngàn dặm biển mù khơi
Ngư về đại hải lưng bầu nậm
Tiều vượt thâm sơn nhập cuộc chơi
Hoa cỏ nồng nàn hương nhã hứng
Nước mây chan chứa sắc hanh thơi
Ngại ngùng khách tục len chân đến
Sương tuyết đường lên biết mấy thôi!
(HK, 13/12/1987)
TÌNH THU
Mây trắng ngàn phương lặng lẽ về
Đường trần, quán trọ dậy tình quê
Gác khuya, khêu nhớ, trầm thơm tứ
Hiên vắng, chờ xem, nguyệt lặng đề
Lãng đãng, tao ông chơi tục phổ
Thảnh thơi, dật sĩ dạo bồng khê
Gió qua khóm trúc, tình muôn xứ
Hương thoảng vườn thơ, nghĩa bồn bể
Kinh tụng một vài, vui nhược mộng
Thiền hành đôi chút, phủi trường mê
Khói sương man mác lòng cô lữ
Mây trắng ngàn phương lặng lẽ về!
NẮNG CỎ HỒNG
(Tặng huynh đệ, kỷ niệm ngày vào núi)
Một chút hư huyền trả núi sông
Từ nay phất nhẹ cánh chim bồng
Nỗi đời đã chán thân du tử
Việc đạo đà quên gậy mục đồng
Điểm ánh mắt xanh xem nguyệt hạ
Mượn màu tóc trắng đón sương đông
Mây lành gió ấm, tình phương địa
Huynh đệ tri âm, nắng cỏ hồng!
(Triều Sơn Phương, 1991).
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Phong vân rộng mở lối đi về
Thu nhớ Huyền Không, mộng cảnh quê
Bát ngát hiên mây, tình núi dựng
Thênh thang gác gió, ý thơ đề
Đường trăng, thầm gợi hương thiền uyển
Ngõ nắng, chừng mơ sắc tiểu khê
Phơi phới đạo vàng ươm vạn cõi
Lung linh sương bạc dậy muôn bề
Hồ quên thế sự tuồng hư hóa
Mà bặt nhân hoàn cuộc tỉnh mê
Tiếng địch ai reo ngoài nội vắng
Phong vân rộng mở lối đi về!
HẠC VÀ THU
Nghe thoảng hơi thu viếng cửa ngoài
Chừng mây ngơ ngác nẻo đồi mai
Non tùng dựng bút, sương pha mực
Lũng trúc phơi kinh, nắng chép bài
Man mác hương ngàn len cốc rạ
Bâng khuâng gió lạnh hé phên sài
Mắt xanh đã mỏng phương trời khói
Chớp cánh mơ hồ, hạc nhớ ai?
(1993)
HIÊN LÃM THÚY
Mười năm một thoáng, thoáng qua mau
Mái lá, phên tre rợp bí bầu
Vài cánh lan hoa, hương dạo ngõ
Mấy vần thi đạo, gió quay đầu
Nắng lên, nhẹ hẫng, mây trôi lướt
Mưa xuống, tươi nhuần, cỏ thắm lâu
Tuổi tác, thời gian, không nhớ nữa!
Ngắm xanh, Én Trắng thản qua cầu!
(Kỷ niệm 10 năm
Nham Biều, 1978-1989)
TIÊU NHIÊN
(Họa bài "Mái đầu sương tuyết”
của Ngọc Quế).
Non cao chi sá tuyết sương đầu
Bời bọt nhân tình, nước chảy mau
Đã gặp tiên nhơn, mây trắng áo
Còn thương hồ điệp, mộng xanh màu
Câu thơ hào sảng trăng pha sắc
Rừng trúc tiêu nhiên gió tượt sầu
Chẳng biết đời khô ai nhúm lửa
Cháy hai bờ, cháy suốt ngàn thâu!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Ngoài Thể Sự
Một mình lặng lẽ trước gương trong
Nghe tiếng ai về gõ cửa không
Một thoáng hương bay mờ cánh nhạn
Bao mùa Xuân đến ngát hoa hồng
Vẫn tìm thanh tịnh bên vườn vắng
Đã thấy bình yên cuối gió Đông
Quên cả buồn vui ngoài thế sự
Hoàng hôn theo khói nhẹ xuôi dòng!
(họa)
Niêm Bọt Sóng
Tình đạo ngàn xưa suối nước trong
Duyên thơ đôi cánh nhẹ hư không
Xuống non, líu ríu chân xao bụi
Vào cõi, lênh thênh bước rẽ hồng
Biển cả kết hoa, niêm bọt sóng
Khe sâu phổ nhạc, tiễn lời Đông
Gió qua khẽ chạm trăng đầu núi
Để bóng buồn vui rớt giữa dòng!
ÁO PHÙ SINH
Dặm dài chiếc nhạn vút linh khinh
Nước gợn bèo chao dậy chút tình
Khói sóng mây pha màu lặng lẽ
Đốm hoa trắng dợn sắc lung linh
Lơ ngơ viễn mộng chim run cánh
Bớ ngớ quê hương lá trở mình
Tiếng gọi, thở dài phương lãng bạc
Vai gầy nhẹ khoác áo phù sinh!
Nhà Thơ Dạ Sĩ Thiện Trí
(Cố Đại Lão Hoà Thượng
Chùa Hiếu Quang)
Tuổi già lẩm cẩm chịu rằng hư
Hay giỏi mần chi với buổi chừ
Ăn nói lờ khờ nghe họ bực
Vui chơi biếng nhác thấy mình dư
Người quen trước mặt nhìn ngơ ngẩn
Vật nắm trong tay kiếm mệt đừ
Theo lẽ vô thường là phải rửa
Bà con những tưởng tớ đang cừ!
(họa)
Biết đâu là thực, biết đâu hư?
Hư thực khó phân, khó nghĩ chừ!
Nhìn cuốc hóa gà, mắt vẫn tỏ
Luận không thành có, trí còn dư
Hứng thơ lời vụng, đời khôn dễ
Thảo bút tay run, nét chẳng đừ
Lão hạc cỗi tùng, sương tuyết dạn
Cừ như Hòa thượng mấy ai cừ!
2- Nghề Chơi Chữ
Cái nghề chơi chữ cũng kỳ thay
Lao động thi thơ lụn tháng ngày
Thảo luận văn từ quên mỏi miệng
Điểm tô nghệ thuật chẳng rời tay
Cãi nhau vài nét, la khàn cổ
Thích ý đôi câu, sướng chửng mày
Thú vị như mình đâu dễ có
Cứ vui hoài, kẻ trả người vay!
(họa)
Đệ nhất phong lưu cũng phải thay!
Nghề chơi chữ nghĩa, tháng quên ngày
Gạo châu, củi quế nào lơi bút
Tứ gấm, lời hoa cứ trổ tay
Hơn kém vốn chưa hề chột dạ
Khen chê nào khá dễ chau mày
Thanh cao lạc thú, đời ai biết
Thõng ngoại ba ngàn chuyện trả vay!
3- Con Bò U
Có lẽ vì xưa nó vụng tu
Hóa nay đành thọ kiếp bò u
Kềnh càng xe nặng trườn cong cổ
Thúc giục đòn tươi vụt sả khu
Dáng mệt mề, chân lê chậm chạp
Thân cằm cụi, tánh vốn ngây ngô
Thương thay nghiệp chướng mô từ trước
Quả báo ngày nay phải chịu bù!
(họa)
Tu như bò rứa mới nên tu!
Tu ráng rồi đây sẽ hết u!
Cõng kéo đường xa thêm giãn cẳng!
Vọt đòn roi nặng lại êm khu!
Thảnh thơi năm cửa, chê rơm cỏ!
Thích thú bốn bề, tợp lúa ngô!
Chẳng muốn tranh giành nên chậm chạp!
Thương đời chạy vạy rối lu bù!
4- Hạ An Cư
Tuy rằng mùa hạ nắng như thiêu
Nhưng đặng an cư cũng khỏe nhiều
Bái Phật, tham thiền luôn dõng mãnh
Đàm kinh, luận đạo lắm cao siêu
Tiêu trừ phiền não bao đời kiếp
Tinh tiến công phu những sớm chiều
Ruộng phước tài bồi thiên vạn khoảnh
Từ bi giống báu vẫn thường gieo!
(họa)
Mùa hạ khắp trời lửa đốt thiêu
An cư, thiền cảnh thanh lương nhiều
Luận văn, tình lặng, non thành lão
Đàm đạo, tâm không, vụng hóa siêu
Bởi khách xôn xao lời nắng sớm
Vì người ngơ ngác bóng mây chiều
Sa-môn hiện tướng ngàn muôn hạnh
Dẫu biết bồ-đề hạt khó gieo!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Qua Những Mùa Đông
Gọi người núi thẳm lạnh hơi may
Vang vọng hồn xưa ánh nguyệt gầy
Khói tỏa ai về nghe tiếng gió
Sương mờ chiều xuống lặng ngàn cây
Vui làn suối nhẹ trôi ngày vắng
Nhớ cánh chim xa chở nắng đầy
Qua những mùa Đông tàn cát đá
Đầu non mây trắng vẫn còn bay!
(họa)
Chữ Ngọn Cây
Hiu hắt rừng Đông ngọn cỏ may
Tiêu sơ, thủy mặc khóm lau gầy
Cành sương lặng lẽ, mai đầu núi
Hồn đá mơ màng, chữ ngọn cây
Trời đất duyên thiền mười cõi rộng
Nước non tình đạo một lòng đầy
Tri âm gõ nhẹ vào then trúc
Mở cánh thơ vàng, hạc trắng bay!
----------------------
Trăng khuya đọc sách đèn tri kỷ
Bạn cũ ẩm trà vị tĩnh cư!
------------------------
Lĩnh cao văn dẫn hồn thanh khí
Lũng thấp thơ vương gót thiện hài
---------------------------
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
( xướng)
Sóng Đời Trôi
Có tia nắng biếc đến thăm vườn
Như khẽ tâm tình với giọt sương
Mây trắng theo chiều im trước ngõ
Lá xanh gọi gió lặng bên đường
Trăm năm cơn mộng nào lưu luyến
Muôn thuở vầng trăng mãi vấn vương
Theo sóng đời trôi... trôi lấp lánh
Tình xa nhẹ gởi giấc mơ thường!
(họa)
Câu Chữ Chiêm Bao
Cây cỏ theo thu, lá rụng vườn
Đời như mây loãng thoảng ngàn sương
Đôi khi tụ khí, hoa đầu đá
Lắm lúc phân thân, quán vệ đường
Tình biển bạc, thuyền không chẳng ngại
Nghĩa non cao, áo khói nào vương
Sóng xao, cát nổi. Hai bờ mộng!
Câu chữ chiêm bao cũng lẽ thường!
Non thẳm, mênh mông một mảnh vườn
Đời qua lũng vắng, thoảng ngàn sương
Câu thơ nhã đạm, trang màu đá
Nét họa đan thanh, mực bụi đường
Suối mộng, trăng lay, con nước gợn
Cành mơ, chim ngủ, lá rừng vương
Gió chao dặm khói, tình sơn thủy
Sóng nổi lưng mây, nhật nguyệt thường!
XUÂN Y TIẾU
(Đáp hoạ bài thơ Xuân
của Quãng Tường Cư Sĩ)
Lao xao bóng chớp dịch dời năm
Mê, tỉnh trăm sông, nước đổ thầm
Mơ lắm, thuyền trôi phương mịt mịt
Mộng nhiều, ngựa lạc hướng tăm tăm
Thủy chung tương hoán, hà phi xứ?
Lại khứ thường như, hà thị tâm?
Khép mở, vần xoay, sinh thủ uẩn
Xuân phong thêm mát núi mây hồng!
Xuân phong thêm mát núi mây hồng!
Bút cũ còn đem họa gió Đông
Lãng đãng muôn non nào biệt cội!
Lang thang nghìn chợ vẫn tìm tông!
Huyền đàm vấy bụi cay cay mắt
Không luận đùn vôi, bạc bạc lòng
Bồ-tát cao xanh còn mắc nạn
Huống chi thân cá chậu chim lồng!
Huống chi thân cá chậu chim lồng!
Hoa bướm ngày xuân muốn ghẹo ông
Dê bỏ rừng xưa tình ái nặng
Khỉ leo cành cũ dục tham nồng
Khứ lai chẳng lẽ là tiên hậu?
Tánh tướng rồi ra có dị đồng?
Vạn hải thiên san còn chỗ chật
Huyền Không thì cứ vẫn Huyền Không
Huyền Không thì cứ vẫn Huyền Không
Triêu mộ huy huy nhật nguyệt hồng
Phi cảnh, phi tâm - phi chánh giáo
Tức tâm, tức cảnh - tức tà tông
Mặn chay, cao thấp, rầu đo lượng!
Lớn nhỏ, ít nhiều, mệt đấu đong!
Sinh tử thị thường, hà viết chuyển
Xuân lai y cựu, tiếu sư ông!
Xuân lai y cựu, tiếu sư ông!
Năm thức dòm xem nguyệt chiếu song
Hoa úa, khinh cài thân ngọc nữ
Bút Cùn, hí họa dáng tiên đồng
Ấng thư thẹn mặt loài sâu mọt
Bồn kiểng trơ gan cỗi trúc tùng
Muốn biết hư không còn mấy nặng
Chỉ nhìn tri kiến trụ đầu lông!
Chỉ nhìn tri kiến trụ đầu lông
Dâu bể trò chơi của hóa công
Bút phóng thiên khung, trời bế tắc!
Thơ tràn địa đạo, đất hanh thông!
Hạc thành chở ngạo lầu Thôi tử (1)
Mai chợ, đừng khoe ngõ Ngũ ông (2)
Xưa mới, thị phi, im hỏi im!
Pháp không, không cả có cùng không!
Pháp không, không cả có cùng không!
Mắt đá sao cay nỗi bụi hồng!
Điêu nối, mới hay chim nối gió(3)
Vần tìm, vỡ lẽ cá tìm sông
Niết-bàn khôn được, trơ trân trố
Sinh tử mong lìa, vọng viễn vông
Tiết dịch, nay ta còn dịch nữa
Thị thường răng hẳn thị thường long!
Thị thường răng hẳn thị thường long
Ai biết tâm thường thẳng hóa cong
Mưa lớn, lụt to mờ khí bốc
Nắng nhiều, hạn quá nghịt hơi xông
Hữu vô bao mối chung cùng bổn
Thiện ác hai đường chẳng khác tông
Lập hạnh có ai cầu trược hạnh!
Du Xuân, ai lại dại du Đông!
Du Xuân, ai lại dại du Đông!
Vào chợ còn nguyên dáng cáo đồng
Rừng rú thương Xuân bèn nở lá
Thị thành đón Tết cố chưng bông
Mây bay tuế nguyệt, vui non tịnh
Nước chảy khê tuyền, dạo cửa không
Vạn hóa đại toàn ai khá biết
Cổ lai muôn sự, đạo tùy trung!
(1981)
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Sáng Mùa Xuân
Xuân ngát bình minh trên nhánh hoa
Tiếng thơ dâng nắng đến muôn nhà
Cánh đào năm ngoái, tươi mùa thắm
Đóa cúc ngày xưa, đẹp ý xa
Tìm chút mặt trời miền lữ thứ
Soi bao ánh ngọc cõi yên hà
Chén trà an tịnh bên vườn biếc
Khi đóa hoàng mai nở với ta!
(họa)
Chung Trà Thiên Cổ
Trước sân mai nở rực vàng hoa
Mượn ý thiền thi giữ nếp nhà
Thuở nọ lò trầm chờ bạn quý
Ngày nay nét trúc gởi lời xa
Chữ xanh vẹn vẻ câu sơn thủy
Mây trắng thong dong chuyện hải hà
Chim lạ phương Đông về núi sớm
Chung trà thiên cổ một mình ta!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Khách Quê Xa
Yêu ánh trăng xưa lạc cuối vườn
Mỉm cười trên những giọt thu sương
Trời cao mây tỏa cành lan biếc
Suối vắng đêm trôi giấc mộng thường
Dù biết mưa qua bờ cát đá
Vẫn sầu gió thoảng cánh hoa hương
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết quê xa vạn dặm trường!
(họa)
GỬI LY KHÁCH
"Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình!”
(Trần Thái Tông)
Có màu hoa lạnh ở bên vườn
Như cánh Sao mờ đọng tuyết sương
Cội trúc lá reo lời tĩnh tại
Đầu non mây tỏa giấc an thường
Thư xa đâu dễ thơ phai sắc
Thu lạnh nào hay cúc thắm hương
Ly khách lênh đênh trời gió bụi
Trăng xưa, bạn cũ, quán chung đường!
ĐIỂM XUÂN
Gọi tuyết Đông về bên lũng vắng
Để nghe khí lạnh, buốt châu thân
Cho thơ càng trắng niềm hư ảo
Cho núi thêm ngời ánh tịch huân
Đã biết viễn phương là mộng mị
Nào hay cố quận cũng phong trần
Hoa quen băng giá, chào tin nắng
Một nụ đầu cành, điểm điểm Xuân!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Nhánh Cỏ Mùa Đông
Sao tuyết phủ nhòa nhánh cỏ non
Như mùa đông lạnh kín tâm hồn
Thanh thanh lá gọi chiều xuân thắm
Tim tím hoa vương bụi nắng mòn
Nét bút lặng thầm khơi dĩ vãng
Giọt sương trầm mặc ngát hoàng hôn
Có chi chiếu rạng mười phương khói
Lấp lánh vàng pha cuối viễn thôn
(họa)
Sương Vẽ Mắt
Nhánh đông rủ tuyết, ánh xanh non
Tỏa khí xuân dương bát ngát hồn
Cho nắng cài hoa mầm cỏ lạnh
Để sương vẽ mắt lối mây mòn
Lung linh sao tỏ miền quang rạng
Biêng biếc trăng soi cõi ám hôn
Nhã đạm duyên thiên, màu thủy mặc
Hóa văn bàng bạc phủ sơn thôn!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Qua Phong Trúc Am
Mây tỏa đồi sương trắng một màu
Nửa gian nhà cỏ khuất ngàn dâu
Cúc lay ngoài giậu, hoa sao vắng
Bóng ngã bên thềm, nắng mãi đâu
Lặng lẽ sân rêu, ngày gọi nhớ
Bâng khuâng ngõ trúc, gió nương sầu
Chừng như người vẫn thường lên núi
Hái nhánh hoàng hôn gởi cuối thâu
(họa)
Vỗ Ngàn Thâu
Dường như mây khói chẳng phai màu
Một thoáng lòng, thương mấy biển dâu
Thơ ghé đồi lan, hương để lại
Gió qua rừng trúc, tiếng tìm đâu
Mênh mông giọt nắng, vàng hiên nhớ
Bát ngát làn sương, trăng nỗi sầu
Có lúc cô liêu hồn đỉnh biếc
Bên trời, cánh nhạn vỗ ngàn thâu!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Trăng Nhớ Chiều Xa
Sương khói bâng khuâng nhuộm nắng tà
Quê mình mây trắng khuất ngàn xa
Ngày về bước mỏi... đâu còn mãi
Nẻo đến thu phai... vẫn cứ là
Chiều xuống lá rơi, sầu bến nước
Năm về gió thoảng, úa cành hoa
Bên hoàng hôn lạnh, vầng trăng lạnh
Có phải trăng kia cũng nhớ nhà!
(họa)
Thu Gầy
Non mây ngơ ngác bóng dương tà
Một thoáng bên trời cánh nhạn xa
Hạt ngọc bụi sương, màu cứ vẫn...
Câu thơ, bùn tuyết, ánh như là...
Hắt hiu núi xế, chim về tổ
Liu lắt thu gầy, cõi nở hoa
Hiên lạnh, long lanh vàng lá trúc
Mới hay trăng sáng mấy quê nhà!
VỤNG VỀ NGẪU BÚT
Non sâu, am vắng nhẹ niềm vui!
Rau muối, tương dưa, lạy Phật trời!
Trà sớm, trầm thơm, thơ cổ vịnh
Chợ chiều, gót bụi, gậy thiền chơi
Mấy trang văn vụng rơi đầy áng
Một mảnh trăng khuya lạc cuối đồi
Đọt trúc vươn cao, vàng ửng biếc
Thế tình, sương lá, giọt hàn rơi!
(17/9 Nhâm Thân)
NHÀ THƠ TRƯƠNG QUÂN
(họa).
Am trúc, rừng sim, vẫn sống vui!
Rau trồng, gạo giã, đón chim trời
Đỗ cành mai nhã, oanh chào hỏi
Nương cánh mây nhàn, hạc đến chơi
Kinh thả tình thơ, xuôi mộng suối
Chuông đưa hồn bướm, lượn hoa đồi
Sắc hương dịu thoảng không gian rộng
Nhỏ giọt thời gian, sương lá rơi!
(24/10/92)
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(họa)
Trên đỉnh bình minh chim hót vui
Hòa trong sương trắng ngát phương trời
Cành thông trầm mặc, nghe hương thoảng
Cánh bướm mơ màng, duỗi nắng chơi
Quên dáng thu xưa về cuối bãi
Gọi làn mây nổi lạc bên đồi
Có ai đi mãi ngoài muôn dặm
Còn lắng theo chiều tiếng lá rơi!
MẦM ĐÁ XANH
Lặng giữa non cao giấc tuế miên
Chợt nghe đất vỡ nức chồi duyên
Tình không, bút vẫy, xao mây đốm
Cành mộng, hoa khai, chớp mắt thiền
Cỡi nhánh trầm thơm, thơ dạo cảnh
Rẽ luồng gió tía, hạc chơi miền
Biết hay, lửa lạnh, xanh mầm đá!
Cát ngọc lung linh điểm chợ triền!
NHÀ THƠ THANH NHƠN
(họa)
Rừng núi thênh thang giấc tịnh miên
Thông reo, chim hót, gió đưa duyên
Suối dâng ý đạo khơi mầm đá
Sương giáng tâm kinh vọng nẻo thiền
Y bát bốn mùa gieo vạn pháp
Bút hoa sớm tối điểm trăm miền
An nhiên một cõi yên hà tại
Gậy trúc chân như bóng cuối triền
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Non cao êm ả giấc du miên
Gậy trúc mơ màng bước hóa duyên
Vách nguyệt, sương gieo vần kệ pháp
Lũng mây, suối tụng khúc ca thiền
Hương Lăng-già quyện thơm nghìn cõi
Hoa Tuyết sơn ươm, thắm vạn miền
Rạo rực men trăng cành lá động
Áo xuân phơi phới khoác xanh triền
LÁ TÍA
Một phím tơ xưa thoảng cổ đồng
Vân du ghé lại quán thu phong
Hoa reo đinh biếc, hương ngàn gió
Trăng mọc chợ vàng, sắc úa đông
Mây trắng đường về, thương cố quận
Bút tre mực vẩy, hiển chơn không
Hoàng hôn lá tía ngời non thắm
Bóng hiện muôn trùng cõi nước sông!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(hòa họa)
Áng mây xưa nhớ cõi huyền đồng
Theo gió tìm về am Trúc Phong
Bóng núi sương che mờ quạnh vắng
Nhánh đồi xuân tỏa ngát mênh mông
Vui chung trà sớm, phai bờ khói
Đón ánh trăng chiều, lặng tiếng không
Cánh nhạn muôn trùng lên đỉnh biếc
Chừng quên chiếc bóng lạnh dòng sông
XANH MÁI CHỮ
Nhớ bến sông chiều, thơ viễn phương
Đến đi phiêu hốt, gió ngàn hương
Trăng xanh, mái chữ, màu lan nhã
Hoa trắng, hiên văn, sắc thảo đường
Khe lạnh, dế giun hòa ngữ điệu
Bút cùn, mây khói dệt từ chương
Vô tình chiếc nhạn mờ thu giá
Cành trúc sân ngoài trĩu hạt sương!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(họa)
Từng trang thơ biếc gởi muôn phương
Còn thoảng thêm hoa bát ngát hương
Núi tỏa làn mây hòa cuối khói
Thu cài tiếng gió lạnh bên đường
Tiếc xuân hồng nhạn vương bao mộng
Buồn nắng hoàng hôn lạc mấy chương
Vẫn biết ánh dương về mọi nẻo
Dù cho non thẳm có mù sương!
TÙNG XANH MỞ MẮT
Năm mới, vần thơ thắp cõi huyền
Tình không, nhã đạm, phúc dương thiên
Hai lần mai nở, xem thời khí
Mấy lượt đào rơi, hiểu thế duyên
Mở mắt, tùng xanh xem phố tục
Vén trăng, trúc biếc ngắm non tiên
Chữ câu thanh thoát, chờ cao sĩ
Bút nét tinh anh, tiếp trí hiền
Du tử khói sương, cười hệ lụy
Nhàn tăng y bát, mỉm ưu phiền
Càn khôn mở chốt, tâm thường tại
Thanh thản dòng xuân lướt bóng thuyền!
THU XA VẮNG
Nào nỡ sao thu trắng hững hờ?
Giọt trăng, giọt mực, giọt thờ ơ!
Nỗi mây vẽ mãi màu xa vắng
Phiến mộng cài thêm sắc lặng tờ
Lau cỏ bâng khuâng, ngây ngọn bút
Khói hương man mác, níu vần thơ
Non lam, đinh tía sầu thương hải
Chim lạc hoàng hôn, lạc cõi bờ!
VESAK
Đê đầu cung kỉnh nén thi hương
Phật Đản uy linh phụng cúng dường
Tâm cảnh chứa chan màu tịnh lạc
Thảo lan phơi phới sắc thanh lương
Nắng vàng rải mật, sơn kim tượng
Gió nhẹ gieo tơ, dệt thiện đường
Đất chuyển, chim ngân lời diệu pháp
Trời rung, nhạc trỗi khúc văn chương
Xoa tay lụy đỏ, lìa hư ảo
Nâng cánh sen xanh, hiểu mộng thường
Mây nước non ngàn thay áo mới
Vườn thơ, rừng chữ, khối châu sương!
QUÊN TRÂU
Tìm trâu chẳng thấy dấu trâu nào!
Sơn thủy hữu tình đẹp xiết bao!
Bến cũ, mây pha màu thủy lực
Vườn xuân, sương thắm nụ mai đào
Buông tay dốc thẳm, vui non lặng
Bỏ áo bụi hồng, ngủ núi cao!
Yên ả sông vàng, trăng gợn tí
Hương từ nguồn cội ngút ngàn sao!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(họa)
Nhớ Về An Lạc
Dõi ánh mây xa nhớ chốn nào
Nhớ về chùa cũ biết là bao
Người khơi trí tuệ, lời châu ngọc
Bút tỏa từ bi, nhánh trúc đào
Đưa kẻ bình yên lên đỉnh biếc
Cho thơ thanh thoát vượt trời cao
Dầu xa xôi quá, miền an lạc
Mà ánh châu hương, vạn ánh sao!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Cành Xuân
Nắng mưa nào khép bóng thời gian
Ngày tháng theo xuân nở đóa vàng
Với cánh hương dâng hồn nắng cũ
Cho mùa cỏ ngát tiếng thơ vang
Cành lê nguyên đán mây nào nhớ
Chiếc én hoài hương mộng chẳng tàn
Như đã cùng xuân quen thuở trước
Nụ cười nhẹ thoảng gấm hoa đan!
TIÊU SÁI
(họa)
Năm tháng hư hồ chuyện thế gian
Sứ xuân mang thiếp đóa tâm vàng
Để hương cửa động lay hình bóng
Để gió phương trời lặng tiếng vang!
Bút mở then sương, tình nắng ấm
Đêm chong nến chữ, lửa đông tàn
Duyên thiền tiêu sái màu sương tuyết
Hoa cỏ vườn chùa vẻ gấm đan!
VỠ TRẮNG BỜ
Một nửa hồn là một nửa thơ
Nửa thân hạc biển, nửa sương mờ
Mênh mang tâm cảnh, màu thanh nhẹ
Bát ngát trời mây, sắc lặng tờ
Bóng trúc trăng soi, niềm nhã nhã
Cành lau chữ viết, nét phơ phơ
Cô liêu chợt nở mầm hoa đá
Một thoáng thiên hư vỡ trắng bờ!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(họa)
Người đem mây nối kết thành thơ
Rồi thả ngàn phương cõi bụi mờ
Để núi đồi xanh, chiều lặng gió
Cho am mây biếc, nắng vương tờ
Đỉnh cao nhớ trúc, trăng vò võ
Mộng trắng tàn sương, tóc bạc phơ
Nào biết ai lên miền tĩnh mịch
Cho hoàng hôn trắng thoáng qua bờ!
NHỚ THẠCH ĐẦU
Có lúc mùa thu về đã lâu
Bóng ta xa hút chẳng tìm đâu
Lời vàng rụng xuống lao chao chữ
Tứ trắng bày lên lú nhú sầu
Sương khói lắt liu tình vạn quán
Tháng năm mê miết chuyện nghìn dâu
Về thôi! Liêu vắng, trăng thiền lạnh!
Cạn chén hư linh, nhớ thạch đầu! "
PHẬT VỀ!
Năm sắc mây lành rợp biển khơi
Phật về! Nắng lụa dệt khung trời
Xua bao tăm tối, cơn mơ kiếp
Xóa bấy thương đau, giấc mộng người
Tuệ sáng soi tâm, phiền lắng dịu
Trí trong dõi niệm, khổ xa rời
Diệu kinh vằng vặc, trăng lưu bóng
Thắng pháp lung linh, chữ hiện lời
Cát bụi, chân không - tình mấy thuở
Gió sương, áo mảnh - hạnh bao đời
Phạm vương, Thiên đế quỳ cung ngưỡng
Chiếu diệu hào quang mãi rạng ngời!
THƠ THẨN
(thơ song điệp)
Thẩn thẩn, thơ thơ suốt cả đời
Bằng bằng, trắc trắc khổ công chơi
Khi vui - tắn tắn, tươi tươi chữ
Lúc bực - nhăn nhăn, nhó nhó lời
Bọt bọt, bèo bèo - thương giọt mực
Hoa hoa, đốm đốm - xót con người
Ai còn nước nước, trăng trăng đó!
Bút bút, nghiên nghiên chán quá trời!
NON XUÂN
(thơ tiệt hạ)
Đẫy giấc non Xuân cứ ngỡ là...
Bốn mùa ngủ mộng lại thành ra...
Đào mai vườn cũ, dường như thế...
Tùng trúc hiện xưa, cứ thế mà...
Nét bút thênh thang, còn mãi hứng...
Câu thơ lấp lánh, hẵng chưa nhòa...
Một miền Sơn Thượng Huyền Không vẫn...
Đâu đó tình thiền hãy với ta...
GIÓ ĐƯA LẠI
Ô hay! Phong tống ngọc nhân lai!
Tiên tử, tao ông thản gót chơi
Lều cỏ, hoa hương rải lối
Hiên không, trắng gió đưa lời
Lĩnh cao, văn dẫn hồn thanh khí
Lũng thấp, thơ vương áo thiện hài
Nắng hạ, tàn che mây ngũ sắc
Ngờ đâu, trần thể hiện bồng nhai!
TRONG NGOÀI CÕI
Bụi cát lao xao mờ mắt tục
Ít thanh trong, lắm trò nhơ đục
Ao bùn xó chợ, chú loi ngoi!
Hố rác bên hè, thằng lúc nhúc!
Việc tốt chẳng làm: Lòng táo khô
Mầm xanh không dưỡng: Cây hư mục
Buông tay tám vạn có cần chi
Đại trí thảnh thơi lìa cõi dục
CHÚC VU VƠ
Vô lượng tiếng lời, vô lượng Xuân
Đất trời sông núi mới như tân
Thông tùng thay vỏ, uy cương cốt
Sỏi đá tróc rêu, hiển tục trần
Chúc giọt sương chiều đùa lữ quán
Chúc làn nắng sớm cợt phong vân
Chúc cành hoa dại vươn tràn suối
Chúc khóm trúc già tỏa rợp sân
Nhạc điệu dế giun cung hợp xướng
Ca từ cóc nhái nốt đồng ngân
Chúc ong hút nhụy đầy no mật
Chúc kiến tha mồi cứng mạnh chân
Nàng buớm hóa hình lìa mộng cảnh
Chị cò thoát kiếp hiểu tiền thân
Chợ vàng cá ngáp, tôm lên giá
Phố đỏ voi leo, chó thiệt phần
Thấy đĩa nhặng bu - thương trọc phú
Xem mâm ruồi đậu - mến thanh bần
Vu vơ lắm chuyện, vu vơ mãi
Xuân chúc làm người: Nhân vị nhân!
CÚNG PHẬT
(Đề bàn thờ Phật)
Phật tự xưa ngàn trú rỗng không
Chập chùng danh lý bước thong dong
Vẽ tâm, ngơ ngác, màu yên lặng
Họa tướng, mơ màng, sắc trắng trong
Mượn khóm lan vàng, trăng hé nụ
Đốt câu thơ cũ, khói đơm bông
Mực sương, bút trúc hòa hương bối
Níu áo mây qua tạc mấy dòng!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Vàng son phù thế nhẹ bằng không
Kiền Trắc đêm vàng vụt ruỗi dong
Tám nẻo, hương sen, trần gạn đục
Bốn bề, mưa pháp, tục khơi trong
Đạo ươm thiền vị, xanh non Thứu
Lý tỏa vô ưu, thắm cõi Bồng
Sương tuyết ba nghìn, ơi hỡi mộng!
Từ phen bể khổ nước khơi dòng!
GIÓ ĐƯA LẠI
( Quý tặng cụ Trúc Lâm, chư thi hữu
Nguyễn, Nguyệt Đình, Thùy Bảo)
Ô hay! Phong tống ngọc nhân lai!
Tiên từ, tao ông thản gót chơi
Lều trúc, hiên tùng, hương có nội
Cơm rau, trà sói, gió non vời
Lĩnh cao, văn dẫn hồn thanh khí
Lũng thấp, thơ vương gót thiện hài
Nắng hạ, tàn che mây ngũ sắc
Nào hay ở núi có Bồng Lai!
(23/3 Tân Mùi)
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Sơn Phương nào khác cảnh Bồng Lai
Tiên tục hòa vui một cuộc chơi
Gậy trúc, tao ông non tuyệt đỉnh
Am tranh, thiền khách mộng cao vời
Nắng vàng đủng đỉnh vương hướng núi
Mây trắng thong dong vọng tiếng hài
Chợt nhớ người xưa hoan hỷ đón
Ô hay "bằng hữu viên phương lai”!
NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH
(họa)
Rủ nhau sửa túi dạo Bồng Lai
Hương đạo, tình văn nhớ ghé chơi
Nhà cỏ nằm nghe chim gáy thoảng
Thềm rêu ngồi lắng phiếm ngân vời
Bình thơ gió lộng tung con chữ
Vịnh cảnh, hoa gieo đóng dấu hài
Bình thủy tương giao mây thắm sắc
Non tiên nào dễ gót trần lai!
NHÀ THƠ THÙY BẢO
(họa)
Triều Sơn một cõi tựa Bồng Lai
Mặc khách ai người hãy viếng chơi
Gió thoảng hương rừng len núi thẳm
Trăng xanh ánh mộng dát non vời
Ngày lên, nắng vẽ tranh vân cẩu
Đêm xuống, chim nghe tiếng thảo hài
Thiền viện bốn mùa luôn rộng mở
Đón mời " tứ hải ngọc nhân lai”!
ĐÊM TRĂNG NHÀ CỎ
Thanh khí, tư lâu cách khói sương
Hỏi thăm, ẩn giả vẫn an thường
Bên trời, sao lẻ, hồn nhân sĩ
Trên án, đèn khuya, bút thiện lương
Xao xuyến, hồ trăng chao chiếc nhạn
Bâng khuâng, nhà cỏ thoảng làn hương
Lặng nhìn ngõ trúc vờn mây trắng
Nằm mộng, đêm nay, hạc ghé vườn!
NHÀ THƠ TRƯƠNG QUÂN
(họa)
Trăng về lều cỏ nép rừng sương
Nhắn hộ ai kia "giấc mộng thường”
Tự tại thong dong đường lạc đạo
Lụy trần vương vấn bước thừa lương
Song thưa lồng nguyệt mờ nhân ảnh
Gót nhẹ chờ hoa thoảng dạ hương
Hai hướng đêm dài chung nỗi nhớ
Nơi đây sao lẻ lạnh bên vườn !
(Cư xá Thanh Đa, Sài Gòn)
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Triều sơn một cõi trắng then sương
Chưa hẳn Linh Sơn đã khác thường
Am trúc, trăng in tình cố cựu
Thềm mây, gió thoảng khúc thừa lương
Chừng mơ dáng truyện, xuân ngời sắc
Thầm nhớ vần thơ, đạo ngát hương
Hài cỏ thung dung về viện sách
Như nhiên, thế sự thản qua vườn!
(16/05/1991)
NHÀ THƠ LÊ VĂN LỢI
(họa)
Một thuyền thanh khí gió cùng sương
Tô điểm trang nghiêm chữ thị thường
Vào chốn bụi trần, nguồn pháp vũ
Đến nơi nhà lửa, ngọn thanh lương
Đá kia lắm lúc xuất kỳ ngọc
Xạ nọ nhiều khi tỏa dị hương
Nắng đã lên rồi, hoa đã thắm
Muôn chim giục giã hót quanh vườn!
NHÀ THƠ THÚY BẢO
(họa)
Mơ màng nhà cỏ lẫn trong sương
Trăng bạc lung linh ánh diệu thường
Áng sách hoài mong người tiết khí
Đèn trăng mãi vọng khách hiền lương
Lao xao gió núi, xui mơ nhạc
Thoang thoảng hoa rừng, gợi nhớ hương
Bóng trúc nghiêng nghiêng lay cổng trúc
Tưởng ai, thi khách ghé thăm vườn!
NHÀ THƠ MẠNH HỒ
(họa)
Rằng nghe chốn ấy đẹp mù sương
Lũng thấp, đồi cao - cảnh lạc thường
Thanh khí chứa chan xao mộng mị
Nhàn vân bàng bạc dứt từ lương
Lều tranh đêm xuống, trăng nghiêng bóng
Ngõ trúc chiều lên, gió thoảng hương
Muốn viếng Triều Sơn, tâm, họa bút!
Đành thôi, thiếp nhận ghé thăm vườn!
CHÙA MIẾN
Tham quan chùa Miến-điện
Chừ thắp hương cầu nguyện
Xin Phật mãi thiêng linh
Mong đời còn thánh thiện
Bạt sơn dựng tháp hoa
Khắc đá lưu kinh điển
Hạnh phúc một lần đi
Trăm năm buông quyến niệm!
THU CHỜ
Chờ mãi chờ ai giữa biển dâu
Chờ tâm ngọc trắng, tuyết thêm mầu
Chờ chàng lãng tử quăng hồ nậm
Chờ khách phong trần cởi dép lau
Chờ bạn giang hồ vong dặm lữ
Chờ trang hảo hán hạ cương đao
Chờ tay kiếm mã tung yên giáp
Chờ chí anh hùng buộc vó câu
Chờ gió tri âm xao vạn thuở
Chờ hương tri kỷ tỏa nghìn thâu
Thế gian bấy kẻ lòng muôn trượng
Phẩy bút hư không, phóng thoại đầu!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Thu Hẹn
Hẹn khi lửa hạ xế ngành dâu
Hẹn lúc kim phong chuyển ý mầu
Hẹn nước luân lưu dòng ngọc biếc
Hẹn non rực rỡ bóng cờ lau
Hẹn hương minh nguyệt lên thiền các
Hẹn sắc thiên thanh tỏa giới đao
Hẹn cánh ngân hà tung viễn mộng
Hẹn gây lãng khách giục thần câu
Hẹn mưa cam lộ năm châu rải
Hẹn nậm hồ lô bốn bể thâu
Giữa cõi càn khôn, tâm chẳng trụ
Lung linh mặt nhật chiếu sơn đầu!
------------------------
Lòng thiền vằng vặc trăng ba cõi
Rừng trúc mênh mông bạn một đời!
------------------------
Chấm sơn điểm thủy thiền đôi nét
Phẩy hạc lăng vân đạo bấy tình
-------------------------
TỨ HAIKU!
(Tặng học giả Phan Minh Trị)
Tứ haiku ít chữ
Thếp vàng, cổ kính tâm
Phượng, ngô đồng, La Thập
Sáo, ti trúc, Thế Thân
Rừng sách, trăng ẩn sĩ
Vườn văn, hương mặc lan
Chái đông, tình bút lặng
Vô vật, vĩnh vô trần!
KHÔ MỘC
(Tặng Võ Văn Quân)
Lữ khách lên non, áo trắng mây
Đá nằm khô mộc hóa xanh cây
Qua miền trí nhớ, trăng đeo mắt
Đến cõi tình quên, bụi phủi tay
Ý bút đỉnh cao, sương khói ngại
Hồn hoa núi vắng, sắc hương bay
Giữa lòng sơn thủy, du du ngoại
Cõi cánh thơ xưa dạo cuộc nầy!
XUÂN NGỰA
Khai bút đầu xuân lấy vận hên
Năm nỉ mã đáo, thiếu chi tiền?
Năm qua, việc nghĩa mần đôi chút!
Năm tới, chuyện đời hất một bên!
Thành bại, buồn vui - so thử kiếm
Nhục vinh, thua được - tập loan khiên
Thung dung dép cỏ, trăng đầu trượng
Sương mực, trang trời, thú bút nghiên!
CHÁY CHỮ
(Mến tặng Song Nguyên
Mặc Vị Nhân, Tú Rưa)
Lỡ quen hạc chiếc chơi non quạnh
Lại mến trăng gầy lạc phố khuya
Thơ đã khóc thơ, hồn đá vỡ!
Bút còn vẫy bút, giọt sương chia!
Gieo hoài ý thắm, hoa mây nọ
Rỉ mãi tim hồng, ngõ chợ kia
Nhớ bạn, nến soi tìm chữ cháy
Hóa ra lửa lạnh táp biên bìa!
GỐI CHỮ
Chợt đâu chim khách reo ngàn trúc
Cây cỏ quanh vườn mở hội ha?
Nắng ấm vén mây xem đào chợ
Sương xanh phủi bụi ngắm lan nhà
Buồn vui chẳng thiệt dăm tờ lịch
Thua được đâu hơn mấy cuộc trà
Bàn sách gầy hương chờ bạn quý
Then cài, gối chữ đón xuân qua!
GÀ CON
Xuân, chú gà con đã nở rồi
Bao năm vỏ trứng bít bùng ôi!
Dày sâu lạnh tối, càng ươm lực
Ngốt chật uế phàm, vẫn nén phôi
Sương gió, rỉa lông, chân cứng cựa
Nắng mưa, mở mắt, bụng no mồi!
Tung tăng, chíp chíp, vui ngày tháng
Lượm hạt hồn nhiên sống tuyệt vời!
------------------------
THƯ PHÁP
Bút quậy mãi hoài lông rụng hết
Gỗ tre trơ cán, mực trườn đau
Nét ngang hóa đá, tình trơn nhẫy.
Sổ dọc thành gai, nghĩa trượt nhàu
Danh lợi bơi sông, thuyền thủng đáy
Từ từ lặn suối, cá đùa câu!
Sương rừng rơi giọt, khe gom lại
Xuân viết non cao, chữ bạc đầu!
VĂN SÁCH
Ba cục trầm, hương một chút nhen
Chừ xuân điếc lãng, Tết ho hen
Quyển xưa lần giở, trang rây mọt
Sách mới dò xem, nghĩa vấy ghèn
Hàng hiệu, tìm mua, kinh trộn rác
Đồ thùng, rao bán, đạo bôi đen
Thì thôi, giấy trắng, trăng là chữ
Thơm sánh thiên văn? Cũng bỏ bèn!
TUỆ MÂY CHIỀU
Lá vẫy, đông tàn, nắng ấm sân
Rừng thay áo mới, sắc thanh tân
Đào mai nở thắm, hoa tươi rạng
Tùng trúc vươn xanh, lá biếc ngần
Núi sớm định thiền, tâm lắng lại
Mây chiều tuệ quán, trí trong dần
Vui thay trời đất, xuân vô lượng
Tình đạo muôn nơi, quý bội phần!
TRIỀU SƠN PHƯƠNG
(Đề cảnh Huyền Không Sơn Thượng)
Cảnh ẩn bên trời, khói lẫn sương
Chầu quanh ba ngọn: Triều Sơn Phương
Chập chờn triền đá, thơ lưu khách
Róc rách lưng đồi, suối dẫn hương
Đứng giữa sim mua, tùng đại trượng
Hòa cùng tràm chổi, trúc hiền lương
Một lều đọc sách đầy trăng gió
Dép cỏ, nón lau, giấc mộng thường!
TRANG TƠ BỐI
(Đề thự phòng)
Hoa cỏ ngàn phương, hương thoảng về
Phòng văn, lãng đãng mây sơn khê
Lời thơ lấp lánh, trăng hòa bút
Ý đạo vi vu, gió khởi đề
Kim cổ, vô tình, qua trước ngõ
Mộng chơn, bất hoặc, hiện đầu mi
Đèn mờ, sao tỏ, trang tơ bối
Bụi trắng còn thương mực hữu vi!
SƯƠNG TRONG
(Tặng tác giả Ngọn Cỏ Mặt Trời)
Mỗi giọt sương trong, một mặt trời!
Ai hay ngọn cỏ, nắng tim người!
Bóng hình mây nước loang từng chữ
Mày mặt hoa gương rạng nỗi đời
Bèo nở sông hồ, hương ngát núi
Lá reo gió cát, mộng xanh khơi
Về trăng tròn khuyết miền tao ngộ
Tiếng nhạc thiên thu lộng tự vời!
GIỌT ẢNH
(Tặng Nhà thơ Huyền Chân Ảnh)
Xuân phùng tri kỷ bấy cùng nay
Đất Á, trời Âu chợt cõi này
Mai tuyệt lung linh, cành một điểm
Trúc phong phơi phới, lá nghìn bay
Tình thơ mây trắng hòa tâm cảnh
Ý đạo hương thiền lướt tỉnh say
Am cỏ đông hàn, sương ngọc tụ
Giọt Chân, giọt Ảnh lạ lùng thay!
TAM HỢP
Mừng ngày Tam Hợp ghé nhân gian
Chúc cõi thương sinh nhẹ khổ nàn
Chúc luống cày sâu gieo mạ tốt
Chúc vườn cây ốm nở hoa vàng
Chúc nhà thiện hữu thơm hiền đức
Chúc mái thiền môn âm đạo tràng
Chúc pháp trong tâm màu tươi tắn
Chúc người giữa chợ phước thênh thang
Chúc tăng, chúc tục câu thường lạc
Chúc bạn, chúc người chữ diệu an
Chúc khắp năm châu vui thắng hội
Mừng mùa Vesak hiển vinh quang!
TRANG NGHIÊM MỘNG
(Đề phòng ngủ)
Vẫn biết đến đi, sinh tử thường!
Trang nghiêm tình thức, khí thanh lương
Vào chơi ngục lửa, mắt hun khói
Đến viếng nhà lan, áo ướp hương
Ngủ giấc chân nhân, hồn bướm mộng?
Sống đời lãng tử, tóc mây vương?
Lòng trong, cảnh lặng, miền nhiên đạm
Hồ điệp, Trang Chu thản cuối vườn!
NHÀ THƠ MẶC VỊ NHÂN
(hòa họa)
Đến, đi thanh thoát bước vô thường
Rẽ gió rong thuyền hướng thiện lương
Áo tỏ màu trăng bừng lối cỏ
Gậy khua rừng trúc dậy ngàn hương
Tâm không nhẹ lướt trên đầu sóng
Mầm đạo căng đầy giữa hạt sương
Đá lạnh bâng khuâng tình núi thẳm
Hồn thơ nở trắng mộng soi đường...
BÓNG TÌM GƯƠNG
Một cành hoa núi đón tinh sương
Lặng lẽ sắc thu, nhật nguyệt thường!
Gọi gió, non xanh, lời lữ khách?
Hỏi mây, biển tím, sóng tha hương?
Phiêu bồng cánh én, chào xuân cũ
Phơi phới đồi lau, vẫy nắng hường
Muốn vẽ chữ tâm trời tự tại
Chợt nghe ngơ ngác bóng tìm gương!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(họa)
Bên núi xuân nào lạnh khói sương
Chờ ai hoa nở đóa chân thường
Cành lê trắng điểm, đồi dâng nắng
Giậu cúc vàng bay, gió tỏa hương
Phương cũ đã qua bờ mộng thắm
Rừng xưa còn ngát nhánh lan hường
Bình minh trở giấc trên làn suối
Một thoáng phiêu bồng rạng ánh gương
AM MÂY GIÓ
Suối đổ ầm ầm vách núi đông
Sấm ngang, chớp dọc xé tầng không
Biển sâu, sóng cuộn, oai kinh ngạc!
Non lạnh mưa tuôn, ngạo hạc hồng!
Cỏ dại an nhiên nương cột đá
Chim ngàn tự tại núp đồi thông
Am mây, mây gió tình quen biết
Xin hãy vào chơi chớ bận lòng!
NHÀ THƠ TRƯƠNG QUÂN
(họa)
Mặc ráng hồng tây, mưa trắng đông
Nâu sòng ẩn dật chốn non không
Pháp thiền xóa nghiệp thân hồ hải
Cửa Phật cầm chân kiếp nhạn hồng
Thả bước nhìn trăng cài ngọn trúc
Ngâm thơ cười sóng gợn đồi thông
Am mây bầu bạn cùng mây gió
Cao giọng kinh đưa, tịnh cõi lòng!
LUMBINI
Vin cành lộc thắm - mẹ khai duyên
Bảy bước, nhân gian trổ phước điền
Ngưỡng vọng, Phạm thiên che lọng trắng
Tín thành, Long chúa cúng mưa tiên
Cỏ cây bát ngát hương tinh khiết
Mây nước lung linh sắc diệu huyền
Mở chốt càn khôn, thông hữu hạn
Nắm vầng nhật nguyệt, tỏ vô biên
Hoa đơm mật hạnh thơm ba cõi
Pháp thắp bi tâm sáng sáu miền
Mệnh hậu, Mãyã chơi Đẩu Suất
Vô ưu từ đó nở không viên!
ĐIẾU THI
(Bà cụ thân sinh Nguyễn thi gia)
Bút khai hòa điếu lệ tang đường
Một chữ thâm tình, một nén hương
Thang thuốc chưa nguôi niềm hiếu hạnh
Cháo cơm khôn tiếp mệnh diên trường
Vị ân dưỡng dục, buồn sinh tử
Cảm nghĩa cù lao, hận tuế sương
Nghiên đọng tri âm vầng nguyệt đọng
Ngàn thu man mác vọng cung thương!
(HK, 15/7/Đinh Mão)
DANH RẠNG TỔ ĐƯỜNG
(Kính tặng Đại gia đình
Nguyệt Đình, Miên Như)
Danh rạng muôn thu phúc Tổ đường
Hỷ hòa, phụng họa khúc văn chương
Tông môn, son ấn Vinh Xuân hiển
Gia hệ, thanh lưu Kế Võ trường
Tiên thế, thiện tài, đương hưởng lộc
Kim nhân, đức chủng, hậu thừa lương
Xương minh trăm vẻ, khôi tinh tại
Phương thảo sinh từ tâm địa hương!
THANH NHÀN CHỮ NGŨ
(Tặng Ngũ Xa Thơ tiên sinh)
Xuân về mừng tuổi bác Vinh An
Mừng mái tóc xanh, trăng điểm vàng
Mừng cháu con nhiều, lan quế biếc
Mừng văn tự rộng, biển trời quang
Mừng câu thi xã, khi cười phầy!
Mừng áng thư hương, lúc bút đàm!
Tết đến ngồi khà, chân chữ ngũ!
Rượu tiên, thơ thánh thú thanh nhàn!
HIỀN SĨ MAI VÀNG
(Tặng Hoàng thi gia)
Hồn nhiên thanh khí tỏa lâng lâng
Nhả ngọc, phun hương phải một lần!
Cẩm tú ươm hoa, xưa y cựu
Tinh ba nẩy lộc, mới như tân
Tao ông hạc trắng, thơ lưu cảnh
Hiền sĩ mai vàng, trắng điểm sân
Tịnh mãn hư không, phương bút họa
Tờ văn, ý thảo - chúc tâm xuân!
NHÀ THƠ TRƯƠNG THIỀU
(xướng)
Thơ Xuân
Huy hoàng xuân mới trở về đây
Lịch nhã đầy trang rộng tháng ngày
Én cũ trời xưa tung cánh lượn
Mai già đất cỗi thả hương bay
Đã xanh non cỏ sầu dâu biển
Còn trắng hồn thơ mộng gió mây
Nâng chén mừng nhau mùa ước hội
Men nồng hy vọng nhấp cho say!
(Cư xá Thanh Đa, Sài Gòn)
XUÂN BIẾNG LƯỜI
(họa)
Núi cũ, am xưa - vẫn ở đây!
Bên nhau vui vẻ tháng năm ngày
Nước sương mặc sức màu non vẽ
Hoa cỏ tha hồ hương gió bay
Đã thỏa suối trong, xa bụi chợ
Còn vương bóng mộng, dạo trăng mây
Tơ đồng rung phím, thơ ai đó?.
Có kẻ biếng lười, xuân ngủ say!
TẶNG THI HỮU NGUYỄN
1. Mai Lão Ngọa
Xuân về chợt nhớ gác Khuê Văn
Lặng lẽ mài nghiên, tả mấy vần
Thắm thiết hoa thơ, hương đức trạch
Mênh mông thảo trúc, sắc cao lâm
Ấn son trung hậu trao trời biếc
Chữ trắng vô biên gởi gió ngàn
Tuyết điểm non cao, mai lão ngọa
Tri âm đầu núi, khí thênh thang!
2. Trăng Ẩn Sĩ
Lồng lộng gác Khuê gió thoảng trầm
Văn xương tinh đầu kết thư tâm
Xiển minh thi cảo, lòng khiêm, hiếu
Bảo trọng gia tàng, ngọc trí, nhân
Đủng đỉnh, trúc tùng, chơi Khổng miếu
Thong dong, vân hạc, dạo Thiền lâm
U nhã, thanh hư, trăng ẩn sĩ
Bút đề, sương khói, áng linh vân
3. Giếng Cổ
Vui xuân lòng giếng cổ !
Hoa, đá, chiên đàn hương!
Nắng mới chào khách quý
Tình xanh ẩn lộc hường
Cõi hiền nhân đạm nhã
Gác quân tử thanh lương
Đạo đời tình đẩu rạng
An Hỷ đáo phúc đường!
(Xuân Mậu Dần)
TẶNG THI HỮU NGUYỆT ĐÌNH
1. Bút Nguyệt
Xuân về chợt nhớ Nguyệt Đình quân
Vội vã tờ hoa thảo mấy vần
Tiên tửu bạn già vui huyễn mộng
Thảo hài dấu tuyết cợt hư vân
Cỗi mai hữu dụng, cây ươm lộc
Khóm trúc vô vi, bút hiển thần
Thanh khí đời này ai biết nhỉ!
Đất trời thơm ngát tỏa phân phân!
2. Gởi Nguyệt Đình Trang
Xuân nay Thôi Hiệu lên không cốc
Kế viếng Đình Trăng, văn các chơi
Chỉ bút mấy câu, hoa nở đá
Đạo đàm vài cuộc, nước về khơi
Hạc vàng phiêu hốt, hồn tung cánh
Giấy trắng lung linh, chữ mỉm cười
Lão hủ tóc mây, thơ mộng nhỉ!
Sư già áo bạc, khói sương ôi!
Văn chương thanh khí, tình như núi
Phong vận tài hoa, lộc của trời
Tiêu sái, sơn liêu, mai hạc hữu
Kình nghê đông hải, quẫy càng vui!
HƯƠNG CỔ MỘC
(Tặng Nhà Thơ Lê Văn Lợi)
Xuân về thiếp thảo gửi Lê quân
Năm mới tửu tiên, cốc liễu trần
Lan quế thềm văn, cành thịnh mãn
Phúc tài tổ ấm, nụ thanh tân
Ung dung, thanh cảnh thu tầm mắt
Nhàn nhã, hư danh phất cuối sân
Đằm thắm, vẻ nhà hương cổ mộc
Bức tranh thủy mặc xuyết hoa vân
GỌI ĐÒ
(Tặng thi ông Quách Tấn)
Tao ông tịch mịch cõi đông phương
Hun hút ngàn mây quảy mộng trường
Dòng thế đục lờ, đau nửa mắt
Hình nhân sáng rỡ, lộ toàn gương
Hư tình văn mặc hòa châu lệ
Cổ mộc bách tùng xuất dị hương
Hoa đốm lung linh màu cố quận
Gọi đò một tiếng lạnh tà dương!
NHÀ THƠ QUÁCH TẤN
(nguyên vận)
1. Nguyên Tiêu Ất Mão
Từ sớm, mây mưa ủ bóng chiều
Gió trăng đành phụ tiết nguyên tiêu
Sân mai ngấn lệ, hương gầy gõ
Đài sáp ngời thu, bút hắt hiu
Mắt nghẹn, nhớ thương nghìn dặm bấc
Đời riêng, ấm lạnh một cành liêu
Đoàn viên tưởng lại bao năm cũ
Lai láng trang thơ, ngọn thủy triều!
THẢN HƯ TRIỀU
(họa)
Tà dương, bóng trúc, áng mây chiều
Lặng lẽ xa ngàn vọng tiếng tiêu
Bút vẽ mảnh hồn, trăng biếc biếc
Thơ cài cành mộng, gió hiu hiu
Sâm thương, vạn khoảnh, soi trường vọng
Ngưu đẩu, muôn đời, chiếu tịch liêu
Bão loạn xôn xao ngoài dặm hải
Quay lưng, sơn thạch, thản hư triều!
(1980)
2- Giọt Tơ Đồng
Lầu xuân, máu rỉ giọt tơ đồng
Thổi lạnh từng cơn ngọn sóc phong
Gầy gọ, trăng treo cành chạng vạng
Ngập ngừng, sương rụng má hừng đông
Thương đời khó nỗi dằn ly hận
Nén lệ chờ khi khóc tái phùng
Điệu dứt, thanh âm còn chửa dứt
Trời mây bốn mặt sóng lung linh
CHUNG GIAI ĐIỆU
(họa)
Vận cũ, trúc ti ứa lệ đồng
Còn thương mây bạc nỗi thu phong
Nến thơ, đạo nghĩa, trăng non Thứu
Mực bút, nhân tình, nước bể Đông
Những ước hoàng hoa vườn hạnh ngộ
Lại mong thúy trúc cõi tương phùng
Tiếng lòng thiên cổ chung giai điệu
Thánh thót tơ vàng động hiển linh!
(1980)
3. Điểm Canh
Giọt lệ Tiên Điền khóc Tiểu Thanh
Mình riêng nhỏ lệ khóc riêng mình
Nửa đời ngọn thép un mây thắm
Một nhoáng lòng dâu trút biển xanh
Trăng nước có thương vần độc tỉnh
Lửa hương đành phụ giá liên thành
Tìm về núi cũ xem mai nở
Mộng bén ngàn xa, hạc điểm canh!
VÔ THANH
(họa)
Ba trăm năm hậu, khúc vô thanh
Cổ lục, khói hương thoảng bóng mình
Ngọn bút huyễn hư, dâu ruộng biếc
Trang mây ảo hóa, biển ngàn xanh
Níu trăng, sóng hỡi, mơ đành chịu
Quét bụi, trúc ơi, mộng chửa thành
Đêm vắng, rừng tùng xao tán lá
Am không, giun dế điểm tàn canh!
(1980)
4- Viếng Mộ Hàn Mặc Tử
Khói hương phảng phất nẻo u huyền
Cỏ ấm lưng ghềnh giấc cửu nguyên
Nghiệp vững nghìn thu, văn hữu mệnh
Tình xe chín khúc, mối vô duyên
Chờ trăng cổ độ vương cành trúc
Ngăn giọt tùng rơi lệ đỗ quyên
Lòng biển thêm sâu ngày tháng cũ
Ven mây thấp thoáng bóng du thuyền
GIỌT LỆ HUYỀN
(họa)
Rỉ máu khóc trăng giọt lệ huyền
Hỡi ơi! Muôn thuở khối tình nguyên
Gió mây hờ hững chao ngàn sóng
Sương nước ơ thờ lạc bến duyên
Nào phải Trang Chu hồn mộng bướm
Cũng không Thục Đế dạ sầu quyên
Bên đàng nắm cỏ, xưa còn vẫn
Hương khói ghềnh cao, khách lữ thuyền!
(1980)
VÂN HẠC HỮU
(Tặng đạo sĩ Huyền Linh Tử)
Xuân chừ chuyết bút tặng mừng ôn
Niên tuế tuyết sương, thọ mãi còn!
Đạo pháp, vô biên, trăng tịnh hải
Chơn tâm, diệu trạm, khói huyền môn
Áo tiên khinh khoát chơi bồng nhược
Thơ thánh ung dung phất diệu hồn
Trời đất Đường thi, vân hạc hữu
Mai già tiêu sái, nụ cao sơn!
(1980)
ĐÔNG ĐÀM HÀN MÃN THIÊN
(Tặng Ngũ Xa Thơ tiên sinh)
Tứ đại bất hòa chưa viếng bác
Mà nay thi lão tặng tình thơ
Vắt tim, chữ giọt, trúc lòng rồng
Bóp trán, vẫn gieo, nguyệt ý mờ
Sau trước, loay hoay cây lẫn đá
Trong ngoài, lẩn thẩn mộng cùng mơ
Nỗi đời khắc khoải, non xa thẳm
Việc đạo trở trăn, biển lặng tờ
Núi cũ, người xưa, chân hạc luyến
Sân xưa, bạn cũ, cội mai chờ
Mưa Đông, che chắn, thương hoa mảnh
Gió bấc, ngăn rào, xót cỏ tơ!
Đời luận chẳng thông, thông khế lý
Đạo đàm khôn được, được duyên cơ
Vĩnh vô hồi thủ, trường giang thủy
Mấy cuộc tao phùng, thiên địa sơ!
Chữ về cửa Phật, thơ thanh tĩnh
Bút đến thềm văn, nét diệu trần
Phố chợ ngược xuôi, lòng tịnh thủy!
Đường đời lui tới, áng nhàn vân!
Thuyền qua "bến trúc”, trăng tròn vạnh
Bát ngát gia trang nức xạ trầm!
KHÓI SƯƠNG VĂN MẶC
(Đề tặng Huế trong thơ Nguyệt Đình)
Gươm đàn quẩy gói dạo non sông
Bầu rượu, túi thơ cuộc lữ bồng
Phong nhã vẫn quen mùi gió bụi
Hào hoa chưa thẹn khách Tây Đông
So tơ, u khoát xao Tiền Hán
Phóng bút, khinh phiêu lướt Thịnh Đường
Thả bước nhàn du thăm Khổng, Thích
Khói sương văn mặc dáng tao ông!
HƯƠNG ƯNG BÌNH
(Tặng Nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương)
Sao văn, sao khúc chiếu thư trang
Bát ngát trời thanh, nguyệt dặm hàng
Rung phím đàn xưa, tơ điệp điệp
Lẩy câu thơ cũ, dạ mang mang
Giọng hò Vĩ Dạ, tình viên cảnh
Tiếng hát Ưng Bình, nghĩa đế quan
Lá ngọc, cành vàng, son dấu ấn
Lò trầm Tuy Lý, ngát Hương giang!
XUÂN GIÁO NGHIỆP
(Tặng Nhà Thơ Tường Nguyên)
Xuân về mừng Tết bác Tường Nguyên
Khoác áo Lão Trang, mũ thánh hiền
Mừng đóa vô ưu, cài thiện nghiệp
Mừng trang hạnh phúc, nối tân niên
Thư nhàn hoa đốm, câu hành đạo
Tịch tịnh gương trăng, chữ tọa thiền
Thơ thảo trà xanh, vui họp mặt
Nụ cười trung hậu tặng vô biên!
PHƯƠNG ĐỊA HỮU
(Tặng Nhà Thờ Mạnh Hồ)
Xuân về chúc Tết Mạnh Hồ quân
Xa cách lâu lâu gặp lại mừng
Nhớ thuở lội rừng, phương địa hữu
Mừng đêm họa bút, thảo vân am
Đậm đà lộc thắm, mai thêm nụ
Thanh thản tâm vui, ý trổ vàng
Tiếng pháo chào Xuân thơm khói lạ
Thềm hoa, thơ mới, tứ thênh thang!
NỤ VĨNH XƯƠNG
(Tặng Nhà Thơ Thùy Bảo)
Một cõi phúc môn, một ấm đường!
Vàng mai rực rỡ, ngát trầm hương
Phải kia câu Tết, điều pha tía
Hay đấy cành Xuân, đỏ thắm hường
Ơn Phật vợ hiền, gương hiếu hạnh
Phúc trời con thảo, khí thanh dương
Non cao, tuyết mẫu, tùng niên thọ
Mừng chúc toàn gia nụ vĩnh xương!
DỆT CÁT TƯỜNG
(Tặng thầy Phú)
Thanh thản ai người viếng thảo phương!
Chừ nay lại nhớ vóc mai sương!
Giữa trần, vô sự, nhìn thêm tỏ
Góc núi, an vi, ngẫm lại thường
Chúc Tết hạo nhiên, tùng trúc cốt
Chúc Xuân văn vẻ, quế lan hương
Đào hoa Nguyên đán thêu phong độ
Chữ đức, chữ tâm dệt cát tường!
KINH CHỮ
(Tặng Nhà Thơ Tĩnh Mặc)
Cánh thiệp sắc Xuân, mừng Tĩnh Mặc
Hạo nhiên, Nguyên đán nở chơn không
Chưa về, cánh én, mai đầy lộc
Đã nhớ, bài thơ, đạo thắm hồng
Trên gác sách, hoa tâm mãn hạnh
Tại thềm văn, đóa tuệ viên thông
Có khi thử vẽ lên dòng suối
Một chữ là kinh, vạn chữ đồng!
ĐẠO TÌNH
(Tặng cụ Phan Trúc Lâm)
Xuân đáo nhân gian,Tết đáo đường
Đất trời óng ả khí thanh dương
Phúc dày trổ lá chào hoan hỷ
Đất rộng dang tay đón cát tường
Nhân ái muôn đời thêu gấm vóc
Đạo tình vạn thuở dệt hoa hương
Nắng vàng ấm áp thềm lan quế
Chim đậu cành vui hót líu lường!
BỤI NGỌC
(Tặng chị Khoa Việt)
Xuân về xa vợi khách tri tâm
Lan thiệp, bối thư thoảng xạ trầm
Tứ tuyệt, thơ gieo câu Phạm vũ
Bút sương, trăng dệt chữ viên âm
Thiền đàm, vô ngại, tâm hư tĩnh
Thế luận, an nhiên, trí ngoại trần
Hạt bụi tuyết mai trong tựa ngọc
Thong dong viễn mộng, cựu nghinh tân!
TRÀ XUÂN
Xuân đến với đời, lại cả ta!
Tóc xanh chưa bạc lại mau già
Phất lèo bỏ nặng, thơ càng nhẹ
Quẳng tít xin thua, trí đặng hòa
Ý khí trời cho, nên giữ tiết
Cỏ cây đất tặng, cố ươm hoa
Dặm trần sương khói màu khinh khoát
Một núi! Một non! Nhất ẩm trà!
VỀ THỔ NGỌA
(Tặng Nhà Thơ Linh Giang Tử)
Thổ Ngọa, chừ Xuân, chắc phải vui
Trong ta có Phật, dĩ nhiên rồi!
Dâng đăng, tỏ suốt, lòng bao chuyện
Phụng trái, đầy no, phước mấy đời
Chữ lợi, chữ tài, lầm thua được
Chữ văn, chữ tuệ, hiểu đầy vơi
Duyên thiên hỷ lạc, an vị tại
Bát-nhã tâm kinh nở biển trời!
TỨ THẬP DƯ NIÊN CẢM VỊNH
Đã bốn mươi tư mượn tuổi trời
Cũng mừng trong đục, nước dòng trôi
Phúc gầy mà nhận nhiều ân đạo
Đức mỏng lại xen lắm việc đời
Đắc thất, canh trường, tâm chiếu một
Thị phi, giấc vắn, trí lìa đôi
Cỗi tùng gió động, tình tân ngộ
Khóm trúc trăng lay, nghĩa cố hồi
Đá đứng, cỏ nằm, thường tại cả
Chim reo, hoa nở, tự nhiên thôi
Xuân nhân khởi vọng, xao tìm vận
Hiền hữu, chư quân bỏ quá lời!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Chẳng thẹn trăm năm giữa đất trời
Công hầu khanh tướng mặc dòng trôi
Mười phương đủng đỉnh hai vai đạo
Tám nẻo ung dung nửa gánh đời
Đắc thất, lắng tâm ngoài cửa tục
Thị phi, đoạn ý ngoại vòng đôi
Trúc xưa, Linh Thứu, sương bao độ
Tùng cũ, Già Lam, tuyết mấy hồi
Nhuần đức, bội lan, duyên đá cỏ
Thắm tình, phương thảo, bút xao thôi
Bốn mươi lẻ bốn, xuân thường tại
Đinh Mão, mừng sư, kính họa lời
(7/3 Đinh Mão)
CHỮ HOA ĐỐM
(Tặng Nhà Thơ Tĩnh Mặc,
cảm tạ mấy bài thiền thi chữ Hán)
Tình không, xao hoa đốm
Bút vọng vẫy nên Xuân
Chữ - phi hư, phi thực
Nghĩa - vô Phật, vô tâm
Mai đào hoa y cựu
Lan trúc lộc như tân
Gác bên sông "tĩnh mặc”
Thơ thiền tỏa khánh vân!
-----------------
Chờ gió tri âm xao vạn thuở
Chờ hương tri kỷ tỏa nghìn thâu!
-------------------
Đứng giữa sim mua tùng đại trượng
Hòa cùng tràm chổi trúc hiền lương
------------------
XUÂN ẨN MẶC
(Năm 47 Tuổi)
Ôn gẫm năm qua thử được chi?
Được chi rồi cũng có ra gì
Đã gần hố huyệt, thêm bao nả?
Lại sắp da mồi, chẳng mấy khi?
Phải trái, miệng câm như ngố dại
Thiệt hơn, tai điếc tợ trơ lì
Năm nay ngựa đến thành công cả
Ta rút vào non để ngủ khì!
Ta rút vào non để ngủ khì
Phong trần, cỏ rác cũng sân si!
Xun xoe xe ngựa, Xuân thiên hạ
Thanh thản thơ văn, bạn cố tri
Nhân nghĩa, nước cau bờ hữu hạn
Đạo thiền, mây rợp núi vô vi
Dẫu thương, dẫu trọng, bờ môi cả
Ta khổ riêng ta, tích sự gì!
Ta khổ riêng ta tích sự gì!
Tủi thân đại trượng, chí nam nhi
Gánh chơi trời đất, vai gầy guộc
Uống thử sông hồ, bụng tí ti
Thẹn Lão, non huyền, dòm cửa khói
Hổ Trang, bướm mộng, khép rèm mi
Nửa đêm thức giấc, sương đầu gối
Giun dế quanh rừng réo rỉ ri!
Giun dế quanh rừng réo rỉ ri!
Giữa dòng trong đục, có sao hi?
Đạo đời nghĩa trọng, cay cay mắt
Tăng tục tình thâm, xót xót mi
Đá đứng non cao, sương tuyết phủ!
Cỏ nằm lũng thấp, gió mưa khi!
Thương ta tuổi xế, nhìn chưa tỏ
Xuất xứ, vào ra, có lỗi gì?
Xuất xứ, vào ra, có lỗi gì?
Tùng đông sương đọng giọt li ti
Túi thơ nửa cuộc, trăng trường mộng
Đãy sách chung đường, gió hữu vi
Đâu biết tọa vong là vẫn tỉnh?
Nào hay nhĩ thuận cứ còn đi?
Núi chầu, rồng ẩn - tranh phong thủy
Phủi cuộc, nằm khoeo, ấy cũng kỳ!
Phủi cuộc, nằm khoeo, ấy cũng kỳ!
Chẳng đâu cố quận để an tri
Xao con nước cũ, đôi lần bởi...
Buông mái chèo xưa, một bến vì...
Bới nát cổ thư, gom cảo lục?
Dẫm mòn Đông độ, gánh tà huy?
Nhạn qua hồ lặng, ai in bóng?
Ngữ thoại đá đeo, óc nặng chì!
Ngữ thoại đá đeo, óc nặng chì
Bởi tham, bởi kiến, bởi ưu bi?
Công thành, nắng quái, khô can phế!
Thân thoái, mưa thâm, lạnh cốt bì!
Trăng rải vần thơ, sương ngại xóa?
Chim ngân điệu hát, gió buồn ghi?
Mây hôm xuống thấp lòng man mác
Sao lẻ bên ngàn, chút kỷ tri!
Sao lẻ bên ngàn, chút kỷ tri!
Trần gian xong nợ sẽ ra đi
Gác chèo, thuyền ngủ, quên muôn sự
Chống gậy, non chơi, thú bốn bề
Bạn cũ, nước trong, khe suối đá
Rừng xưa, canh ngọt, cọng rau vi
Đạo ta, một chữ, tìm không thấy
Tâm cảnh như như, có huyễn gì!
(Triều Sơn Phương, kỷ niệm ngày vừa xây dựng hoàn thành cầu Bạch Yến, 1991)
HUYỀN CHÂN ẢNH
(Tặng nhà thơ Ngọc Quế)
Cũng tình, cũng cảnh, cũng chơn không!
Như biển lên nguồn lướt dặm sông
Chẻ đá "hoa khai” viên ngọc trắng
Vén trăng "vi tiếu” sợi thơ hồng
Tuổi xanh hạo khí treo đầu núi
Tóc bạc u nhàn ngủ cội thông
Một giọt sương huyền, chân ảnh hiện
Lung linh mây nước mặt trời Đông!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(họa)
Cõi Huyền Không
Ai biết người về với biển không
Biển nào tiếp nhận những dòng sông
Bến hư vô ngỡ là cơn gió
Khói hạo nhiên như nở đóa hồng
Thanh thản chiều vui bên mái cỏ
Bình yên ngày lặng dưới đồi thông
Sóng triều lớp lớp nghìn tâm ảnh
Vẫn thấy mặt trời hiện cuối Đông!
HỒ HẢI
(Tặng họa sĩ Dương Cẩm Chương
phu quân Nhà Thơ Ngọc Quế)
Dạo gót phong trần trải bốn phương
Lãng du hồ hải, tuyết pha sương
Tài hoa ngọc điểm, trăng mài cọ
Lộc phúc vàng trau, cẩm dệt chương
Mai trúc, sân văn, tìm bắc đẩu
Quế hòe, hiên hiếu, tiếp triêu dương
Cửu tuần thượng thọ đùa niên tuế
Vui nghĩa, vui tình, vui cố hương!
CẢM TẠ
Cảm tạ đất trời, cảm tạ Xuân
Cảm hiền quân tử, quý tri âm
Cảm thời đông giá, mây cao lãnh
Cảm tiết xuân ôn, khí cố nhân
Cảm đá, cảm gai, chân đại trượng
Cảm thơ, cảm bút, khí lăng vân!
Cảm người, cảm vật, tình muôn loại
Cảm tạ vui buồn, gió thế tâm!
TIỂU HỔ
Đại hổ hung hăng, tiểu hổ hiền
Bây chừ Xuân đến núi non tiên
Hồn như cánh bướm, thênh thang cõi
Lòng tợ đài gương, lấp lánh miền
Mượn hạt cát thô mài đóa ngọc
Mượn làn khói tía vẽ trăng thiền
Rừng xưa đại định nhờ ơn Phật
Chút cảnh, chút tình, thượng đẳng duyên!
MỘNG HÓA!
Ta thương sư Phật Ân
Ta cảm Tô Đông Pha
Gió bụi trêu thi khách
Mưa nắng cợt đốm hoa
Chàng Vương thiền họa với...
Bác Lý tửu tiên và...
Mai Lâm bày quán trọ
Hô biến, mộng hóa ra!
TỰ CẢM
Đường mây phất nhẹ áo hư không
Phước báu thế gian, ngọn cỏ bồng
Hoa trái lợi danh, người hái lộc
Vàng son tài đức, kẻ tranh công
Sớm hôm gió mát, ân ngàn trúc
Ngày tháng non xanh, nghĩa vạn tòng
Đã đến, đã đi, không mảy bụi
Hành tàng như thị thảy đầu lông!
MỘNG TRUNG LẠC BÚT
Trong mộng, thơ ai thấy dị thường
Tài hoa thiên cổ mấy ai đương?
Nghiêm trung ngọn bút - từ, bi mẫn
Ý ngoại hồn văn - tuệ, kiếm thương
Nhật nguyệt bạt ngàn, tâm chiếu rọi
Cổ kim lồng lộng, đức noi gương
Hạo nhiên nốc cạn sầu, ai, ố
Tự tại ngâm tràn tuyết, vụ, sương
Vào chợ, thõng tay đùa lão hủ
Dạo thuyền, nâng phím nhạo tiên nương
So tơ, quân tử dây chùng ngón
Tuốt kiếm, anh hùng ngựa rối cương
Choáng núi, che sông, cao vạn trượng
Thôi hàng, xao chữ, rộng nghìn chương
Gọi so Đường Hán không người đáp
Vẫy đọ Lý Trần chẳng kẻ đương
Bút Việt, Lạc long ngời nhuệ khí
Hồn thiền Đông độ ngát thanh hương
Đối nhân, nào há mùi danh lắm
Xử thế, chưa hề bá lợi vương
Một chí, một tình, trời đất biết
Một tâm, một dạ, biển sông lường
Vu vơ thăng giáng đùa long, hổ
Vi vút khứ lai cợt Lãi, Trương
Gót gió tiêu dao chơi mộng cảnh
Áo trăng nhàn nhã khoác thiên lương
Tịch không, nước chảy trôi xao xác
Tĩnh lặng, mây bay trượt nhố nhương
Có lúc mắt xanh, vui bạn lữ
Có lần mắt trắng, liếc đô phường
Bạc vàng, xưa đã đem đùm rác
Thân thế, nay chừ tấp hố mương
Đường thế nghêu ngao, thơ cộm túi
Phòng văn phấp phới, nguyệt đầy rương
Khi chuyền cành gãy, quên nguyên quán
Vượn hú rừng sâu, vọng cố hương
Để mặc người ngu, tranh thượng hạ
Để dành kẻ trí, luận nhu cương
Gió mây mờ mịt trò tang hải
Sương khói bơ ngơ lẽ đoạn thường
Biển lớn lao xao thuyền viễn mộng
Sông dài khinh khoát gió thanh lương
Hứng hàm, phẩy bút tung ma chướng
Phỉ chí, lăng tâm chấp quỷ vương
Tuy thế, nghĩ cùng, còn mộng mị
Bèn như, tính tận, vẫn lươn ương
Là nhân, là quả, tâm trong suốt
Là xấu, là nên, trí tỏ tường
Lão Tử, trâu xanh du ngoại xứ
Đạt Ma, dép cỏ lạc hà phương
Tùy thiền, tùy định, bùng cao tuệ
Bởi bệnh, bởi đời, tỏa dược hương
Không ngã, không nhân, không chỗ đoạn
Chẳng hư, chẳng thực, chẳng duyên thường
Vốn nòi thơ thẩn ưa du hí
Xướng vận cho vui, ấy cũng dường!...
SƯ TUỆ TÂM
(hòa ý)
Cưu mang chi nữa, hỡi ơi đời!
Đã nặng kiếp người giữa biển khơi
Cuộc thế khen ai còn đuổi bóng
Trần gian thương kẻ vẫn rình mồi!
Ba sinh duyên nợ âu là thế
Cơm áo gạo tiền hẵng tại trời!
Ai kẻ phất tay xua ảo mộng
Kìa nom dâu bể, một trò cười!
XUÂN SƠN PHƯƠNG
( Thuận nghịch đọc)
Mây trời nhẹ thoáng cảnh Sơn Phương
Phật xứ vui nhàn khí tỏa hương
Cây lá hoa thơ tâm tĩnh tại
Sách đèn kinh pháp trí an thường
Bay vờn khói tía tùng khêu bút
Động khẽ trăng xanh trúc viết chương
Đầy chữ đốm lan sân cỏ ướt
Tây hiên gió lạnh đá xao sương!
(đọc ngược)
Sương xao đá lạnh gió hiên Tây
Ướt cỏ sân lan đốm chữ đầy
Chương viết trúc xanh trăng khẽ động
Bút khêu tùng tía khói vờn bay
Thường an trí pháp kinh đèn sách
Tại tĩnh tâm thơ hoa lá cây
Hương tỏa khí nhàn vui xứ Phật
Phương Sơn cảnh thoáng nhẹ trời mây!
(Có thể đọc thành trên dưới 100 bài khác nhau, theo loại thơ 6 chữ, 5 chữ, 4 chữ, 3 chữ. Nếu là 6 chữ thì bỏ chữ đầu, đọc thuận; bỏ chữ sau, đọc nghịch. Và cứ tuần tự như thế. Ví dụ: Thuận: Trời nhẹ thoáng, cảnh Sơn Phương. Xứ vui nhàn, khí tỏa hương... Nghịch: Xao đá lạnh, gió hiên Tây. Cỏ sân lan, đốm chữ đầy... Sau khi đọc loại 6 chữ xuống 3 chữ hết rồi, ta có thể bỏ chữ thứ 2, đọc xuôi, bỏ chữ thứ 2, đọc ngược. Ví dụ: Bỏ chữ thứ 2: Thuận - Sương đá lạnh, gió hiện Tây. Ướt sân lan, đốm chữ đầy... Nghịch - Mây nhẹ thoáng, Cảnh Sơn Phương. Phật vui nhàn, khí tỏa hương...
Rồi cứ tuần tự bỏ chữ thứ 3, bỏ chữ thứ 4, bỏ chữ thứ 5 - đọc xuôi ngược. Cuối cùng là đọc 1 chữ cách 1 chữ, cách 2 chữ, đọc bỏ 2 chữ cách 1 chữ,cách 2 chữ... rồi cũng đọc xuôi ngược như thế. Ví dụ: Bỏ chữ thứ 2, bỏ chữ thứ 4 - đọc thuận: Mây nhẹ, cảnh Sơn Phương. Phật vui, khí tỏa hương... Đọc nghịch: Sương đá, gió hiên Tây. Ướt sân, đốm chữ đầy...)
KHÚC TIÊU TAO
(Khoản thủ thi Tặng nghệ sĩ Thanh Hải)
Tiếng lời ai vỗ khúc tiêu tao
Hồ hải còn không sóng dạt dào?
Ánh nguyệt đá vàng phơi lũng quạnh
Nỗi lòng mây trắng phủ non cao
Hoặc thơ góp gởi tình biêng biếc
Hay núi xây nên chỉ dạt dào
Ai hỡi! ngàn sau hoàng hạc khứ
Im nghe đất vũ phụng hoàng lâu!
(Sài Gòn, 1982)
XUÂN GIÁP THÂN, TỰ VỊNH
(Vĩ tam thanh)
Sáu mươi sương tuyết rỉ rì ri
Cái tuổi, cái xuân khí khỉ khì
Lóng thẳng, trúc vươn tưng tửng tửng
Mắt vui, hoa nở hỉ hì hi
Chuyện đời sẽ phải tất tần tật
Việc đạo còn vương tí tỉ tì
Đóng cửa non sâu phe phẻ phẻ
Thưa rằng chẳng hiểu chỉ chì chi!
HOÀI CỐ TRI TIẾU TÁC
(Tặng Minh Trần đạo nhân)
Minh Trần Đới, đạo sĩ, hề hề!
Phố thị ni lâu, quảy gót quê!
Tóc núi mấy tầng, bay lãng ngãng!
Râu rừng bao sợi, rủ le phe!
Mộng về, nhấc Đá, quăng tràn biển
Tình đến, xoay Trần, tống lụt khe
Linh Thứu, phất tay, cười rổn rảng
Gánh thơ vào chợ, nhậu vài be!
Xuống chợ lên non cũng "dzậy” hề!
Biết đâu là mộng, biết đâu quê?
Ăn no, dạ có rầu rưng rức?
Quạt mát, lòng không phất phẩy phe
Đá dựng Lô Sơn, che diện mục!
Trần về tục phố, lấp Tào Khê
Lân la cõi cõi đùa chơi một
Sư Giới làm sao nhấc nổi be?
Một gói càn khôn nhẹ hễnh hề!
Sá gì viễn mộng, sá gì quê!
Mãnh sư xuống núi, không vầy bọn
Cô hạc xa nguồn, chẳng họp phe
Bụi đá Tây ngươn dày cổ lục
Rêu trần Đông độ phủ triều khê
Thi tăng tiếu vấn Minh Tam Lão
Lý Bạch mò trăng nhắp mấy be?
(1980)
VIÊN PHƯƠNG
(Mừng cư sĩ Thông Diếu, Hội trưởng
Hội Phật Học, Tam Bảo, Đà Nẵng)
Thấm thoắt bao chày đã tuyết sương
Bảy tư tuổi hạc cũng phi thường
Đời phô mái tóc, thanh dường bạch
Đạo ẩn trong hồn, viên thị phương!
Trí vượt Tu Di, cầu Phạm Đế
Phúc vàng Hy Mã, nguyện Thiên Vương
Lòng trong chẳng gợn, hoa y sắc
Ý thắm khôn phai, nhụy tự hương
Pháp tại nhãn tiền, vô cố ngộ!
Bảo trầm thủy để, hữu duyên phùng!
Khoanh tay thế đạo, non xanh mãi
Khánh hỷ lòng ai nhật nguyệt hường!
(1982)
TIẾU SINH NHƯ THỬ
(Tặng GĐ Hưng Tiếu, Liên Huê)
Hết bảy tư xuân, thú một đời
Ưa thơ ưa bạn, tiếu sinh thôi !
Nghĩ cơn phù thế còn bao cuộc?
Gẫm cái vinh gia được mấy hồi?
Tựa bóng câu nhòa, chân gió thoảng !
In hình nước gợn, đáy sông trôi!
Ê a ba chữ, trăng hầu vịnh
Ú ớ dăm ly, chữ tiếp bồi
Lặng lẽ trong ngoài, thân chẳng luỵ
Im lìm sau trước, lạc khôn vơi
Êm êm ngày lại ngày lương tiết
Nhè nhẹ năm qua năm hỷ thời
Huyền sắc non ngàn ai mượn chốn
U hương rừng thẳm kẻ lần nơi
Êm hòa hạ bút, văn ngưng tứ
Khiêm ái nâng chung, tửu tuyệt lời
Hiền tử chẳng duyên, ngư điều nói?
Anh tôn vô cớ, lá hoa cười?
Nết trong dáng thúy, tâm trau rạng
Hạnh ngoại gương nga, ngọc trác ngời
Nước chảy ngàn năm hình núi dọi
Hồ nằm thiên cổ bóng lòng soi
An nhàn những đóa Liên Huê ấy
Trụ lý thường như Hưng Tiếu hoài!
NHỚ NÚI
Dựng núi mà sao nhớ núi ghê!
Nhớ sương, nhớ nước, nhớ trăng về
Nhớ chiều lãng đãng, vân tùng họa
Nhớ sớm thong dong, lan trúc đề
Nhớ chiếc hài đơn, chân dặm mộng
Nhớ con ngựa ký, vó đường mê!
Nhớ thơ tri kỷ, hương trà quyện
Nhớ khí, nhớ thần, nhớ cố quê!
TỰ VUI
(Đề Phong Trúc Am)
Thanh tĩnh vô vi một cõi này
Làm thơ, vẽ núi tặng cho mây
Lúc co, hạt cải xem còn rộng
Lúc duỗi, trăm phương đọ chẳng tày
Mảy bụi phiền lao, không dám giữ
Đầu lông kiến hoặc, thả trôi bay
Khách hiền ghé lại ly trà ấm
Bạn tốt thăm chơi bát nước đầy
Gió sớm thảnh thơi qua ngõ trúc
Trăng vàng tĩnh lặng ngủ non tây
Xuân thu kinh kệ không còn nhớ
Ơn Phật, tươi vui chữ hiển bày!
TÌNH NON LẶNG
Huyền diệu, càn khôn, không hết nhẽ
Vần xoay, luân chuyển, xuân thời lai!
Duyên thơ, hóa bướm tung phương khách
Nghiệp bút, tung mây lướt dặm hài
Thiền đã cho mình soi mộng triệu
Đời còn giúp bạn hiểu trần ai
Gặp nhau núi cũ, tình non lặng
Lấp lánh nắng vàng dạo ngõ mai!
XUÂN BẠN CŨ
(Đề chúc thầy giáo khóa 2 SPQN
và các khóa khác)
Già tuổi, vầng trăng nửa
Thơ xuân, chữ mỉm cười
Tuế sương vui bao bấy
Nhật nguyệt hưởng nhiều thôi
Mầm nảy, sân hòe quế
Lộc đơm, thềm trúc mai
Xoa tay cùng nhĩ thuận!
Giáo án mực son tươi!
THI HƯƠNG
Tân niên khai bút, bút khai chương
Linh khí Huyền sơn, ý diệu thường
Cao vút lưng mây, Thìn thoái vị
Thẳm sâu lòng đất, Tỵ lên vương
Thuyền từ đủng đỉnh chơi trăm cõi
Kiếm tuệ thung dung dạo mấy đường
Đế đạo non thiền rung ngũ nhạc
Huy hoàng phụng hiến tứ thi hương.
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Hiên mây rực rỡ sắc văn chương
Thi, họa giao duyên đẹp lạ thường
Hoa nở thềm Tăng, tâm tức Phật
Đạo ngời vườn Pháp, ý như Vương
Ba ngàn lãng đãng trăng Tiền Hán
Một cõi thênh thang nắng Thịnh Đường
Bát ngát non xa tình thoảng gió
Huyền Không, Nguyên đán, tứ Xuân hương!
XUÂN THANH
Xuân báo tin vui cửa mọi nhà
Đất trời nắng mới giọt vàng sa
Đào xưa hào phóng bung trăm nụ
Mai cũ ân cần rắc vạn hoa
Trải áo Yên Hà mời bạn lữ
Choàng vai Phương Thảo tiếp thi ca
Cửa không, thiền ý, Xuân vô tận
Tình dẫu thanh trong, tứ đậm đà!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Gót ngọc Đông quân thắm vạn nhà
Lộc trời vô tận, phúc hà sa
Én đùa sóng bạc, xua tang hải
Diều vút mây xanh, điểm mộng hoa
Rực rỡ đào hồng, Xuân hỷ tụng
Mượt mà nắng mới, Tết hoan ca
Đỉnh trầm Nguyên đán, xôn xao tứ
Tình ý lâng lâng, bút chuyển đà...
(25/01/1989)
NGUYỄN THI GIA
(xướng)
Thu Khoái
Chợt dừng ngựa sắt ở bên sông
Lắt lẻo cầu qua, mưa điểm bông
Mây bạc xôn xao dòng thệ thủy
Lá vàng rải rắc quán thu phong
Hỏi Sư, hồ núi sương um trắng
Thăm Điệu, hồng lan nụ thoảng không
Mượn bút tiên ông đề mấy vận
Hồn thơ khinh khoát giữa non Bồng!
(10/8/1988)
THU ỨNG
(họa)
Nhìn thấy mây ngàn thoảng quá sông
Biết rằng thu khách, áo pha bông
Ngao du chiếc ngạc, đùa thương hải
Khinh khoái thân hồng, vẫy quái phong
Hồ núi phơi tâm, tình cố quận
Lan hồng nở nụ, nghĩa chơn không
Nhã hoa, thanh thảo hòa tao vận
Đầu bút hương bay ngát Nhược Bồng!
THU CẢM
Nắng quái qua sân đã nhạt màu
Thời gian lặng lẽ bước thiên thâu
Vàng dăm chiếc lá, mùa ấp ủ
Quạnh bấy vườn sương, cỏ dãi dầu
Bàng bạc mây trôi, thân vạn tượng
Mơ màng nước chảy, bóng nghìn dâu
Dặm hồng nhân thế, phong trần khách
Cổ độ tình Thu, khói thoảng sầu!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(họa)
Trời đất sang Thu đã nhạt màu
Nằm nghe lá rụng suốt canh thâu
Tuyết sương một mái, tâm dường đã...
Đạo nghĩa hai vai, sức mặc dầu...
Ngựa ruỗi Hoành sơn khi bút sử
Rồng qua Đông hải thuở cung dâu
Lên cao đủng đỉnh mây đầu trượng
Ngoảnh lại nhân gian sạch bụi sầu!
Ý ĐÔNG
Bút phóng bên trời chợt hóa mây
Ý tung vần vũ, gió ngàn bay
Vàng về lá nắng, mưa như sắt
Lạnh phủ cành đêm, nguyệt trở gầy
Lối cỏ, hương thiền, lan mấy nẻo
Hiên không, bóng núi, lửng ngànTây
Trần ai thánh thót, tình sương nước
Tiếng hạc sa đông, giếng cổ đầy!
NÚI MỘNG, GƯƠNG HỒ
(Thi điếu Nữ sĩ Mộng Tuyết)
Ôi thôi! Núi Mộng lặn gương Hồ!
Tứ tuyệt(1) theo nhau chắp cánh thơ
Hương ngát huệ lan, hồn Bách Thảo(2)
Sắc tươi đào lý, vẻ Tiên Cô(3)
Thư trang văn mặc duyên Nàng Út (5)
Học xá (6) quỳnh lâm kết bút tơ
Tình sử hạo nhiên trăng tỏ rạng
Hà Tiên giai thoại nức Tây đô!
LƯỚT DÒNG PHIỀN
(Thi điếu, bạn của Nguyễn thi gia)
Đành thôi vĩnh biệt dáng thanh hiền
Nặng áo đường trần, nhẹ cánh tiên
Lạnh lẽo Tây ngàn, sương rỉ bút
Ngậm ngùi Đông thẳm, nguyệt soi nghiên
Nghiệp thân lãng bạc, mây tang hải
Thế mệnh phiêu bồng, gió ải biên
Gởi nén tâm hương, thơ điếu tiễn
Cầu qua sinh tử, lướt dòng phiền!
CÕI VÔ VI
(Tặng sư cụ Nhất Tâm)
Xưa nghe thất thập cổ lai hy
Sư cụ trăm năm có nghĩa gì
Óc sáng, nói năng còn đĩnh đạc
Thân gầy, lui tới vẫn uy nghi
Rỗng rang, ý đạo, đâu người sánh?
Dí dỏm, câu thơ, chẳng kẻ bì
Chữ có, chữ không, mây trắng nhẹ
Mỉm cười hoa nở cõi vô vi!
MAI LÃO TUYẾT SƯƠNG
(Tặng Nữ sĩ Ngọc Quế)
Mây lành, cánh thiệp sắc tươi vui
Nữ sĩ, kinh hoa bát ngát lời
Điểm ánh sao xanh, treo mấy cõi
Chia nguồn nước biếc, tặng bao người
Từ trong cát tía, rêu hoang cỏ
Đến tận non vàng, lũng thẳm khơi
Mai lão tuyết sương, phương bối ngọc
Chừ xuân viên mãn, nguyệt tâm cười!
THÍCH NỮ VÔ ƯU
(Họa 5 vận bài dịch thơ chữ Hán
"TN.TM thọ tuế... " của Nguyễn)
Vô ưu thơm ngát đóa thơ ca
Thích Nữ Vô Ưu chẳng trẻ già
Chuông sớm, xót thương đời tự kỷ
Kinh chiều, nuôi dưỡng đức duy tha
Hai bờ tịch lặng, tâm gom lại
Một cõi an bình, trí mở ra
Thọ tuế sơn cao, tinh đầu rạng
Hương xông thiền uyển tỏa la đà!
NHÀ THƠ NGUYỄN
(xướng)
Thăm Nguồn Tả Trạch
Sông thơm, mạch cả, ngược thăm nguồn
Tả Trạch, dòng ngân, bát ngát tuôn
Ghềnh đá, nghìn năm trơ nắng gió
Cỏ cây muôn thuở thắm vui buồn
Mặc trời hưng phế, non vươn thẳng
Kệ đất phong trần, nước chảy suôn
Trăm dặm thuyền bồng qua bến bãi
Hương giang óng ả khói mây luồn
(họa)
Một buổi rong chơi đến tận nguồn
Dòng xanh cuồn cuộn, suối ngàn tuôn
Chim ca thánh thót, rơi dòng lặng
Sóng đập lao xao, vỡ giọt buồn
Sương khói đầu non, hồn lướt mãi
Trời mây đáy nước, bóng theo suôn
Nhạt nhòa sơn thủy, tranh văn mặc
Đàn sáo vi vu, nhạc gió luồn!
XUÂN HÓC KHE
Thượng Liêu, Xuân Tết có chi mô
Buốt giá non cao, cảnh lặng tờ
Cửa rách, cột dây ngăn gió chướng
Bếp tro, đốt lửa xóa mây mờ
Mắt đau, thế sự, chưa nhìn tỏ
Bụi vẩn, trần gian, chỉ dẵm hờ
Mai ngủ hóc khe chờ nắng ấm
Bút huờ đôi chữ, gọi rằng thơ!
(Kỷ niệm 2 năm nhập thất tại
Tinh Thượng Liêu, Hòn Vượn, 1993-1994)
CÁNH THƠ HOA
(Họa 5 vận bài thơ của Nguyễn thi gia)
Một mảnh vườn tâm, nhất đẳng hoa
Thanh không chiếu diệu ánh huy tà
Kinh xưa phơi phới màu tinh nguyệt
Thơ mới mênh mông tứ hải hà
Cốt trúc tươi xanh làn gió đến
Thần mai sáng đẹp giọt sương qua
Tân Xuân khánh thọ, duyên tròn phúc
Hương nụ đàm huê cứ ngỡ là...
AN VỊ PHẬT
(HK,15/2/ Xuân Bính Tý)
Thanh thoát, tôn nghiêm đấng Pháp vương
Hào quang diệu trí tỏa muôn phương
Bàn tay bi mẫn, lời trăng ngọc
Đôi mắt khiêm từ, ý tuyết sương
Vầng trán cao siêu ngời tuệ đạo
Nụ cười trầm tĩnh ngát tâm hương
Luật nghi, giới định ba ngàn cõi
Kinh pháp, giáo truyền tám vạn chương
Ngoại giáo, quay đầu miền chánh hạnh
Tà ma, trở gót nẻo thiên lương
Trời yên, biển lặng nhờ ơn Phật
Mây trắng thung dung hội cát tường!
CẢM ĐỀ
(Tập thơ Sắc thời gian
của thi lão Cao Đăng Tòng)
Trượng phu liễu ngộ cuộc thăng trầm
Muôn việc rồi ra quý chữ tâm
Gươm súng xông pha miền hỏa địa
Bút nghiên để lại gác văn lâm
Trái tim trăn trở niềm trung hiếu
Đáy mắt bập bùng lửa nghĩa nhân
Hưu trí, điền viên nuôi chính khí
Cư nhàn, xướng họa dưỡng thiên chân
Trăng trong, gió mát, vui hiền hữu
Ý nhẹ, lời đau, xót thứ dân
Lạc đạo, an bần, sương tuyết thắm
Cung đàn khiết nhã tấu tri âm!
(1995)
DẤU THU
Dăm bảy sợi thu vắt cửa ngoài
Chừng sương đọng giọt giữa lòng ai
Non tùng dựng bút, mây choàng áo
Rừng trúc vươn cành, nắng lễnh vai
Dưng bỗng hương ngàn len cốc rạ
Hèn chi gió lạnh hé phên sài
Bạn bè nửa cuộc, phương trời khói
Mắt trắng hư tình, hạc nhớ mai!
NGỌN GIÓ LÀNH
Mừng đón tha phương ngọn gió lành
Tăng về vàng rực mái hiên tranh
Thanh Tâm cỏ biếc đùa sương nước
Hàm Nguyệt trăng trong giỡn bóng hình
Nắng sớm hồng lan khai diệu đóa
Hồ khuya giun dế tụng tâm kinh
Ngàn xưa hạc trắng về đâu nhỉ
Cổ lục, cảo thơm gợi chút tình!
HỘI ĐOÀN
Huyền Không không hội cũng không đoàn
Đã tự đầu non, quẳng kiếm đàn
Ý đạo vài câu len khói trắng
Tình thơ đôi chữ kết hoa vàng
Hình soi nước lặng, trăng đùa bóng
Âm thoảng trúc ngàn, gió cợt vang
Buông bút, suối vui, reo vỡ đá
Nhạc trời, chim tấu khúc hòa chan!
THANH TAO NẾP SỐNG
(Thuận nghịch độc)
Họa thơ Tú Rua, tức Ngọc Bảo,
đăng báo số 130 Văn Nghệ TP.HCM)
Cành xanh lá gió mát đêm hè
Rộng thoáng hiên đường sạch bụi xe
Dành sẵn cõi trăng tình nhớ bút
Giữ luôn hồn nhạc tứ thương ve
Lành vui trống ngược khua tòm tõi
Ác xấu kèn xuôi thổi tít te
Thành sự ắt thêm trang đổi mới
Thanh tao nếp sống đã đời nghe!
(Đọc ngược)
Nghe đời đã sống nếp cao thanh
Mới đổi trang thêm ắt sự thành
Te tít thổi xuôi kèn xấu ác
Tõi tòm khua ngược trống vui lành
Ve thương tứ nhạc hồn luôn giữ
Bút nhớ tình trăng cõi sẵn dành
Xe bụi sạch đường hiên thoáng rộng
Hè đêm mát gió lá xanh cành!
PHỤNG HÒA XUÂN
(Tặng một Cành Tuyết phương trời xa)
Cành tuyết phương trời sắc trắng pha
Thi hương mấy độ ngát phương nhà
Biển xưa, sen nở, trăng tìm bút
Am cũ, xuân về, đá vẽ hoa
Ý hạt sương trong, chồi quế ngọc
Mắt màu nắng mới, nụ mai già
Én trao cánh thiếp, tung vô tận
Thanh nhã niềm vui, tứ phụng hòa!
(Cuối Đông Quý Dậu)
VỊNH GỐC ĐÀO
(Đề thi Xuân)
Bừng bừng sức sống, khí vươn cao
Giữa cõi non xanh, nức cội đào
Hoa khoác áo hồng, thêu bướm lụa
Lộc đơm mắt biếc, ửng trời sao
Bài thơ Thôi Hộ sương mờ đọng
Câu chuyện Lưu Thần gió nhẹ xao
Am cỏ đón Xuân vui chút mộng
Hương tàn, sắc nhạt hóa chiêm bao!
HỌA ĐÁP VẬN
(với Nhà thơ Cam Lĩnh)
Tuyết ngủ non cao, tuyết chẳng già
Mù sương nửa cõi, nửa là ta
Trăng chơi ngõ trúc, Xuân vườn lặng
Gió viếng phòng hương, Tết cảnh xa
Mực suối, thơ trong, reo lách tách
Am trăng, mây tía, lượn la đà
Nụ mai biếng nở, không nhuần bút
Lại khất với thầy cái vận "la”!
(Hai bài được giải thưởng)
1. Của Sự Tánh Thuận
Một thân đào nhỏ ở Sơn Phương
Đón Tết, vui Xuân đẹp lạ thường
Hoa mởn, cánh hồng, trăng điểm ngọc
Lá non, thân tía, gió pha sương
Đào nguyên, mộng cảnh, Tăng hòa chuyện?
Tiên giới, mơ niềm, đạo tỏa hương?
Tình ấy,sắc này tươi thắm mãi
Để cho nhân thế hóa thiên đường!
2- Của Sư Chơn Hữu
Xuân về ửng thắm sắc đào hoa
Lộc biếc, chồi non điểm ngọc ngà
E ấp hồng nhan, chờ mộng đến?
Cợt đùa quân tử, đợi đông qua?
Biển trần cội cũ, nào ai biết?
Cuộc thế, nguồn xưa, mấy kẻ là?
Dâng tặng cho đời bao ước vọng
Tỏa hương thanh khiết khắp gần xa!
QUA LINH GIANG
Sông núi chiêm bao cũng ngỡ ngàng
Qua phà du Bắc vượt Linh Giang
Hoành sơn vạn đại um mây trắng
Đông hải thiên thu trải cát vàng
Mấy cuộc phụng thăng, trời nhạc vũ
Bao lần long giáng, đất ca xang
Ngược xuôi bao độ, bao hưng phế
Xanh lạnh dòng xa, sóng cuộn ngàn!
HẠNH XƯA
Thơ đối, đào mai - một am hoa
Xuân này cảnh vật giống năm qua
Phước duyên đạm nhã, tình bao thuở
Hạnh nguyện thanh u, nghĩa bốn mùa
Chiếc lá hiên sương, gìn nếp cũ
Câu văn áng sách, giữ nề xưa
Thầy trò, mái tóc pha xanh bạc
Kinh pháp đêm hôm, mặc gió lùa!
HƯƠNG THANH NHẸ
(Trang tặng Hưng Tiếu, Liên Huê,
đáp tạ bài thơ "Chân thành”, 19/5/82)
Vó câu giục giã bấy nhiêu năm
Trăm cuộc rồi ra chỉ một tâm
Mỏi mắt, trần xoay, nhìn chẳng tỏ
Váng đầu, cảnh đổi, biết bao lầm
Hồ xanh sen nở, hương thanh nhẹ
Núi thẳm lan phô, sắc lặng thầm
Chửa chẳng hài mây sao nhẹ gót?
Nhớ, còn - tên gọi trúc mai lâm?
Nhớ, còn - tên gọi trúc mai lâm?
Tuế nguyệt còn đây, sương tuyết ngâm!
Đã mỏi đường danh - trăng cợt bóng
Đã mòn gót lợi - bụi vờn tâm
Non cười Hưng Tiếu, lòng thanh thản
Hồ nụ Liên Huê, ý thậm thâm
Hai chữ chân thành, xin quý trọng,
Thả vời cao lãnh, vọng triều âm!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Dâng Tấm Y Vàng
Đường may hồn nhẹ những ưu phiền
Dâng tấm y vàng ngát thiện duyên
Kết sợi thời gian trầm quán niệm
Cho hương trí tuệ lắng tham thiền
Chân kim nắng xế phương chiều lạnh
Ánh mắt xuân phai bóng dáng hiền
Rồi áo có theo Người bến giác
Để thơ mây trắng cũng đoàn viên!
DẠO CỐ VIÊN
(họa)
Ngồi lặng, xoa tay phủi bụi phiền
Chút tâm, chút tuệ đoạn phàm duyên
Dẫu không sợi chỉ đan y pháp
Cũng tợ đường kim dệt thảm thiền
Chưng giữa phòng thơ cành cỏ ốm
Vẽ bên khóm trúc mảnh trăng hiền
Tình văn mấy độ, nhân xanh lá
Nương cánh thơ vàng dạo cố viên!
ĐIỀN VIÊN
(Họa vận thơ của Linh Giang Tử).
Vô minh lửa cháy, khởi đao cung
Lửa đạn, thương ôi! Giọt máu Hùng!
Đòi đoạn núi sông, sầu nghĩa cả
Tang thương vườn ruộng, xót tình chung
Loạn ly, gió bão, rừng xa hổ
Tan tác, trời mây, biển vắng rồng
Ai thuở hạ ngươn, đời hỏi đạo,
Thử coi nhân loại mấy tâm đồng!
Thanh bình sông núi, bỏ đao cung
Trăng gió điền viên cuộc hỷ phùng
Khanh tướng, bèo mây phơi hải ngạn
Lợi danh, hoa đốm, lóe hư trung
Mênh mang thế sự, lòng sao lẻ!
Bát ngát nhân tình, mặt nhật chung!
Phúc đức gìn vàng, tâm giữ ngọc
Tuế hàn tam hữu: Trúc, mai, tùng!
HỌA ĐÁP
(Với Nhà thơ Cao Xuân Chiểu)
Một nửa hương trầm, nửa đế kinh
Nửa tâm sen báu, nửa thức, tình
Vẫn trang bối diệp, trăng thiên cổ
Vẫn mái vương cung, bút thiếp đình
Một nụ lão mai, Xuân thắm thiết?
Một vườn phương thảo, ác chênh chênh
Hạc chiều, mây trắng, nhàn Hương Ngự
Cánh chở theo hồn lướt dặm xanh!
HÒA DĂM VẬN
(Với Nhà Thơ Mai Khắc Ứng)
Thọ tuế bảy mươi chẳng đã ư?
Rong chơi vi vút đến bi chừ?
Cửa mây hí hửng thằng leo ngựa!
Chợ bụi xun xoe đứa cỡi lừ!
Kiếm lụt, chém sâu, đời đã tợm!
Bút cùn, múa chữ, óc chưa nhừ!
Vụng hòa với bác, vui Xuân vậy
Trăng gió cao sơn, khí thặng dư!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Nắng Theo Người
Trăm năm sỏi đá lạc về đâu
Đời lặng, nghiêng vai gánh chút sầu
Cơn gió chưa tàn, cơn huyễn mộng
Giọt mưa còn đọng, giọt thiên thâu
Có ai về suối nguồn vi diệu
Cho bóng vương ánh lửa nhiệm mầu
Nhánh cỏ phất phơ đùa nắng mới
Nắng theo người, nắng mãi ngàn sau!
(họa)
Dáng khói, hình mây để lạc đâu?
Mà nay mây khói lại vương sầu?
Cỏ hoa lạnh lẽo, cành sương sớm
Sỏi đá mơ màng, chiếc bóng thâu
Còn mãi vầng trăng, đời mãi đẹp
Khêu thêm ánh lửa, đạo thêm mầu
Có bao nhiêu nắng trên nguồn cũ
Sưởi ấm thơ thiền tặng kiếp sau!
NHÀ THƠ NGỌC QUẾ
(xướng)
Nắng Theo Người
Trăm năm sỏi đá lạc về đâu
Đời lặng, nghiêng vai gánh chút sầu
Cơn gió chưa tàn, cơn huyễn mộng
Giọt mưa còn đọng, giọt thiên thâu
Có ai về suối nguồn vi diệu
Cho bóng vương ánh lửa nhiệm mầu
Nhánh cỏ phất phơ đùa nắng mới
Nắng theo người, nắng mãi ngàn sau!
(họa)
Dáng khói, hình mây để lạc đâu?
Mà nay mây khói lại vương sầu?
Cỏ hoa lạnh lẽo, cành sương sớm
Sỏi đá mơ màng, chiếc bóng thâu
Còn mãi vầng trăng, đời mãi đẹp
Khêu thêm ánh lửa, đạo thêm mầu
Có bao nhiêu nắng trên nguồn cũ
Sưởi ấm thơ thiền tặng kiếp sau!
NHÀ THƠ MỘNG TÙNG
(xướng)
Túy Vân Sơn
Túy Vân phong cảnh lạ lùng thay
Tạo hóa từ xưa đã sẵn bày
Ngoài bể, trong sông, đôi mặt nước
Trước đình, sau các, một am mây
Núi rồng hẳn thấy quay đầu lạy
Non phụng nhìn xem chắp cánh bay
Thi khách, tao ông thường lịch lãm
Chạnh lòng hoài cổ bấy lâu nay!
(họa)
Thắng cảnh Túy Vân đẹp đẽ thay
Sum la vạn tượng, ngoại tâm bày?
Thanh giang, thúy hải chung làn gió
Không các, huyền đình một cụm mây
Pháp thuyết, thông reo, nghe gió chuyển
Thiền hành, đá đứng, ngắm chim bay
Cảnh tâm vẹn vẻ tình non Thứu
Thức tỉnh nhân tình tự thuở nay!
Cảnh "núi mây say” cũng lạ thay!
Từ trong "không tạng” huyễn hư bày!
Bãi phơi muối mặn, đùn thêm muối!
Đỉnh soải mây xanh, chắp tiếp mây!
Rắn núp hang sâu, thò vảy cựa!
Rồng nằm biển cạn, nhướn chân bay!
Túy Vân sơn mộng hay người mộng?
Hư thực cuồng tâm khách bấy nay!
HẠT MÓC TRONG
Bỏ thuyền, bẻ gậy bước qua sông
Cởi áo thời gian quẳng giữa dòng
Ví dẫu son xuân khuyên ý bút
Nề chi sư núi quảy tình không
Sắc hương, trâu nội, tên chăn ốm
Hoa cỏ, trắng ngàn, hạt móc trong
Bụi trắng đầu lông xem vũ trụ
Huống hồ ba cõi tám phương hồng!
NHÀ THƠ TRẦN LỮ VŨ
(họa vần)
Xuân Cảm
Mình người khách trọ đứng bên sông
Ngơ ngác nhìn con nước lạ dòng
Xuân đến mặc lòng Xuân diệu hữu
Ta về cảm nhận ý chơn không
Đôi bờ đâu biết, bờ hư thực!
Một bến nào hay, bến đục trong!
Lệ nến chảy quanh vòng chữ vạn
Thương chi thể sắc đóa mây hồng!
BÚT TRÍ
(Tặng GS. Vũ Ngọc Khánh)
Sương tuyết thêm màu, đẹp thế chăng?
Đất trời không giảm, cũng không tăng
Mục tâm, tiêu sái, hòa hương Bối
Bút trí, phiêu bồng, lướt suối Văn
Chợ nắng, trơ vơ tàn cổ thụ!
Non mây, leo lét ngọn thiền đăng!
Chuyết hòa vận cũ, tình chưa cũ
Hiền sĩ, ai người, chữ điểm trăng?
(Am Mây Tía - 6/2004)
----------------------
Hoa đơm một hạnh thơm ba cõi
Phát thắp bi tâm sáng sáu miền
------------------------
Ý khí trời cho nên giữ tiết
Cỏ cây đất tặng cố ươm hương
-------------------------
TUYẾT BĂNG VỠ
Xanh xanh cánh lá, xanh vô tận
Hiện giữa thiên thu, lả rụng thềm
Gợn sóng thuyền bồng, mây gió lại
Mờ sao lối mộng, khói sương thêm
Sông xuân ai vẽ màu trăng ướt
Ngựa ký người trao sợi buộc mềm
Thơ với giao thừa, hong bút lửa!
Bâng khuâng non vỡ tuyết băng đêm!
|
SÓNG LƯNG MÂY
Non thẳm, mênh mông một mảnh vườn
Đời qua lũng vắng, thoảng ngàn sương
Câu thơ đạm nhã, pha màu đá
Nét họa đan thanh, điểm chút hương
Suối mộng, trăng lay, con nước gợn
Cành mơ, chim ngủ, lá rừng vương
Gió chao dặm khói, tình sơn thủy
Sóng nổi lưng mây, nhật nguyệt thường!
PHỤNG HỌA
(Năm vận của Nhà Thơ Nguyễn)
Tủi thẹn đức, tài - trốn biệt phương!
Dám đâu tuệ trí vạch con đường
Đồng Chầm, xa vắng, chân đời ngại!
Hòn Vượn, trơ cằn, khói núi vương
Lau lách che lều, trăng cười nhạt!
Trúc tre viết chữ, gió đùa hương!
Phật cho sống thọ qua sương tuyết
Trắng bạc tóc râu, ngẫm cũng thường!
TÂM TRỜI ĐẤT
(Xuân Quý Tỵ, 2013)
Tạc một hòn non, đá dựng vời
Xanh um đại thụ, bạn ngàn khơi
Ân cha, lặng lẽ, trời không nói
Tình mẹ, mênh mông, đất chẳng lời
Hiến tặng hồng vàng, tâm tú mậu
Quý trao hồng trắng, tuệ tinh khôi
Mưa ngâu man mác, Vu Lan hội
Đạo hiếu nhân gian mãi rạng ngời.
NGẪU BÚT
(Đọc "Ngọn cỏ chỉ” của Thanh Nhơn)
Đọc thơ tự sự, biếm trào ôi!
Cỏ chỉ sương gieo, đẫm lệ trời!
Tát cạn dòng khơi, hao sức quá!
Vuốt bằng đuôi chó, uổng công thôi!
Níu tre cột gió, đau tay lắm!
Mò nước tìm trăng, ướt áo rồi!
"Lụt nổi, kiến sâu đeo cụm nổi!
Lũ trôi, rều rác kết bè trôi!”(1)
Cáo chồn lớn mật leo "tra” ở!
Chim chuột to gan léo "rượng” ngồi!
Nhân nghĩa rứa răng, bàn tụt lưỡi!
Thương ai mòn bút lại khô hơi!
(2009)
(1)Mượn ý cặp thực trong bài thơ Vịnh lũ lụt của Cố Đại Lão Hòa Thượng Hiếu Quang: " Sâu kiến bất tài đeo cụm nồi. Rác rều vô dụng kết bè trôi!"
KÍNH VIẾNG ĐIẾU GIÁC LINH
Cố hòa thượng trụ trì chùa Từ Hiếu
Thấm thoắt trăm năm một thoáng trôi
Thầy đi, Từ Hiếu lạnh bao người
Phương danh cổ tự, công gìn giữ
Thắng địa thiền lâm, đức tiếp bồi
Nắng quái, thêm xanh Tùng cội đá
Gió cuồng, càng vững Trượng thuyền khơi
Nhân gian, mắt đục, đời tăm tối
Phạm vũ, trăng trong, đạo rạng ngời
Phải trái, tụng kinh, rời bát nạn
Hơn thua, niệm kệ, học Ba ngôi
Ngắm xem sinh tử bày hoa đốm
Tự tại xoa tay, Phật mỉm cười!
(Mùa An cư Kỷ Sửu, 6/2009)
THI ĐIẾU GIÁC LINH
Cố Đại lão hòa thượng Thích Trí Chơn
Một cội tùng xưa lại ngã rồi!
Tông môn, pháp lữ lạnh lùng ôi!
Nước mây Bát Nhã, trời xao xuyến
Sông núi Hà Khê, đất bồi hồi
Bán kỷ huân tu vun tuệ đạo
Bát tuần mãn thọ hiến duyên đời
Đệ huynh, tình nghĩa trăng non lĩnh
Thiện tín, nghiêm từ đức biển khơi
Chim ghé hồ ao không để bóng
Gió lìa lau trúc chẳng tăm hơi
Gốc xưa Linh Mụ sinh tài tuấn
Đất khách Kỳ Hoa hiểu tiết thời
Tự tại thân không rời trăm mối
Thong dong hạc chiếc dạo muôn nơi
Sa-môn, mạt pháp gìn thanh hạnh
Phụng tiễn giác linh vụng chữ lời!
(26/3 Tân Mão | 28/4/2011)
CẢO THƠM CỎ LỤC
Thắm tươi vẻ đẹp, đóa Đông phương
Báo hiếu song thân, hội Phật đường
Tục ngữ, bóng cha, xanh vạn khoảnh
Ca dao, lòng mẹ, biếc ngàn chương
Cảo thơm vi diệu, thêu vàng nguyệt
Cổ lục nhiệm mầu, dệt gấm hương
Tấc cỏ ba xuân, khôn trả vẹn
Nhân thiên các cõi, nguyện tròn gương.
ĐÁ MỈM CƯỜI
Nắng vắt hiên đông, đá mỉm cười
Chờ xuân năm mới ghé đây chơi\
Bộn bàng, chuyện cũ chôn hang hốc
Tươi tắn, cành khô nẩy tượt chồi
Gót bụi xa quê đà mỏi gối?
Đàn chim trốn lạnh hẵn tìm nơi?
Thoáng giây, núi lạnh, sương bay loãng
Chợt khắc, sông dài, sóng nhẹ lơi
Tao tác não phiền, chùm đốm rã
Lắt liu buồn giận, nhúm tro rơi
Then mây, ngày tháng, trăng quên chốt
Để mặc, thung dung, gió thản vời!
ẨN CƯ
Xuân chẳng thưởng đào, chẳng ngắm mai!
Ẩn cư hang núi, chốt sương cài
Cảm thương nghiệp nước, mây đùn khói
Đau xót tình người, đá sởn gai
Phước mỏng, đâu kham đời dịch hoạ?
Thân gầy, nào chịu cảnh thiên tai?
Tiếc tâm, không đủ nhân lành, tốt!?
Tủi đức, chưa dung chuyện xấu, sai!?
Cửa hẹp, vắng tanh, trăng ngủ mệt
Phòng đơn, lạnh lẽo, dế rên dài
Dòng văn, ngơ ngác, hoa trơ đốm!
Câu chữ, thẹn thùng, mọt nghiến tai!
Điên đảo nhân sinh, điên đảo mãi
Ngửa nghiêng thế đạo, ngửa nghiêng hoài
Bi từ đức Phật, nguồn vô lượng
Nhen lửa trái tim, ấm một vài!
GÓC NÚI!
Chút xuân, chút Tết, chút tình quê
Ngày tháng lui cui quẳng xó hè
Đối, mượn làn mây giăng dọc núi
Liễn, tìm tấm đá dựng triền khe
Thơ không hương vị, bòn tinh chữ
Trà thiếu sắc mùi, lọc cợn mê
Cảnh đốm, mắt nhoè, cười xể xả
Lời hoe, tai ngãng, nói ngu nghê
Bớt tham, bớt việc, lòng vui lễnh
Bỏ giận, bỏ phiền, bụng khỏe re
Rắn đến, rồng đi - bò loẳng ngoẳng
Súc sinh, con giáp, khác chi nề!
XUÂN TỨC CẢNH
Xuân của đất trời, xuân của ai?
Mà nơi non lạnh, liếp thưa cài
Mù mây lững thững chơi đồi vắng
Sương khói lơ thơ dạo lũng dài
Nắng mới nể tình hong ấm tóc
Gió lành vị nghĩa thổi vui tai
Đá nằm vườn cỏ, công bao độ
Hoa nở hiên lan, đức mấy vài
Thơ vụng mượn vần, đùa trúc biếc
Bút cùn khoe chữ, cợt đào phai
Lộc non phơi phới, rừng thay áo
Đón khí thanh dương, mở cửa sài!
XUÂN TỰ SỰ.
Gẫm chuyện năm qua, Phật mỉm cười
Làm nhiều, nghỉ khỏe, lãng du chơi
Dựng xây chùa cảnh, duyên lo vốn
Sáng tác thơ văn, chữ kiếm lời
Việc được, việc chưa, nghe pháp nói
Điều hay, điều dở, ngắm hoa rơi
Bụi mê, bỏ quét, xoa rồi phủi!
Thuyền giác, buông chèo, chống lại bơi!
Lòng rỗng, phiền ưu không khoái chỗ
Óc nhàn, tham giận chẳng thèm nơi
Đã về, đã tới quê hương cũ
Then khóa tử sinh, lỏng chốt rồi!
XUÂN TRÍ TUỆ
Giác tính muôn xưa vẫn tịch thường
Xuống trần, quang rạng một vầng dương
Soi lòng khô mục, bung hoa lộc
Chiếu óc trơ lì, biết hiểu thương
Tăm tối nghe kinh, trăng dọi bóng
U mê học pháp, nước mài gương
Mắt mù, mò mẫm tìm chân thực
Thân tật, lần dò gặp cố hương
Sanh, già - vỡ đất, trồng cây trái
Bệnh, chết - lấp mồ, cấy ruộng nương
Phản chiếu, hồi đầu, nguyên diện mục
Thế gian như thị, Tuệ-Con-Đường!
XUÂN TỪ BI
Xuân Phật, thương ai khổ, đói, nghèo
Lại thêm đạo lý tóp rồi teo!.
Trông lên, bao kẻ xơi vàng lá
Nhìn xuống, lắm người xực cám heo
Túng quẩn, giết bừa, tù khóa buộc
Đói cuồng, cướp cạn, tội cùm đeo
Cánh đồng tình nghĩa, cây khô nỏ
Sa mạc nhân luân, lửa cháy xèo
Xấu ác quen nề, không biết thẹn
Tốt lành tủi phận, phải nằm queo
Cao hiền, trí giả, tâm vô lượng
Thuyền nhỏ, từ bi, vẫn ráng chèo!
XUÂN RỪNG THIỀN
Rừng thiền diện mục thị thường thôi!
Đông khứ, xuân lai, vận tự hồi!
Hang đá, đùn len làn khói núi
Triền non, vun thả đám mây trời
Nắng mưa biến đổi theo mùa tiết
Vui khổ vần xoay đúng nghiệp thời
Hoa nẩy nụ mầm, ươm biếc thắm
Cây vươn cành nhánh, hiến xanh tươi
Bài thơ thuận pháp bày câu chữ
Nét bút duyên tâm mở ý lời
Trí giả, hiền nhân trăm dặm lữ
Hoát nhiên tao ngộ cố hương rồi!
XUÂN BI TÂM
Ngựa, dê đồng loại súc sanh thôi
Năm mới nghe qua thấy nực cười!
Tâm cũ, tham sân vây bủa gốc
Nghiệp xưa, tánh tật vẫn đeo chồi
Sắc tài, mắt nhặm, hoa lầm rác
Danh lợi, tay chùn, đĩa phải vôi
Phố đỏ, đèn vàng phô tục cảnh
Lòng đen, óc trắng vấy trần khơi
Câu kinh ngọng nghịu va hang núi
Tiếng kệ ngu ngơ lạc chợ đời
Muốn khởi bi tâm, bi cúi mặt
Nghe rừng mai trúc, giọt sương rơi!
XUÂN TỰ NGẪM
Mỗi Tết, mỗi Xuân - Phật tự lòng
Thế nên trăm việc thả ngàn đông
Một bầu trăng gió, màu quê quán
Ba cõi trời mây, sắc lữ bồng
Thế sự, triền non, làn khói nhẹ
Nhân tình, đầu lá, giọt sương trong
Liễu thiền, chẳng bận trò hư, thực
Ngộ đạo, đâu màng chuyện có, không
Duyên tụ, duyên tan đùa đốm mắt
Pháp sinh, pháp diệt cợt trăng sông
Thương ai cuộc mộng còn mê mải
Kẻ nổi, người trôi - bọt giữa dòng!
XUÂN TỰ TRÀO
Đã tuổi bảy mươi, cộng một hai
Cửa kho cạn vốn, chốt tiêu xài
Óc cùn, tìm chữ đều "qua đát!”
Túi rỗng, mò kim thảy "bái bai!”
Mắt mỏi, chán nhìn, đâu loạn sắc
Chân run, mệt bước, chẳng lầm gai
Biếng lười lui tới, xa hung hiểm
Nhác nhớm nói năng, đỡ hoạ tai
Gậy chống, thẳng lưng, không luỵ gối
Kiếng đeo, rõ bụi, chẳng nhờ ai
Thoáng nghe bóng ngựa rời non vắng
Nhẫm tính trăm năm chẳng ngắn dài!
NHÀ THƠ NGUYỆT ĐÌNH
(Kính hoạ)
Xuân Tự Trào
Bảy mươi tuổi lẽ, đẹp bằng hai
Trăng nước trời ban, mặc sức xài
Thi phú đầy kho chưa quá "đát”
Kinh thư chật áng chẳng hề "bai"
Mục kính đổi màu còn rõ nét
Gậy thiền chống pháp nỏ vương gai
Đêm đông ngồi thảo mươi trang sách
Sớm hạ nằm nghe gió thoảng tai
Lên dốc am mây nào mỏi gối
Qua bờ suối đá khỏi phiền ai
Trăm năm một thoáng trời non nước
Vạn sự rồi ra ngắn vẫn dài!
(HKST- 10/1/2015)
XUÂN CÁT TƯỜNG
Am không, tiết ấm phún đàn hương
Cây lá xôn xao phụng cúng dường
Vẫy nét thiền thi gom tịnh thủy
Mở trang bối diệp ngắm trùng dương
Cảm ai mắt đục, xua mây bụi
Xót kẻ dặm mờ, vẹt khói sương
Xấu ác bẻ mầm, tiêu ghét hận
Tốt lành ươm hạt, nẩy yêu thương
Thênh thang gót tuệ, chơi cao ngạn
Phơi phới hoa tâm, dệt thiện đường
Đời đạo cân phân, vui nhật nguyệt
Người hiền, trang mới, cát tường chương!
(Mai Trúc Am, Xuân 2015)
CHÚC TRANG MELA PHẬT GIÁO –
THƯ VIỆN HOA SEN XUÂN GIÁP NGỌ
(Đón giao thừa)
Thư Viện Hoa Sen - đón Ngựa Trời
Hoa Xuân trang Web. đóa tinh khôi
Hệ, tông nghiên cứu, rừng muôn lá
Kinh, giáo sưu tầm, nước vạn khơi
"Xây” (1) nạp kiến văn, vườn biếc thắm
"Can” (2) thu quan điểm, núi xanh tươi
Lối về trung đạo, công trong sáng
Nẻo đến chân tri, đức rạng ngời
Đốm phủi khen, chê, nhìn ác ngủ!
Mộng xoa phải, trái, ngắm trăng cười!
Nghiệp căn trần thế, câu chiêm nghiệm
Mệnh phận nhân gian, bút cảm hoài
Cám cảnh thương sinh, văn mệt thở!
Xót xa khổ nạn, chữ mòn hơi!
Chúc bao trí giả bền duyên đạo
Chúc bấy hiền nhân vững phúc đời
Đây đó gian tà, làn gió thoảng!
Nọ kia xấu quấy, giọt sương rơi!
Tuệ không, tâm lặng - vui siêu thoát
Mặt mũi cố hương đẹp tuyệt vời!
MỪNG KHÁNH NHẬT
(73 tuổi và 50 hạ lạp, ngày 04/2 Bính Thân
của ngài Viên Minh, Sơ tổ Huyền Không)
Phủi bụi phồn hoa, chốn thị phường
Về nơi non lặng, nhẹ mù sương
Sau lưng dựa núi, mây cao lĩnh
Trước mặt vỗ bờ, sóng đại dương
Cọp trắng, đá chầu, xây cảnh sách
Rồng xanh, suối lượn, chở kinh chương
Cỏ cây u nhã, nhen tri kỷ
Trăng nước tiêu dao, duỗi mộng trường
Đạm bạc, thanh bần, vươn duệ trí
Nghiêm dung, dị giản, toả đàn hương
Thân mai, rắn rỏi, dầm mưa nắng
Vóc hạc, khô gầy, vỡ rẫy nương
Lui tới, lục hoà, vun đạo hạnh
Vào ra, tứ nhiếp, gánh yêu thương
Vén rừng tham giận, nhìn chân thật
Mở ngục phiền lao, thấy tỏ tường
Thần khí, an như, chơi bốn biển
Ngôn hành, tự tại, dạo mười phương
Lợi danh, trước ngõ, trăng rơi đốm
Phải trái, đầu cây, lá rụng vườn
Mù mịt kiến tri, soi ngọn đuốc
Tối tăm ái chấp, rọi con đường
Trí tài siêu việt, tâm dâng hiến
Thiền pháp bình nhiên, tuệ cúng dường
Chi ngại gai đâm, chân đại trượng
Nỏ hay lửa hực, áo thanh lương
Ngẫm trò được mất, cười hư thực
Ngắm cuộc đầy vơi, mỉm nhược cường
Xả kỷ, bỏ nhân, không đối sánh
Vị tha, buông ngã, chẳng so lường
Nước trong, hạc nội, nào lưu luyến?
Cội cũ, chim ngàn, nhẽ vấn vương?
Đại dụng, càn khôn, thơm cội đức
Quyền cơ, nhật nguyệt, sáng đài gương
Ra tay lập địa, vô vi hạnh
Huyền mấy cõi Không, "chẳng thị thường!”
BỒ ĐỀ XUÂN THƯỜNG TẠI
(Xuân Ất Mùi, tặng Thư Viện Hoa Sen,
BBT cùng chư thiện hữu cộng tác viên)
Viện Sách Hoa Sen thêm tuổi trời
Mới trang, mới trí - chữ tinh khôi
Con tằm nhả kén, tình xao xót
Chiếc bách qua sông, dạ bổi hồi
Nguyện lớn, nghìn trùng, mây gió cuộn
Hạnh cao, trăm trượng, tuyết sương phơi
Thiền tâm chân thực luôn quang rạng
Giác tuệ an nhiên mãi sáng ngời
Bi cảm sinh linh mơ huyền ảo
Thương đau nhân thế mộng trần khơi
Bồ-đề rắn rỏi, xuân thường tại
Cành nhánh đàn hương phụng cuộc người!
CHÚC XUÂN
Sơn Thượng Huyền Không, Tết đến rồi
Chúc người, chúc cảnh, chúc muôn nơi
Cây khô, trở tiết, chồi xanh biếc
Thân mục, nẩy mầm, nhựa thắm tươi
Rều rác, hoa đơm, thơm vạn khoảnh
Rong bèo, trăng chiếu, biếc ngàn khơi
Tốt lành, nương tựa, dày duyên đạo
Xấu ác, xả buông, đẹp nghiệp thời
Lạnh khổ, chăn đơn, thêm áo mặc
Đói nghèo, bếp nguội, đủ cơm xơi
Trơ lì khối óc, sinh thương cảm
Buốt giá con tim, ấm tiếng lời
Học Phật, an vui, tâm nhẹ hẫng
Hành Thiền, giải thoát, tuệ cao vời
Thênh thang xuân mới, lòng tươi mới
Chúc cả sinh linh phúc rạng ngời!
(Mai Trúc Am, Bính Thân, 2016)
TẠ TỪ THƠ
Khép lại trang thơ, khép cuộc chơi
"Đường Thi Sương Khói” lễnh non vời
Vén mây, vạch chữ, đau lưng lắm!
Chẻ đá, tìm trăng, bể búa rồi!
Cổ lục, xanh xao, đùn mối mọt?
Cảo thơm, trắng bệch, rắc tro vôi”
Cảm thương, năm vận, đùm mưa nắng!
Đau xót, tám câu, gói núi đồi
Kiếm múa, cột tay, tung chính khí!
Ngựa phi, cùm cẳng, lướt trần khơi!
Lại còn nhãn tự, thôi xao nữa
Tuyệt lắm, dù sao, chỉ một thời!
THIÊN NHAI CHIẾT BÚT
(Từ ngày 16, tháng giêng, Đinh Dậu, 2017
đến 16, tháng giêng, Canh Tý, 2020)
Hai lần "nhập thất” ở hai nơi
Một ở làng quê, một núi đồi
Đúng hẹn lại lên, ba tuế nữa
Đến kỳ phải ẩn, bảy tư rồi
Bệnh, già, thần chết, không tha mạng!
Danh, lợi, ông câu, chẳng chán mồi?
Bao tủ sách, kinh, không đọc nữa
Mấy gùi bút, giấy, quẳng đi thôi
Được thua, chèo quẫy, tay run mỏi
Phải trái, nghĩ lung, óc rối bời
Lá trúc qua sông, câu chữ đắm!
Bè lau vượt biển, tứ từ trôi!
Cửa mây, khoá mãi, mây ngăn chướng
Động đá, khép hoài, đá hoá vôi!
Gắng đọc con tâm, không lụy nghĩa
Cố tìm cái thực, chẳng mê lời
Năm canh, niệm giác, xem dê, khỉ
Sáu khắc, tinh không, ngắm vận, thời
Thiền toạ tê chân, đau chớ ráng!
Kinh hành mỏi cẳng, mệt bèn ngơi!
Tự do chốc lát, miền trong trẻo
Giải thoát khắc giây, cõi rạng ngời
Cho chú lằn nâu, ti kẹo, bánh
Tặng đàn kiến đỏ, chút cơm, xôi
Mắt nghe, rõ rệt, làn mi động
Tai thấy, mơ hồ, hạt móc rơi
Tham vọng trong ngoài, đều lặng tiếng
Si cuồng đây đó, thảy im hơi
Rừng "tư”, khám phá, "lòi” ma, quỷ
Núi "hoặc”, điều nghiên, "chộ” ngợm, người
Luống thẹn tròn đầu, dây tóc bẩn
Ngùi thương vuông áo, lấm thân hôi
Xênh xang xe ngựa, tham càng đắm
Hý hửng sang giàu, dục chẳng vơi
Đã sợ gieo nhân, ươm giống loại?
Còn lo thọ quả, cấy mầm phôi?
Vài giây thả rỗng, vui thơ thới
Bao kiếp bíu vin, mệt rã rời
Ngọ nguậy kiến tri, đùn mối gặm
Lắc lư trí tưởng, gãy dầm bơi
Khung xanh, vén khói, trăng đùa mỉm
Nước đục, bỏ lừ, cá giỡn chơi!
Lưới nhện dày, thưa, trùm đã chặt?
Sợi hồng tơ, mảnh, buộc còn lơi?
Thênh thang giải thoát, lìa ưu hận
Bát ngát tự do, đọ biển trời
"Đọc sách” ba năm, ta "diện bích”
Sát-na, mỗi mới, mới tinh khôi!
(Kỷ niệm ngày bỏ thơ, bỏ văn, bỏ nghiên cứu, bỏ đọc kinh sách, bỏ thư pháp, bỏ giao tiếp... chỉ còn "đọc quyển sách tâm” mà thôi!)
--------------
Chèo bơi rung động bầu thanh khí
Núi quảy nghiêng chao sức đại hùng
----------------------
Rong chơi ba cõi mười phương Phật
Để biết hư vô đạọ có tình
.
.
.
.
.
-
.
.
-
.
.
-
.
.
.
.
.
.
-
.
-
.
-
-
.
.
.
.
.
.