
THỜI LUẬN
TRUYỀN THỐNG TRUYỀN MIỆNG CỦA NGHỀ THÊU CÓ PHẢI LÀ NGUỒN SỬ LIỆU ĐỂ PHỤC HỒI LỊCH SỬ NGÀNH NGHỀ HAY KHÔNG?
Bên cạnh hai nguồn hàng đầu của tất cả ngành nghề. Trong lịch sử dân tộc (văn bản và khảo cổ học). Đối với nghề thêu truyền thống, truyền miệng có vị trí của mình như một bảo tàng thật sự, nơi bảo tồn và chuyển tải các sáng tạo xã hội và văn hóa của một ngành nghề được coi là không có chữ viết như một bài thơ xưa:
“Trai thì đọc sách ngâm thơ
Gái thì kim chỉ thêu thùa vá may”
Là phụ nữ thì trở về kim chỉ – bếp núc … Một sự trói buộc bởi chế độ phong kiến lâu đời, vậy thì rõ ràng lịch sử truyền miệng là một sợi dây rất mảnh có thể lần ngược những hành lang tối tăm trong mê cung của thời gian. Những người canh giữ lịch sử ấy là những cụ già đầu bạc trắng, giọng khàn khàn, trí nhớ đôi khi đặc quánh đã trở thành khó tính hay bắt bẻ về cách xưng hô xử thế (tuổi già mà!) các cụ đó như hòn đảo nhỏ cuối cùng còn sót lại của một cảnh quan ngành nghề các vùng miền liền một khối vững chải nay đã bị xói lỡ, bào mòn và bị các đợt sáng sắc cạnh của chủ nghĩa hiện đại “táp lên và đánh cho tơi tả – tan hoang” các cụ già ngành thêu là những hóa thạch sống còn sót lại.
Mỗi lần có một cụ già trong ngành thêu qua đời là một sợi dây đứt gãy, một cảnh quan ngành thêu mất vào lòng đất. Nguồn sử liệu truyền thống truyền miệng mật thiết nhất – phong phú nhất.
Văn bản dù có hữu ích đến đâu cũng làm cho sự việc khô cằn và cứng nhắc, nó gạn lọc, phẫu tích, sơ đồ hóa làm cho cứng đờ mọi thứ, còn truyền thống truyền miệng thí đắp da thịt màu sắc lên sự việc, tưới dòng sinh lực cho bộ xương quá khứ. Nó trình bày ba chiều những gì thường bị dí bẹp lên trên bề mặt hai chiều của tờ giấy. Niềm vui của người mẹ thêu thùa vá may cho con, sửng sờ khi thấy con mình đẹp hẳn lên hãy còn vang lên những âm điệu ấm áp.
(Nhịp nhàng nhịp nhàng tay trên tay dưới
Ông nội mất cháu đích tôn ra đời … )
Cố nhiên chúng ta phải tránh nhiều bãi đá ngầm để khéo léo sàng lọc những vật liệu của truyền thống truyền miệng, để đãi lấy những hạt vàng từ cả một bãi ngôn từ như những cái bẫy, có mặt ở đó chỉ đem lại sự đối xứng, vẻ bóng bẩy của những câu nói vốn chỉ là những cái vỏ của một thông điệp từ quá khứ xa xôi.
NGÔN TỪ CÓ SỨC NẶNG
Người ta thường bảo rằng truyền thống truyền miệng không nhen lên lòng tin bởi vì nó có tính chất thiết dụng – làm như thể tất cả các thông điệp của con người, theo định nghĩa lại không có tính thiết dụng và kể cả những tài liệu lưu trữ do chính sự thụ động của chúng và dưới vẻ ngoài khách quan và trung tính lại không dưới biết bao nhiêu điều dối trá bằng cách lờ đi quên không nói đến, và khoác lên sự sai lầm có vẻ đáng kính. Cố nhiên truyền thống sử thi đặc biệt là một sự tái tạo gần như huyền thoại quá khứ vì lẽ đó ngôn từ sử thi không hoàn toàn trùng hợp với ngôn từ lịch sử. Nó trùm lên trên ngôn từ lịch sử bằng những quy chiếu sai niên đại. Thế nhưng chính các văn bản liệu có tránh được những sự xâm nhập bí ẩn kia không? Ở điểm này cũng như điểm khác, ta phải tìm kiếm từ chỉ đạo, phải trang bị cho mình nếu có thể được một cái máy dò kim loại nguyên chất để loại bỏ những bẩn quặng và xỉ quặng.
Cố nhiên trong ngôn ngữ sử thi chỗ yếu của nó là chuỗi niên đại không vững chắc. Những thời đoạn bị đảo lộn khiến cho hình ảnh của quá khứ được truyền đến chúng ta không sáng sủa rõ ràng. Như một tấm gương trong những hình ảnh phản chiếu, nhảy nhót trên mặt nước gợn sóng.
Ngoài ra, văn bản truyền miệng khi bị tách ra khỏi bối cảnh của nó chẳng khác nào con cá bị lôi ra khỏi nước, sẽ chết và tan rữa. Bị tách biệt, bị cô lập, truyền thống truyền miệng nghề thêu giống như một chiếc áo lễ được thêu tay bị giằng giật ra khỏi một buổi lễ “nhập định” của buổi lễ trọng người thợ thêu và đem ra trưng bày trước mắt tò mò của những người không hiểu biết. Nó sẽ mất ý nghĩa và sức sống. Thế nhưng chính bằng sức sống ấy vì nó luôn luôn được gánh lấy bởi những nhân chứng mới được giao phó nhiệm vụ lưu truyền nó (ở đây là XQ Đà Lạt) mà truyền thống truyền miệng tự thích nghi với sự chờ đợi của những thính giả mới, một sự thích nghi liên quan trước hết đến cách trình bày thông điệp (xếp đặt tại XQ Đà Lạt).
Sau cùng, chính nội dung thông điệp nhiều khi khó hiểu thậm chí mang tính bí truyền. Nó là một thế lực hai mặt có thể xây và có thể phá lại có thể chứa đựng những bùa bã. Vì lẽ đó thông điệp không được đưa ra một cách công khai và trực tiếp. Người ta bao bọc nó trong những bài ngụ ngôn luân lý, những ẩn dụ, những hàm ý, những châm ngôn, khó hiểu đối với người thường, nhưng lại sáng rõ đối với những ai có những ăng-ten tài trí. (Ta có thể nhận thấy điều này qua khách tham quan Đà Lạt Sử Quán).
Thường thường khi thuyết trình về một thông điệp - truyền thống truyền miệng – với cách “ăn nói nửa lời” bí hiểm nói lên cả sự vô giá lẫn những hạn chế của truyền thống truyền miệng trong ngành nghề thêu. Bởi vì hầu như không thể nào chuyển được hết tất cả sự phong phú của nó từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, nhất là ngôn ngữ kia lại rất cách xa về cấu trúc và nội dung xã hội mà chúng ta thường gặp phải một số vị quan chức khi tham quan hay nói “Ôi giời! Cái trò của XQ là bí hiểm để câu khách”. Truyền thống – truyền miệng ít thích nghi với dịch thuật. Bị bứt ra khỏi nơi “chôn nhau cắt rốn” nó sẽ bị mất đi sức sống và giá trị đích thực của nó. Nhiều sai lầm bị gán cho XQ - Đà Lạt Sử Quán thực ra bắt nguồn từ những người hướng dẫn bất tài và cẩu thả.
Ngoài ra việc tái tạo quá khứ nghề thêu không phải là hư cấu hoàn toàn. Mà ở đó có những hồi tưởng, những mạch lịch sử nhiều khi nhạt nhẽo hơn nhiều với sự trang trí xếp đặt mang nhiều màu sắc của trí tưởng tượng sử thi …
Chỉ có một sự phân tích sít sao, thậm chí đôi khi là một phân tâm từ chứng loạn tâm thần của công chúng hoặc là của những người lưu truyền các truyền thống (ở đây là anh Quân) mà những người nghiên cứu mới có thể nắm được cái cốt tủy thực tại lịch sử của nghề thêu.
Vì vậy truyền thống – truyền miệng nghề thêu không chỉ là một nguồn bất đắc dĩ phải sử dụng khi không còn nguồn nào khác (do hoàn cảnh lịch sử) vì thế nó là một nguồn đầy đủ giá trị, có một phương pháp luận ngày nay đã được xác định rõ rệt và đem lại cho lịch sử nghề thêu XQ Đà Lạt một tính độc đáo và đậm nét.