

Hành hương Giỗ Tổ Nghề Thêu hàng năm-12/6/2025.
Hành hương Giỗ Tổ Nghề Thêu tại Đà Lạt - XQ Sử Quán là những giờ phút cảm xúc tâm linh mãnh liệt. Khơi dậy sự tưởng tượng tập thể xung quanh một địa điểm thiêng liêng chứa đầy những biểu tượng, một nơi liên quan đến những giờ phút trọng yếu trong cuộc đời một ngành nghề. Hành động hành hương làm cho niềm tin cá nhân mỗi người trong nghề thêm mãnh liệt và tăng cường những sợi dây trung thành đoàn kết với cộng đồng nghề thêu của họ.
Với bản chất đó, một phần nào đó của nơi hành hương phải đứng ngoài không gian của những tham vọng và thù địch trần thế. Nhưng như ta biết với cuộc sống ngày hôm nay không phải bao giờ cũng vậy….
Câu hỏi trước khủng hoảng môi trường - sinh tồn - bạo lực -chiến tranh - đại dịch ám ảnh được đặt ra với một sự nóng bỏng mới, ở vào một thời kỳ đầy nghịch lý và mâu thuẫn, nơi các đường chân trời được mở rộng ra cho mỗi người, thế nhưng sự cô đơn và bất an của mỗi con người lại tăng lên. Ở khắp mọi nơi những cơ hội để gặp nhau, bày tỏ mình và hiểu biết nhau nhiều khi bị xóa đi bởi những khuynh hướng không cần biết đến nhau, phủ nhận lẫn nhau, thậm chí tiêu diệt lẫn nhau.
Chúng ta phải đem lại cho những cơ hội hòa giải với nhau bằng cách thông qua những biểu tượng ngành nghề truyền thống khác nhau, khám phá ý nghĩa của sự gắn bó chung cùng với những không gian thiêng liêng. Và qua đó đem lại cho những nơi khác trên đất nước những lý do mới để tin tưởng ở sự thống nhất của con người.

Một ý nghĩ nội tại lại nhú lên trong tôi và hướng tôi về chiếc áo lễ mà tôi đang thêu và giải quyết nghịch lý mà ban quản lý XQ sản xuất nêu ra, bề trên Đức Tổ Nghề Thêu và tấm lòng con người cũng vậy. Đối diện với điều thiên khải này khiến tôi hãnh diện. Nửa cười, nửa khóc, tôi cảm thấy đang tới gần cái điều bí ẩn trong chiếc áo. Ở một phía, tôi cảm nhận được cái bóng của nó. Tôi tôn kính các sợi chỉ dùng để thêu trong khi vẫn tiếp tục lắng nghe cuộc hội thoại trong nội tâm của mình. Tấm lòng của con người nghệ nhân là ngôi đền trong tâm mà ngôi đền đó lớn hơn nhiều so với Trời và Đất. Không gì có thể tương ứng được với sự vô tận của tấm lòng, những suy tưởng hiện đến với tôi tan ra và bay đi vì chúng đi vào quỹ đạo qua từng đường kim mũi chỉ…
(Nhật ký thêu Áo Sống của nghệ nhân XQ)
………………………………………
Vị thần của nghề thêu gửi kho báu ở ngôi đền của chiếc Áo Chết. Tương truyền rằng ngày trước có một nghệ nhân đại diện thực hiện nghi lễ muốn lấy ra để tiêu. Sau đấy cô ân hận và đã trả lại tại nơi cất dấu. Sau này cũng có một nghệ nhân khác cũng cố lấy kho báu lên nhưng rồi từ bỏ kế hoạch đó và làm hệt như người đi trước đã làm. Kho báu đó hiện còn nằm bên trong ngôi đền Áo Chết tại Đà Lạt - XQ Sử Quán. Khi thực hiện thêu Áo Chết cho ngày Giỗ Tổ nghề thêu, tôi đã đến ngôi đền có thể nhìn thấy những tia sáng nhỏ của kho báu phát ra từ đấy.
Tôi nhớ lại một giai thoại THẦN TRÍ của nghề thêu mà những nghệ nhân đi trước đã kể: “Khi ở XQ Sử Quán thân thiết của tôi vào năm 2009, đã nhận được từ kho báu này một bó sợi chỉ vàng ròng ngang một ngón tay, dài hơn gang tay một chút. Trong bó chỉ vàng có ghi dòng chữ lạ mà tôi không hiểu…” Thế nhưng, nghệ nhân lớn tuổi thực hiện nghi lễ thay Áo Sống - Áo Chết đó khước từ không lấy và yêu cầu đem bó chỉ vàng trả lại chỗ cũ. Cô hiểu rằng, không phải ngẫu nhiên mà những nghệ nhân trước kia lại quyết định không động đến vật báu của kho báu ấy. Cô cho là nếu sử dụng sợi chỉ vàng đó thì một sự loạn lạc mù quáng sẽ tàn phá cả cuộc sống.
(Nhật ký thêu Áo Chết của nghệ nhân)

Trong lúc đợi màn đêm buông xuống, tôi cố hoàn thiện những sợi chỉ thêu với sự hiểu biết của mình về nghi lễ Thay Áo Sống - Áo Chết bằng việc tuân thủ theo nghi thức. Tôi nhận ra rằng, khi tôi hiểu về nghi lễ này thì tôi cũng sẽ hiểu ra cái tâm chân thật của mình. Không biết bao nhiêu năm thay Áo Sống - Áo Chết đã diễn ra giữa XQ Sử Quán và con tim của tôi!
Tôi hiểu rằng, khi trút bỏ bộ lễ phục mà tôi mặc trong khi thêu ra, tôi cũng trút bỏ luôn tất cả mọi sở hữu của mình, giải thoát mình thoát khỏi những nghi thức. Về lại Ngọc Khuê Đường (nơi ở thợ thêu trong XQ Sử Quán) tôi lại cảm thấy trở lại bình thường và cũng trút bỏ luôn mọi sự phiền phức, tắm rửa và làm sạch mình, bước vào nhà tắm và ở đó, tôi tìm thấy bóng tối, nơi mà những điều kỳ bí hiển hiện ra, cũng tại đó, tôi đạt tới sự kiểm nghiệm về chiếc Áo Sống - Áo Chết. Tôi mường tượng được về một thế giới khác, đặt tôi vào trạng thái hồi tưởng suy nghĩ về “Lễ Phục Sinh” và Ngày Phán Xét cuối cùng. Cái lạnh và ẩm ướt của Ngọc Khuê Đường, tôi bắt đầu hiểu được về hai điểm đặc trưng tạo ra một cá thể sống động trong ngày lễ này…
Khi thực hiện nghi lễ khoác tấm áo choàng để thêu Áo Sống- Áo Chết, tức làm “lễ hiến dâng” (tôi nhắc lại, đó là do nhu cầu đòi hỏi phải tẩy uế và phải mặc tấm choàng thêu - tức là thực hiện điều bí ẩn của từng con người nghệ nhân)
Việc hoàn thiện chiếc áo là sự hoàn thiện của tri thức (ngay cái tên cũng có ngụ ý đó: Áo Sống - Áo Chết có nghĩa cuối cùng là “hiểu biết”).
Việc ở lại Ngọc Khuê Đường để thực hiện thêu Áo Sống - Áo Chết cho ngày Giỗ Tổ Nghề Thêu lại nằm trong phần trần tục: Đó là bên ngoài vùng bao phủ bởi phạm vi cấm kỵ, vì vậy một ngày làm việc của tôi đều ở trong các phạm vi hoạt động khác nhau, đều diễn ra thông qua sự biện chứng giữa thiêng liêng và thế tục, giữa việc kéo dài của sự cấm kỵ và việc chấm dứt của sự cấm kỵ đó.
Vào một đêm không thể nào ngủ được tôi quyết định đi dạo, trên quãng đường từ Ngọc Khuê Đường tới Ngôi đền thay Áo Sống - Áo Chết, tôi chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác: Từ trạng thái buồn bã (bởi sự phân công tôi chịu trách nhiệm thêu) đến trạng thái hân hoan vì tự bản thân được ban thưởng (được chọn). Tới chiếc hồ được đặt tên “Hàm Nguyệt” của XQ Sử Quán, đi thật nhanh, tôi chạy để cốt sao cho thoát khỏi cái hồ nước này, vì mọi người nói nơi đây có ma. Khoảng đầu tôi phải đi nhanh, khoảng cuối thì đi với dáng vẻ bình thường và điềm tĩnh. Khi đến ngôi đền nơi thực hiện nghi lễ thay Áo Sống - Áo Chết, tôi đi vòng quanh, sẽ phải làm sao cho mình giống với các nghệ nhân thêu đã nằm xuống, tôi đi chân đất xoay tròn quanh chiếc rương nơi lưu giữ những chiếc áo Sống và Chết, hằng năm.
Bỗng tôi nghe rõ được giọng nói thì thầm trong chiếc rương đó: “Hãy thêu đi, hãy làm cho người chết khỏi khát, hãy làm cho bản thân người sống mát mẻ, hãy làm cho nghề thêu của chúng ta no đủ!”.
Tôi nhớ lại sự liên tục kéo dài của những ngày làm việc chuẩn bị cho cuộc hành hương ngày Giỗ Tổ Nghề Thêu, nó đã cấu thành mối liên kết đặc biệt giữa chị NTQ và tôi. Vào một đêm lạnh lẽo, trăng tròn tại Ngọc Khuê Đường XQ Sử Quán, NTQ tỉnh giấc, do phiền muộn bởi nhiều điều rắc rối…Cô không thể ngủ được. Đêm lạnh lẻo ở Ngọc Khuê Đường XQ Sử Quán, vầng trăng xinh đẹp hơi bị che phủ bởi màn sương. NTQ đi đến khu đất có hàng rào bao quanh rồi bước vào trong sân với một sự căng thẳng kỳ lạ rung động trong không gian, hình như cảm thấy người khó chịu, NTQ quyết định đi vào căn nhà có Ngôi đền thay Áo Sống - Áo Chết, chúng ta hãy lắng nghe cô:
“Đêm đó, tôi cúi xuống (NTQ nói) hôn vào chiếc áo được thay vào năm trước, rồi bắt đầu đi vòng quanh. Khi đứng đối diện với chiếc áo, tôi kéo tấm áo choàng cũ ra, lộ ra bộ đồ bên trong bỗng nhiên nó nhô lên khỏi cái bệ và đẩy tôi ra. Ngôi đền không cho phép tôi đi vòng quanh nữa và nói bằng một giọng đanh sắc… Tôi hoảng sợ, không dám làm gì thêm nữa, bị nỗi kinh hoàng vây chặt. Để trốn tránh khỏi sự phản đối đó, tôi ẩn vào đằng sau hòn đá “Từ Bỏ Tinh Thần Thời Gian” trong ngôi đền như ẩn sau một chỗ nương tựa. Cuối cùng thì Ngôi Đền thét lên giận dữ: “Hãy bước lên một bước nếu mi dám và mi sẽ thấy cái mà mi sẽ thấy. Được thôi, mi có muốn “Thụ giáo” những người phụ nữ nghề thêu đã vĩnh viễn ra đi không? Ta không bao giờ cho phép mi đi vòng quanh ta!"
Dần dần, tôi cũng cảm thấy hết cái nỗi sợ đã làm tê liệt cả người. Tôi bình tĩnh trở lại, vội ứng khẩu mấy câu thơ nghề thêu đọc lên, ngâm nga bài thơ ca tụng nghề thêu, những lời có vần điệu, có âm điệu có lẽ đã xoa dịu sự tức giận của ngôi đền. Ngôi đền đã sung sướng thốt thành những lời mà tôi nghe được. Ngôi đền trở về vị trí im lặng và lại một lần nữa truyền cho tôi niềm tin tưởng và đã ra lệnh cho tôi bắt đầu việc tiếp tục đi vòng quanh.
“Khi đó, tôi lao mình đến, hôn chiếc Áo Sống và Áo Chết năm trước một lần nữa, tôi chuyển động và run hết cả người lên. Tôi chết lặng đi và cố gắng hết sức để truyền đạt cho ngôi đền bản tuyên bố về chiếc Áo Sống và Áo Chết năm nay. Những lời này bật khỏi miệng thành một chuỗi. Ngôi đền bỗng mở ra hệt như cái tủ đựng quần áo và tôi nhìn thấy cả đáy của nó. Sau đấy trong đáy chiếc tủ nói với tôi: Đó chính là những gì đã mất của nghề thêu trong đại dịch COVID - 19 vì tội lỗi của những con người. Ta sẽ trả lại cho các con vào những ngày hành hương này. Từ lúc đó trở đi, giữa Tôi và Ngôi Đền nơi thay Áo Sống - Áo Chết mới có sự thuận hoà.”
Tất cả trạng thái xuất thần đó, tất cả những ảo giác đó và những sự thăng hoa đó mở ra trong tâm trí tôi và giác ngộ tôi. Dù những bức tranh, những chiếc áo, những tư tưởng từ sự hồi tưởng và từ những tạp văn có như thế nào đi nữa thì chúng cũng đã truyền lại qua hàng nhiều năm đã làm nảy sinh ra sự chứng kiến để chúng ta, những thế hệ sau, những người tin hoặc những người không tin, có cái mà theo để tìm kiếm lại bản sắc văn hóa một ngành nghề truyền thống của người phụ nữ dân tộc Việt Nam.
—-(trích nhật ký thêu Áo Sống- Áo Chết, của nghệ nhân sống trong Ngọc Khuê Đường XQ Sử Quán- chuẩn bị chương trình Giỗ tổ nghề thêu.)

Mọi con người, bất kể là ai, giới tính, nghề nghiệp, vị trí xã hội... luôn vượt ra ngoài – nơi chị ta đang ở, chị ta ở phía bên kia của vị trí neo đậu của mình, so với địa điểm đã được phân định.
Người ta chỉ thấy anh chị trên một mặt, mặt kia vẫn không thể thấy được. Sự phân chia này giải thích tầm quan trọng của cái bóng mà mỗi con người mang theo mình, cái bóng này là cái mặt kia, thấp hơn thân thể... Nếu nhìn nhận theo cách ấy, thì thế giới bên kia không phải là khái niệm siêu hình, trái lại nó ăn sâu bén rễ trong thực tế cụ thể: Nó là linh hồn, nguồn năng lượng, là HƠI THỞ của thực tế ấy. Cách nghĩ này thúc giục người ta nắm bắt những “Hơi thở” đang tạo sinh khí cho “các sự vật”: lửa, nước, gió, các loại cây trồng, ngực của người phụ nữ tựa khung thêu. Đó là danh mục những sự vật thường ngày, một bản thống kê về môi trường của nghệ nhân sống tại XQ – Sử Quán...
Thiên nhiên ở đây là SINH LỰC – HÀI HÒA, HƠI THỞ, không phải là cái gì bên kia thế giới mà là điều “bí ẩn” ở phần sâu kín nhất của nó...
Trong nhật ký cô thợ thêu này viết: “Những người chết, họ đâu có ra đi, họ đang ở trong cái bóng đang sáng lên, và trong cái bóng này họ đang ở trên kia ngọn cây thông run rẩy – trong đóa hoa run rẩy chiều tà, họ đang ngồi với ta, đang đi với đám đông thợ thêu làm vườn. Họ không bao giờ chết....”.
Tóm lại: Đã hình thành cuộc sống trong đó những người “thấy được” phải tỏ lòng biết ơn và nhân từ đối với những người “không thấy được”.
Chính vì vậy những bữa ăn trên “Nấm Mộ Đôi...” thực hiện luôn kín đáo với những thực phẩm thường ngày trong khu vườn XQ Sử Quán vừa thu hoạch xong.

Câu chuyện của những người thợ thêu ngày xưa được truyền miệng lại rằng: Trên một bình nguyên cao, nơi đó chim muông, loài vật có thể trò chuyện được với nhau được ngự trị bởi hai vị thần linh: Thần Sống – Thần Chết.
Hai vị cho con người lên sống xây dựng trên vùng đất này. Ban đầu họ yêu thương, đoàn kết nhau, cùng xây dựng một mảnh đất sản sinh hòa bình vĩnh cửu. Với công việc hàng ngày của họ là từ bỏ tính hà tiện, tham lam, ghen ghét, hung dữ và kiêu ngạo – Đó là những điều cam kết ban đầu của họ với hai vị thần linh được sự che chở của hai vị thần linh đó.
Nhưng theo thời gian, sự cam kết đó cũng phai nhòa làm cho hai vị thần nổi giận, vừa thương, vừa ghét. Nên họ quyết hàng năm chọn một ngày để xuống chỗ con người: Thần Chết sẽ đem theo những sợi dây để buộc những con người không cam kết đó sẽ sống nghèo khổ, đọa đầy,… còn vị Thần Sống sẽ đem theo những sợi chỉ ban cho những con người cam kết được hạnh phúc, sự phồn vinh…
Đối với người thợ thêu, thế giới sống này vừa tối, vừa sáng cũng vừa sung túc và hạnh phúc – hòa bình nhưng cũng là nơi tồn tại bóng tối (hà tiện, tham lam, ghen ghét, hung dữ và kiêu ngạo).
Cuối cùng, việc dâng lễ và thay “Áo Sống – Áo Chết” là hai mặt của một mong muốn vô vọng của người thợ thêu nhằm xóa bỏ dần những điều ác độc, mong muốn những điều hạnh phúc phồn vinh đến cho cuộc sống này.

Văn Tế cho: Nghi lễ thay Áo sống- Áo chết
———-
Hãy thức dậy
làm người bóng tối
và im lặng
Hãy cất lên lời ca
Hãy đọc những vần thơ
chờ đợi trên môi
Hãy cho thấy dòng nhựa mới
dâng lên
Từ nhánh rễ sâu trong em
cho đến tận trái chín
trong con tim em ấm áp
Hãy bay lên em thợ thêu
bằng chính đôi cánh của em
Hãy tung lên
sức mạnh những đóa hoa
giữ gìn bao ngàn đời nay
trong đôi tay ấm áp
Ngày nay đã được tự do
để ôm ấp
đã đến lúc
để em cất cánh bay lên
Điều cấp bách
Hãy cùng nhau
lần đầu tiên
vươn tới
cùng một bến
Bến bờ xưa nay
vẫn còn cấm đoán đối với em
Hãy tự bứt em ra khỏi
Di sản gia trưởng ngàn đời
Và những kẻ ngông nghênh, hợm hĩnh
Và những kẻ luôn miệt thị em.
Em hãy vạch ra con đường
mà em muốn đi
vào lúc gặp gỡ
nhớ lại và lãng quên
Sự đa dạng vẫn là của cải chúng ta
Phải tập hợp
không chỗ dựa nào khác
là ánh sáng ban mai
Để dẫn đường em
đến chân trời rực rỡ
chúng ta khao khát
Em thợ thêu
hãy tỉnh dậy và khoe ra với ánh sáng ban ngày
Sự bao la
của tâm hồn em
còn đang mộng mị.

BỘ Y LỄ: NỮ THẦN MẶT TRỜI (Dành cho Giỗ tổ nghề thêu 2025)
Trong hình ảnh này về Mặt Trời và chim Phượng Hoàng (Vương miện điêu khắc thêu bằng sợi chỉ vàng) và Trái Đất (áo choàng thêu và sự sống trên Trái Đất), hai nữ nghệ nhân - nghệ sĩ người gốc Đà Lạt lấy tứ từ những bức tranh thêu cổ trên những tấm vải đay của nghệ nhân ngày xưa. Hai nghệ sĩ nữ này viết: “Thông điệp mà tôi muốn gửi đi là tất cả chúng ta có biết bao nhiêu thứ chung nhau, dưới ánh sáng và sự ấm áp phổ quát của Mặt Trời.”
Trong tác phẩm của họ, hai nữ nghệ nhân nói: “Tôi tìm cách tái phát hiện những cội rễ đã mất và thể hiện sự trường tồn của những hình dáng và những tín hiệu phổ quát của nghề thêu."
Hai nghệ nhân thêu và điêu khắc XQ, chịu ảnh hưởng của những nghi thức tang lễ trong các tôn giáo trên Đà Lạt, một tôn giáo hỗn hợp người bản địa - họ dành một vị trí trung tâm trong việc thờ cúng cho các thế lực của tự nhiên, nhận thấy có những tương đồng sâu sắc giữa các vị thần của các tôn giáo khác, đôi khi rất cổ xưa. Chính những tương đồng bất ngờ này mà nghệ sĩ tìm cách thể hiện trong những cấu trúc thêu và điêu khắc của mình, mà hai cô gọi là: PHÙ THỦY. Ở đây vương miện lấy tứ từ một nữ tu của nữ thần không khí, bão táp và ánh chớp trong tôn giáo người bản địa, được liên kết với áo choàng thêu nữ thánh, một nữ thánh tử vì đạo trong Thiên chúa giáo gắn liền với các loại chỉ thêu trong một không gian - phi thời gian…

Mọi cuộc hành hương phải có đủ cả ba yếu tố: Một địa điểm thiêng liêng - Một cuộc bộ hành thiêng liêng - Một mục đích thiêng liêng.
……….
Không thể nào có cuộc hành hương lại thiếu được ba yếu tố đó. Một số cuộc hành hương tỏ ý nghi ngờ một tập tục, thường là bộc phát và có tính chất quần chúng, rất dễ biến thành mê tín dị đoan, tức là việc mù quáng sùng bái những di vật mà bỏ qua không chú ý tới sự tích và phần thưởng thiêng liêng của tổ tiên.
—-
ĐỊA ĐIỂM THIÊNG LIÊNG
Mục đích người hành hương nhằm đi tới xưa nay là đâu? Những địa điểm thiêng liêng có nhiều loại, có thể là một ngọn núi, một con sông, một hang động, một hồ nước, một cây cổ thụ hay một con suối, còn ở đây là nơi chốn cùng một ngành nghề thêu truyền thống của dân tộc.
Những địa điểm hành hương bao hàm ý nghĩa một sự chuyển dịch của người hành hương, từ nơi mình sống, cử động, sang một chiều khác không phải chiều ngang và không phải ở mặt đất. Đó là ý nghĩ đầu tiên đến với người hành hương.
Cuộc hành hương đều dẫn tới trung tâm của một nghề thêu thiêng liêng nhưng cũng nói thêm là ngoài chiều rộng còn có cả chiều thời gian. Dù là có chứa đựng di vật của một cơ thể linh thiêng hay những dấu vết về một cuộc tiếp xúc với tổ tiên (một đấng thần linh) một ngôi đền, một bản ghi lời dạy ….
Nơi trung tâm (chính điện) bao giờ cũng nhắc nhở người ta đến một sự kiện sáng lập. Có nhiều cách hiểu khác nhau về nơi hành hương, dù là nơi lòng tin nảy nở hay hội tụ, dù là một hình ảnh tưởng tượng để tưởng niệm. Những nơi này thường mang một ý nghĩa hòa bình chứ không phải ý nghĩa tùy theo Logic của con người, nghĩa là không hòa bình.
———-
ĐÍCH VÀ ĐƯỜNG THIÊNG LIÊNG
Nhưng không có con đường thì cái đích cũng chẳng có nghĩa lý gì. Hành trình của người hành hương là một cuộc đi trong không gian và thời gian, trong bản thân mình, là sự hóa thân của cuộc sống trần tục, đưa lại ý nghĩa cho cuộc đời nghề nghiệp của mình. Con đường đó cũng tạo ra những mối liên hệ: Nó đoàn kết những con người lại với nhau trong cùng một khoảnh khắc đặc biệt của cuộc đời mình, làm cho các tư tưởng nghề thêu và mô hình nghề thêu giao lưu với nhau, liên kết những vùng miền cùng chia một niềm tin, một nền văn hóa. Bởi vì khái niệm văn minh bao hàm một sự chuyển giao và giao lưu.
Cuộc hành hương, con người cũng trải qua một cuộc hóa thân khi đạt đến đích cuối cùng của cuộc hành trình cá nhân. Người đó có thể trông đợi đến đây sẽ đạt đến sự hiểu biết của ngành nghề, ân phúc của nghề sẽ đem lại cho mình tai qua nạn khỏi, lương tâm trở nên trong sáng, thậm chí sau này sẽ đạt được một cái chết huyền bí hay một cuộc hồi sinh tượng trưng trong nghề, nhưng muốn gì thì muốn, khi kết thúc cuộc hành hương tự cảm thấy mình khác hẳn với lúc lên đường. Được tái tạo qua một cuộc du hành đầy tác dụng giáo dục trong nghề nghiệp của mình, thoát ra khỏi con người cũ, người đó thường kỷ niệm sự tái sinh này bằng niềm vui của ngày hội, bằng những biểu hiện sung sướng đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ. Rồi tiếp đến là thời gian để hồi tưởng lại, rồi từ đó sản sinh ra những tác phẩm bất tận.
Có lẽ như vậy, là vì hành hương tuân theo hai nguyên tắc trái ngược nhau: Nguyên tắc đổi khác (đi đến một nơi khác, sống một thời gian khác, trở về thành một con người khác) và nguyên tắc lặp lại (làm lại một cuộc hành trình thiêng liêng, lặp lại những điệu bộ, trở lại một cội nguồn). Nhưng điều bí hiểm này, con người bằng xương bằng thịt đã khao khát từ lâu. Khi cuộc hành trình đạt tới đích, con người biết rằng mình đã trở về nơi ở thực sự của mình.

Phải làm sao để “Mỹ học nghề thêu cho phép những người phụ nữ của nghề thêu truyền thống dân tộc Việt Nam vĩnh viễn bước vào ngôi đền nghệ thuật bằng cổng chính của lịch sử… “ Đó là một đoạn nhật ký của người lãnh đạo XQ.
Và ông viết tiếp:
“… Một nỗi lo sợ khó tả xâm chiếm lấy tôi: Ngay cả sự hy sinh của đời tôi cho nghề thêu sẽ không có nghĩa lý gì, nếu như những nghệ nhân – nghệ sĩ XQ không dành cho tôi một sự tận tụy, từng giây - từng phút trong nghề nghiệp.
Từ đó ra đời những tác phẩm: -Người Chết Không Tới Chỗ hẹn- hoặc tác phẩm: - Cái Hôn Ma Quái- ở nấm mộ đôi Chiêm Bao Đường Trần”
Bởi vì, trước khi triển lãm ở đâu xa trong và ngoài nước… Người lãnh đạo này thường đến thăm “nấm mộ đôi” nhà truyền thống, căn phòng trống trơ… “những bóng ma” dần dần hiện lên, chật kín cả căn phòng. Ở bên dưới nổi lên, ở tiền sảnh, từ trái sang phải (các nghệ nhân – nghệ sĩ đã chết). Họ đều đồng thanh nhắc nhở ông ta: Nghề thêu đất nước chúng ta sẽ chết nếu không mở rộng ra trong cũng như ngoài nước… Và ông đã hứa với họ sẽ làm cho nghề thêu truyền thống phụ nữ hồi sinh bằng cách đưa “Mỹ học nghề thêu” của dân tộc Việt Nam ra khắp thế giới.
Có thể nói mỹ học nghề thêu tại Đà Lạt - XQ Sử Quán, đó là “chân dung nữ hoàng nghề thêu không diện mạo- và phụ nữ nghề thêu là một diện mạo không nữ hoàng.”

NGƯỜI CHẾT KHÔNG TỚI CHỖ HẸN
- Trong một bữa ăn tưởng niệm vào ngày Giỗ tổ nghề thêu - những người quản lý đến căn nhà “Nấm mộ đôi chiêm bao đường trần” Đà Lạt - XQ Sử Quán, và mời “ƯỚC MƠ” của thợ thêu đã “ra đi vĩnh viễn” cùng ngồi vào bàn ăn chỗ ngồi bỏ trống “người chết không đến chỗ hẹn” nhưng phần ăn đó vẫn được bày ra...Đó là câu chuyện kể nghệ nhân qua đời vào một buổi chiều mưa 2020 tại Đà Lạt. Đúng như đoạn thơ vô tình mà em đã viết vào sổ nhật ký.
...Em sẽ chết tại Sử Quán vào ngày mưa gió
một ngày mà giờ đây anh mãi vẫn còn nhớ...
Và ngày mưa gió, tại căn phòng Thẩm Mỹ Học Truyền Thống, một người thợ thêu mặc bộ áo dài lụa trắng tiến về phía tôi đang ngồi ngắm khung thêu. Nghề nghiệp của cô đã đi đến chỗ kết thúc, tiếp theo là những năm tháng dài trong nghĩa trang.
Như để báo trước sự kết thúc đó, cô đã làm một động tác đơn giản và kì quặc. Cô cầm lấy một chiếc ghế, ngồi xuống đối diện với tôi và nhìn chằm chằm vào tôi, một dòng điện thôi miên chạy qua. Một mối cảm thông bỗng bao trùm một cách kì lạ lên tôi. Cô bắt đầu cử động làm những động tác thêu, cô đặt một bàn tay vào không gian của sự sống, không gian của sự chết, của đau khổ, ứng tác một cách bí ẩn, một khúc tưởng niệm, một thông điệp với cuộc đời này.
Đó là câu chuyện buổi chiều của một người thợ thêu với tôi. Qua động tác bí ẩn bàn tay trên chiếc khung thêu, họ đã phơi trần tâm hồn mình. Tôi mong muốn ghi lại những điều đó tại đây, nơi người thợ thêu đã ra đi vĩnh viễn, bằng tác phẩm tranh thêu tay: BÍ ẨN CHIẾC KHUNG GÃY

CHIẾC ÁO LINH TUYỀN
Một nhóm nghệ nhân lớn tuổi tại “Khu Phố Tóc Bạc” ngồi nhẫn nại trong một phòng nhỏ, dùng những sợi chỉ chậm rãi thêu lên những chiếc áo lễ đã bị cũ được lấy từ trong kho, dành cho cuộc hành hương…
Đây là “Chiếc áo kỷ niệm hoàn hảo”, được lưu giữ tại căn phòng LINH TUYỀN (chiếc áo chữa căn bệnh ƯU TƯ của người thợ thêu lớn tuổi) là hành động dâng cúng sau cùng cho ngày Giỗ Tổ Nghề Thêu. Chiếc áo mà những người thợ thêu lớn tuổi cố ý làm thêm, sẽ được gửi đến cho những người thợ thêu già yếu nơi phương xa để họ chuẩn bị cho giờ phút lâm chung của mình.
Việc hiến dâng này chứng tỏ hành hương Giỗ Tổ Nghề thêu, phản chiếu vào trong cuộc đời có những chuyến đi cuối cùng của chúng ta qua cái chết, theo một cách nó mở ra với một ý nghĩa Nghề Thêu, qua việc hành hương, cuộc đời được hiểu chỉ như sự “giả tạm” hoặc như “không”…

Trong sương mù, và mùa đông lạnh lẽo của Đà Lạt, cơn bão số 11, tổ nghệ nhân thêu tranh chân dung đã đưa tiễn linh cữu của chị Lập – đồng nghiệp của mình - về nơi an nghỉ cuối cùng: Nghĩa trang Du Sinh Đà Lạt.
Chị bước vào thế giới im lặng khi tuổi đời còn quá trẻ, đó là hệ quả của đói nghèo, thải loại, bất công. Để lại một đứa con thơ ba tuổi ốm yếu, ngơ ngác vẫn chưa hiểu được nỗi đau mất mẹ.
Chị đã ra đi nhưng ước vọng vẫn còn mãi. Khát vọng xây dựng hình ảnh của người phụ nữ tích cực nhất trong bối cảnh hiện nay. Đó cũng là mục đích hướng tới của nghệ nhân thêu tranh chân dung – khi còn sống cô là nghệ nhân thêu chân dung xuất sắc nhất và đã hoàn thiện rất nhiều những tác phẩm chân dung Tri Kỷ Hữu để thành lập: Bảo tàng chân dung Tri Kỷ Hữu.

Những ngôi đền (Linh cổ Điện) của XQ Sử Quán thường khiến du khách choáng ngợp, đó là những ngôi đền dân gian của nghề thêu, về số lượng, điều đó phản ánh đức tin sống của người nghệ nhân thêu.
Các ngôi đền có nguồn gốc từ niềm tin vào các biểu hiện khác nhau ác độc và nhân từ của tinh thần tự nhiên, và niềm tin rằng Thượng Đế ngự trong tất cả các linh vật, sông, núi, bể nước, biển, sét và gió...
Nghề thêu cũng có liên quan đến sự sùng bái khả năng sinh sản. Niềm tin vào Thánh Mẫu đã dẫn đến việc hiện thân hóa mọi khu định cư trong làng nghề thêu một Nữ thần bảo vệ nghề thêu sẽ quyết định số phận của họ và hướng dẫn họ như một người mẹ trung hiếu.
Một quan niệm khác đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của nghề thêu là việc thờ cúng các anh hùng đã hy sinh vì đất nước hoặc cộng đồng. Những anh hùng này đã được tưởng nhớ và tôn thờ bằng cách dựng những Viên đá Anh hùng hoặc những Viên đá Tưởng niệm.
Việc dùng các táng đá "Anh hùng" và tôn thờ người đã chết như vị thần cứu tinh của cộng đồng có thể được coi là một phần mở rộng của tín ngưỡng.
Kiểu "Lăng mộ cự thạch" có hình dạng một mộ đá với phiến thẳng đứng được dựng lên trong một căn phòng và trên cùng là một viên đá có nắp.
Hình người "anh hùng" được thêu treo phía sau, quay mặt về phía trước.
Sự thể hiện này bên phiến đá có nhiều hình thức khác nhau. Trong một số trường hợp, sự kiện liên quan đến cái chết của vị anh hùng, giai nhân.
Nghệ nhân XQ tin rằng tinh thần của một anh hùng ở mãi trong mỗi di tích, mang lại lợi ích cho cộng đồng nghề thêu.
Thần linh được kính sợ, yêu mến, tôn thờ và được coi là thần thánh của cộng đồng nghề.
Một yếu tố khác trong sự phát triển của các ngôi đền là sự tôn kính những người phụ nữ nghề thêu đã hy sinh trong những hoàn cảnh đặc biệt. Một cái chết như vậy là của người phụ nữ trong sạch, tinh thần được cho là rất mạnh mẽ, bảo vệ cộng đồng nghề và những người làm việc. Hình của họ được thêu khắc sau phiến đá, được lưu giữ và ngưỡng mộ. Trong tất cả các trường hợp thờ cúng người chết như các vị thần, lễ vật bao gồm tất cả các loại thực phẩm và những thứ khác làm hài lòng người chết khi cô ta còn sống.

Tấm Thảm Thêu này mục đích chủ yếu là dung hoà thế giới của những hình bao quanh chúng ta với cách chúng ta nhận thức chúng, đưa chúng ta vượt qua cấp độ ý thức những hoạt động trong cuộc sống hằng ngày mà chúng ta đòi hỏi.
Với tôi “Nghệ thuật thêu” không chỉ bao hàm một hình thức biểu hiện duy nhất, mà cả một tổng thể những phong cách và dạng thức tiếp cận khác nhau .
Với “Tấm thảm thêu” này, nó là một chìa khoá mở vào thế giới của vô hình, có thể dùng tấm thảm này trong các nghi lễ, các cuộc lễ thức để thiết lập một mối giao lưu giữa con người với một thế giới tâm linh vốn không thể thâm nhập được bằng những con đường thông thường của tri thức.
Nếu không quy chiếu đến những gì tạo nên mục đích của tấm thảm thêu thì không hiểu được những ước lệ về phong cách của nó. Hình thêu không phải sự thể hiện một đối tượng mà là một tín hiệu của cái vô hình. Với nghệ thuật thêu của tấm thảm này, để cho mọi người hiểu rằng, cái đẹp của nghệ thuật thêu không phải là tấm gương phản ánh tự nhiên một cách nô lệ.
Xét cho cùng tấm thảm này chỉ là một cửa sổ mở ra một thế giới mộng mơ, trong đó những sự vật kỳ lạ tồn tại bên nhau trước một cuộc sống mà mọi sự vật đều giải quyết bằng khoa học và kỹ thuật….

TRUYỀN THUYẾT THẦN THOẠI HY LẠP
Khái niệm mê cung lần đầu tiên xuất hiện trong thần thoại Hy Lạp và gắn liền với truyền thuyết về con quái vật nửa người nửa bò Minotaur. Labyrinthos trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là mê cung, mê lộ. Đầu tiên, đây vốn là một cái vườn rất rộng trên đảo Crete. Trong vườn có nhiều lối đi chằng chéo. Tại giao điểm của các lối đi thường có những cây cao hay lâu đài giống nhau khiến người ta dễ bị nhầm lẫn.
Trong truyền thuyết này có ba yếu tố quyện chặt với nhau: Tòa nhà không có lối ra, người đầu bò và lễ vật hiến tế. Truyện kể rằng: Ngày xửa- ngày xưa vua Minos (con trai của thần Zeus và nàng Ơrốp) lên ngôi trị vì trên đảo Crete. Một lần Minos đã làm cho thần biển Poseidon nổi giận vì không đem dâng ông ta một con bò tuyệt đẹp như đã hứa. Thần biển đã trả thù bằng cách làm nỗi lên ở nàng Padiphai - vợ của Minos những dục vọng vô độ trái tự nhiên, nàng đã ăn nằm với một con bò mộng và sinh ra đứa con đầu bò mình người tên gọi là Minotaur. Để giấu đứa con quái vật này, Minos cho xây một mê cung - một cung điện dưới mặt đất, thật lắt léo phức tạp để nhốt đứa con quái vật nọ. Đặc điểm của tòa nhà này là có đường vào nhưng không có đường ra.
Trong tòa mê cung bí hiểm ấy, Minotaur ngày đêm lồng lộn để tìm lối thoát, nhưng vô vọng. Nó được nuôi dưỡng bằng thịt người, bởi vậy hằng năm mọi người phải đem nộp bảy chàng trai và bảy cô gái để cho Minotaur ăn thịt. Từ ngày đó, có rất nhiều các trai tráng được chỉ định vào mê cung để diệt quái thú Minotaur, nhưng tất cả đều một đi không trở lại, có những người may mắn tưởng như tìm được đường về nhưng đều bỏ mạng ngay sau cách cửa vào mê cung chỉ vài mét.
Tình trạng bi thảm này kéo dài gần mười năm cho đến khi hoàng tử Theseus, người anh hùng của xứ Aten, trừ diệt được con quái vật. Chàng xin tự nguyện đi vào mê cung Labirnatơ cùng với đoàn người cống vật để quyết một phen sống mái với Minotaur. Để giúp Theseus tìm được đường ra khỏi mê cung, công chúa thông minh Arian, con gái vua Minos, đã trao cho chàng một cuộn chỉ thêu và dặn chàng cứ thả dần dần nó ra theo bước chân của mình. Chỉ có cách ấy mới có thể thoát chết. Nhờ vào cuộn chỉ của Arian, Theseus đã hoàn thành sứ mạng thiêng liêng cao quý của mình: chàng đã giết quái vật Minotaur và lần theo sợi chỉ mà thoát ra khỏi cung điện Labirantơ.
………………
Từ ý nghĩa tượng trưng của mê cung...
Dưới con mắt người xưa, cuộc đời là một mê cung thực thụ, trong đó chỉ có những con đường vòng mới dẫn đến sự thành công, còn tiếp theo sau bất cứ niềm hy vọng nào bao giờ cũng là sự thất bại. Chỉ có mỗi cách tiến lên phía trước, nén lại nỗi buồn nản thì lúc ấy cuộc đời mới mỉm cười với ta, còn mê cung sẽ dần dần dẫn ta tới đích... Và thế là chúng ta lại đi tiếp: thêm một chỗ rẽ nữa. Tất cả đã thay đổi. Chúng ta đang đến gần tâm của mê cung. Nhưng một nỗi sợ hãi lại bao trùm lên chúng ta. Cái gì đang chờ đợi chúng ta ở tâm, trong "trái tim của bóng tối"? Khi mục tiêu đã đạt được, du khách ắt sẽ gặp quái vật Minotaur, tức là gặp cái chết. Đó chính là sự bí mật ảm đạm của cuộc sống và là bí mật của mê cung.
Còn "sợi chỉ của công chúa Arian" cũng có cách giải thích của nó. Trong khi đi sâu vào mê cung đã được nối lại với nhau bằng sợi chỉ để không bị thất lạc giữa những lối đi ngoằn ngoèo và những chỗ rẽ. Thợ thêu đầu tiên dũng cảm đi ở phía trước. Những người khác, được hướng dẫn bởi sợi chỉ của cô, đã lần lượt theo sau. Và mất hút dần trong "vương quốc tử thần" đó. Sau đó người dẫn đường quay ra và vội vã đi về phía ánh sáng. Nhờ có "sợi chỉ thêu Arian" mà mọi người đã trở lại với cuộc sống.
………………
Đến mê cung trong hiện thực
Các nhà khoa học cho rằng trong các mê cung thường tiến hành những nghi lễ thụ pháp. Ở đây ngay đến những bức tường cũng toát lên ma lực. Cuộc du ngoạn qua mê cung có thể mang lại cho đồng ruộng vụ mùa mong muốn, cho công việc được trù tính sự thành công, còn cho cặp vợ chồng hiếm hoi một mụn con đầu lòng. Mê cung hấp dẫn người xưa bởi lẽ cuộc du ngoạn trong đó đầy những tương phản. Con người lúc thì đang đi gần tới đích, lúc thì lại xa cách nó, lúc thì nghĩ đến sự thành công sắp tới, lúc thì vỡ mộng. Về phương diện này, mê cung của người Hy Lạp hoàn toàn có thể so với "bánh xe số mệnh" của châu Âu thời Trung cổ.