
THỜI LUẬN
BIẾN SỐ NGÀNH NGHỀ THÊU ĐẦU TIÊN PHẢI LÀ GÌN GIỮ
Hậu quả sự tước đoạt ngôn ngữ riêng của nó là rất nghiêm trọng về nhiều mặt. Nếu Chúng Ta ( tất cả Ngành Nghề ) đồng loạt trở thành những người độc ngữ thì Bộ Não chúng ta sẽ mất đi một phần cái năng lực sáng tạo ngôn ngữ bẩm sinh của nó. Chúng ta sẽ không thể nào đi sâu tìm hiểu được nguồn gốc của ngành nghề, và khám phá được điều bí ẩn của “tiếng nói đầu tiên”. Mặt khác cùng với sự chết đi của Ngôn Ngữ Ngành Nghề, một chương của Lịch Sử cũng được khép lại.
Tính trạng đa ngôn ngữ là sự phản ảnh trung thực nhất của tính đa văn hoá sự biến đi của cái thứ nhất tất yếu dẫn đến sự mất đi của cái thứ hai.
Áp đặt một ngôn ngữ không có mối liên hệ gì với nền văn hoá và lối sống của một ngành nghề là bóp nghẹt sự biểu hiện tài năng tập thể của họ. Một ngôn ngữ không chỉ là một công cụ chủ yếu để giao tiếp giữa những Con Người, mà còn thể hiện Thế Giới Quan của người sử dụng nó, trí tưởng tượng của họ và thách thức họ sử dụng kiến thức.
Mặc dù có quan hệ thân thuộc, các ngôn ngữ phản ánh những thực tế rất khác nhau. Chẳng hạn như khi người ta liệt kê những từ đang tồn tại trong mọi ngôn ngữ và cũng có một ý nghĩa giống hệt nhau thì người ta chỉ tìm được tối đa là 300 từ mà thôi. Trong số này có thể kể: Tôi, Anh, Chúng Ta, Ai, Cái Gì, Không, Tất Cả, Một, Hai, Nghe, Mặt Trời, Mặt Trăng, Ngôi Sao, Nước, Lửa, Biển, Núi, Nóng Lạnh, Trắng Đen, Đất…
Nguy cơ đang đe doạ tình trạng đa ngôn ngữ cũng tương tự như nguy cơ liên quan đến tính đa dạng sinh học. Không chỉ vì đại đa số các ngôn ngữ đều là những “loài” đang tồn vong mà còn bởi vì giữa tính đa dạng sinh học và tính đa dạng văn hoá còn có một mối liên hệ nội tại và nhân quả.
Cũng giống như những loài thực vật và động vật, đa dạng ngôn ngữ đang làm bị hạn chế trong những khu vực nhỏ hẹp, người ta gọi chúng là những ngôn ngữ “đặc hiểu” địa phương. Trên 80% những nước có sự đa dạng lớn về sinh học cũng là những nơi có số ngôn ngữ “đặc hiểu” lớn nhất. Sở dĩ có mối liên quan này là bởi vì khi có các Nhóm Người (Ngành Nghề) thích nghi vối môi trường, họ thu nhận được kiến thức đặc biệt về môi trường ấy được phản ảnh trong ngôn ngữ của họ và thường khi chỉ phản ảnh duy nhất trong ngôn ngữ này.Do đó một phần lớn những loài thực vật và động vật đang lâm nguy. Đến giờ phút này mới chỉ có một số nghành nghề biết đến, những ngành nghề này đang mất dần ngôn ngữ. Khi chết đi, những ngôn ngữ này cũng mang theo cả một kho kiến thức cổ truyền về môi trường.
Đã có những hội nghị quốc tế đấu tranh chống thu hẹp sự đa dạng sinh học này. Sự cần thiết phải bảo vệ các ngôn ngữ bắt đầu được nhận thức vào thế kỷ XX khi những quyền về ngôn ngữ được ghi vào bảng tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người.