
THỜI LUẬN
PHẢI CHĂNG CÓ MỘT MỐI LIÊN HỆ KHOA HỌC VÀ TRUYỀN THỐNG?
Truyền thống là toàn bộ các học thuyết – và tập tục, các tôn giáo hoặc đạo đức – truyền từ thế kỷ này sang thế kỷ khác - ban đầu bằng tiếng nói hoặc thí dụ – đồng thời là toàn bộ các thông tin ít nhiều mang tính truyền thuyết, liên quan tới quá khứ, trước tiên được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Theo định nghĩa này: truyền thống này bao gồm nhiều truyền thống khác nhau. Đạo Cơ Đốc – đạo Do Thái - đạo Hồi, đạo Phật, đạo Thần Bí Sufi.
Như vậy truyền thống liên quan chủ yếu tới việc truyền lại toàn bộ những hiểu biết về sự tiến hóa tinh thần con người - về vị trí của con người trong các thế giới khác nhau - Về mối quan hệ của con người với các vũ trụ khác nhau. Toàn bộ sự hiểu biết này do đó không tránh khỏi là bất biến và bền vững, vĩnh cửu, mặc dù có hình thức đa dạng trong sự truyền lại và mặc dù những biến dạng do thời gian và lịch sử gây ra. Tuy việc truyền lại thường là qua lối nói, nhưng nó cũng có thể qua khoa học các biểu tượng, các trước tác hoặc các tác phẩm nghệ thuật, các truyền thuyết hoặc lễ nghi.
ĐỂ GIỮ SỰ VÔ TƯ: có lẽ cần tách khoa học và truyền thống.
Sự hiểu biết truyền thống dựa trên sự phát hiện, sự suy ngẫm, sự nhận biết trực tiếp về thực tại
- Đối lại: Sự Hiểu Biết Khoa Học dựa trên sự nhận thức thực tại qua trung gian trí tuệ, qua những kết cấu lôgích và toán học.
Sự hiểu biết truyền thống thừa nhận sự im lặng của trí tuệ bằng cách loại bỏ những kết hợp lôgích thông thường - còn sự hiểu biết khoa học có thể có được chính là bằng sự kích động trí tuệ ở mức độ cao nhất có thể được.
Nghiên cứu truyền thống rất coi trọng vai trò cơ thể cảm giác, tình cảm, niềm tin; còn nghiên cứu khoa học loại trừ cơ thể, nhà nghiên cứu cũng như những cảm giác, tình cảm, niềm tin của họ ra khỏi lĩnh vực quan sát và hình thành các định luật - Bộ phận duy nhất trong cơ thể con người được khoa học dùng là bộ óc của nhà nghiên cứu và những cấu trúc lôgích vốn có chung trong tất cả nhà nghiên cứu. Những máy móc đo đạc thực nghiệm được coi là có tính khách quan nội tại, hầu như tuyệt đối độc lập với ý muốn của bản thân nhà nghiên cứu .
Tư duy truyền thống luôn khẳng định thực tại không gắn liền với không gian và thời gian (nhưng thực ra là có). Nhà nghiên cứu truyền thống bằng lao động lâu dài và miệt mài, tự nguyện hủy diệt cái hằng tích không gian – thời gian của bản thân nhằm tìm ra bản thể đích thực của mình. Bằng việc hòa vào một thực tại duy nhất bao hàm tất cả, không chấp nhận bất kỳ một sự tách biệt nào, bất kỳ sự vẩn đục nào do rọi chiếu vào không gian và thời gian.
Còn nhà nghiên cứu khoa học thì ngược lại, buộc phải giả định như một tiền đề tồn tại của một thực tại khách quan tách biệt, nhất thiết phải được xác định trong không gian và thời gian.
ĐIỀU KHÁC NHAU CHỦ YẾU GIỮA KHOA HỌC VÀ TRUYỀN THỐNG là tính: truyền đạt được và không thể truyền đạt được của THÍ NGHIỆM
Nghiên cứu truyền thống đã có quyền tiến hành những thể nghiệm không thể truyền đạt được bằng ngôn ngữ tự nhiên. Thí nghiệm truyền thống là duy nhất, triệt để vượt qua những phạm trù lôgích thông thường.
Ngược lại thí nghiệm khoa học là truyền đạt được và lặp lại được. Những điều kiện thí nghiệm khoa học được xác định một cách khách quan tối đa. Như vậy một thí nghiệm khoa học có thể được lặp lại bất kỳ một nhóm nghiên cứu nào được trang bị các dụng cụ khoa học thích hợp. Thí nghiệm thậm chí được coi là quan tòa tối cao của khoa học “LÝ LẼ CÓ THẨM QUYỀN” không tồn tại trong khoa học. Một lý thuyết dù có đẹp nhất hay do một nhà bác học lỗi lạc nhất của thời đại đề ra cũng sẽ bị bác bỏ ngay nếu như nó đi trái ngược với các dữ kiện thực nghiệm.
Tri thức truyền thống do vậy đòi có quyền không hiệu quả trên phương diện tính vật chất không gian – thời gian, tính vật chất trực tiếp quan sát được.
Trái lại khoa học quan tâm chủ yếu đến hiệu quả ở mức cao nhất trên phương diện tính vật chất trực tiếp. Và chính hiệu quả này mà cuộc sống vật chất con người đã biến đổi một cách sâu sắc nhờ áp dụng các phát minh của khoa học cơ bản vào kỹ thuật.
Câu nói nổi tiếng của Einstein:
“Điều khó khăn nhất của thế giới là có thể hiểu được thế giới” và ta có thể nói rằng: Mặt phi lý nhất của thế giới chính là tính hợp lý của nó
PHẢI CHĂNG có một mới quan hệ giữa khoa học và truyền thống.
Cái làm cho nhà khoa học phải luôn ngạc nhiên trong công việc hàng ngày là nhận thấy sự phù hợp giữa các kết cấu trừu tượng, lôgích và toán học với các sự kiện thực nghiệm. Sự tương hợp giữa tư duy con người và “trí tuệ ẩn náu” trong các định luật tự nhiên tác động như một nhân tố thứ ba trong quan hệ con người với tự nhiên. Tạo ra một thực thể “TAM - PHÂN” tồn tại như một đơn vị động lực mà không thể tách rời. Sự tương hợp này thể hiện mối quan hệ con người - tự nhiên giải thích sự nhấn mạnh của Einstein về vai trò của TRỰC GIÁC, là hình thức hiểu biết tức thời trong sự hình thành những khám phá khoa học lớn.
Sự QUÊN LÃNG – sự không HIỂU BIẾT nhân tố thứ ba này là nguồn gốc của hiện nay trong thuyết QUY GIẢN ca tụng một nhị nguyên luận tầm thường, sai lầm và tĩnh tại.
Phải chăng niềm tin vào tính hợp lý cấu trúc của thế giới là sợi dây tinh tế nối liền tư tưởng truyền thống với tư tưởng khoa học?
Khoa học và truyền thống khác nhau về bản chất, về các phương tiện huy động, về mục đích. Nhưng ta có thể coi khoa học và truyền thống là hai cực của một mâu thuẫn. Hai cái nan hoa của cùng một bánh xe, tuy khác nhau, song luôn luôn hướng về cùng một tâm. Đó là: CON NGƯỜI và SỰ TIẾN HÓA CỦA CON NGƯỜI