
THỜI LUẬN:
NHỮNG CUỘC LUẬN BÀN DƯỚI GỐC ĐA
Thế giới quan những ứng xử thế tục về diễn tiến kinh tế các dân tộc và quốc gia
Chú ý: sự phát triển công ty chúng ta ảnh hưởng rất lớn bởi những đổi thay nhỏ nhặt trong thế giới quan của những người quản lý.
Nhà xã hội học người Đức Max Weber (1864 – 1920)
... Chủ nghĩa tư bản cận đại không phải là hệ quả của tiến bộ khoa học kỹ thuật, mà sự xuất hiện của nó dựa trên một hình thức tư tưởng duy lý ở những nhân vật lịch sử (đối lập lại với những phương pháp tư tưởng truyền thống)
Ông đã tiến hành một công cuộc nghiên cứu rộng lớn về mặt xã hội học – tôn giáo học so sánh với một qui mô bao quát cả Châu Âu, Trung Đông, Ấn Độ và Trung Quốc... và đi đến một kết luận.
*Phương tiện cận đại có những nhân tố tôn giáo thuận lợi cho sự hưng thịnh chủ nghĩa tư bản, những nhân tố như thế đã vắng mặt trong các nền văn hóa khác...
Max Weber triển khai tiếp
Đạo Khổng duy lý không kém gì đạo tin lành nhưng có một sự khác biệt quá quan trọng.
Ông đi đến kết luận rằng: cả Khổng giáo - Ấn Độ giáo – Phật giáo đều không thích hợp với việc phát triển tinh thần tư bản chủ nghĩa, bởi vì trong tất cả tôn giáo đó đều chứa sẵn yếu tố chống lại sự ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Đó là cái ý chí muốn tổ chức lại xã hội một cách duy lý... khuyến khích sự phát triển khoa học tự nhiên và tinh thần chủ nghĩa tư bản...
Đều dựa vào cùng một sách thánh kinh là phúc âm nhưng diễn giải khác nhau dẫn đến ứng xử thế tục khác nhau... và khác biệt cơ bản đạo Tin Lành xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa người thế tục và giáo sỹ bằng cách loại trừ sự phân chia giáo huấn của đạo lý cơ đốc thành lời răn dạy. Trong khi Thiên Chúa giáo vẫn duy trì sự phân biệt đó.
“Cách sống duy nhất phù hợp với ý Chúa không nên nâng cao giá trị đạo đức thế tục bằng chủ nghĩa khổ hạnh tu viện – mà chỉ bằng hoàn thiện nghĩa vụ đặt ra với cá nhân bởi vị trí của họ ở đời!”
Cuộc cải cách Tin Lành là một đột phá từ nghị lực khắc kỷ - khổ hạnh thời trung cổ bị giới hạn trong phạm vi các tu viện này được giải phóng vào trong đời sống thế tục, từ đó con người bắt đầu hành động vừa khắc kỷ vừa duy lý... Dẫn đến tổ chức lao động một cách duy lý (tư bản chủ nghĩa)
Nhật Bản trong suốt quá trình lịch sử của mình luôn luôn mặc cảm thua kém trước đế chế Trung Hoa hùng mạnh. Vì thế họ thể hiện tinh thần đoàn kết chặt chẽ, luôn ấp ủ chí TIẾN THỦ
Sau hơn 2 thế kỷ bế quan tỏa cảng đến năm 1859 đột ngột chịu sức ép Phương Tây. Giới tri thức thấm nhuần đạo Khổng mang màu sắc Nhật Bản đã thống nhất được xứ sở cuối cùng thiết lập được chính thể vừa tân tiến vừa hiệu quả. Nền kinh tế quốc gia tư bản chủ nghĩa theo chế độ người lao động làm thuê được đánh giá theo thâm niên, được nhận vào làm việc suốt đời trung thành với xí nghiệp và chế độ hùn vốn mua cổ phần để lập công ty phù hợp với luân lý đạo đức Khổng giáo Nhật Bản hóa theo chủ nghĩa dân tộc. Vì thế, trong thời gian rất ngắn (khoảng 20 năm) từ chỗ chia năm xẻ bảy về mặt giai tầng xã hội và khu vực địa lý có thể thống nhất quốc gia dễ dàng: nhưng cũng có số thuận lợi như vị trí đảo quốc – thức tỉnh trước Philippin rơi vào tay Tây Ban Nha và tình cảnh lúc đó Trung Quốc bị tấn công liên tục của các nước phương Tây – 1890 Nhật đã có một bộ máy nhà nước hùng mạnh với các quan chức cao cấp được chọn trong đội ngũ Samurai (võ sỹ đạo: danh dự là tất cả...) và tuyển chọn trong các giới đại học.
A. NHẬT BẢN: CHỦ NGHĨA TƯ BẢN PHƯƠNG ĐÔNG
(Chủ nghĩa tư bản Khổng giáo)
B. CHỦ NGHĨA TƯ BẢN PHƯƠNG TÂY
(mệnh danh là chủ nghĩa tư bản Tin Lành) đang có dấu hiệu suy thoái.
C. VIỆT NAM nền kinh tế thị trường...?
D. TRUNG QUỐC: nền kinh tế “VÔ THƯỜNG”
Max Weber: “Người Trung Quốc hoàn toàn cũng có khả năng như người Nhật Bản, nếu không muốn nói là hơn, hấp thụ chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽ về mặt công nghệ và kinh tế trong thế giới cận đại...”